Vũ Trụ Và Hoa Sen

Định dạng khác: 📖 Chữ 🎧 Audio
Lượt đọc: 534 | 1 Đánh giá: 9/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Tại Sao Tôi Sử Dụng Tiếng Pháp, Tại Sao Tôi Viết Cho Công Chúng

❊ ❊ ❊

Khi đã là một giảng viên và một nhà nghiên cứu do sự trùng hợp may mắn của nhiều hoàn cảnh, tôi đã trở nên say mê viết sách phổ biến thiên văn học. Theo đề nghị của tạp chí La Recherche, tôi đã viết nhiều bài báo phổ biến kiến thức về vũ trụ: Big Bang, sự hình thành các thiên hà, vv… Chúng đã được đánh giá cao và gây được sự chú ý với giám đốc văn học của tủ sách “Thời của các khoa học” thuộc Nhà xuất bản Fayard lúc bấy giờ. Ông đã liên hệ với tôi ở Mỹ và đề nghị tôi viết một cuốn sách tổng kết lại các lí thuyết về vũ trụ, đặc biệt là thuyết Big Bang. Đề nghị của ông tới rất đúng lúc, bởi trước đó tôi cũng đang nung nấu ý muốn đưa các phát minh kì diệu của vật lí thiên văn hiện đại đến với công chúng.

Tôi tận hưởng trọn vẹn cuộc sống ở một trường đại học, nó cho phép tôi tách biệt khỏi thế giới để làm công việc phân tích và suy tư, viết các bài báo khoa học để chia sẻ các phát hiện của mình với cộng đồng khoa học. Tuy nhiên, tôi vẫn luôn có cảm giác không mấy thoải mái khi biết rằng một bài báo mà tôi đã dày công viết ra trong nhiều tháng, thậm chí hàng năm trời, mà chỉ được đọc và hiểu bởi một số ít các chuyên gia, vì tri thức giờ đây đã trở nên quá chuyên sâu. Một sự chuyên môn hóa quá mức như thế khiến tôi rất thất vọng: càng ngày tri thức khoa học càng trở thành kiến thức chuyên sâu của một ngành cực hẹp. Mà tác giả nào viết ra lại không mong có người đọc. Tôi nghĩ rằng, một cuốn sách phổ biến kiến thức về thiên văn hay sẽ đến được với công chúng rộng rãi hơn, và xét cho cùng, cũng sẽ có tác động lớn hơn. Biết đâu, thậm chí nó còn có thể làm thay đổi cả thế giới quan của một số độc giả và giúp họ đánh giá tốt hơn thân phận con người trong vũ trụ bao la này. Các thanh thiếu niên có thể nó sẽ làm nảy sinh những chí hướng khoa học trong một thời đại mà khoa học không được báo chí coi trọng và giới trẻ thì quay lưng lại. Tôi có một niềm tin sâu kín rằng, nhờ vào việc phổ biến khoa học, tôi sẽ đáp ứng được lí tưởng của chữ nhân, khái niệm về tình yêu thương con người rất được Khổng Tử coi trọng, và nó đã bắt rễ rất sâu trong lòng tôi.

Năm 1987, một năm sau khi kí hợp đồng với nhà xuất bản, tôi có một năm nghỉ sa-bat[1]. Trường Đại học Virginia, cũng như tất cả các trường đại học khác của Mỹ, có một tập quán rất hay là, cứ sau mỗi sáu năm, lại cho phép các giáo sư được nghỉ dạy trọn một năm. Mục đích là cho phép họ hoàn toàn tập trung vào nghiên cứu, hay viết một cuốn sách trong 12 tháng, mà không bị gián đoạn bởi công việc giảng dạy hay các nhiệm vụ hành chính khác. Các giảng viên cũng có thể dùng khoảng thời gian này làm việc ở một nơi khác, cộng tác với các chuyên gia cùng ngành để tiếp xúc trao đổi, hợp tác và tự làm mới mình về mặt trí tuệ. Có nhiều lí do để tôi dành năm nghỉ sa-bat này tới làm việc ở Viện Vật lí Thiên văn Paris. Đây không chỉ là một trung tâm nghiên cứu tốt, nơi tôi có thể cộng tác với các đồng nghiệp người Pháp, mà đó cũng còn là cơ hội cho phép tôi thường xuyên tới thăm cha mẹ, hiện vẫn sống ở Paris. Hơn nữa, thời gian lưu trú ở thủ đô nước Pháp, trung tâm của vô số các di sản văn hóa, cũng sẽ là điều kiện tốt để tôi viết cuốn sách của mình.

Mặc dù mang quốc tịch Mỹ, sống trên đất Mỹ, và sử dụng tiếng Anh hằng ngày từ bốn thập kỉ nay, nhưng tôi vẫn chỉ thấy thoải mái nhất khi sử dụng ngôn ngữ của Molière để trình bày những ý tưởng trong cuốn sách. Việc đọc các tác giả kinh điển của Pháp khi còn học trung học ở Sài Gòn như Racine, Corneille và Molière hay các tác giả lớn của thế kỉ 19 như Hugo, Balzac, Stendhal và Flaubert cũng như các nhà thơ như Rimbaud, Verlain và Baudelaire đã làm tôi say đắm thứ ngôn ngữ trong sáng, đầy ắp sắc thái và một vốn từ vựng vô cùng giàu có này. Với tôi đó chính là thứ ngôn ngữ văn học tốt nhất. Tôi biết rằng những chủ đề mà tôi sẽ đề cập đến trong cuốn sách của mình đôi khi rất khó, và tôi tin rằng việc viết bằng tiếng Pháp sẽ cho phép tôi đưa vào một chút chất thơ để làm dịu đi thứ ngôn ngữ đôi khi khô cứng của khoa học. Tiếng Anh đối với tôi vẫn là một ngôn ngữ khoa học mà tôi sử dụng để viết các bài báo khoa học. Tôi còn một chút tham vọng văn học hơn nữa với tiếng Việt, tiếng mẹ đẻ của tôi. Tôi vẫn dùng nó trong gia đình, nhưng do nhiều năm rời xa quê hương nên tôi không thể sử dụng nó một cách thuần thục như tôi muốn.

Tôi đã hoàn thành cuốn Giai điệu bí ẩn[2] (La Mélodie secrète) vào cuối năm nghỉ sa-bat, và nó được xuất bản khi tôi đang bận bịu giảng dạy trở lại ở Virginia. Hoàn toàn vô danh với công chúng Pháp, tôi tự hỏi liệu có cơ hội để cuốn sách của tôi được biết tới hay không. May mắn thay, Claude Durand, giám đốc của Nhà xuất bản Fayard đã đánh giá cao cuốn sách và quyết định tung ra một chiến dịch báo chí rầm rộ để lăng xê. Báo chí đã đáp ứng ngay, các bài bình luận đều có ý khen ngợi. Và đỉnh điểm là Bernard Pivot đã mời tôi dự chương trình truyền hình Apostropes. Tôi biết rằng mình đã thành công, khi hôm sau, ở sân bay Roissy, tôi đang chờ để bay trở lại Virginia, rất nhiều người đã đến chúc mừng tôi về chương trình truyền hình. Giai điệu bí ẩn đã trở thành cuốn sách best-seller và được dịch sang nhiều thứ tiếng, trong đó có cả tiếng Anh và tiếng Việt. Hơn hai thập kỉ sau, cuốn sách vẫn bán được hàng ngàn bản mỗi năm dưới dạng sách bỏ túi. Vậy là sự nghiệp viết sách phổ biến khoa học của tôi thực sự đã bắt đầu.

