Cánh Đồng Phía Tây

Lượt đọc: 38 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 3

❊ ❊ ❊

Sở chỉ huy trung đoàn 2 ở khá sâu trong một khe núi. Rừng không rậm lắm nhưng thế rất hiểm, máy bay rất khó bổ nhào bắn phá, trừ phi ở dưới để lộ chúng mới có thể đạp bom xuống theo tọa độ.

Từ sáng sớm, các cán bộ chỉ huy tiểu đoàn và cán bộ tham mưu chính trị, hậu cần của trung đoàn đã được triệu tập về họp để nghe trung đoàn trưởng Lê Thấu phổ biến nhiệm vụ màn 2 chiến dịch. Cuộc họp thu gọn trong một căn hầm không lớn lắm nhưng khá kiên cố, đào sâu vào vách núi. Trong hầm khá tối. Một ngọn đèn bão đỏ kè, bóng đen kịt những muội treo trên trần hầm chỉ có thể soi rõ được gương mặt của những người ngồi phía trên, quanh tấm bản đồ lớn treo ở vách hậu và ông Thâu trung đoàn trưởng. Nói năng lưu loát, giải quyết công việc khá nhanh, đó là mấy đặc điểm của ông mà cán bộ toàn đại đoàn đều biết. Ông cầm cái que tre chỉ liên tục trên tấm bản đồ. Ông đang mở đầu bằng việc nhắc lại ý nghĩa lớn lao của chiến thắng màn 1 với Him Lam, Độc Lập, Bản Kéo. Cái lớn lao của nó, cái màn 1 ấy, trong chiến dịch này, không chỉ trước hết là tiêu diệt được một bộ phận sinh lực quan trọng của địch, mà quan trọng nhất là nó, cái màn 1 ấy, đã mở toang được cánh cửa phía bắc của tập đoàn cứ điểm, nói theo từ ngữ quân sự là đã đột phá được cửa mở ở hướng tấn công chủ yếu của chiến dịch, để cho quân ta có thể triển khai nhanh chóng binh khí khí tài lớn. Như vậy, thắng lợi của màn 1 đã tạo được cái thế vô cùng lợi hại. Chả trách vì thế mà mới sau có màn 1 của quân ta, theo cơ quan Mặt trận vừa cho biết: Navarre đã phải sớm nói với Cogni: “Điện Biên Phủ có nguy cơ hỏng. Phải tìm mọi cách giữ lấy nó”. Và họ bắt đầu cãi nhau. Cogni đổ lỗi cho Navarre đã thành lập tập đoàn cứ điểm này. Navarre cãi: Chủ trương của ông ta là năm nay (1954) tập trung lực lượng quét cho xong miền Nam Việt Nam đã, Bắc Bộ chỉ cầm cự. Nhưng chính vì thấy động ở Tây Bắc nên đã cho co cụm lại ở Điện Biên, và tương kế tựu kế đã thành lập tập đoàn cứ điểm này. Khi đó Cogni cũng rất hoan nghênh, đâu có phản đối.

Kể lại chuyện hai viên tướng giặc bắt đẩu hục hặc nhau, ông Thâu cười và đọc một câu thành ngữ cổ:

“Vui thì chén chú chén anh

Gặp thác gặp ghềnh cặc văng tứ tán

Đám đông cán bộ đang ngồi chen chúc nhau cùng bật cười. Tính ông Thâu vẫn thế, thỉnh thoảng lại thích nói xen vào một câu ca dao hoặc hò vè. Anh thanh niên phố huyện khi xưa xem ra vẫn chưa hết phong độ và tâm hồn dân dã.

