Đúng ra, chỉ bước một bước là đến. Song cụ bà Nadezhda Ivanovna đang bước bên ông đây, do chân đau, nên đi chậm đến mức ông có cảm giác, dường như nhà mẹ ông nằm xa không bao giờ đến được nữa. Ông Kurt tưởng đang giẫm chân tại chỗ. Ham muốn được vận động trong ông trỗi dậy theo mỗi bước đi. Trời hôm nay đẹp tuyệt vời làm ông khó chịu. Cảm giác quằn quặn trong bụng mỗi lúc một tăng làm ông thêm bực mình. Lẽ ra sáng nay cứ thế sập cửa rồi ra vườn thú mà dạo vài tiếng đồng hồ có phải hơn không.
Cãi cọ với Irina chả được tích sự gì. Bây giờ bà ấy ngồi trên phòng nghe Vysotsky. Cả nhà rung lên cùng tiếng nhạc ấy. Ông Kurt đinh ninh tiếng gào đó có thể xuyên qua mọi cửa phòng lẫn cửa sổ. Như thể ai đó muốn gào để đời. Một thứ âm nhạc bất hạnh, ông nghĩ vậy. Một thứ nhạc - nếu có thể gọi đấy là nhạc thật - đưa Irina chìm sâu vào nỗi bất hạnh đó. Điều ông không thể ưa chính là lòng ham muốn tự làm mình mỗi lúc một bất hạnh thêm, một ham muốn mà, sau bao nhiêu năm trời không bao giờ nhắc đến gốc gác Nga của mình, bà Irina gần đây bỗng dưng lại khăng khăng bảo nó bắt nguồn chính từ tââng hôồng Nga ấy.
Thêm cả rượu nữa, một thứ mà tââng hôồng Nga đằng nào cũng có vẻ quá ư ưa chuộng. Vẫn biết Irina, khác hẳn ông, trước giờ vẫn uống khỏe, nhưng dù sao cũng chỉ vào các dịp “hội hè” thôi. Gần đây, việc bà một mình lui về phòng, nghe Vysotsky và ngồi đơn độc uống đến say mèm là hiện tượng khá mới mẻ. Dĩ nhiên, không phải bà nghiện, bởi có lúc, hàng ngày liền, thậm chí hàng tuần, bà không uống lấy một giọt. Song ông Kurt không an lòng, mỗi khi ông nghĩ đến chuỗi phản ứng hầu như không kiềm chế nổi mà một ly cognac độc nhất đã gây ra ở bà.
Ly cognac độc nhất ấy - sau khi có tin Sasha vượt biên - ông không thể từ chối không rót cho bà. Song, vừa cạn ly đầu, bà đã nằng nặc đòi bằng được ly thứ hai (cũng là ly cuối cùng ông rót). Sau đó, bằng một lối thô lỗ bất thường bà chuyển sang gièm pha xỉa xói Catrin, vì bà ngờ cô này (có lẽ cũng không hẳn sai lắm) là kẻ xui Sasha vượt biên. Ly cognac thứ ba bà tự rót lấy và đã định vung tay vung chân đấm đá khi ông Kurt toan cất chai rượu đi. Chẳng biết làm sao hơn để an ủi bà, ông lại dở hơi đến mức rụt rè cất tiếng, rằng, thôi thì bây giờ bà cũng đã hơn sáu mươi, tức là ở tuổi về hưu rồi, bà cũng sẽ có quyền sang thăm con bên Tây Đức vậy. Thế là bà nổi đóa, quay sang trút cơn giận lên đầu ông, vì ông lại muốn bà bước chân vào nhà con bé ấy. Đến ly thứ tư thì chửi sang cả Sasha. Thông thường, nào bà có bao giờ buông tiếng nào xấu về con trai bà. Thế mà bây giờ, con trai tôi phản bội cả tôi. Đấy là lời than để lộ đầy đủ nhất nỗi thất vọng của bà. Và, mặc dù trong bụng thoáng một giây hả dạ, vì bỗng dưng Sasha cũng đến lượt chịu trận, ông Kurt vẫn dũng cảm lên tiếng, ít gì cũng là để phản bác những lời cáo buộc nặng nề và ít nhiều vô lý của bà, và hơn nữa, để bảo vệ một sự thật đơn giản là, Sasha vượt biên đâu có phải vì chống lại cá nhân bà! Để đáp lại ông, bà Irina lên tiếng dọa một cách lạ lùng, bà sẽ mua chó về nuôi, rồi vùng vằng cầm chai rượu uống dở lui về phòng mình. Còn ông Kurt, ông cun cút đi rán khoai tây vậy.
Bảo ông thử rán thì đúng hơn. Bực một nỗi, mấy lát khoai tây lúc rán cứ dán chặt xuống đáy chảo, khiến lúc lật thì nát ra và những mẩu còn dính lại được một lúc thì bắt đầu bốc khói cháy. Để cứu vãn, ông đập hai quả trứng cho vào chảo. Ông đặt tên món ăn mới này là món tai họa ốp trứng. Vị của nó lúc ăn cũng đáng gọi là tai họa thật.
Tại sao Irina không chịu rán khoai bao giờ nhỉ? Với trứng ốp la. Ông vốn thích ăn như thế từ bé. Bà ấy cho món này quá bình dân chăng? Và tại sao, ông Kurt tự hỏi, trong lúc tìm cách tránh không giẫm lên đám bọ xít cánh đỏ trên lối đi bộ gồ ghề ở Neuendorf, tại sao bà ấy lại nói đến tââng hôồng Nga cơ chứ, bằng lối phát âm tiếng Đức mà mặc cho ba mươi năm học hành tập âm, luyện tiếng vẫn trật khấc.
- Ông ấy định cưới tôi đấy chứ, cụ Nadezhda Ivanovna chợt cất tiếng nói.
Ông Kurt chưa hiểu ngay, không biết cụ nói với ông hay tự nói với mình. Được một lúc ông mới vỡ lẽ cụ nói về ông bố Irina. Irina quả quyết bố là người di-gan (dù bà chỉ nhìn thấy ông này độc một lần duy nhất, mà cũng là từ đằng xa). Song cụ Nadezhda Ivanovna lại bảo không phải thế. Chả biết ai đúng ai sai. Bà Irina thiên về lối nhìn đời theo cách bà muốn thấy, còn cụ Nadezhda Ivanovna - vì cụ thật ra là mù chữ - chỉ ghi nhận từng mẩu từng mẩu riêng lẻ các sự kiện xung quanh cụ mà thôi. Tập thể hóa. Nội chiến. Cách mạng. Ông Kurt vẫn thường phải khó nhọc sắp xếp đầu đuôi mạch lạc các câu chuyện cụ kể. Nhưng lúc này, trên đường đến dự sinh nhật ông Wilhelm mà cụ Nadezhda Ivanovna lại nhắc tới một thành phố nào đấy cụ từng dọn về thì ông thật sự bối rối, dù chỉ trong giây lát.
- Thành phố nào, hả mẹ? ông hỏi.
Ra cụ muốn nói đến Slava thật.
Cái gọi là “thành phố” ấy chợt hiện ra trước mắt ông. Phố xá lát đá hòn lởm khởm, bên trái, bên phải là các dãy hàng rào bằng gỗ ván cao ngang đầu người, đằng sau đó lúp xúp những ngôi nhà một tầng bằng gỗ xiêu vẹo. Khu dân cư ở đấy chưa đầy chín ngàn dân, được xây giữa bãi đầm lầy. Nơi cùng trời cuối đất. Có lẽ trên đời không còn chỗ nào bẩn thỉu, xấu xí, u ám hơn cái xó ấy, nơi ông sau khi mãn hạn tù còn phải lưu lại thêm bảy năm nữa trong kiếp kẻ bị đày vĩnh viễn. Thế nhưng, nếu bỏ qua cái sự thỉnh thoảng (đúng ra thì cũng đều đặn mỗi tháng một lần) ông vẫn phải khóc rống lên khi thấy niềm hy vọng về một ngày mai được sống cuộc đời bình thường mỗi lúc một tan biến cùng ngày qua tháng lại, vâng, nếu bỏ qua sự thực đó thì ông phải nhận, thậm chí xó xỉnh bẩn thỉu ấy cũng có cái hay của nó.
Như món xúp đầu tiên Irina nấu ông ăn chẳng hạn. Xúp đậu lấy từ túi, hay đúng hơn là từ gói ra (đậu tươi ở đây không hề có). Ngon tuyệt vời! Mặc dù về sau này, cũng thứ xúp ấy - có lần Irina đem một gói như thế từ Slava về đây - lại không sao nuốt nổi nữa...
Hoặc sáng sáng bơi dưới sông.
Hay là những đêm trắng, ngồi cùng nhau bên đống lửa qua đêm chờ mặt trời mọc và thời gian dường như dần dần biến mất... Tất cả bọn họ đều bị đày vĩnh viễn, một đám những kẻ vĩnh viễn. Mang nỗi tuyệt vọng mênh mang mà con người ta vẫn có thể vui biết bao.
Hay những bức ảnh đầu tiên hai ông bà cùng chụp, rồi cùng rửa. Máy ảnh do Sobakin mang từ Sverdlovsk đến cho họ. Nước rửa, họ chế từ kali cacbonat trộn với một thứ, gọi là gì nhỉ, natrisulfit thì phải; mà phải trộn sao cho đúng tỷ lệ, nên cần dùng đến một cái cân tự chế, với mấy đồng cô-pếch Nga làm quả cân. Ông Kurt, khi nhắc đến “những bức ảnh đầu tiên” là ông nhớ đến những bức, đúng là đầu tiên thật, và, biết nói thế nào nhỉ, không thể cho người ngoài xem. Lúc này đây, trong lúc đỡ tay cụ Nadezhda Ivanovna đi từng bước đến dự sinh nhật lão Wilhelm, ông nhớ tới cái giây phút, trên tờ giấy ảnh đang bơi bơi trong chậu nước rửa tự pha hiện dần lên những đường nét - mới đầu còn rất rụt rè, chưa rõ là cái gì, chưa biết đâu trên đâu dưới - cho đến lúc nền ảnh mỗi lúc một tối lại, thì đột nhiên, cái mông của Irina, trắng ngần và dữ dội, vụt hiện ra trước mắt họ. Cái giây phút ấy kích thích hút hồn đến đỗi, quên chuyển ảnh sang chậu nước hãm, họ cứ vậy, ở tư thế đứng, trong phòng tối rửa ảnh, dính vào nhau, quấn chặt vào nhau... Tiếc thật, ông Kurt nghĩ, lúc ra khỏi Liên bang Xô-viết họ phải hủy mấy tấm đó đi.
Nhưng, biết đâu cảm giác đó cũng chỉ giống như cảm giác sau mười năm bị giam cầm, lần đầu tiên được nếm món xúp lấy từ túi giấy ra ấy. Đằng nào thì Irina cũng chẳng buồn đả động đến những thứ ấy (gần đây bà gọi chuyện đó như vậy) nữa. Đúng thế, bà ấy thậm chí mỗi ngày một tỏ ra ghê tởm và khinh bỉ tất tật những gì trước đây bà vẫn trân trọng là gợi dục, là khoái lạc. Một lối nhìn hồi cố đen tối. Phải chăng cái lối nhìn đó cũng thuộc về tââng hôồng Nga của bà ấy? Hay là do mổ buồng trứng? Gì thì gì, sống với Irina tự dưng đâm ra khó nhọc. Và, cái việc cụ thể là Sasha bỏ sang Tây Đức chắc chắn cũng sẽ không làm cuộc chung sống này nhẹ nhàng hơn.
Mà ông phải nói sao với bà Charlotte và ông Wilhelm về chuyện này đây?
Đã gần đến nhà ông bà Charlotte. Phía trên cao, căn phòng trên tháp, cửa sổ bán nguyệt và sân thượng đã thấp thoáng lộ ra giữa những tán cây mùa thu. Dạo trước ông đã ngồi đấy đánh máy luận án của ông. Và, mặc dù ngôi tháp thật ra là biểu hiện của một thị hiếu cực kỳ hỗn loạn (toàn bộ ngôi nhà được xây theo một kiểu kiến trúc khá là quái gở, chiết trung, cóp mỗi thứ một ít, do một tay đảng viên quốc xã mới giàu lên kịp cho hoàn thành ít ngày trước khi chiến tranh kết thúc), ông Kurt không muốn chối rằng chính ông, ông từng rất thích căn phòng nhỏ trên tháp ấy. Tại đấy, cuộc đời thứ hai - hay thứ ba nhỉ? - đã bắt đầu và ông khoan khoái nhớ lại cái yên ắng trùm trên làng Neuendorf, mỗi khi sáng sáng, vào đúng sáu rưỡi, ông mở cửa sổ và đặt máy chữ trên bàn, nhớ luồng khí nhoi nhói lạnh lúc ban mai, nhớ những tàu lá vàng trước cửa sổ. Ấy nhưng, ông nghĩ bụng, có phải lúc nào cũng mùa thu đâu nhỉ. Song, thay vì ngẫm nghĩ để lý giải xem tại sao các lớp ký ức của ông lúc nào cũng nhuốm vàng, ông lại nghĩ, nên tìm cách nào để trả lời một lô câu sắp bị hỏi ngay bây giờ đây thì hơn.
Nhưng, nói cho cùng, có gì đâu mà phải nghĩ ngợi? Hôm nay, đúng ngày sinh nhật ông Wilhelm mà lại gây chuyện bê bối thì có ý nghĩa gì đâu? Để làm gì? Lợi lộc gì? Wilhelm là một lão già ngu ngốc, cứng đầu cứng cổ, thì đáng lẽ, ông Kurt nghĩ, sự thật sẽ là đòn trừng phạt đáng đời cho sự ngoan cố của lão. Trong lúc ngôi nhà với mặt ngoài xám xịt, cùng cánh cửa nặng nề và mấy cửa sổ con phía ngoài bịt lưới sắt - khiến ngôi nhà trông như pháo đài - dần dần lộ ra giữa những thân cây lốm đốm, ông Kurt nghĩ và cố hình dung gương mặt lão Wilhelm, lẽ ra phải nói lão biết, vâng, hôm nay, vào đúng sinh nhật ông, phải nói trắng ra thế, cháu ông cho ông thấy nó chán ngấy các người đến mức nào, xin chúc mừng ông! Vừa nghĩ vậy, ông Kurt vừa cò dằn lòng để không nắm lấy một núm gõ cửa đần độn mà đập xuống. Cái biển ghi “Không gõ cửa!” đã làm ông bực từ lâu. Ai đời, vừa đến thăm, chưa kịp vào nhà đã được đón tiếp bằng một lệnh cấm! Hơn nữa, nếu không có tấm biển gắn ở đấy, cũng sẽ chẳng có ai nảy ra ý nghĩ mấy cái đầu sư tử đần độn kia chính là mấy nắm đấm dùng để gõ cửa vậy!
Ông Kurt hít một hơi rõ sâu, sâu đến mức như thể sẽ đủ dưỡng khí cho ông nín thở được vài giờ, rồi lấy tay bấm chuông.
Cánh cửa mở và một khuôn mặt ló ra, một khuôn mặt tròn trịa và đần độn. Hiếm có ai, ông chợt nghĩ, như tay này, một người vừa thoáng nhìn đã có thể biết ngay gã là ai, nghĩa là, một viên chức, một từ đã thành một trong những tiếng rủa ưa thích nhất của Irina. Ông Kurt toan bước nhanh qua gã Schlinger này. Song, gã Schlinger một khi đã nắm được tay ông là không muốn buông ra nữa. Gã nắm tay ông, lắc lắc rồi cúi đầu chào theo cái kiểu thân mật, ra vẻ tin cậy rất khó chịu của gã. Ông Kurt bực bội bắt gặp mình cũng cúi đầu chào đáp lại, dù chỉ là để nhanh nhanh thoát khỏi thằng cha này.
- Xin anh chờ nữ đồng chí Powileit một lát ạ, gã Schlinger gọi với theo.
Ông Kurt không nghĩ đến chuyện đứng lại chờ nữ đồng chí Powileit, thế nhưng, trong lúc cụ bà Nadezhda Ivanovna còn chưa kịp cả cởi áo ngoài, thì nữ đồng chí Powileit đã gấp gấp bước chân đi tới, nhanh nhẹn, thành thục như một con nhện vồ mồi.
- Kìa, thế Irina đâu?
- Cô ấy bị mệt, ông Kurt đáp.
- Ốm à? Cô ấy bị làm sao? bà Charlotte hỏi gặng.
- Khó chịu trong người thế nào đó.
- Còn Alexander? Anh dừng bảo Alexander cũng khó chịu trong người nhá!
- Mẹ này, đáng tiếc là..., ông Kurt toan cất tiếng, nhưng bà Charlotte ngắt lời ông.
- Kìa, các anh các chị tính thế nào đây? Tôi nói với ông ấy thế nào bây giờ? Hôm nay ông ấy tròn chín mươi kia mà!
- Mẹ nghe con nói đã nào...
- Vâng, tôi xin, tôi xin, bà Charlotte đáp. Nhưng mà tôi sắp điên lên rồi đây này. Không chịu nổi nữa rồi.
Bà rên rỉ, ánh mắt nhìn thê thảm.
- Tay Juhn cũng thoái thác không đến, anh cứ nghĩ mà xem. Cử tay phó đến, thật không ra làm sao! Ông Wilhelm tròn chín mươi! Hôm nay ông ấy nhận Huân chương Tổ quốc ghi công! Thế mà hắn lại chỉ phái thằng phó đến thay!... Vậy chứ hoa anh đâu?
- Chà, khỉ quá. Con quên ở nhà mất rồi.
- Thôi, kệ! Không sao! Anh lấy bó nào khác vậy, bà Charlotte nói. Đầy ra kia kìa.
Ông Kurt nhìn vào chỗ đặt giá treo áo ngoài ở góc nhà tranh tối tranh sáng, thấy một lô hoa bó thành bó dựng sát tường. Trong khi đó tiếng mẹ ông như từ đâu xa xôi vẳng đến tai ông...
-... mà xin anh, anh Kurt, bây giờ anh vào trong ấy, xin đừng đả động đến chuyện gì nhé. Anh biết rồi đấy. Hung, Praha... Mới lại, đừng nói gì về Liên Xô nhá.
- Cũng không nói gì về Ba Lan, ông Kurt nói.
- Đúng thế, bà Charlotte đáp.
- Vâng, vâng. Cũng không nói gì về vũ trụ, không nói về mặt trăng chứ gì ạ, ông Kurt chua chát.
- Này anh Kurt, tôi xin anh đấy. Ông ấy không còn... Bà Charlotte trợn mắt, đảo qua đảo lại. Dạo này ông ấy kém minh mẫn đi nhiều.
- Dạo này, con cũng kém minh mẫn đi nhiều lắm, ông Kurt nói.
Ông thôi, không cầm theo bó hoa nào cả.
Bước vào phòng, ông Kurt thấy lão Wilhelm ngồi trong ghế bành như mọi khi, cách cư xử cũng thế, như mọi khi. Từ nhiều năm nay, ai chúc gì thì chúc, mừng gì thì mừng, lão Wilhelm cứ thế ngồi yên, chẳng thèm cả đứng dậy đáp lễ. Ông Kurt vốn đã rất bực cái lối ngạo mạn đó, nên lúc ông mới bước vào, và lão Wilhelm chưa chi đã cất tiếng bề trên hỏi thăm Alexander đâu, ông chợt cảm thấy thú vị, toan nói toạc hết ra mọi sự.
- Cháu Alexander ốm, ông ạ!
Bà Charlotte nhanh miệng cướp lời ông. Lão Wilhelm gật đầu rồi vẫy tay cho cụ bà Nadezhda Ivanovna đến gần, nhận quà của cụ. Cụ tặng lão lọ dưa chuột tự tay cụ muối và lão Wilhelm, vốn không bỏ lỡ dịp may nào để khoe tài tiếng Nga của lão, liền tuôn một tràng Gorokh, Gorokh! Chắc lão định nói Khorosho (tốt). Song, có thế thôi mà lão cũng còn nói chẳng nên hồn. Thật ra, lão Wilhelm không biết tiếng Nga, chưa bao giờ lão học tiếng Nga. Dù lão có thích khoe về “những năm sống ở Moskva” thật, nhưng cái gọi là “những năm Moskva” ấy không hề có. Đúng là năm 1936 lão có theo ông và Werner đến Moskva thật (sau đó, cả hai anh em ông “vì lý do an ninh” phải nằm lại đấy), để dự lớp huấn luyện mật vụ - ấy là ông Kurt đoán thế - do cơ quan quân báo của Hồng quân tổ chức. Thế nhưng thời gian học chỉ một vài tuần là cùng chứ đâu có đến hàng năm, vả lại, nơi huấn luyện tuyệt mật nọ nằm đâu xa lắc xa lơ ở ngoại vi thành phố, cho nên lão Wilhelm trong đời, thật ra, chỉ đảo qua Moskva cùng lắm được ba lần. Thế mà cứ ngoạc mồm, Gorokh với chả Gorokh!
Để mọi người cùng chứng kiến, lão gọi Mãhlich đến gần, bảo lão này mở giúp lão lọ dưa chuột muối rồi nhón một quả ra ăn... Và, ngay cả ăn dưa chuột muối lão cũng diễn với điệu bộ có một không hai. Làm ra vẻ uể oải và cẩu thả lão đập đập nhẹ quả dưa vào miệng lọ cho ráo bớt nước, cắn ngập vào quả dưa, rồi trong lúc miệng vừa nhai nhóp nhép không chút ngượng ngùng, mấy ngón tay lão vừa xoay đi xoay lại quả dưa cắn dở để ngắm nghía như một viên quan chức tối cao đang đánh giá chất lượng dưa chuột vậy:
- Gorokh, lão Wilhelm nói lần nữa và rốt cuộc ban cho ông Kurt cái ơn được mừng thọ lão. Song, lúc ông Kurt vừa chìa tay cho lão vừa nhìn mấy ngón tay còn ướt nước muối dưa với vẻ ghê ghê trên mặt, thì lão gạt đi và nói: đem rau ra nghĩa địa cho tôi.
Đem rau ra nghĩa địa à? Giờ thì ông Kurt phải ngạc nhiên: không biết đầu óc lão có thật “kém minh mẫn” như mẹ ông nói không nhỉ?
Đoạn, ông quay sang phía bàn khách đến dự lễ sinh nhật đang ngồi. Hồi trước, thỉnh thoảng cũng có đôi nhân vật đáng để ý đến đây dự sinh nhật lão Wilhelm, như ông Frank Janko chẳng hạn, vốn là sư đoàn trưởng trẻ nhất quân đoàn tình nguyện quốc tế chống Franco ở Tây Ban Nha, hay ông Karl Irrwig, dẫu gì cũng là người từng chống lại Ulbricht để chọn con đường khác tiến tới chủ nghĩa xã hội. Hoặc như bà Stine Spier, nữ diễn viên đóng kịch Brecht ông bà Charlotte quen từ dạo lưu vong ở Mexico. Từ ngày ông Janko nghe nói vì dính tội “có âm mưu” gì đó phải ngồi tù sáu năm, thì tên ông ta không được nhắc đến nữa trong nhà này. Ông Karl Irrwig, tuy bị loại khỏi Bộ Chính trị nhưng chưa thất sủng hẳn, thì đến một dạo, rồi cũng thôi không đến nhà nữa. Còn bà Stine Stier, là người vào các buổi lễ sinh nhật ở nhà này thường vẫn hiến các câu chuyện tếu táo mua vui, mà phần lớn đều bẩn thỉu về chính trị tại nhà hát, thì hai hay ba năm gần đây bà Charlotte đuổi khéo khỏi nhà. Cứ như thế, dần dần mấy người ít nhiều thú vị đều biến hết, chỉ còn lại có đám này, gồm dăm bảy người hôm nay tụ tập tại đây.
Tất nhiên, trong số này có Mählich, là kẻ ngưỡng mộ lão Wilhelm hết cỡ (lão này thật ra cũng được, chỉ tội đần độn), thêm mụ vợ không hiểu sao lúc nào cũng thấy đau ốm của lão. Mụ này vốn làm cảnh sát (tóc vàng, và hồi trước trông xinh đẹp đến mức - giá mụ không làm ra vẻ đoan trang quá đáng - rất có thể ông đã cân nhắc xem có nên xếp vào danh mục các cô các bà bị ông chinh phục hay không rồi). Ngồi cạnh là cặp vợ chồng hàng xóm, nhà ở phía đối diện. Hai vợ chồng này trông giống hai con chó pug như lột, tên là gì thì ông Kurt lần nào cũng như lần nào, đều quên. Ông chồng trước làm quản gia trong trường Sasha học, hiện giờ thỉnh thoảng ông ta chạy giúp vợ chồng lão Wilhelm việc này việc kia. Về bà vợ, ông Kurt không biết gì thêm, ngoài chuyện mọi người kháo nhau bà ta mang hậu môn nhân tạo (hậu môn nhân tạo, nghe đúng là kỳ cục). Rồi đến gã công an khu vực - đồng chí Krüger; gã này ông Kurt xưa nay chỉ thấy từ xa mỗi khi gã đạp xe chạy qua chạy lại. Và dĩ nhiên, lão Bunke, đại tá an ninh quốc gia mắc chứng cao huyết áp, lão này lúc nhìn thấy nhau là ngòng ngọng Trào cậu, trào cậu, thế Irina tâu rồi! Cứ như thể thân nhau lắm lắm (trong khi, thực ra vợ chồng ông chỉ mới mời lão uống trà mỗi một lần, để phàn nàn về hai cây thông nhà lão đổ bóng xuống luống dưa chuột của cụ Nadezhda Ivanovna). Còn ông Harry Zenk nữa, cũng lạc chân đến chốn này, một người ngoại lệ ở đây, thuộc loại thông minh, thậm chí ranh mãnh (nhưng lại đủ dớ dẩn để chịu nhận làm chủ nhiệm cái gọi là Viện hàn lâm Neuendorf). Tiếp theo là bà Gertrud Stiller, mỗi năm một lần vẫn đỏ mặt gặp ông ở đây. Hồi xa xưa bà Charlotte định gán người đàn bà này cho ông, và điều đáng ngượng ở đây là ông Kurt - tuy không thật nghiêm túc lắm - cũng có cân nhắc khả năng này thật. Đấy là một trong những chuyện bí mật nhất trong các chuyện bí mật của ông Kurt, bí mật đến mức chính ông cũng chẳng mấy khi nhớ đến nữa. Mấy người còn lại thật ra ông không quen; bà bán rau nào đấy, thêm vài vị đảng viên kỳ cựu. Và, trời đất, sao trông gã khiếp thế này!
- Ai-iến-ạch-áu-ão, ông Till ấp úng.
Hóa ra đây là Tillbert Wendt, cùng đoàn viên Đoàn thanh niên cộng sản khu Britz ở Berlin với ông, dù ít hơn ông một hai tuổi gì đó. Ông Kurt cố giữ vẻ mặt không đến nỗi ái ngại quá.
- Nhưng vẫn khỏe chứ?
Hỏi đến ngu.
- Ưng ốt ôi, ông Till đáp.
- Thôi, quan trọng là mình vẫn sống, ông ạ, ông Kurt nói rồi vỗ vỗ lên vai ông ta, mặc dù chính ông, ông biết, nếu gặp chuyện như thế này, chắc chắn ông đã tự tử chết cho xong.
Hồi trước, món bánh kem bơ nhiều mỡ chẳng bao giờ ông đụng đến. Song, từ ngày hai phần ba dạ dày ông bị cắt bỏ, bánh kem bơ nhiều mỡ ông chẳng ngại nữa. Cà phê được dọn ngay ra cho ông và ông vớ phải cái ly làm bằng nhựa cứng đã bị xây xước nhiều từ thời Mexico, được lôi ra dùng hằng năm để bù số “chén đĩa ngon lành” còn lại từ thời quốc xã bị thiếu. Đúng là ông bà Charlotte đã tiếp thu tất tật cùng với ngôi nhà (hay nói đúng hơn, tất tật những gì các sĩ quan Xô-viết từng ngụ ở đây một dạo khá lâu còn chừa lại). Duy bộ dao nĩa ăn có khắc hình chữ thập ngoặc nhỏ tí sau mấy chữ cái viết tắt tên họ chủ nhà cũ thì ông bà loại đi, dẫn đến kết cục là ở nhà này, chủ khách ăn bánh ngọt dọn trên bộ đĩa quốc xã nhưng dao nĩa lại do quốc doanh CHDC Đức sản xuất.
- Da zdravstvuet, lão Bunke nói và giơ cao ly rượu bằng nhôm lên.
Cả của nợ này, lẫn tất tật những thứ đựng trong đó đểu là thành tựu của CHDC Đức cả. Và, dù rằng từ ba chục năm nay ông Kurt vẫn từng cự tuyệt không chịu uống cognac, hay thậm tệ hơn, Goldbrand[1], đựng trong loại ly nhôm này, hôm nay thôi thì ông cũng kệ, cũng nâng ly.
- Mừng Korbachov, lão Bunke nói. Mừng Berestroika ở CHDC Đức!
Ông Till gạt đi, không nhận ly rượu vừa chuyền đến tay ông. Gã công an khu vực làm ra vẻ không nghe thấy gì. Hai vợ chồng chó pug lúc nghe nói “Da zdravstvuet” đã nhấp rượu mất rồi. Sau khi đảo mắt cẩn thận nhìn quanh, lão Mählich giơ ly rượu lên. Song lại hạ ngay xuống lúc nghe ông Harry Zenk lên tiếng phản bác lão Bunke:
- Mừng Gorbachov thì được. Nhưng, perestroika ở CHDC Đức thì không.
Mụ Mählich, ông Kurt sực nhớ tên mụ là Anita, đúng là ngớ ngẩn đến mức nhắc lại y lời của một gã cũng tên Kurt trong Bộ Chính trị (là Kurt Hager, mà ông Kurt vẫn thầm gọi là Kurt thối) mới đây nói trong bài phỏng vấn trả lời một tạp chí phương Tây được đăng toàn văn trên ND:
- Nếu hàng xóm dán giấy bồi, tân trang nhà, thì chúng tôi nào có phải cũng làm ngay như họ.
Một đảng viên kỳ cựu ở làng Neuendorf gật đầu tán thưởng. Lão Bunke chợt quay sang phía ông Kurt:
- Kìa anh, anh nâng cốc nói gì đi chứ!
Mọi người đều nhìn ông. Mụ Anita với cái mũi chợt trở nên nhọn hoắt. Lão Mählich gật gật đầu dù ông Kurt chưa kịp nói gì. Đôi chó pug nghiêng đầu về cùng một phía... Mỗi ông Till chẳng để ý gì đến xung quanh, đang nhẫn nại gắng đưa miếng bánh lên miệng trên bộ mặt bị liệt một nửa.
- Prost, nâng cốc, ông Kurt nói.
- Vâng, brost, lão Bunke họa theo.
Ông Kurt dốc tuột ly rượu đầy vào miệng. Nóng ran, chảy dần dần từ họng xuống. Rượu nóng ran, từ từ lan xuống đến một chỗ mà mấy tiếng đồng hồ nay thắt lại. Không phải dạ dày. Cái gì đó nằm thấp hơn nữa... Không biết cơ quan ấy là cơ quan gì, cơ quan sẽ lồng lên ngay khi con trai anh vượt biên ấy?
Ắt đấy là cơ quan đảng, ông Kurt nghĩ. Thế nhưng, ông chẳng còn tâm trí để khoái chí với ý nghĩ ngộ nghĩnh đó và cố tình ra vẻ bận bịu với miếng bánh ngọt để không bị lôi cuốn vào cuộc tranh luận về Gorbachov. Có nói mấy cũng vô ích thôi, ông nghĩ bụng, nói mấy thì mấy vị này cũng chẳng bao giờ hiểu ý kiến ông về Gorbachov. Rằng Gorbachov bước chưa đủ xa ư... Rằng ông ta không có chiến lược và không nhất quán ư... Rằng công trình perestroika - cải tổ - của ông ta không chứa đựng chút lý thuyết nào ư...
Ông vẫn đang loay hoay với miếng bánh ngọt thì một người đàn bà bước vào phòng, một người ông chưa xác định được ngay là ai, quá trẻ, mà cũng quá xinh đẹp, sắc sảo giữa đám người đứng ngồi quanh đây. Mãi đến khi nhìn thấy thằng bé lều khều vụng về cô ta đang đẩy về phía lão Wilhelm ông mới nhận ra cô... Trang điểm ghê chưa kìa! Còn giày cao gót nữa chứ! Như thế là mang ý gì?
Ông Kurt nhìn hai mẹ con Melitta kéo nhau đến đứng trước ghế lão Wilhelm đang ngồi, nhìn Melitta cúi xuống bên lão, váy ngắn cũn cỡn. Markus tặng lão Wilhelm bức tranh gì đó. Ông Kurt nhớ Markus cũng tặng ông bức tranh, vẽ con thú gì đấy, vào dịp sinh nhật của ông. Khỉ thật, ông nghĩ, đúng là ông phải treo bức tranh lên mới đúng. Ông nhìn theo Markus đang đi một vòng chào khách khứa, dáng người mảnh dẻ, gương mặt nhợt nhạt và hơi ngượng nghịu, y hệt như Sasha hồi còn ở tuổi ấy. Ông ôm Markus vào lòng. Chỉ đưa tay bắt như mọi người khác thì ít quá. Bỗng nhiên ông cũng muốn ôm cả Melitta vào lòng, nhưng không, ông không ôm, sau khi bắt tay cô, ông chỉ nhanh nhẹn nhích sang một bên để kéo thêm chiếc ghế cho cô ngồi cạnh ông.
Cô ta mang quần tất in mẫu hoa. Thật không may cho ông, ghế ông ngồi thấp, thành ra, trong lúc ông lựa nói đôi lời thân thiện thì mắt ông cứ như bị dán vào mấy hình mẫu in trên quần tất Melitta mang. Mọi lời khen thoáng qua trong đầu nghe đều có vẻ như ông muốn bào chữa một định kiến trước đây vậy. Một lúc sau, ông mới cất được tiếng:
- Trông con xinh lắm.
- Trông bố cũng khá đấy, Melitta đáp và nhìn ông bằng đôi mắt to màu lục.
- Con nói vậy thôi chứ..., ông Kurt gạt đi nhưng thật tình, cũng muốn tin như thế lắm.
- Vậy mẹ đâu ạ? Melitta hỏi.
- Bà ấy không được khỏe, ông Kurt đáp và chờ Melitta sẽ hỏi về Sasha.
Song, Melitta không hỏi gì tiếp, cũng có thể chỉ vì đúng lúc đó, bà Charlotte bước vào và, giống như một cô giữ trẻ, vỗ vỗ mạnh hai tay vào nhau nhằm gây chú ý giữa đám khách khứa đang mỗi lúc một ồn ào. Ông Phó bí thư đến. Lễ trao huân chương!
Ông Kurt buông nĩa ăn bánh ngọt ra khỏi tay và ngả người ra sau, tựa vào lưng ghế. Diễn giả cất tiếng - bằng một giọng đến các viên chức cũng phải khâm phục về độ đơn điệu và buồn tẻ - đọc bài diễn văn khen tụng cuộc đời chiến đấu của lão Wilhelm. Trừ đôi chỗ không đáng kể, bài diễn văn lặp lại y sì nguyên văn các bài vẫn đọc mỗi lần lão Wilhelm được tặng huân chương (là việc mà gần đây tuồng như năm nào cũng diễn ra, vì lần nào cũng như lần nào, lão luôn gây cho thiên hạ cái cảm giác, thôi, âu cũng là lần sinh nhật cuối cùng của lão. Ngay cả trong chuyện bịp bợm này, lão cũng dần trở nên điêu luyện!). Điều đó khiến đôi chi tiết lẽ ra có thể là đáng để ý trong tiểu sử lão Wilhelm dần dần trở nên nhạt nhẽo cùng năm tháng, và toàn bộ hồ sơ ấy rốt cuộc biến thành một tài liệu tuyệt vời làm chứng cho sự nhàm chán. Song, dẫu sao, việc đọc nó lên cũng có cái lợi là làm Melitta quay hẳn người về phía diễn giả, khiến lúc này ông Kurt có thể ngắm nghía không giấu giếm đôi tất in hoa của cô. Nói đúng hơn là ngắm nghía chiếc quần tất, hay đúng hơn nữa, ngắm nghía cái chỗ sát mép gấu váy ngắn. Ông không biết người ta gọi chỗ ấy là gì, cái chỗ chuyển từ hình mẫu in sang chỗ không có mẫu in. Và, khi Melitta lấy tay giật giật váy cho ngay ngắn, ông lại thấy càng thú vị, bởi vì chiếc váy lại xô lệch ngay, trong khi đôi chân cô cọ vào nhau, khẽ khàng kêu sột soạt.
Ông cảm thấy ở phần bụng dưới của ông có cái gì đó động đậy, và ông cân nhắc liệu có nên cảm thấy bực bội hay không. Bởi, dẫu gì đây cũng là con dâu cũ của ông... Không, nó không đẹp, ông nghĩ bụng trong lúc diễn giả đang tường thuật lão Wilhelm đã tìm đường đến với Đảng của giai cấp công nhân ra sao. Song, nhìn cô thế này, thật tình mà nói, chính điều đó lại làm ông thích. Chính cái không-đẹp-lắm ấy của người đàn bà, ông nghĩ bụng, càng làm họ trở nên khêu gợi. Đến là khó giải thích. Có lẽ, phải đến độ tuổi nào đấy người ta mới thấm thía được điều đó.
Ánh mắt ông lướt qua chiếc váy may bằng thứ vải dệt thô đầy khêu gợi của Melitta, trở lên chiếc áo sơ-mi nửa kín nửa hở, trườn lên cẳng tay chắc nịch, và trong lúc diễn giả nhắc đến vết thương lão Wilhelm bị trong vụ đảo chính Kapp, ánh mắt ông mắc kẹt lại ở bộ dây đeo mềm mại màu đen bắt chéo tấm lưng rộng của Melitta trước khi chuyển sang quan sát đôi môi son và gương mặt. Ông nhìn kỹ đôi lông mày được nhổ tỉa công phu (kể cả những nốt đo đỏ sót lại sau khi tỉa). Rồi ông thấy buồn rười rượi. Dáng vẻ người phụ nữ trẻ này chợt làm ông mủi lòng, ông tuồng như nhìn thấy ở cô hình bóng một kẻ bị hắt hủi, một biểu tượng của tất cả những gì mà Sasha đã vứt bỏ, xa lánh hay phá hủy trong đời cậu ta và giờ đây, đúng kiểu cu cậu lâu nay vẫn hành xử, lại bỏ rơi ở chốn này. Nhưng đồng thời - ông lấy làm ngạc nhiên rằng cả hai tình cảm trái ngược nhau lại nảy ra cùng một lúc trong lòng như thế - chính cái đó lại khêu gợi ông. Ông có cảm tưởng, chính sự bị hắt hủi, bị khinh nhờn ấy làm ông rung động, chính lòng ham muốn và được ham muốn bị hắt hủi, bị khinh nhờn thuộc về vẻ không-đẹp-lắm ấy, chính vì nó bị hắt hủi, nó càng không chút che đậy, ngùn ngụt trỗi dậy. Chính cái đó kích động ông, giúp ông nhận ra sự liều lĩnh của người đàn bà trẻ trong bộ cánh này để có cớ ngầm phát triển một lý thuyết ngắn gọn về tính gợi dục của vẻ không-đẹp-lắm ấy. Song, ông tạm gác việc mở rộng thêm học thuyết này.
Cả hai thứ đó nằm thăng bằng một lúc lâu trên bàn cân, nỗi buồn và sự hấp dẫn, khối đau thắt trong ruột và cơn hứng ở hạ bộ. Như giữa cơ quan đảng và phái đối lập vậy, ông thầm nghĩ. Song, lúc diễn giả dài dòng và ồn ào (cốt chỉ để gợi lại chuyện lão Wilhelm từng làm phó đội dân quân đỏ RFB[2] vùng Berlin mà thôi) kể lướt qua về những năm 20, và tất nhiên bỏ qua, không nhắc tới đòn thua đau đớn năm 33, thì phái đối lập trong quần ông Kurt dần dần thắng thế. Và, trong lúc cả đám khách khứa chăm chú theo dõi buổi lễ, trong lúc hai cái đầu chó pug nghiêng nghiêng kính cẩn, trong lúc tay Till ngủ gật (hay đang tập làm dáng cho khuôn mặt lúc chết?), trong lúc ông Harry Zenk che tay để ngáp và lão Mählich lấy vẻ mặt như thể đang lần đầu nghe đọc tiểu sử lão Wilhelm, thì ông Kurt đã chui xuống hầm ngầm họp chi bộ của lão Wilhelm từ lâu. Diễn giả nói đến kháng chiến chống phát-xít, trong khi ông Kurt đang vướng vào nhiều hoạt động hối hả. Chiếc bàn dài cũng đóng vai trò nhất định, hình bóng mọi thứ trở nên mờ ảo, riêng các mẫu in trên quần tất thì ông thấy rất rõ, hay đúng hơn, ông thấy rõ cái chỗ mà ông không biết gọi là gì ấy. Lúc diễn giả nói đến hoạt động bí mật và lúc ông Kurt trở lại giữa đám khách đang chăm chú nghe thì phái đối lập trong quần ông đã dũng cảm, như diễn giả tuyên bố, vùng lên mạnh mẽ đến mức mắc kẹt giữa các nếp quần lót và giở trò dằn vặt ông.
Diễn giả kết thúc bài nói với nhiều lời ca ngợi con người đã cống hiến không mệt mỏi cho sự nghiệp nọ. Ông Kurt gắng sửa lại quần dưới gầm bàn cho ngay ngắn, song vô ích. Mãi đến lúc mọi người đứng dậy vỗ tay, nó mới chịu co rút lại, đúng vào lúc đám khách khứa nãy giờ khô cứng bỗng sống lại để vỗ tay hồ hởi tán thưởng một cách quá mức bài nói của ông Phó bí thư. Miễn cưỡng vỗ tay, ông Kurt nghĩ bụng, có lẽ không ai trong số những người đang vỗ tay đây biết họ đang vỗ tay để hoan hô cái gì. Vừa vỗ tay, ông vừa nghĩ, chẳng có chuyện nào trong bài nói vừa rồi là đúng với sự thật cả. Cả chuyện lão Wilhelm vào đảng “ngay từ đầu” (thật ra, lúc đầu lão là đảng viên đảng USPD[3], mãi sau này, do hai đảng sáp nhập lão mới thành đảng viên Cộng sản), lẫn chuyện lão bị thương trong vụ đảo chính Kapp (thì cũng đúng là lão có bị thương thật, song không phải vào năm 1920 trong lần đảo chính ấy, mà vào năm 1921 trong cuộc bạo động tháng Ba[4]. Cuộc bạo động thất bại quá thảm hại, cho nên, tất nhiên là vậy rồi, ghi vào tiểu sử chẳng hay ho gì). Song, tệ hại hơn mấy chuyện lặt vặt, sai không sai, đúng chẳng đúng đó là việc cố tình lờ tịt, lặng lẽ bỏ qua những việc lão Wilhelm có can dự trong những năm hai mươi đó. Hồi ấy - những chuyện này ông Kurt còn nhớ rất rõ - lão Wilhelm là kẻ chấp hành trung thành và mù quáng đường lối Mặt trận thống nhất do Liên Xô chỉ đạo, nhằm xuyên tạc và vu cáo các lãnh tụ Dân chủ xã hội là bọn “phát-xít xã hội” và thậm chí coi họ còn nguy hiểm hơn cả bọn quốc xã. Đúng ra, ông Kurt tay vẫn vỗ nhưng trong đầu thì nghĩ, nhìn nhận một cách thật khách quan thì cá nhân lão Wilhelm cũng phải chịu chung trách nhiệm về việc phái tả đánh giết lẫn nhau trong những năm hai mươi, khiến bọn phát xít thắng thế ở Đức. Ngay từ hồi năm 1932, ông Kurt nhớ lại, tay lại vỗ (tức là lúc Huân chương Tổ quốc ghi công hạng Nhất được cài lên áo lão Wilhelm) - ngay từ dạo 1932, lão Wilhelm trong vai trò đội phó dân quân đỏ RFB ở Berlin đã tham gia tổ chức một chiến dịch chung lớn của hai đảng Quốc xã và Cộng sản. Đến tận sau ngày “nắm quyền”[5] - việc này lão không khai trong lý lịch - lão Wilhelm vẫn ngoan cố bảo vệ luận điểm về chủ nghĩa phát-xít xã hội. Luận điểm này mãi đến 1935 mới chính thức được sửa đổi, để rồi thêm vài năm sau đó mới chịu thua Hiệp ước hữu nghị giữa Liên Xô với nước Đức Hitler về mức độ ngu ngốc và bỉ ổi. Tất cả đều là lừa lọc, ông Kurt nghĩ, nhưng tay vẫn tiếp tục vỗ. Toàn bộ các chi tiết về những năm hai mươi đều láo toét hết - về những năm ba mươi cũng vậy nốt. Ngay cả việc “tham gia kháng chiến chống phát-xít”, nói cho cùng, cũng là dối trá. Lý do tại sao lão Wilhelm không nhắc đến giai đoạn này không chỉ nằm ở chỗ lão là kẻ hợm hĩnh hay làm bộ úp mở mà thôi. Lý do ấy thực ra là ở chỗ, chuyện kháng chiến chống phát-xít rốt cuộc chỉ là chuyện thất bại, chuyện anh em tranh giành nhau, chuyện các toan tính sai lầm và chuyện phản bội của chính “lãnh tụ vĩ đại” đối với những người phải liều mạng chiến đấu trong vòng bí mật (nói cho cùng, chính sách của Liên Xô hồi đó đã như thế thì mọi sự cũng không thể khác đi được). Tràng vỗ tay chung của mọi người chưa dứt, thì ông Kurt đã thôi không vỗ tay và cũng không còn nhận ra dấu hiệu hoạt động nào của phái đối lập nữa, trừ một cảm giác ngồ ngộ... trong quần.
Thoạt tiên, lúc bàn tiệc buffet vừa khai trương, ông lưỡng lự chưa dám đứng dậy ngay, sợ có dấu vết trên quần mình chăng (nhưng nhìn kỹ lại thì may quá, không có gì). Thấy Melitta vẫn ngồi nguyên tại chỗ, ông Kurt nghĩ, có lẽ cô ngồi lại cốt để hỏi tin tức của Sasha, nên ông cũng ngồi yên. Nhưng cô không hỏi han gì cả. Ông Kurt chưa biết xử trí ra sao thì lão Bunke đã quay lại với chiếc đĩa đầy thức ăn. Nối chân lão là ông Harry Zenk cùng Anita. Thế là cuộc tranh luận về Gorbachov lại diễn ra.
- Ta phải lói rõ sự thật cho dân biết, lão Bunke lên tiếng đòi hỏi.
Ông Kurt nổi cáu, có lẽ vì thoáng thấy Melitta gật gật đầu tán thưởng, nên rốt cuộc cũng lên tiếng chen vào:
- Vậy ai, ai sẽ là người quyết định xem sự thật là gì đây?
Lão Bunke nhìn ông ngơ ngác.
- Ai sẽ quyết định cái đó nào, ông Kurt hỏi tiếp. Chúng ta đây? Hay Gorbachov? Hay ai nữa?
- Đúng rồi, ông Zenk gật gù. Sự thật bao giờ cũng mang tính đảng.
- Không phải thế! Ông Kurt cao giọng, bực bội trong lòng vì thấy ý ông bị hiểu sai đến thế. Sự thật, ông nói hay ông định nói... một câu, mà sau khi cân nhắc, có thể lời lẽ sẽ là như sau: Sự thật không phải là thứ gì đó chỉ riêng đảng sở hữu và ban phát cho quần chúng như ban của bố thí (tiếp theo chắc sẽ là đôi lời phân tích lý thuyết về cái gọi là nền dân chủ tập trung, cơ cấu quyền lực xã hội chủ nghĩa trong thực tế và vai trò của đảng trong hệ thống Xô-viết). Nhưng, ông không kịp nói gì nữa, vì mọi người đã chẳng còn để ý gì đến ông, mà hướng cả về phía sau lưng ông, về phía góc nhà nơi lão Wilhelm ngồi trong ghế bành và, khó ai mà tin được, đang cất tiếng hát.
Mới đầu ông Kurt tưởng lão chỉ lầu bầu gì đó trong miệng. Mất một lúc ông mới nhận ra đấy là tiếng hát. Nhưng, mãi đến lúc ông thấy hai cái đầu chó pug gật gù theo nhịp, cũng như thấy lão Mählich - tuy có vẻ không thuộc lời (hay không chắc có còn được hát những lời về Stalin nữa hay không) - vẫn lắp bắp hát theo, thì ông mới vỡ lẽ lão Wilhelm đang hát bài gì. Trời đất, không còn gì ngu xuẩn hơn nữa! Mà không, đây không còn là ngu xuẩn, đây là một tội ác. Ông nghĩ, xét cho cùng, đây là kết luận đúng đắn và ngắn gọn nhất cho toàn bộ tai họa này. Nói cho cùng, đây cũng là ý đồ bào chữa cho tất cả những nỗi bất công và tội ác họ gây ra nhân danh “chính nghĩa”, là lời nhạo báng họ nhằm vào hàng triệu người vô tội đã đổ xương máu làm nền tảng, dựng nên cái gọi là sự nghiệp này. Đó chính là bài Đảng ca nổi tiếng do một gã nhà thơ hèn nhát nào đó (ấy là Becher[6] hay Fürnberg[7] nhỉ?) đã không chút ngượng mồm sáng tác ra.
Sao mình lại ở đây nhỉ, ông Kurt tự hỏi, trong khi tay đã tê đi do vỗ nhiều quá, ông đưa mắt nhìn đám khách khứa lại đang ồ lên hoan hô ầm ĩ, nhìn nụ cười hoan hỉ đang nở dần trên gương mặt Anita, nhìn lão Mählich đưa tay gạt nước mắt - hay ông nhìn nhầm? Ông thấy ông Zenk hài lòng gật gù, như thể vừa được thăng chức không bằng. Lão Bunke cũng vỗ tay, cười hơn hớn như thể vừa nghe được một chuyện tiếu lâm hay nào đó. Còn hai con chó pug nhìn nhau rồi vẫn gật đầu theo nhịp.
Mỗi Melitta là không vỗ tay, hay đúng hơn, hai bàn tay cô chỉ đập nhè nhẹ đôi lần vào nhau cho có lệ rồi ném về phía ông Kurt một cái nhìn đầy ẩn ý. Ông nhướn lông mày đáp lại. Ông đã tưởng bây giờ Melitta sẽ hỏi ông về Sasha. Song, trước khi hai người trở lại câu chuyện bỏ dở thì đã lại có tiếng ai đó lầm rầm, lần này vọng từ phía bên phải tới. Và, thêm một lần nữa bị bất ngờ, ông Kurt lại phải mất một lúc mới nhận ra tiếng hát. Của cụ bà Nadezhda Ivanovna! Bài hát về con dê non cụ vẫn hát cho Sasha nghe lúc nó còn nhỏ, một bài hát nghe đều đều như nói, dài, nhiều đoạn đến phát ngượng. Song, chẳng có gì phải ngượng, bởi vì mọi người đều quay ra tán thưởng bà cụ Nga, đua nhau bày tỏ sự gắn bó của mình với nhân dân nước xã hội chủ nghĩa anh em. Vừa hết đoạn thứ hai, bọn họ còn ngu xuẩn đến mức cất tiếng đồng thanh hát cùng với cụ. Và, lập tức, không khí trong phòng bỗng giống hệt không khí một đại hội đại biểu nào đấy của Đoàn thanh niên tự do Đức (FDJ) vậy (mặc dù ông Kurt, thật tình mà nói, chưa tham dự một đại hội như thế bao giờ). Vì điệp khúc của bài hát luôn bắt đầu bằng vot kak, vot kak - nghĩa là thế đấy, thế đấy - làm ai nấy tưởng nhầm đây là bài tửu ca dân Nga vẫn hát mỗi khi uống rượu, nên họ cùng đồng thanh gào lên Vodka, vodka! Họ còn vỗ tay thành nhịp và cuối cùng, bà khách ngồi cạnh ông (một nữ đảng viên kỳ cựu nào đấy trong làng Neuedorf đây thì phải) còn định ngoắc tay vào tay ông để đung đưa theo nhịp nữa chứ. Tất nhiên, ông không phụ họa và ngồi trơ ra như hóa đá giữa đám khách. Mọi thứ bỗng như đung đưa. Đầu ai nấy như bị tách khỏi cổ, nhô lên tụt xuống, cả cái đầu tóc nhuộm vàng của Anita, cả cái sọ tóc đen của lão Mählich lẫn cái đầu lão Bunke, trông như quả bóng hơi màu đỏ có vẻ sắp nổ tung đến nơi vậy.
- Bố nghĩ, ông Kurt nói, lúc bài hát rốt cuộc cũng kết thúc ở đoạn chó sói đến ăn thịt dê non, xé hết thịt, để lại mỗi xương và chẳng còn gì sót lại của dê non ngoài sừng non với móng chân, gọi mãi gọi mãi cũng chỉ thấy sừng non với móng chân thôi - bố nghĩ, ông Kurt nói, bố phải nói con biết Sasha chạy sang Tây rồi.
- Hừm, Melitta ậm ừ.
- Chà, thế đấy, ông Kurt nói.
Không hiểu sao, ông cứ hy vọng phản ứng của Melitta sẽ khác kia. Nhưng Melitta chỉ ngồi im và ông Kurt bỗng không biết phải làm gì tiếp. Trong giây lát ông có cảm giác Melitta dường như chưa hiểu thông tin ông vừa báo cho cô là thông tin gì. Không rời mắt khỏi tách cà phê, tách cà phê trên tay cô, tách của bọn quốc xã ấy, trên mép in rõ dấu son môi của cô, ông lên tiếng:
- Bố không biết bây giờ chuyện tiền trợ cấp nuôi Markus của con sẽ thế nào, nhưng nếu Sasha chưa trả được thì đương nhiên bố sẽ trả.
Ở phòng bên có tiếng gì loảng xoảng. Ông Kurt thấy mọi người đứng hết cả lên để chen nhau chạy sang đó, riêng thằng Markus lội ngược dòng, chạy từ bên đó sang hỏi có chuyện gì.
- Mình đi về, Melitta nói.
- Sao bây giờ đã về? Markus nhăn nhó.
- Ra ngoài kia rồi mẹ nói, Melitta đáp.
Markus vùng vằng lôi con kỳ nhông nhồi trên giá sách xuống.
- Cố Wilhelm tặng cháu mà, nó nói, mặt hướng về phía ông Kurt.
- Quà của cố hay đấy, ông Kurt nói, rồi nắm bàn tay Markus chìa ra cho ông, lắc hơi nồng nhiệt hơn mức cần thiết.
Đoạn, ông định bắt tay Melitta nhưng cô đã dang tay ôm lấy ông. Quá bất ngờ, ông lúng túng, chưa biết quay đầu phía nào thì cằm đã chạm ngay vào trán Melitta. Toàn thân Melitta cứng đơ, như khúc gỗ, trong vòng tay ngập ngừng, không dám siết chặt của ông.
Ông Kurt rót thêm ly Goldbrand rồi bước sang phòng bên. Bây giờ ông mới nhận ra bàn tiệc buffet gãy gục tự lúc nào. Ông đứng tách ra một bên, lơ đãng nhìn cảnh chộn rộn diễn ra xung quanh chiếc bàn tiệc bị gãy.
Trên môi ông, đến tận giờ vẫn còn lưu cảm giác từ vầng trán Melitta.
Cái thứ rượu Goldbrand này, mùi ngửi đến khiếp.
Ông dốc tuột hết rượu vào họng rồi đặt chiếc ly lên giá gần đấy. Đoạn, ông cứ thế ra khỏi phòng, đi dọc suốt hành lang, qua phòng tiền sảnh con con, rồi bước ra ngoài trời.
Ông bước hơi vội, như thể sợ đến phút chót ai đó sẽ gọi ông lại. Khi cảm thấy đi đã đủ xa, lòng ông bỗng tràn ngập một niềm vui trần tục. Ông tự nhủ phải kìm lòng. Hãy giữ niềm vui trong lòng đã. Để nó trào chút một ra thôi.
Được khoảng ba trăm thước ông mới sực nhớ, ông để quên cụ bà Nadezhda Ivanovna ở đấy. Ông bước chậm lại, trong đầu đã nghĩ, có lẽ phải quay lại đón cụ. Nhưng việc quái gì phải quay lại nhỉ? Đằng nào cụ cũng tự về được nhà, chả cần đến ông... Ông lại rảo bước. Đi dọc theo phố Fuchsbau. Bước tới nhà số bảy, trong ấy chắc Irina say, đang nằm trên ghế xô-pha...
Ông đi ngang qua nhà số bảy.
Ông đến cuối phố, rẽ vào đường ven hồ Seeweg. Dọc theo đường này, các ngôi nhà ở đây càng xa hồ, trông càng tầm thường. Phố Heiner đưa ông ra khỏi xóm toàn nhà vi-la rồi dẫn tiếp vào xóm thợ dệt ngày xưa, vốn là xóm xưa nhất ở làng Neuendorf này. Nhà cửa ở đây thấp, thấp đến độ với tay là chạm máng nước mưa. Ông Kurt đi theo những con phố ngắn, lát đá hòn và chạy ngoằn ngoèo, mang tên những Klopstock, Uhland hay Lessing. Mùi bếp núc, mùi men rượu thoát ra từ những cánh cửa sổ mở toang. Phố Goethe dài hơn, chạy ngang qua nghĩa địa, rồi dẫn sang phố Karl Liebknecht, còn dài hơn phố Goethe. Cạnh trụ sở Ủy ban làng Neuendorf lẽ ra ông có thể nhảy tàu điện đi tiếp. Ông nghe rõ tiếng ken két man rợ của tàu điện đang lúc ngoặt sang phải, nhưng ông vẫn tiếp tục đi. Khi ông ra tới phố Friedrich Engels, một con phố dài nối Neuendorf với thành phố Potsdam và đi xuyên qua chỗ đường phố thắt cổ chai thì tàu điện leng keng loảng xoảng vượt lên trước. Chỗ này rất hay xảy ra tai nạn, ở lối ra phía bên kia, trên bức tường cắm dây thép gai của xưởng bảo dưỡng xe hỏa, trơ trọi một băng khẩu hiệu màu đỏ đã bạc thếch với dòng chữ Chủ nghĩa xã hội nhất định thắng! chăng từ nhiều năm nay (hay nhiều chục năm?).
Lá rụng sột soạt dưới chân lúc ông đi dọc đoạn đường chạy bên xưởng bảo dưỡng xe hỏa. Ông băng qua cầu Lange, vượt mặt đường và đường ray, vòng quanh khách sạn Interhotel ra phố Wilhelm Kulz để tới đại lộ Lenin, là con phố dài nhất - nhưng chắc chắn không phải là đẹp nhất - ở Potsdam. Ông theo đại lộ hai ba cây số ra phía ngoại vi thành phố. Đường phố mỗi lúc một tối và, ở chỗ hầu như không còn cột đèn nào nữa, ông rẽ sang phải.
Phố Garten. Nhà thứ hai, bên trái. Ông bấm hai hồi chuông ngắn rồi chờ, cho đến lúc phía trên, ở tầng ba, một cánh cửa sổ mở ra.
- Tôi đây, ông nói.
Đèn hành lang trong nhà sáng lên, tiếng chân bước xuống theo cầu thang. Tiếng chìa khóa quay trong ổ khóa cổ.
- Chà, ông làm tôi bất ngờ đấy, bà Vera mừng ra mặt.
Khoảng một giờ sau, ông Kurt nằm ngửa trên giường bà Vera, vẫn ở tư thế bà Vera vừa “chiều miệng” ông, như ông thường nói. Ông đánh hơi thấy ngay cái mùi không lẫn vào đâu được của thịt xông khói rán chảo phảng phất khắp nhà. Ông cảm thấy nhẹ nhõm, song cũng đôi phần thất vọng. Không rõ đây có phải là cảm giác cụt hứng thường vẫn dâng lên sau mỗi lần giao cấu, hay phải thừa nhận có cái gì đó không thật đúng như ông mong đợi. Phòng ngủ của bà Vera trông có vẻ bừa bộn, kém niềm nở hơn lần trước (nhưng, cũng đã ba năm rồi còn gì, tính từ lần cuối cùng ông nằm ở đây). Ánh đèn từ chiếc đèn ngủ hắt ra sáng quá, chiếu rõ mồn một những mạch xanh xanh trên cái cặp ấy của bà (ông vẫn chưa tìm được chữ nào hay hơn). Song, những nếp nhăn nổi lên trên trán bà lúc bà gắng sức chiều ông, mới thật sự làm ông khó chịu. Một ý nghĩ bất chợt nhói lên trong đầu ông, thì ra ông đang làm tình với một mụ già. Và, để xua đuổi ý nghĩ khó chịu ấy, hai tay ông nắm lấy đầu bà - cũng có hơi thô lỗ một chút - lôi lên, ấn xuống theo nhịp và độ sâu ông muốn.
Sau đó, lúc bà nằm, mặt âm ấm áp xuống bụng ông và ông cảm thấy hơi thở của bà trên lông mu mình, ông hơi ân hận vì hành động thô lỗ chợt đến ấy. Ông nằm xoa xoa tấm lưng bà Vera và nghĩ ngợi rất lâu về sự tự nguyện lạ lùng của bà từ nhiều năm nay, thỉnh thoảng lại sẵn lòng chiều ông như thế này. Cách nói “mối quan hệ khoai tây rán”[8] chợt nảy ra trong đầu ông! Tại sao gọi kiểu quan hệ này là quan hệ khoai tây rán nhỉ? Ông ngạc nhiên thấy mình không trả lời được câu hỏi vớ vẩn ấy. Có lẽ chính vì thế, tuy dĩ nhiên cũng là vì đói nữa, chính vì muốn gán cho cách nói lạ lùng kia một ý nghĩa nào đó, ông hỏi:
- Bà rán tôi ít khoai tây được không?
- Được chứ, bà Vera đáp, rồi nhổm ngay dậy, đi vào bếp.
Bây giờ đến lượt mùi khoai tây rán lan khắp nhà. Cái mùi thời thơ ấu. Ông Kurt nhắm mắt lại và mùi vị ấy dường như trong giây khắc đã đẩy ông lùi về phòng ngủ bố mẹ ông, nơi hồi xưa, ông bất chấp lời bố mẹ cấm vẫn thường trùm chăn để trốn. Đến giọng nói vọng từ bếp ra ông cũng tưởng là giọng mẹ ông:
- Ra ăn thôi.
Ông mở mắt ra, đực mặt trong giây lát, kinh ngạc nghĩ đến hoàn cảnh lạ lùng mà sau bảy chục năm cuộc đời ông đang rơi vào. Ông trở dậy, ngồi ở mép giường. Mặc quần lót. Xỏ chiếc tất không còn thật sạch nữa vào chân trái. Và, đột nhiên, ngay trong giây khắc đang lơ đãng tìm chiếc tất kia, chiếc bên phải, ông hiểu ngay rằng, đã đến lúc rồi.
Chẳng còn gì để suy tính nữa. Chẳng còn lý do gì để tốn thời gian vào những công việc vớ vẩn như viết nhận xét cho mấy bài gửi đăng Tạp chí khoa học lịch sử hay báo ND nhân dịp sự kiện lịch sử nào đó nữa... Thậm chí việc cộng tác cho ra tuyển tập gồm các bài viết của Đông lẫn Tây, trong khuôn khổ một hội nghị hấp dẫn ở Saarbrucken, ông cũng sẽ từ chối, tốt nhất là vì lý do sức khỏe, rồi ngay sáng mai sẽ ngồi vào bàn bắt đầu viết hồi ký, mở đầu (mở đầu thế nào ông cũng biết ngay rồi) bằng một ngày tháng Tám năm 1936, lúc ông đứng cạnh Werner trên boong chiếc phà vượt biển và cùng nhìn về phía cột hải đăng của cảng Warnemunde nhạt dần trong sương sớm.
- Ra ăn thôi, bà Vera lại gọi.
- Tôi ra ngay đây, ông Kurt đáp.
Bầu không khí ẩm ướt khiến ông thấy lành lạnh... Và, ông dường như vẫn cảm thấy miếng băng dính dán trùm lên tờ giấy phép nhập cảnh Liên Xô đã được gập thật nhỏ, ở mặt trong bắp đùi bên phải của ông.
[1] Một loại rượu brandy (chưng cất từ rượu vang) sản xuất tại CHDC Đức trước đây.
[2] Rotfrontkampferbund: đội dân quân do đảng Cộng sản Đức tổ chức và lãnh đạo thời Cộng hòa Weimar.
[3] USPD: đảng Dân chủ xã hội độc lập Đức, tồn tại và hoạt động vào các năm 1917-1931 tại Đức.
[4] Cuộc bạo động vũ trang do đảng Cộng sản Đức cùng một số đảng cánh tả khác tổ chức bất thành vào tháng 3 năm 1921 ở vùng Trung Đức (Halle, Leuna, Merseburg).
[5] Là ngày 30.1.1933, khi Hitler trở thành thủ tướng Đức.
[6] Johannes R. Becher (1891-1958), nhà thơ Đức, Bộ trưởng Bộ Văn hóa CHDC Đức (1954-1958), tác giả lời bài quốc ca CHDC Đức.
[7] Louis Fürnberg (1909-1957), nhà văn, nhà thơ Đức-Tiệp, tác giả Đảng ca đảng SED.
[8] Mối quan hệ vợ chồng ngoài giá thú, phổ biến vào những năm sau chiến tranh (1945), phần lớn là giữa lính giải ngũ hồi hương với phụ nữ góa chồng.