“Tại sao ông lại chọn phổ biến kiến thức khoa học?” Tôi đã được hỏi như thế rất nhiều lần trong các cuộc phỏng vấn. Và tôi luôn đáp rằng lí do chính là đề tài nghiên cứu của tôi thích hợp với điều đó. Mỗi chúng ta đều đã từng ngước nhìn bầu trời đêm và đều bị choáng ngợp bởi sự lộng lẫy của nó. Mỗi chúng ta cũng đều đã từng tự vấn về sự vô tận của vũ trụ và đặt ra các câu hỏi về nguồn gốc và số phận của nó. Tôi có một thế mạnh mà các đồng nghiệp trong các lĩnh vực nghiên cứu khác không có: đó là nói về các hành tinh dễ dàng hơn nhiều so với nói về các proton, electron hay quark mà chưa ai ngoài các nhà khoa học từng được nhìn thấy. Các ngôi sao và các tinh vân mang chất thơ và vẻ đẹp mà chắc chắn các hạt cơ bản không bao giờ có. Việc phổ biến thiên văn học chắc chắn sẽ dễ dàng hơn so với phổ biến vật lí hạt cơ bản, lí thuyết dây, công thức của một chất hóa học, sự vận hành của một tế bào sống hay một virus.

Còn có những lí do khác quan trọng hơn thúc đẩy tôi đóng vai trò “người truyền bá kiến thức”. Không nghi ngờ gì nữa, xã hội ngày nay phụ thuộc rất nhiều vào khoa học và các công nghệ phái sinh từ nó. Những kiến thức đó là nền tảng cho sự phát triển và tồn tại của nhân loại. Và cũng chắc chắn rằng khoa học, khi bị những người có quyền quyết định sử dụng một cách sai lầm, dù họ là nhà chính trị, nhà công nghiệp hay nhà quân sự, đều có thể gây nên những hậu quả khủng khiếp: sự tàn phá Hiroshima và Nagasaki, lỗ thủng trên tầng ozon, sự nóng lên toàn cầu do hiệu ứng nhà kính hay các vết thương khác do chúng ta gây ra cho Trái Đất là những bằng chứng rõ ràng. Trong một thế giới ngày càng trở nên phụ thuộc lẫn nhau, trong đó tư tưởng dân chủ càng phát triển rộng rãi và công chúng ngày càng có tiếng nói đối với các nhà lãnh đạo, thì việc các công dân nắm được một hiểu biết cơ bản về khoa học và công nghệ càng trở nên cốt yếu trong mọi lĩnh vực của cuộc sống, họ cần phải nắm được những lợi ích cũng như các tác hại có thể để lựa chọn đứng đắn các nhà lãnh đạo của họ. Những người này cần phải lựa chọn trong hàng loạt các giải pháp có thể gây ảnh hưởng đến hàng triệu người, thậm chí cả tương lai của hành tinh. Vì vậy họ cũng cần phải cập nhật thông tin để có thể đưa ra các lựa chọn đúng đắn.

Báo chí khoa học cũng đóng vai trò quan trạng trong việc phổ biến kiến thức. Nó cung cấp thông tin cho công chúng hiện trạng của tri thức và những ứng dụng của chúng trong xã hội. Nó cũng là tiếng vang của những phản ứng của công chúng đối với một số ứng dụng - chẳng hạn như sự ngờ vực của châu Âu đối với các thực vật biến đổi gen. Nhưng các nhà báo khoa học không làm khoa học, và vì thế đôi khi họ mắc phải sai lầm trong các bài báo hay các chương trình phát thanh truyền hình của họ. Còn ai có thể thích hợp hơn nếu không phải là chính nhà khoa học đứng ra giải thích những phát minh của mình hay của các đồng nghiệp? Nhà khoa học làm việc này là thích đáng nhất: do tự thực hành chính phương pháp khoa học, anh ta biết được những thành công lóe sáng và vang dội, nhưng đồng thời cũng biết cả những hạn chế và ngõ cụt. Ngoài ra, anh ta còn có thể tạo ra một hình ảnh hấp dẫn và không buồn tẻ về khoa học nếu anh ta biết trình bày một cách sư phạm và say mê. Tôi rất buồn khi thấy ở các nước phát triển những thanh niên tài năng nhất thường từ bỏ con đường khoa học để đi theo những ngành nghề kiếm được nhiều tiền hơn như thương mại, luật hay y khoa, cần cấp thiết làm thức tỉnh và duy trì niềm say mê khoa học của giới trẻ, và giúp họ có lại được những mối liên hệ tích cực với khoa học.

Tôi nghĩ rằng giới khoa học đã ngày càng nhận ra thực tế rằng chính tiền của công chúng đã tài trợ cho các nghiên cứu của chúng tôi và chúng tôi cần phải báo cáo cho công chúng biết kết quả công việc của mình, như tất cả các nhân viên phải báo cáo với sếp về những kết quả và tiến bộ đạt được. Trong lĩnh vực nghiên cứu của tôi, với việc xây dựng một kính thiên văn mặt đất tiêu tốn hàng trăm triệu đô la, hay việc đưa kính thiên văn Hubble vào không gian tiêu tốn tiền thuế của dân tới hơn 10 tỉ đô la, thì càng cần phải duy trì sự quan tâm và thu hút sự chú ý của công chúng đối với thiên văn học. Bởi vì trong một nền dân chủ, ý kiến của quần chúng có thể gây áp lực lên các lãnh đạo và ép họ đầu tư nhiều hơn nữa cho nghiên cứu khoa học, hay trong trường hợp quyết định ngược với lợi ích của nó thì sẽ phải sửa đổi ý kiến và thay đổi hành động.

Chẳng hạn như ví dụ sau đây. Năm 2004, một năm sau vụ nổ tàu con thoi Columbia làm chết 7 nhà du hành, NASA đã quyết định hủy bỏ việc sửa chữa kính Hubble đã được lên kế hoạch từ lâu, với lí do quá nguy hiểm. Thực ra, nhiều thiết bị của Hubble - chủ yếu là máy quang phổ, nhiều con quay hồi chuyển giúp cho việc định hướng kính thiên văn, các tấm pin mặt trời cung cấp năng lượng điện - đều đã hỏng hoặc xuống cấp trầm trọng, và nếu như không được sửa chữa, Hubble không thể hoạt động được. Việc dừng sửa chữa giống như tuyên bố tử hình kính thiên văn không gian đã từng giúp tạo ra cuộc cách mạng trong thiên văn học. Một làn sóng phản đối đã lan rộng mạnh mẽ trong công chúng, bởi cơ quan chịu trách nhiệm quản lí kính Hubble đã làm rất tốt chiến dịch quan hệ công chúng: ai mà chẳng choáng ngợp trước sự huy hoàng của các bức ảnh do kính thiên văn không gian này gửi về? Một cuộc vận động để cứu Hubble đã được tổ chức. Mọi người viết thư cho người đại diện của mình ở quốc hội, và họ đã thuyết phục giám đốc NASA thay đổi quyết định. Chuyến đi gần đây nhất để sửa chữa Hubble là vào mùa hè năm 2009 và đã thành công rực rỡ. Kính thiên văn này sẽ tiếp tục trung thành với sứ mệnh của mình ít nhất là cho tới năm 2014, khi mà kính thiên văn mang tên James Webb sẽ được đưa lên thay thế. Đây là ví dụ điển hình về việc thông tin cho công chúng về một chủ đề khoa học đã được… đền đáp!

Nhưng cũng có những lí do khác nữa thúc đẩy tôi làm công việc phổ biến khoa học. Ngoài việc mô tả các hiện tượng - từ Big Bang tới các đối tượng kì lạ và tuyệt vời như các lỗ đen, các quasar (chuẩn tinh) và các pulsar- một điều nữa tôi quan tâm trong nghiên cứu của mình là các hàm ý triết học mà nó có thể có. Thiên văn học không đơn giản chỉ là việc nghiên cứu các thiên thể trong vũ trụ. Ngoài các câu hỏi thuần túy khoa học ra, còn những vấn đề siêu hình và tâm linh nữa. Thiên văn học khiến ta nhìn và cũng khiến ta suy tư. Nó làm thay đổi thế giới quan của chúng ta, hay nói theo triết gia khoa học Thomas Kuhn, nó làm thay đổi chính mô thức (paradigm) của chúng ta. Khi đưa con người ra khỏi vị trí trung tâm của vũ trụ, Copernicus đã tạo ra một cuộc cách mạng mà chúng ta vẫn còn cảm nhận được các hệ quả cho tới tận hôm nay. Vũ trụ học hiện đại đã làm thay đổi sâu sắc các quan điểm của chúng ta về bản chất của không gian và thời gian, về nguồn gốc của vật chất, về sự phát triển của sự sống và ý thức, về trật tự và hỗn loạn, về hỗn độn và hài hòa, về tính nhân quả và quyết định luận. Các câu hỏi mà nhà vũ trụ học đặt ra gần gũi một cách đáng kinh ngạc với các câu hỏi mà nhà thần học quan tâm: nguồn gốc của vũ trụ là gì? Nó có thể tự sinh ra? Liệu có điểm khởi đầu của không gian và thời gian không? Vũ trụ có kết thúc không? Nó tới từ đâu và đi tới đâu? Sự tồn tại của chúng ta liệu có ý nghĩa nào đó trong vũ trụ rộng lớn này không ? Sự xuất hiện của trí tuệ và ý thức là do ngẫu nhiên, một “sự tình cờ trên đường” trong cuộc trường chinh của vũ trụ hay nó đã được lập trình sẵn trong các thuộc tính của mỗi nguyên tử, ngôi sao và thiên hà, và trong từng định luật vật lí chi phối vũ trụ? Với việc mải miết đập phá bức tường bao quanh thực tại vật lí bằng những chiếc búa tạ là các định luật vật lí và toán học, các nhà vũ trụ học và thiên văn học lại thấy mình mặt đối mặt với các nhà thần học. Vũ trụ học đã đề cập tới những chủ đề mà từ lâu vẫn là độc quyền của tôn giáo. Tôi tin chắc rằng khoa học có thể soi rọi ánh sáng mới vào những câu hỏi xa xưa đó, và điều này làm tăng sự ham muốn chia sẻ những suy ngẫm và niềm tin sâu kín của tôi với công chúng. Như nhà sinh học người Pháp Jacques Monod đã viết trong cuốn Ngẫu nhiên và Tất yếu (LeHasard etlaNécessité): “Trách nhiệm đặt ra, nhất là trong thời điểm hiện nay, đối với các nhà khoa học là phải suy nghĩ về lĩnh vực nghiên cứu của họ trong tổng thể nền văn hóa hiện đại, để làm giàu cho nó không chỉ bằng những tri thức quan trọng về mặt kĩ thuật mà cả những tư tưởng tới từ ngành khoa học của họ, mà họ nghĩ rằng có ý nghĩa về mặt nhân văn. Ngay cả sự ngây thơ của một cách nhìn mới (mà khoa học luôn là như thế) đôi khi cũng làm sáng tỏ được những vấn đề cũ dưới một ánh sáng mới…”

Trên bình diện cá nhân, cơ may được làm một nghề mà mình yêu thích đã đem lại cho tôi niềm vui sướng vô biên để chia sẻ không chỉ những gì tôi biết - như một người thợ thủ công tự hào khoe sự khéo léo của mình - còn cả cảm xúc và tình cảm về sự kết nối với vũ trụ mà tôi cảm nhận được mỗi khi tới các đài thiên văn ở khắp nơi trên thế giới, để tiếp nhận ánh sáng quý báu tới từ những nơi xa xăm trong vũ trụ. Hoạt động phổ biến kiến thức đã cho tôi một cuộc sống mới, ngoài cuộc sống của một nhà nghiên cứu và giảng dạy. Thông qua đó tôi có thể gặp gỡ rất nhiều người trong các môi trường khác nhau - văn học, nghệ thuật, chính trị… Những cuộc gặp gỡ này đã làm giàu và mở rộng thêm cái nhìn của tôi về thế giới.

❀ ❀ ❀

[1] Nhiều trường đại học ở Bắc Mỹ (Canada và Mỹ) có lệ cho các giáo sư và phó giáo sư cứ sau 6 năm giảng dạy được nghỉ 1 năm để làm nghiên cứu riêng ở các cơ quan khác hoặc viết sách mà vẫn được hưởng nguyên lương (ND).

[2] Bản dịch tiếng Việt của Phạm Văn Thiều, Nxb Khoa học & Kỹ thuật.

Nguyên tác: Le Cosmos et le lotus Dịch giả: Phạm Văn Thiều & Phạm Nguyễn Việt Hưng
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 4 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.