Rồi ông Thâu chuyển sang phần phổ biến chủ trương của Bộ chỉ huy Mặt trận về màn 2 chiến dịch, đợt chiến đấu có tầm quan trọng quyết định tới toàn bộ mặt trận. Tới đây, các cán bộ tham mưu nhanh nhảu hạ tấm bản đồ vẽ những diễn biến trong màn 1, thay vào đó một tấm bản đồ mới. Vẫn những ký hiệu rừng núi, cánh đồng và toàn bộ các vị trí của quân Pháp dày đặc, kéo dài gần suốt hai bờ sông Nậm Rốm. Nhưng bản đồ này có khác: có một đường vòng hình bầu dục, màu đỏ, ôm vòng lấy toàn bộ khu trung tâm Mường Thanh và các vị trí ngoại vi trong đó có cả sân bay. Dịch xuống dưới một chút cũng có một vòng tròn đỏ với cái tên địa phương: Hồng Cúm. Từ hai vòng tròn to, nhỏ ấy còn có rất nhiều mạng đường chì đỏ chi chít. Tất cả đều hướng vào Mường Thanh tựa như có hàng chục, hàng trăm mũi tên cùng nhằm bắn vào một đích ở trung tâm. Tấm bản đồ đã đập mạnh vào mắt mọi người. Có anh hình dung ra ngay: đây là những vòng vây lửa, có người lại tưởng tượng ra một chiếc thòng lọng khổng lồ đang khoanh tròn lấy cổ quân địch...

Ông Thâu phấn khởi:

- Các đồng chí quả là rất tinh, chưa nói đã biết cả rồi đấy. Thú không nào? Mà cũng ghê không nào? Các “cụ” ở trên chủ trương kiến thiết một trận địa bao vây vĩ đại như thế này, quả là sáng tạo và cũng quyết liệt. “Trận địa chưa có, chưa xong chưa cho đánh. Đánh mà không có trận địa chiến hào bao vây và tấn công, trong màn 2 này, xuống cánh đồng sẽ là ném quân ra cho thằng Tây nó tàn sát. Các “cụ” ở trên nói thế. Có hiểu không nào? Tôi bắt đầu nói cụ thể từng điều về nhiệm vụ cơ bản của màn 2 chiến dịch nhá.

Ông Thâu đã gây được không khí hào hứng.

- Nhưng này! Phải ghi chép đấy nhá! Điều thứ nhất...

Giọng ông vang, to hơn lên, rành mạch, rõ ràng. Ông nói lại đầy đủ nhiệm vụ lớn mà hội nghị cán bộ toàn Mật trận tại Mường Thanh do đồng chí Ngọc (Võ Nguyên Giáp) trực tiếp chủ trì, đã đề ra: Để tích cực chuẩn bị mở màn 2 chiến dịch, phải nhanh chóng tiếp cận bao vây quân Pháp bằng cách xây dựng một trận địa lớn khắp bốn bề, để sau đó sẽ tấn công lớn đánh chiếm khu đồi phía đông là khu phòng ngự then chốt, và cũng phải đánh chiếm bằng được sân bay Mường Thanh, cái “dạ dày” của tập đoàn cứ điểm... Đánh thắng được hai nơi này thì tình hình sẽ biến chuyển cực kỳ to lớn và mau lẹ, có thể coi như ta như đã cầm chắc toàn thắng ở trong tay...

- Nhưng trước hết phải đào trận địa chiến hào đã các đồng chí ạ - Ông nhấn mạnh - Tôi đã nói rồi: “Các cụ” đã “quát” là: “Chưa có trận địa, chưa xong trận địa, chưa cho đánh!”. Hiểu chưa? Trận địa và trận địa. Trận địa chiến hào này đã được coi là một chiến thuật lớn, mà trận địa chiến hào thì ở cánh tây này lại rất nặng. Các đồng chí quá biết rồi đấy, cánh đồng Mường Thanh mênh mông thế kia...

Sau đó ông bắt đầu chuyển sang phần phổ biến kế hoạch cụ thể của trung đoàn: Bốn cây số chiều dài, phía bắc nối với trận địa giao thông hào của trung đoàn 3, phía nam tiếp với giao thông hào của trung đoàn 1. Tuyến hào trục giao thông lớn cách địch khoảng hai ki-lô-mét. Chính diện của trung đoàn là sân bay với cả một loạt cứ điểm bao quanh, do toàn lê dương trấn giữ.

Trong kế hoạch, phần phân công, phân nhiệm cho các tiểu đoàn cũng được vạch ra khá cụ thể. Mức thời gian cũng rất rõ. Ngoài ra còn có cả sự nhắc nhở để phòng địch oanh tạc hoặc ra cản phá các trận địa của ta...

Ông Thâu nói xong, vừa là thói quen, vừa có ý thức, quay lại phía chính ủy Đỗ Gia Quý một người khá thấp bé, tóc cắt kiểu móng lừa, gương mặt thông minh có vẻ có học thức đang ngồi cạnh, hỏi:

- Anh có ý kiến gì bổ sung hoặc nhắc nhở thêm?

Đỗ Gia Quý mỉm cười lắc đầu khiêm tốn. Nhưng rồi anh cũng đứng dậy. Anh nhấn mạnh thêm về ý nghĩa rất quan trọng của việc đào trận địa chiến hào bao vây, tấn công. Anh nhắc lại phương châm “Đánh chắc, tiến chắc”. Chính vì phương châm ấy mà quân ta đã chiến thắng rất to lớn trong màn 1 chiến dịch. Vậy màn 2 cũng phải như thế. Đào trận địa bao vây tấn công cũng là thực hiện phương châm tuyệt vời ấy. Anh nói rất say sưa, và có vẻ có nhiêu lý luận. Anh lại nói khá dài, cho tới khi thấy các cán bộ ngồi dưới cựa quậy và xì xầm nói chuyện hơi nhiều, bấy giờ mới dừng lại, và không quên kết thúc bằng những lời cổ vũ kêu gọi thật nồng nhiệt. Trong những người sốt ruột có cả ông Thấu. Ông biết anh em đang có vẻ có nhiều ý kiến muốn nói. Họ đang quan tâm nhiều tới cái kế hoạch mà ông vừa phổ biến.

- Nào, thế bây giờ anh em ai có ý kiến gì không? - ông Thâu đưa mắt nhìn bao quát cả căn hầm, cất tiếng hỏi, nhưng chợt nhớ ra còn một vị phái viên của Mặt trận cũng đang có mặt ở đây, ngồi hơi xế phía sau lối chính ủy Quý, ông Thâu cảm thấy suýt nữa mình mắc lỗi:

- Bây giờ, xin ý kiến anh Hồng Đăng. Anh có điều gì giúp đỡ thêm không? - ông Thâu tươi cười và nhũn nhặn.

Hồng Đăng tựa như người đang mơ ngủ chợt bị đánh thức. Anh choàng ngồi thẳng dậy, hơi lúng túng:

- Không, không! Tôi đề nghị anh Thâu cứ để cho anh em phát biểu.

Muốn tỏ ra khiêm tốn, nhưng thật tình anh cũng không biết rõ kế hoạch hành động mà ông Thâu vừa phổ biến có những gì để mà góp ý. Gần như suốt từ đầu buổi họp, tâm trí anh đều để vào những chuyện khác. Mới cách đây hai hôm, thật không ngờ, anh đã gặp Nguyệt Lệ cùng đoàn cán bộ phụ nữ úy lạo thương binh và binh sĩ. Anh không khỏi vui mừng. Hai vợ chồng được gặp nhau ở trận địa, thật là thú vị, ít có. Bà trưởng đoàn đã rất tế nhị cho phép Nguyệt Lệ ở lại với Hồng Đăng vài ngày tại khu hậu cần mặt trận. Anh chị em trong cơ quan cũng hết sức nhiệt tâm, bảo nhau thu xếp cho hai vợ chồng anh một căn hầm riêng. Nhưng thật không ngờ, Nguyệt Lệ đã từ chối. Cô kiên quyết từ chối. Nói thế nào cô cũng chỉ có một lời: “… Em lên đây mục đích là để thăm anh em thương binh, bộ đội. Để cho em đi, anh ạ”. Cuối cùng, Hồng Đăng đành phải chịu, và trong lòng đầy hờn giận. Đây không phải là lần đầu tiên người vợ xinh đẹp mà bướng bỉnh ấy đã làm anh buồn phiền và cả bực bội. Bướng bỉnh và cả cái gì đó như... thiếu nồng nhiệt, thậm chí như lạnh lùng, xa lạ nữa. Không phải bây giờ mà gần như ngay từ sau khi lấy nhau đã như thế. Điều gì vậy? Có chuyện gì đã xảy ra? Sự săn sóc, yêu thương của Hồng Đăng có thể nói là vô cùng chu đáo. Anh không hề tiếc Nguyệt Lệ bất cứ cái gì, điều gì. Anh yêu nàng say đắm đến như tôn thờ. Vậy mà anh chưa hề bao giờ được đáp lại bằng những tình cảm như vậy. Nói cho đúng ra về mặt trông nom cái ăn cái uống, áo quần, thuốc thang, sức khỏe của anh... thì không thể chê trách Nguyệt Lệ một điều gì, dù chỉ là nhỏ bé. Như vậy bổn phận một người vợ, Nguyệt Lệ đã làm tròn một cách cực tốt. Nhưng Hồng Đăng không chỉ mong đợi ở nàng có vậy. Nếu chỉ có thế, cậu cần vụ Mạn cũng có thể giúp được anh tương tự. Hồng Đăng cần ở nàng những cái khác. Đó là sự vuốt ve, yêu chiều, nũng nịu nhất là sự nồng cháy trong yêu thương. Những đêm hai vợ chồng ăn nằm với nhau, anh chưa hề bao giờ cảm thấy mình hoàn toàn sung sướng. Nguyệt Lệ cứ nằm đó, như khiên cưỡng nhiều hơn là tự nguyện, càng không bao giờ nàng chủ động. Nằm đó, nàng mặc cho anh vần vò, muốn làm gì thì làm, cho đến khi mệt thì lăn ra ngủ... Thân thể ở đó mà hồn nàng tựa như bay tận nơi đâu. Bay về nơi đâu? Về với mẹ? Hay là vẫn bay tìm cho đến tuyệt vọng cái anh chàng bộ đội nào đó mà nàng đã từng cho biết là thân thiết từ hồi 1947, 1948? Dũng Linh! Nàng đã gọi tên anh ta như vậy. Nàng còn tả cả hình dáng con người đó: trẻ trung, hào hoa. Nàng không giấu anh: nàng rất buồn khi được tin anh đã hy sinh. Ôi phải chăng cô gái lãng mạn đã không dứt ra được cái hình ảnh cũ quá xa vời ấy, đến mức không còn cảm nhận thấy được hạnh phúc đang ở ngay trong lòng bàn tay mình nóng hổi? Dũng Linh, cái tên ấy đã luôn ám ảnh anh một cách khó chịu, và đôi khi cũng không kém nặng nề. Nhưng khốn nỗi em quá đẹp. Sắc đẹp đằm thắm của em có một sức quyến rũ lạ lùng đến như mê hoặc. Và rút cục cũng vì thế, luôn luôn Hồng Đăng chỉ như một anh lính bại trận leo đẽo đi theo nàng...

Kim Oanh đã xuất hiện giữa màn bi kịch này. Nhưng cô thật ra cũng chỉ là nhân vật giải sầu dù đã luôn luôn đem lại cho anh những khoái cảm tuyệt vời. Thật vậy, anh vẫn không thể thiếu Nguyệt Lệ.

Cách đấy mới mấy hôm, Hồng Đăng tình cờ đã gặp một nhóm cán bộ ở lối vào trạm phẫu tiền phương trong đó có một người tên Dũng. Hôm ấy Hồng Đăng còn đang ngây ngất vì cuộc gặp gỡ với Kim Oanh, nên không để ý nhiều. Nhưng rồi anh bỗng có những phân vân rất lạ: Có phải đấy chính là Dũng Linh?...

Hôm nay xuống trung đoàn này dự họp phổ biến nhiệm vụ, anh lại gặp Dũng - hoặc Dũng Linh - Anh ta đang ngồi kia, ở phía sau cùng, trong một góc tối, như một con báo đen, thu mình. Gần như suốt từ đầu cuộc họp, Hồng Đăng chỉ nghĩ lan man về chuyện Nguyệt Lệ, và chỉ quan sát con người đang ngồi thu mình kia. Có phải Dũng Linh đấy không? Câu hỏi ấy luôn luôn quẩn quanh trong đầu anh. Nhưng không thể thế được. Dũng Linh đã chết. Và, như Nguyệt Lệ tả, anh ta dẹp trai, hồng hào, tươi tắn, sôi nổi. Còn anh chàng tiểu đoàn trưởng kia gần như hoàn toàn trái ngược. Vậy phải chăng đây chỉ là một cảm giác lầm? Nhưng quái lạ, đã nghĩ vậy mà nỗi phân vân vẫn không sao đuổi ra khỏi hoàn toàn tâm trí của anh.

- Vậy nào, bây giờ ai có ý kiến hỏi, hoặc... - Ông Thâu hất hàm.

Đám đông đang xì xào bỗng im bặt. Chưa một ai chịu phát biểu trước. Người ta vốn biết tính ông Thâu thường chỉ thích mau chóng “nhất trí”. Tiểu đoàn trưởng chủ công Phan Đức người có uy tín cao nhất trong hàng ngũ cán bộ tiểu đoàn cũng không muốn nói ngay. Mọi người đều liếc về phía tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 2 Nguyễn Văn Dũng. Đó là một con người thường ngày lầm lì, nhưng trái lại khi vào việc lại hay có ý kiến, ý kiến thẳng thắn và nhiều khi táo bạo. Lần này mọi người lại có ý chờ cho Dũng lên tiếng trước. Dũng đang ngồi lắng nghe. Anh không để ý tới thái độ chung quanh. Anh chỉ thấy có điểu muốn nói và cần phải nói. Anh giơ tay. Mọi người thoáng mỉm cười. Còn ông Thâu thì chau mày. “Chà, vẫn lại cái anh chàng đa sự!... “.

- Báo cáo, tôi xin được hỏi lại: Mức mười ngày là do trên đặt ra hay của trung đoàn?

Ông Thâu đáp:

- Cấp trên! Mặt trận! Chẳng phải đại đoàn, cũng không phải trung đoàn. (Ông cố ý nhấn mạnh cụm từ “Cấp trên” và “Mặt trận” như một điều khẳng định tầm quan trọng chính xác và cũng như một lời cảnh cáo khéo kẻ dám vặn hỏi).

Dũng có vẻ không hề nao núng:

- Báo cáo, tôi thấy quá gấp, e không kịp!

Đôi mắt ông Thâu tròn xoe:

- Không kịp? Vì sao?

- Một là: bộ đội ta trải qua cuộc truy kích Thượng Lào đã mệt lại vào đợt 1 chiến dịch ngay, chiến đấu ác liệt, thương vong cũng nhiều. Hai là: với kinh nghiệm của anh em đã có, cố lắm với dụng cụ đầy đủ thì cũng chỉ 4 hoặc 5 mét khối một ngày. Vậy tính với quân số của ta, với dụng cụ rất thiếu thốn thì...

Tới đây, ông Thâu đã bực mình thật sự. Ông ngắt lời Dũng để giảng giải cho anh biết: nào là tinh thần bộ đội đang lên dù quả là đã khá mệt nhọc, nào là đất trên cánh đông Mường Thanh là đất ruộng dễ đào... Nhưng ông nhấn mạnh hơn cả là “sự tính toán rất chính xác” của tham mưu mặt trận. Thoáng một ý nghĩ trong đầu ông: thằng cha này khéo giảm quyết tâm?

Có lẽ cùng một ý nghĩ như vậy, chính ủy Đỗ Gia Quý cũng bật đứng dậy, tiếp lời. Ông nhắc lại quyết tâm của Đảng, toàn quân, toàn dân tiêu diệt địch ở Điện Biên Phủ. Ông cũng nhấn mạnh lại phương châm “đánh chắc tiến chắc” của trên. Có vẻ như ông nói chung với mọi người, nhưng ai ai cũng hiểu ông nhằm vào Nguyễn Văn Dũng là chính. Nhưng đã đến lúc nhiều người mạnh dạn xin nói. Hầu hết đều đồng ý với Dũng, kể cả tiểu đoàn trưởng Phan Đức, người được tin cậy hàng đầu ở đây vẫn thường thầm gờm cái anh tiểu đoàn trưởng mới về này, và luôn luôn lo anh ta có thể vượt trội hơn mình.

- