Thời Nắng Lịm

Lượt đọc: 67 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
NĂM 1952

❊ ❊ ❊

Cuối năm hai anh chị đi nghỉ vài ngày bên bờ Thái Bình Dương. Một chiếc xe tải chở cà phê đưa họ từ sân bay đến Puerto Ángel[1].Bạn bè mách họ chỗ này: ngôi làng thơ mộng, vịnh nước đẹp như tranh, đã vách đá, còn thêm thuyền đánh cá thả neo.

Lờ bệ bê-tông xây làm nơi bốc dỡ cà phê đi thì cái vịnh đúng đẹp thật.

Còn ngôi làng: khoảng hai mươi, hai nhăm nóc nhà gì đó, một trạm bưu điện hiu quạnh và một ki-ốt nhỏ bán tạp hóa, có cả rượu.

Nơi độc nhất cho thuê là ngôi nhà vườn nhỏ tí (bà chủ người gốc Tây Ban Nha gọi đây là “bungalow”); nhưng dù sao cũng lợp ngói. Bên trong nhà, dưới tấm màn chống muỗi thả từ nóc xuống (bà chủ gọi là “pavilion”, đình hóng mát) có kê một chiếc giường sắt, với hai chiếc bàn con đặt hai bên. Cột nhà có đinh đóng, treo vài ba chiếc mắc áo.

Phía trước “bungalow” là hiên nhà có mái che, hai chiếc ghế đu đã lung lay và chiếc bàn nhỏ.

- Chà, đẹp thế này còn gì, Charlotte nói.

Chị cố tình lờ mấy con dơi đậu chúc đầu dưới mái chìa, đúng hơn là ngay trong phòng, bởi ở vùng này, người ta chừa một khoảng trống khá rộng từ tường đến mái nhà. Chị cũng lờ cả con lợn khoang ụt ịt đang luẩn quẩn trong sân, bới tung đất ở xung quanh túp lều bằng gỗ mà bà chủ gọi là buồng tắm.

- Chà, đẹp thật. Mình nghỉ lại đây, anh ạ.

Wilhelm gật đầu, mệt mỏi ngồi xuống chiếc ghế đu. Ống quần anh hếch cao lên, thò ra ống chân gầy gò, nhợt nhạt. Vốn đã gầy, mấy tuần gần đây anh lại giảm thêm năm sáu ký gì đó. Chân tay khẳng khiu của anh trông cũng giống như khung chiếc ghế đu anh đang ngồi.

- Rồi ta sẽ đi chơi quanh đây vài chuyến, Charlotte hứa hẹn.

Thế nhưng, hầu như chẳng có gì đáng gọi là “vùng quanh đây” cả.

Duy có một lần hai anh chị, cũng lại bám xe chở cà phê, đến Pochutla[2] gần đấy và ghé cửa hàng người Tàu. Wilhelm hờ hững đi lại một lúc lâu trong cửa hàng chồng chất hàng hóa rồi dừng lại lơ đãng nhìn một con ốc to, vỏ đánh bóng loáng.

- Hai nhăm peso[3], anh Tàu nói.

Chà, cũng bộn tiền đây.

- Anh vẫn muốn một con như thế này còn gì, Charlotte nói.

Wilhelm nhún vai.

- Chúng tôi mua con này, Charlotte bảo.

Rồi trả tiền, không mặc cả.

Một lần khác họ bách bộ đến Mazunte[4]. Bãi biển ở đâu chả ít nhiều giống nhau; nhưng bãi ở Mazunte khác nơi khác ở chỗ đầy những vết gì đen đen. Một lát sau, khi chứng kiến vài ba ngư dân xúm nhau lột mai một con rùa đang sống nguyên thì họ mới vỡ lẽ vết đen đen đó ở đâu ra.

Họ không đến Mazunte lần nào nữa. Xúp thịt rùa họ cũng không bao giờ ăn nữa.

Rồi cũng đến giao thừa. Cánh đàn ông trong làng bỏ công bao nhiêu ngày hò hét bốc vác cà phê bây giờ mới được trả lương. Khoảng ba giờ chiều ai nấy đều say, đến sáu giờ thì bất tỉnh hết cả lượt. Trong làng ắng lặng. Mọi thứ im lim, chẳng thấy bóng một ai. Cũng như mọi tối, Charlotte cùng Wilhelm nhen một đống lửa nhỏ bằng số củi giá vài peso họ thuê gã mozo[5] gom giúp.

Trời tối rất nhanh, đêm rất dài.

Wilhelm rít thuốc.

Lửa cháy xèo xèo.

Charlotte làm ra vẻ để ý đến đám dơi bay vụt qua vụt lại không thành tiếng, như sao sa trước ánh lửa.

Đúng mười hai giờ đêm, hai người uống sâm banh bằng cốc uống nước thường và ăn hết chỗ nho dành riêng cho mỗi người: theo phong tục vùng này, người ta ăn đúng mười hai quả nho vào lúc giao thừa. Mười hai điều ước - mỗi tháng một điều.

Wilhelm cho một lúc cả vốc nho vào miệng.

Trước hết Charlotte ước Werner còn sống. Chị dành liền một lúc ba quả cho điều ước này. Thằng Kurt còn sống, chị đã nhận được thư của nó. Trong thư không thấy nó đả động đến lý do, nhưng thằng này chẳng biết làm thế nào đã lại lang bạt tận đâu đó ở vùng Ural bên Nga, rồi lấy vợ ở đấy. Chỉ có Werner là không tin tức gì. Bất chấp mọi cố gắng liên lạc của Dretzky. Bất chấp bao lần hỏi thăm ở Hội Chữ thập đỏ. Bất chấp mọi đơn từ chị nộp ở Lãnh sự quán Liên Xô; kể từ lá đơn đầu tiên đến giờ đã là sáu năm rồi.

- Nữ công dân, xin chị bình tĩnh. Rồi mọi sự sẽ đâu vào đấy.

- Thưa đồng chí, tôi là đảng viên cộng sản, tôi chỉ muốn biết liệu con tôi còn sống hay không.

- Chị là đảng viên không có nghĩa là chị được ưu tiên đâu ạ.

Đồ mặt lợn. Ngữ như mày phải đem xử bắn mới hả. Chị cắn nghiến một quả nho để ước điều này.

Thêm cả Ewert và Radovan, dành mỗi người một quả.

Một quả, dùng để đổi hình phạt thành bệnh thương hàn. Thứ thương hàn có thể chữa lành được. Quả này, để thương hàn lây sang mụ Inge, vợ lão Ewert, vừa leo lên chức Tổng biên tập.

Thế nào mà giờ còn lại mỗi ba quả. Phải hượm hượm mới được.

Quả thứ mười để chúc sức khỏe tất cả bạn bè chị. Nhưng ai là bạn chị?

Quả thứ mười một: cho tất cả những ai bị mất tích. Như mọi năm chị vẫn ước.

Còn quả thứ mười hai... cứ thế là cắn, chẳng ước chẳng mong gì. Chả kịp nữa.

Thật ra, có ước ao cũng vô ích. Đã năm lần rồi, chị ước năm sau hai anh chị sẽ được quay về Đức. Nào được tích sự gì đâu, họ vẫn nằm chết gí ở đây.

Chết gí ở đây, trong khi ở bên kia, tại quốc gia mới ấy, bọn họ đang chia nhau ghế.

Hai hôm sau họ quay trở lại Mexico City. Thứ Tư, họp ban biên tập, như thường lệ. Wilhelm tuy không được bầu vào ban lãnh đạo nữa, nhưng vẫn giữ chân trước đây ở tạp chí Bưu điện dân chủ, tức là chân kế toán, thủ quỹ, góp tay lúc lên khuôn cũng như giúp phát hành số ấn bản đã co lại chỉ còn vài trăm.

Song cả Charlotte cũng cảm thấy có trách nhiệm phải dự họp. Ban biên tập họp mỗi tuần một lần và mọi người không ai rõ đây có phải đồng thời cũng là phiên họp chi bộ Đảng hay không. Nhóm càng thu nhỏ, mọi thứ càng lẫn lộn: chi bộ, ban biên tập, ban điều hành.

Cả thảy còn lại bảy người, ba trong “ban lãnh đạo”, đúng hơn là hai thôi, kể từ ngày Wilhelm không tái đắc cử.

Charlotte nhẫn nhục ngồi cuối dự hết cuộc họp và không sao đủ sức nhìn thẳng mặt Radovan. Con mẹ Inge Ewert nói năng vớ vẩn, chẳng biết mặt giấy là bao nhiêu, lẫn lộn cả cột lẫn hàng. Nhưng chị cố nén, không chen lời, cũng không bàn thêm gì; đến cả lỗi in trong bài báo họ đưa chị sửa chị cũng lờ đi, để các đồng chí ở Berlin biết, từ ngày họ loại chị khỏi chân Tổng biên tập, tờ tạp chí đã tụt hạng đến mức nào.

Họ bãi nhiệm chị với lý do “vi phạm kỷ luật Đảng”. Chị không còn cách nào khác là phải viết báo cáo gửi Dretzky. Lỗi “vi phạm kỷ luật Đảng” của chị chẳng qua là đúng ngày 8 tháng Ba, tức là ngày Quốc tế phụ nữ, chị lên trang bình luận ca ngợi luật nam nữ bình quyền của Cộng hòa Dân chủ Đức, bất chấp việc đa số ban biên tập trước đó đã bác đề nghị ấy của chị, với lý do nó “không hấp dẫn”. Thật ra, chính chê như thế mới đáng gọi là chuyện tai tiếng chứ.

Chị còn báo cáo thêm chuyện Ewert mang tâm lý “thất bại chủ nghĩa” đối với các vấn đề hòa bình, cũng như Radovan vi phạm các chủ trương Dretzky hồi đến Mexico đã đề ra cho một nhiệm vụ chính trị hết sức tế nhị ở xứ này là tranh thủ người Do Thái (tạp chí Bưu điện dân chủ vẫn còn khá nhiều độc giả người Do Thái trung lưu).

Vâng, chị biết, báo cáo thế là chơi không đẹp. Nhưng mà buộc chị tội “vi phạm kỷ luật Đảng” là chơi đẹp ư?

- Đến cuối tháng Hai chị viết đôi lời cho trang văn hóa được không?

Đấy là tiếng gã Radovan.

- Độ trang rưỡi, chị ạ, về những chuyện của địa phương đây.

Charlotte gật đầu rồi nguệch ngoạc viết gì đó vào sổ tay. Có nghĩa là tôi không còn đủ tin cậy để viết cho phần chính trị nữa chứ gì?

Tối đến, chị mở nước để tắm bồn, việc gần như đã thành lệ vào mỗi ngày họp ban biên tập.

Ngày thứ Năm và thứ Sáu chị lên lớp phụ đạo tiếng Anh và tiếng Pháp, mỗi ngày ba tiết (số tiền chị kiếm được trong hai ngày dạy thêm này còn nhiều hơn Wilhelm kiếm một tuần ở Bưu điện dân chủ).

Thời gian còn lại, trước khi Wilhelm về, chị nằm đu đưa trong võng bạt treo trên sân thượng, sai cô hầu gái đưa hạt dẻ và nước xoài lên đấy rồi chăm chú lật sách đọc về lịch sử châu Mỹ ở thời trước khi Colombo đặt chân. Chẳng ai hoạnh họe gì chuyện này, chị vẫn chống chế với lý do chị phải đọc để viết bài cho trang văn hóa.

Cuối tuần, như thường lệ, Wilhelm đọc báo Nước Đức mới (Neues Deutschland - ND). Báo được đóng thành kiện gửi hai tuần một từ Đức sang. Bởi vì cả tiếng Tây Ban Nha lẫn tiếng Anh anh đều mù tịt, cho nên ND là thứ duy nhất cho anh đọc. Anh đọc từng dòng, đến tận tối mịt, trừ hai lần, mỗi lần nửa tiếng, dẫn chó đi dạo.

Charlotte lo việc nội trợ, bàn bạc với Gloria, cô hầu gái, về thực đơn tuần tới, xem xét hóa đơn rồi tưới hoa. Đã từ lâu chị trồng một cây hoa quỳnh trên sân thượng. Chị mua cây hoa từ mấy năm trước, nhưng lại thầm mong sẽ không bao giờ phải thấy ngày quỳnh nở.

Sáng sớm thứ Hai Wilhelm đã lao đến xưởng in, còn Charlotte gọi điện cho Adrian, hẹn gặp anh vào buổi trưa.

Từ lâu, Adrian đã hẹn đưa chị đi xem bức tượng nữ thần Coatlicue khổng lồ. Anh cũng đã nhiều lần kể chị nghe về vị nữ thần đất này của dân Aztek, chị còn thấy cả một tấm ảnh chụp bức tượng. Trông đến ghê cả người. Gương mặt nữ thần do hai đầu rắn nhìn nghiêng ghép lại một cách kỳ quái, khiến mỗi con rắn chỉ có một con mắt và hai chiếc răng. Đầu lâu Huitzilopochtli, con trai nữ thần, thò ra từ trong lòng bà. Quàng quanh cổ nữ thần là vòng đeo kết từ những bàn tay người bị chặt rời và những trái tim moi ra từ lồng ngực, biểu tượng cho lễ vật của người Aztek xưa.

Người ta tìm thấy bức tượng này hơn một trăm năm mươi năm trước dưới lớp đá lát quảng trường trung tâm. Trong lúc nói thế, Adrian vừa nhấp cà phê vừa nhìn Charlotte như nhìn một thí sinh đi thi.

Đây là lần đầu tiên chị đến trường đại học. Chị có cảm giác, mọi thứ ở đây, đến cả mấy tách cà phê trong phòng làm việc của Adrian, đều thiêng liêng thế nào đó. Ngay Adrian, chị cũng thấy như trang nghiêm hơn, vầng trán trông thông thái hơn và đôi bàn tay có vẻ dịu dàng hơn mọi khi.

- Năm 1790 người ta khai quật bức tượng rồi đưa về trường, Adrian nói. Song ông hiệu trưởng hồi đó lại cho chôn nó xuống dưới quảng trường Zócalo. Đào lên chôn xuống như thế ba lần cả thảy, bởi không ai chịu nổi bộ mặt khủng khiếp đó. Ngay cả khi đào lên rồi, bức tượng vẫn đứng khuất hàng chục năm sau tấm bình phong và chỉ được giới thiệu với người xem như một thứ quái vật.

Chị theo chân Adrian qua một trận đồ bát quái gồm cơ man nào hành lang với cầu thang lên xuống, để cuối cùng bước ra sân sau. Adrian nắm vai Charlotte, nhẹ nhàng xoay chị một vòng ra sau. Ngang tầm mắt, chị nhìn thấy ngay đôi bàn chân bức tượng thần Coatlicue. Thế mà chị cứ tưởng bức tượng cao ngang đầu người là cùng. Chị thận trọng ngước nhìn lên bức tượng cao gần bốn thước rồi nhắm ngay mắt lại, quay đi.

- Cái đẹp của bức tượng là ở chỗ, cái khủng khiếp được che đậy dưới vỏ thẩm mỹ vậy, Adrian trầm ngâm nói.

o0o

Tháng Giêng chị viết xong hai trang bàn về mối quan hệ biện chứng trong khái niệm cái đẹp ở nền nghệ thuật của dân Aztek.

Sang tháng Hai, bài viết của chị bị toàn thể ban biên tập, kể cả Wilhelm, nhất trí gạt đi, với lý do lý thuyết quá.

Tháng Ba bắt đầu mưa, hoàn toàn ngoài dự kiến, và Adrian ngỏ lời cầu hôn chị.

Chị chẳng có gì với Adrian. Song với Wilhelm chị cũng chẳng còn gì nốt; bởi anh này từ ngày ra khỏi ban lãnh đạo đảng, không còn ham hố tình dục nữa.

Hai người ngồi trên bậc thang dẫn lên Kim tự tháp Mặt trời của thành Teotihuacán đổ nát. Đây không phải lần đầu chị đi xe với Adrian đến đây. Charlotte phóng tầm mắt vượt khỏi thành phố chết, nhìn ra xa, nơi đồi núi nhấp nhô được gọi là thung lũng Mexico, mặc dù sự thực nó nằm những hai ngàn thước trên cao. Và, chị chợt nghĩ, chị dư sức vứt bỏ những của nợ ấy đi.

Thay vào đó, được một lần trong đời thấy hoa quỳnh nở.

Song tối hôm đó về đến nhà, bắt gặp Wilhelm đang ngồi bệt cạnh con chó giữa nến nhà, chị hiểu ngay, chị không thể làm việc ấy.

Ấy là chưa kể, nếu chị ở lại Mexico đây, liệu có bao giờ chị gặp lại các con không?

Ấy là chưa kể, chị định đi dạy con cái bọn nhà giàu đến hết đời thật ư? Hay chị định giữ vai cai quản đám người hầu của một vị giáo sư đại học về hưu vừa góa vợ?

Ấy là chưa kể, vào lúc chị đã bốn chín!

o0o

Tháng Tư có thư ông Dretzky; thật buồn cười ở chỗ thư đề đúng ngày mồng một tháng Tư. Cứ nhìn tiêu đề ở đầu thư thì ông Dretzky này giờ là Thứ trưởng Bộ giáo dục. Ông ta không đả động chút nào đến bản báo cáo của Charlotte; chỉ báo tin ở Lãnh sự quán Liên Xô đang có sẵn hai giấy nhập cảnh cho anh chị và thúc hai người nhanh chóng lên đường về nước nhận nhiệm vụ mới. Charlotte với cương vị Viện trưởng sẽ phụ trách Viện văn học và ngôn ngữ trực thuộc Viện hàn lâm khoa học về Nhà nước và pháp luật sắp thành lập. Còn Wilhelm, như ông Dretzky viết trong thư - do nằm trong số những người gọi là dân phía Tây di cư, cho nên không được nhận vào cơ quan mật vụ mới theo nguyện vọng - sẽ làm Giám đốc điều hành Viện hàn lâm.

Tối hôm đó hai anh chị đi dạo qua quảng trường Almeda, thả mình mặc cho dòng người cuồn cuộn cuốn đi. Từ xa vọng lại tiếng nhạc của một ban nhạc dân gian Mexico, gọi là ban mariachi nào đó, và hai anh chị lại ăn bánh tráng bột ngô tortilla với hoa bí đỏ như xưa nay.

Song, mọi sự không phải như xưa nay nữa.

Ba viên cảnh sát cưỡi ngựa chầm chậm, hệt như trong một đoạn phim quay chậm, len giữa đám đông. Cả ba đều đội mũ sombrero rộng vành, vừa to, vừa nặng; to và nặng đến mức như họ đang làm xiếc thăng bằng chứ không phải đội mũ. Chính vì thế trông dáng vẻ các kỵ sĩ vừa đáng nể vừa lố bịch. Họ đại diện cho Nhà nước mười hai năm trước đã cứu sống hai anh chị... Trong đầu Charlotte chợt nảy một ý nghĩ quái đản: mọi thứ chỉ là trò Cá tháng Tư mà thôi. Song, rồi chị lại nghĩ, ông Dretzky định đưa Wilhelm về làm giám đốc điêu hành một viện hàn lâm thì không quái đản ư? Cái anh Wilhelm nhà chị nào có biết khỉ gì về công việc điều hành. Mà, nói cho cùng, Wilhelm chẳng biết gì sất. Wilhelm là thợ tiện, có thế thôi.

Mặc dù đã có lần, cũng chỉ là trên giấy tờ, anh ta từng làm đồng giám đốc hãng Xuất nhập khẩu Lüddecke & Co. thật, thế nhưng, một là do trót cam đoan bảo mật đến trọn đời, anh chàng còn không khai điều này vào lý lịch Đảng, hai là cái hãng Xuất nhập khẩu Lüddecke ấy chẳng qua chỉ là một công ty ma do Nga tài trợ để mật vụ của Quốc tế III mượn danh tuồn người tuồn của ra vào mà thôi.

Ở Mexico, Wilhelm mãi không tìm được việc, đến khi tìm được, dù được trả lương rất hậu, thì lại là chân hộ vệ cho một tay buôn kim cương, một công việc không những chạm lòng tự trọng vô sản của anh chàng - vì phải canh giữ mạng sống và tài sản của một gã triệu phú - mà còn khiến anh ta luôn luôn phải tự ti tủi hổ, bởi vì lúc nào anh ta cũng có mặc cảm dường như được trả công cho sự ngu dốt của mình thì phải. Gã Mendel Eder nọ nhận anh ta làm chân hộ vệ, không phải bất chấp anh mù tịt tiếng Tây Ban Nha, mà chính là vì thế. Những lúc phải đôi co mặc cả, gã nhà buôn lấy làm yên lòng hơn khi có một tay hộ pháp câm điếc lầm lì đứng cạnh.

Mãi về sau, khi phần lớn dân lưu vong đã quay lại Đức rồi, Wilhelm mới chuyển sang làm cho tạp chí Bưu điện dân chủ. Song, dù trong lý lịch anh khai ở mục công tác cuối cùng đã kinh qua là “Giám đốc điều hành tạp chí Bưu điện dân chủ” (và biến chân hộ vệ cho Eder thành chân “khuân vác ở hãng Eder”) đi nữa, thì ông Dretzky cũng phải thừa biết không thể nào đem công việc biên nhận tiền thiên hạ quyên góp cho tạp chí Bưu điện dân chủ ra so với điều hành cả Viện hàn lâm chứ.

- Giờ hóa ra tôi lại thành cấp trên của cô cơ đấy, Wilhelm vừa nói vừa gõ gõ vào bao cho điếu thuốc tòi ra.

- Đã chắc gì, Charlotte đáp.

Không biết những gì đang diễn trong cái đầu kia của hắn nhỉ?

Đã nhiều lần họ tính chuyện hồi hương, song bao giờ cũng thế, cứ đến phút chót lại gặp trở ngại gì đấy. Lần đầu là vì không xin được giấy phép qua Mỹ. Lần sau vì tiền trong quỹ đi lại đã cạn, phải dành cho nhiều đồng chí khác quan trọng hơn. Rồi đến lượt Lãnh sự quán Liên Xô quả quyết chưa nhận được giấy tờ cho họ; sau lại khăng khăng vì họ nhiều lần bỏ lỡ giấy phép, giờ đành chịu khó chờ lượt sau vậy.

Nhưng lần này mọi việc có vẻ trôi chảy. Ở Lãnh sự quán người ta trao giấy tờ nhập cảnh cho anh chị thật. Họ được xếp chuyến tàu thủy đi thẳng, thậm chí với vé giá rẻ. Thêm vào đó, vé Wilhelm (tại sao lại đúng Wilhelm không biết?) còn được trả bằng tiền trích từ quỹ Đảng, mặc dù giờ hai người đã đủ sức tự chi cho chuyến vượt đại dương.

Charlotte bắt tay lo thu xếp nhà cửa, hủy mọi thứ hợp đồng còn dở dang và đành chịu thiệt, nhượng chậu hoa quỳnh cho cửa hàng hoa với giá rẻ. Bao nhiêu là việc phải làm, nhiều đến mức chị cũng ngạc nhiên. Và mãi đến lúc này chị mới nhận ra chị đã nhập sâu vào cuộc sống nơi đây đến mức nào; mỗi cuốn sách chị phải ngẫm đi ngẫm lại xem nên mang theo hay để lại, mỗi vỏ ốc, mỗi vật kỷ niệm con con chị phải xoay đi lật lại xem nên gói giấy báo đem về hay vứt bỏ, mọi thứ đều gắn liền với một kỷ niệm nào đó của đoạn đời đang đến hồi kết ở đây. Song, trong khi cân nhắc xem thứ này thứ nọ còn dùng được không ở cuộc sống mới, trong đầu chị cũng hình thành dần một bức tranh mơ hồ về cuộc sống mới ấy.

Hai anh chị sắm năm chiếc thùng lớn đựng quần áo, chuyển một phần của cải nhỏ nhoi của họ thành ít đồ trang sức bằng bạc, và với số tiền còn lại, mua một lô những thứ họ e sẽ khó lùng ở nước Đức hậu chiến, như chiếc máy chữ xách tay Thụy Sĩ (có điều bị thiếu mất chữ cái “ẞ”) chẳng hạn, hay hai bộ bát đĩa bằng nhựa cứng hết sức tiện lợi, một cái lò nướng bánh nhỏ, vô số chăn vải bông in các mẫu hình của thổ dân da đỏ, năm chục hộp cà phê tan Nescafe cũng vô cùng tiện lợi, hơn hai cây thuốc lá, thêm vào đó là vô số quần áo mà họ đinh ninh sẽ hợp cả thời tiết lẫn cương vị xã hội mới của họ. Thay cho số áo xống mỏng, sáng màu mặc mùa hè, giờ Charlotte thử đóng bộ thứ áo sơ-mi cài kín cổ và vài bộ âu phục kín đáo với các tông màu xám khác nhau; chị đi uốn tóc rồi sắm một cặp kính không quá choáng nhưng đủ sang trọng, có cái gọng mảnh mai màu đen mà những khi chị đứng trước gương thử ánh mắt một vị nữ viện trưởng, luôn tạo cho gương mặt chị vẻ nghiêm khắc đáng tin cậy.

Và, tuy vẫn ăn mặc như xưa, nhưng mang kính mới và mái tóc mới, chị đến gặp Adrian một lần nữa, lần cuối cùng. Hai người, như mọi khi, đến một tiệm ăn nhỏ ở Tacubaya, nơi chỉ bất tiện duy nhất một điều là nằm quá gần Lãnh sự quán Liên Xô. Adrian gọi hai ly rượu vang trắng cùng món ớt tây nhồi thịt chiles en nogada và trong khi chờ nhà hàng dọn món, anh hỏi Charlotte đã biết tin Slánský[6] bị kết án tử hình chưa.

- Sao anh lại hỏi thế, chị khẽ hỏi.

Thay vì trả lời, Adrian nói thêm:

- Cả mười người khác nữa - về tội chủ trương phục hồi nhà nước Do Thái.

Rồi anh lôi tờ Herald Tribune đặt lên bàn.

- Đây, em đọc đi, anh nói.

Nhưng Charlotte không muốn đọc.

- Đây chính là bằng chứng, Adrian vừa nói vừa gõ gõ ngón tay trỏ lên tờ báo, cho thấy không có tí ti thay đổi nào hết.

- Em xin anh, anh nói khẽ chứ, Charlotte nói nhỏ.

- Thấy chưa! Chưa gì em đã sợ! Không biết về bên ấy rồi sẽ thế nào?

Thức ăn được dọn ra, nhưng Charlotte chẳng thiết ăn gì nữa. Hai người ngồi im lặng một lúc lâu trước đĩa ớt tây nhồi thịt. Rồi Adrian cất tiếng:

- Charlotte ạ, chủ nghĩa cộng sản, cũng như tín ngưỡng người Aztek ngày xưa vậy, đều đòi con người ta hiến máu cả.

Charlotte giật phắt ví xách tay chạy vọt ra ngoài phố.

Năm ngày sau họ xuống tàu, con tàu sẽ đưa họ về châu Âu. Đúng vào giây phút nhổ neo và sàn tàu dưới chân chị hơi chao đi, có lẽ chỉ vài ly thôi, đôi chân chị bỗng mềm nhũn khiến chị phải lấy hết sức bám chặt hàng lan can. Cơn yếu lòng kéo dài chừng một phút, nhưng Wilhelm không hay biết gì.

Bờ biển mờ dần trong sương, con tàu quay mũi ra đại dương rồi lên đường, để lại sau một vệt dài thẳng băng trên mặt nước. Gió mát rượi, trên boong tàu dây căng buồm rung bần bật và chẳng mấy chốc xung quanh họ đã miên man một màu xám vô tận, kéo lên tận chân trời ở mọi hướng.

Ngày đã dài, đêm còn dài hơn. Charlotte mất ngủ, lúc nào cũng mơ độc giấc mơ Adrian dẫn chị đi xem một viện bảo tàng xây ngầm dưới đất. Và lần nào chị cũng choàng tỉnh rồi không ngủ tiếp được nữa. Chị nằm chong mắt hàng giờ trong bóng tối, cảm nhận từng bước oằn mình vươn tới, từng pha chòng chành của con tàu, thấm thìa từng cơn thân tàu run lên cùng gió giật. Cả mười người khác nữa, Adrian bảo thế. Tại sao chị không đọc nhỉ, cũng để xem xem đấy là tên những ai chứ? Toàn câu hỏi là câu hỏi. Không biết thằng Kurt nhà chị làm gì ở tận Ural ấy? Tại sao những bấy nhiêu năm mà Hội Chữ thập đỏ vẫn không tìm nổi Werner đang ở đâu? Chị đúng là một đảng viên tồi. Thật thà mà nhận thì đầu chị rặt những ý nghĩ vi phạm kỷ luật Đảng. Và, suýt nữa thì cả thân xác chị cũng phạm kỷ luật nốt.

Ban ngày chị tìm cách lảng xa Wilhelm để sắp xếp lại đầu óc đang lộn xộn. Chị tự hỏi, không có Đảng thì giờ này chị sẽ là ngữ gì mới được chứ. Ở trường dạy nội trợ, chị được dạy cách giặt cách là, cách mạng tất hay quần áo thủng. Nếu không có Đảng, cùng với Wilhelm, chen vào đời chị, thì có lẽ giờ này chị vẫn còn mạng tất, giặt quần, là áo cho ông chủ tịch hội đồng giáo viên Umnitzer là cùng, cái ông từng phản chị, ngủ lăng nhăng với tụi nữ sinh ấy, chắc vẫn phải nín nhịn kiểu cách đối xử kiêu ngạo của mẹ chồng và vẫn phải thỉnh thoảng điên tiết vì cái bà Paschke chết tiệt, luôn chiếm chỗ phơi quần áo của chị ấy.

Vào Đảng, lần đầu tiên chị mới được tôn trọng và đề cao. Phải những người cộng sản, mà lúc xưa chị vẫn tưởng là bọn cướp đường (hồi còn con nít, chị cứ hình dung họ xông vào các nhà rồi lật tung giường chiếu, chăn màn lên; vì mẹ chị vẫn chẳng bảo tụi cộng sản “phá rối trật tự” là gì), phải những người cộng sản mới nhận ra năng khiếu của chị để chi tiền cho chị học ngoại ngữ, mới trao các nhiệm vụ chính trị cho chị. Và, trong khi anh trai Carl-Gustav của chị, người anh được mẹ chị chắt bóp dã man dành tiền cho đi học nghệ thuật ấy - Charlotte đến tận giờ vẫn cay đắng nhớ lại chuyện, để dè sẻn khí đốt, mẹ chị sai chị đứng canh ấm nước sôi, cũng như cảnh tượng mẹ chị tức tối cầm thớt thái bánh mì gõ vào gáy chị, nếu chẳng may chị không kịp tắt bếp trước khi ấm nước sôi rít lên - trong khi Carl-Gustav không thành nổi nghệ sĩ và chìm nghỉm đâu đó trong đám đàn ông đồng tính ở Berlin, thì chị đây, là người chỉ được học xong bốn lớp trường dạy nội trợ thôi nhé, đang trên đường trở về Đức để tiếp nhận một Viện nghiên cứu văn học và ngôn ngữ, và điều duy nhất khiến chị xót xa là mẹ chị không còn được chứng kiến vinh quang này nữa và chị cũng không còn có thể gửi cho mẹ chị một bức thư lời lẽ sắc gọn, trên đầu thư có in dòng chữ Charlotte Powileit, Viện trưởng.

Rồi đêm lại xuống. Thân tàu nghiêng qua chao lại trong bóng đêm và Charlotte cứ vừa chợp mắt là Adrian đã lại đến dẫn chị chui vào những lối đi sâu thẳm dưới lòng đất mà ở cuối đang có cái gì đó kinh khủng chực sẵn chờ chị... Tiếng hét của chính chị làm chị bật dậy.

Còn Wilhelm thì lại có vẻ mỗi ngày một khỏe ra. Vừa đây thôi, lúc còn ở trên bờ bên kia đại dương, anh chàng bị mất ngủ liên miên, lại luôn mồm than ăn không ngon miệng. Thế mà giờ, chị càng ăn ít đi bao nhiêu, anh ta càng có vẻ thèm ăn thêm bấy nhiêu. Anh ta ngủ được, rồi ngày nào cũng như ngày nào, bất kể thời tiết xấu thậm xấu tệ, anh ta vẫn đi lại cho dãn gân dãn cốt trên boong tàu và bao giờ cũng quay về phòng với chiếc mũ phớt chính hiệu Tardan bằng dạ ướt mèm nhưng dường như không bao giờ nhàu nát trên đầu, lại cằn nhằn chị suốt ngày chỉ chui rúc một chỗ.

- Tôi say sóng, Charlotte chống chế.

- Chuyến đi, cô có say đâu, Wilhelm đáp lại.

Wilhelm - con người suốt mười hai năm qua tại các buổi dạ tiệc chỉ đứng lầm lì ở xó nào đó như cây ba toong bị chủ bỏ quên ấy, con người mà đến tận giờ chót không đọc nổi một biển hiệu viết bằng chữ Tây Ban Nha nào và luôn luôn phải cầu cứu Charlotte mỗi dịp bị cảnh sát hỏi han ấy - giờ đây bỗng biến thành người am hiểu và yêu chuộng Mexico hết mực, có thể huyên thuyên hầu quý ông quý bà ngồi cùng bàn với thuyền trưởng vô số chuyện thật sự bất ngờ về những gì đã trải qua. Và, mặc dù từ thời ở Hamburg tại hãng Xuất nhập khẩu Lüddecke anh ta đã quen lối nói gì cũng úp úp mở mở, chẳng mấy chốc mọi người đều tin anh này từng một mình một ngựa phóng từ bờ đại dương này sang bờ đại dương kia, từng ngồi ca-nô ở Puerto Ángel câu cá mập, và từng đích thân phát hiện tháp Palenque của người Maya bị rừng nguyên thủy phủ kín - trong khi Charlotte vò võ một mình chấm bánh mì khô với nước trà hoa cúc.

o0o

Ngọn gió lạnh như băng thổi từ nước Đức mới ra đón họ có vẻ không làm Wilhelm nao núng chút nào. Một tay giữ vành mũ, anh ta ưỡn ngực, nghênh ngang đi qua khu vực cảng, tự nhiên như thể quen thuộc chốn này lắm. Charlotte so vai rụt cổ, bước thấp bước cao đi theo sau.

Rồi họ chui vào một cái lán. Một người đàn ông mặt mũi nhợt nhạt lật qua lật lại xem xét giấy tờ hai anh chị. Và, trong khi Charlotte còn băn khoăn không biết ở Đức ngày nay người ta xưng hô “công dân” hay “đồng chí” với nhân viên hải quan thì Wilhelm đã dàn xếp xong mọi sự, thậm chí còn kịp gọi cả taxi.

Cảnh trong phố trông chẳng khác ngoài cảng là mấy, và mặc dù nhìn thoáng qua Charlotte chưa nhận thấy gì đổ nát lắm, mọi thứ thật ra đều tan hoang cả, từ nhà cửa, đến bầu trời và những con người qua lại, ai nấy đều dựng cao cổ áo che khuất mặt.

Ở một góc phố, người ta đang bán xúp, múc từ cái thùng tôn ra.

Một góc khác, hai bóng người đang loay hoay kéo chiếc xe tay chất đầy ắp toàn thứ bỏ đi vượt mép đường lên vỉa hè.

Dần dần Charlotte cũng nhận ra, hôm nay chị đội chiếc mũ có mạng thưa màu đen che mặt mua cốt cho chuyến hồi hương này thật không phải.

Wilhelm nhặng xị sai bảo người khuân vác. Charlotte nhét hai đô-la vào tay người đàn ông, ông này ngẩn mặt nhìn.

- Cô cứ phóng tay quá, Wilhelm nhăn nhó.

- Anh cũng thế chứ gì, chị đốp lại.

o0o

Tàu vào ga, xinh xịch, xinh xịch, hằm hè. Đâu cũng một mùi xe hỏa, mùi khói than lẫn mùi xú uế không lẫn vào đâu được. Đã lâu, Charlotte không đi xe hỏa.

Chị nhìn ra cửa sổ. Phong cảnh lướt qua trước mắt theo nhịp tàu chạy đều đều. Hết rừng cây sũng nước, sang cánh đồng đất cày vỡ còn loang lổ tuyết đầu mùa chưa tan hết. Ngọn khói mảnh mai bốc lên nóc chòi của người gác chắn tàu, và lúc tàu chạy lướt qua, Charlotte còn kịp thoáng nhìn thấy viên gác chắn tàu đang quay tời kéo thanh chắn đường ngỏng lên.

- Gác chắn tàu kìa, Wilhelm nói. Vẻ đắc thắng, ta đây lắm.

Charlotte không nói gì, vẫn chỉ nhìn ra cửa sổ, thử tìm xem có thấy gì làm yên lòng không, gắng vui khi nhìn đỉnh tháp nhà thờ lợp ngói nung, cố gợi trong cảnh vật trôi qua một thứ gì đó như tình cảm quê hương. Dù sao, những con đường cây mọc cao hai bên cũng nhắc nhở chị ở Đức vẫn có thứ gì từa tựa mùa hè. Gió mát. Chị chợt nhớ chiếc mô-tô ba bánh BMW R32 có gắn thùng xe bên hông của Wilhelm hồi nào. Bọn trẻ ngồi trong thùng xe, vô tư, cười nói.

Tàu dừng. Cửa khoang mở ra và một luồng khói than nâu pha hơi mưa lành lạnh lùa theo vào. Người đàn ông không chào hỏi, ngồi xuống ghế, không bỏ áo choàng, một chiếc áo bằng da màu sẫm, đã cũ. Đôi giày ông ta mang dính bê bết bùn.

Người đàn ông liếc nhìn chị một loáng rất nhanh, rồi lôi một hộp đựng bánh mì từ trong cặp xách tay và lấy ra khoanh bánh mì kẹp ăn dở. Ông ta nhai lâu, nhai kỹ, còn lại một phần tư miếng bánh, ông ta nhét trở lại vào hộp. Đoạn, ông ta rút tờ báo Nước Đức mới từ trong cặp ra mở rộng trước mặt, và đập ngay vào mắt Charlotte là dòng chữ in ở mặt sau tờ báo:

ĐẢNG KÊU GỌI ĐỒNG CHÍ!

Charlotte thấy ngượng, vì cái mạng che mặt gắn trên mũ của chị, vì chị đã lo sợ, vì năm chục hộp cà phê tan Nescafe chị mang theo trong va-li... Phải rồi, Đảng đang cần đến chị. Đất nước này cần đến chị. Chị sẽ làm việc, sẽ góp sức xây dựng đất nước này. Liệu còn nhiệm vụ nào cao quý hơn không?

Người đàn ông đưa tờ ND lên cao, khiến chị đọc được cả phần cuối trang. Toàn tin vặt, nhưng bỗng dưng làm chị thích thú. Cứ nghĩ tối nay, nếu muốn, chị có thể đến ngay rạp Ngôi Sao ở quận Berlin-Mitte xem phim là đã thấy thú vị. Phim Đường hy vọng. Charlotte sẵn lòng tin đấy là điềm lành và bỗng cảm động, đến mức rưng rưng nước mắt - tại sao thế không biết? - khi lướt đọc thấy ở mục ĐÈN PHA mấy dòng thông báo:

Ai cần mua thông lớn, xin viết giấy hay gọi điện đến Hợp tác xã hàng tiêu dùng Đại Berlin, chậm nhất đến hết ngày 18 tháng 12.

Người đàn ông mở rộng tờ báo khiến Charlotte đọc được cả trang đầu. Và đập ngay vào mắt là dòng chữ dưới một bức ảnh:

Đồng chí Thứ trưởng Bộ Giáo dục...

Bây giờ, lẽ ra chữ tiếp theo phải là Karl-Heinz Dretzky. Nhưng không phải.

Con tàu lắc lư chạy qua đoạn bẻ ghi. Charlotte loạng choạng giữa lối đi trong toa, đập đầu va trán thế nào chị cũng chẳng biết nữa. Khó nhọc lắm chị mới lần được đến cầu tiêu, dùng tay lật nắp cầu lên rồi nôn hết những gì chị vừa ăn lúc sáng vào đấy.

Rồi chị đậy cầu, ngồi phịch lên nắp. Nhịp bánh xe đập xuống đường tàu hòa với nhịp hàm răng chị va nhau cầm cập, nhói thẳng lên đầu chị. Chị vẫn còn cảm thấy ánh mắt lạnh lùng, dò xét xoáy vào chị qua mép tờ báo. Áo choàng da, màu đen, khống sai tí nào. Mọi sự thế là rõ, mọi sự khớp nhau không chệch đi đâu được.

Bảo chị “được tuồn vào” là đúng rồi, được tuồn vào qua tay tên gián điệp phục quốc Do Thái Dretzky.

Con tàu nghiến rít lên, nghe ken két, như thể sắp đứt thành từng khúc. Hai tay chị ôm chặt lấy đầu... Hay chị hóa điên? Không, chị vẫn tỉnh lắm. Đã lâu lắm, giờ đầu óc chị mới tỉnh táo thế này... Giá dòng chữ trên báo là: Tân Thứ trưởng... Suýt nữa thì chị đã xuýt xoa tự khen mình sớm học được cách phân biệt những nét tinh tế kiểu như vậy. Tân Thứ trưởng! Đã có tân, ắt có cựu... Song, không có ông cựu thứ trưởng đó. Không hề có. Hóa ra anh chị được một kẻ không có thực bảo trợ. Thì chính họ cũng không có thực vậy. Rồi ở ga Đông sẽ có vài người đàn ông mặc áo choàng màu đen bằng da đứng chờ, chị sẽ đi theo họ, ngoan ngoãn, không la lối. Rồi chị sẽ ký tên nhận tội. Rồi chị sẽ biến mất. Biến đi đâu? Chị không biết. Những người tên tuổi không được nhắc đến nữa đã ở đâu nhỉ? Những người không những không tồn tại, mà còn chưa từng tồn tại ấy?

Chị đứng dậy, ngả mũ ra, rót nước súc miệng, đoạn tự ngắm mình trong gương. Rõ ngu, chị nghĩ bụng.

Chị lục chiếc kéo cắt móng tay trong túi xách ra rồi cắt rời mạng che mặt khỏi vành mũ. Ít gì cũng đỡ bận tâm.

Người đàn ông đứng hút thuốc ngay giữa lối đi. Chị so người lách qua, gắng không chạm vào ông ta.

- Cô đi đâu nãy giờ lâu thế, Wilhelm căn vặn.

Charlotte không đáp. Chị ngồi vào chỗ, nhìn qua cửa sổ ra ngoài. Những cánh đồng trải rộng, những ngọn đồi thoai thoải lướt qua, chị nhìn, mà chẳng thấy gì. Trong lòng, chị tự lấy làm lạ, sao lúc này chỉ thấy bực bội. Tự lấy làm lạ về những gì đang diễn ra trong đầu. Chị cứ tưởng phải nghĩ đến cái gì hệ trọng mới phải. Đằng này chị lại nghĩ đến chiếc máy chữ Thụy Sĩ thiếu chữ cái “ẞ”. Chị thử hình dung xem ai sẽ hưởng năm chục hộp Nescafe chị mang về. Chị nhớ chậu hoa quỳnh phải để lại cho gã bán hàng hoa (với giá rẻ mạt). Và, chị cứ lan man như thế, trong khi cảnh vật phía ngoài như một cuốn phim vô đề cứ thế trôi qua, trong khi một chiếc máy kéo đang lọ mọ lăn qua cánh đồng...

- Máy kéo kìa, Wilhelm nói lớn.

... trong khi đoàn tàu dừng lại ở một ga nhỏ, nhem nhuốc...

- Ga Neustrelitz, Wilhelm lại nói.

... trong khi cảnh vật mỗi lúc một bằng phẳng và tẻ nhạt hơn, trong khi hàng cây thông đơn điệu hai bên đường tàu trôi lướt qua, chốc chốc lại bị một cây cầu, một đoạn đường nào đấy chạy dọc đường tàu hay một thanh chắn đường vắng tanh bóng người ngắt quãng, trong khi dây điện tín vội vã nhảy từ cột điện trước sang cột điện sau một cách vô bổ và những giọt nước mưa bắt đầu từ từ lăn chéo mặt kính cửa sổ xuống dưới, chị chợt nhớ cảnh Wilhelm ngồi ghế đu gần một năm trước ở Puerto Ángel, bắp chân gầy gò, nhợt nhạt thò từ ống quần ra ngoài...

- Ơ kìa, cô tháo mạng che mặt rồi, Wilhelm nói.

- Phải, Charlotte đáp, tháo rồi.

Wilhelm cười. Lòng trắng mắt anh ta sáng lên trên khuôn mặt rám nắng và mái đầu hói bóng lên như mặt da giày đánh xi.

Tàu chạy qua ga Oranienburg. Bảng chỉ đường dựng ở góc phố. Chị nhớ quán rượu phía ngoài thành phố, nơi chỉ cần vài xu là gọi được cà phê rồi rủ nhau tránh nắng dưới bóng mát một cây dẻ nào đấy, lôi bánh mì mang theo ra ăn; nhớ mấy bãi tắm, cảnh thiên hạ đóng bộ dạo chơi ngày Chủ nhật, nhớ tiếng rao mấy người bán hàng rong đeo khay trước bụng và mùi xúc xích bockwurst nóng. Bây giờ, tàu chạy qua đây, chị thoáng nghĩ, hay đây là vùng Oranienburg nào khác mà chị không biết nhỉ, gồm toàn những ngôi nhà nằm rải rác một cách vô lý, dù có người ở đi nữa vẫn có vẻ như bị bỏ hoang.

Một cây cột điện bị gãy. Xe chở lính. Lính Nga.

Một người đàn bà dắt xe đạp đứng chờ bên thanh chắn tàu, trong giỏ chở hàng treo trước xe có chú chó con ngọ nguậy. Charlotte chợt nhận ra chị không thích chó tí nào.

Rốt cuộc cũng đến Berlin. Một chiếc cầu gãy lướt qua. Mặt tường nhà lỗ chỗ vết đạn, vết bom. Kia là một ngôi nhà bị trúng bom, toang hoác phô hết ruột gan ra giữa trời: phòng ngủ, bếp, buồng tắm. Một tấm gương vỡ. Chị có cảm giác còn nhìn thấy cả cốc nước súc miệng đặt dưới gương. Con tàu từ từ lăn qua khu nhà, chầm chậm như đưa người ngoạn cảnh. Charlotte chợt như thấy thương hại cho dân xứ này: họ còn biết bao nhiêu việc phải làm!

Không còn gì quen thuộc với chị nữa cả. Không còn chút gì của chốn đô thành mà cuối những năm ba mươi chị phải rời bỏ ấy. Cửa hàng cửa hiệu lèo tèo, biển hiệu khốn khổ, nguệch ngoạc viết bằng tay. Phố xá vắng tanh. Chẳng mấy xe cộ, thưa thớt người bộ hành.

Rồi lại thấy một hàng dài người xếp nối đuôi nhau trước một tòa nhà. Họ đứng đấy, thờ ơ, xám xịt.

Cạnh đó, giữa cảnh tượng tuyệt vọng ấy, vài người thợ đang loay hoay vá một đoạn phố bị hỏng.

Rồi đường ray bắt đầu chia nhánh.

- Ga Đông đây rồi, Wilhelm nói.

Charlotte men theo lối đi trên toa tàu, bủn rủn hai đầu gối. Tiếng phanh rít ken két. Wilhelm xuống trước, đón hành lý từ trên toa xe xuống đất. Rồi đến lượt chị bước xuống sân ga. Chị nhận ra vòm mái che ga tàu trước tiên, chim câu đậu trên các thanh xà ngang bằng thép. Từ bên ga S-Bahn vọng sang tiếng loa sang sảng:

- Xin quý khách lùi laa...ại!

Charlotte lén nhìn xung quanh.

- Ô hay, sao mặt mũi cô nhợt nhạt hết ra thế kia, Wilhelm ngạc nhiên.

[1] Thành phố ven bờ Thái Bình Dương thuộc bang Oaxaca phía Nam Mexico.

[2] Thành phố thuộc bang Oaxaca, giáp Puerto Ángel.

[3] Nguyên là đồng tiền Tây Ban Nha, nay là đồng tiền phổ biến tại nhiều thuộc địa cũ của Tây Ban Nha. (Ký hiệu $ vốn là ký hiệu dùng để chỉ đồng peso Tây Ban Nha-Mexico, về sau cũng mới được dùng cho đồng đô-la Mỹ).

[4] Thành phố nhỏ ven Thái Bình Dương, cách Puerto Ángel chừng 10 cây số về phía Tây.

[5] Tiếng Tây Ban Nha: nhân viên phục vụ.

[6] Rudolf Slánský, cựu Tổng bí thư Đảng cộng sản Tiệp Khắc từ năm 1945 đến 1951, bị kết tội phản quốc và kết án tử hình năm 1952.

Hoàng Đăng Lãnh dịch
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.