Richard Feynman là một trong những giáo viên yêu thích của tôi. Phải mất một thời gian để làm quen với giọng nói vùng Queens New York của ông, nhưng cũng bõ công. Vào đầu giờ học, bao giờ ông cũng làm cho không khí của lớp trở nên nhẹ nhõm bằng cách kể cho chúng tôi một câu chuyện, điều này ngay lập tức khiến mọi người cảm thấy thoải mái. Ông có khiếu hài hước và rất thích đặt ra các câu hỏi hiểm hóc cho chúng tôi. Tuy nhiên, không bao giờ tôi cảm thấy thái độ hạ cố ban ơn của ông đối với sinh viên. Tôi tin rằng ông thích chúng tôi ở sự tươi mát và óc tò mò của tuổi trẻ, cùng với khả năng liên tục đặt lại vấn đề về những ý tưởng sẵn có. Về phía mình, tất cả chúng tôi đểu bị mê hoặc bởi những gì nghe và thấy, ông thường đánh đầu mỗi từ bằng một cử chỉ phóng khoáng, và nhấn mạnh mỗi câu với cái bĩu môi đầy biểu cảm.
Ông có quan điểm rất riêng và độc đáo về vật lí cơ bản. Ông quan sát tự nhiên không biết mệt mỏi với đôi mắt luôn mới mẻ, bỏ xa những lối mòn, và giải thích lại tất cả mọi thứ - cơ học cổ điển, điện từ học, hấp dẫn, cơ học lượng tử - theo cách riêng của mình. Ông có một trực giác thật đặc biệt. Khi ông công phá một vấn đề, ta có cảm giác ông đã biết trước câu trả lời, và các lập luận sau đó chẳng qua chỉ để triển khai trực giác của ông. Khi nghe ông giảng, chúng tôi bị ông chinh phục đến mức cảm thấy dường như mình trở nên thông minh hơn, nhưng khi ngồi một mình trong phòng, đối diện với các bài tập, thì lại thấy mình tắc tịt! Thực ra, đến giờ nghĩ lại, thì cách dạy của Feynman thích hợp với các nhà vật lí đã trưởng thành hơn, họ mới có thể tận dụng được thứ ánh sáng mới mẻ mà Feynman soi rọi vào những vấn đề cũ, mà chúng tôi, những kẻ mới tập tọe học nghề, còn chưa bao giờ phải đối mặt trong các thí nghiệm ở phòng thí nghiệm, cùng những khổ hạnh khắc nghiệt của các tính toán và phương trình. Hơn nữa, càng ở những học kì sau, số lượng giáo viên và các nhà nghiên cứu vật lí tại Caltech tham dự các lớp học của Feynman càng tăng, trong khi số sinh viên năm thứ nhất và thứ hai - theo lí thuyết thì các lớp học này được thiết kế dành cho họ - lại ngày càng trở nên thưa thớt, về phần mình, tôi đã tham dự không sót buổi nào, bởi ông là một nhân vật cuốn hút tôi. Các bài giảng vật lí của Feynman đã được xuất bản để các nhà vật lí ngày nay trên toàn thế giới tham khảo. Ngoài việc là một giáo sư và nhà nghiên cứu ngoại hạng, chúng tôi còn ngưỡng mộ ông ở nhân cách phi thường, luôn tận hưởng cuộc sống với sự thích thú, chơi trống bongo, hội họa, và là một người tình tuyệt vời của những phụ nữ đẹp. Khi ông qua đời vào năm 1988, sau thời gian dài chiến đấu kiên cường với căn bệnh ung thư, cả khu đại học đã khóc thương tiếc ông. Một người từng có cơ hội gặp ông đều nhớ tới sự hiện diện tỏa sáng của một trí tuệ phi thường.
Với một giáo sư như vậy, đáng lí tôi phải trở thành một nhà vật lí. Tuy nhiên, thực tế lại không phải như vậy, Mục tiêu của vật lí là dùng một số ít các định luật tổng quát, đơn giản để giải thích sự phức tạp của tự nhiên cũng như sự cực kì đa dạng của nó. Einstein nói; “Nhiệm vụ tối thượng của nhà vật lí là khám phá ra những định luật phổ quát mà từ đó vũ trụ có thể được suy ra nhờ lí trí thuần túy.” Một trong các cách tiếp cận để khám phá ra các định luật cơ bản và xây dựng một quan điểm thống nhất về tự nhiên đó là mô tả bằng các hạt cơ bản và sự tương tác giữa chúng. Cách tiếp cận “quy giản luận” này cố gắng quy sự phong phú và vẻ đẹp của thế giới về các hạt, các trường lực và các tương tác. Nó giả định rằng mọi sự phức tạp của thế giới - nước hoa chiết từ hoa oải hương, màu đỏ của cánh đồng anh túc, ráng đỏ buổi hoàng hôn - đều có thể được giải thích tùy thuộc vào hành vi của các hạt cơ bản. Cách tiếp cận này có những hạn chế, như chúng ta sẽ thấy, nhưng nó đã làm mưa làm gió trong những năm 1960, đặc biệt là ở Caltech, nơi mà lĩnh vực nghiên cứu của hai vị thần nhà trường, Richard Feynman và Murray Gell-Mann, chính là các hạt cơ bản này.
Vào những năm 1930, người ta đã biết rằng các nguyên tử vật chất bao gồm một hạt nhân tạo bởi các proton và nơtron và quay xung quanh nó là các electron. Rồi hàng trăm hạt khác đã nhanh chóng hợp lại với bộ ba electron, proton, nơtron này. Một số, với những cái tên thơ mộng như “muon”, “pion” hay “tau”, đến từ bầu trời dưới dạng các “tia vũ trụ” - dòng các hạt vật chất được tạo ra và tăng tốc tới tốc độ rất cao trong những cơn hấp hối bùng nổ (được gọi là “siêu tân tinh”) của các ngôi sao lớn trong dải Ngân Hà, và tới viếng thăm Trái Đất sau một chuyến đi dài qua không gian giữa các vì sao. Nhưng đại đa số chúng được sinh ra và tồn tại một cách ngắn ngủi chưa đầy một cái chớp mắt (một phần triệu của một giây hoặc ít hơn) trong sức nóng của những cuộc bắn phá dữ dội vật chất, bởi những chùm hạt được gia tốc tới cực hạn trong lòng của những cỗ máy gia tốc khổng lồ.
Vườn bách thú của các hạt sinh sôi một cách nhanh chóng, gây ra một cảnh tượng vô cùng lộn xộn. Tình hình đầu những năm 1960 cũng chẳng khác gì cuối thế kỉ 19, với sự phát hiện rất nhiều các nguyên tố hóa học mới. Do đó cần thiết có một Mendeleev mới để sắp xếp lại mớ hỗn độn này. Người đó chính là Gell-Mann. Nhưng nếu các nhà hóa học đã phải chờ đợi sự phát hiện của proton và electron để hiểu được tổ chức của các nguyên tố hóa học trong bảng tuần hoàn, thi Gell-Mann đã không ngần ngại tự phát minh ra các hạt mà ông thấy cần thiết cho việc thiết lập sự hài hòa trong thế giới hạ nguyên tử! Theo ông, sự đa dạng của các hạt hạ nguyên tử tới mức làm rối trí chỉ có thể hiểu nếu vật chất được cấu tạo bởi một hạt còn cơ bản hơn cả các proton và nơtron, hạt mà ông đặt tên là “quark”. Là một người yêu thích ngôn ngữ của nhà văn Ailen, James Joyce, nhà vật lí đã bị ấn tượng bởi âm hưởng lạ của cụm từ trong cuốn Finnegans Wake: “Three quarks for Muster Mark” (Thức canh Finnegans: “Ba hạt quark cho ông Mark”), và thậm chí cho cả proton hay nơtron, bởi vì trong mô hình của Gell-Mann, những hạt này là sự kết hợp của ba hạt quark. Với sự phát minh ra hạt quark, Gell-Mann đã sắp xếp lại một cách ổn thỏa thế giới các hạt.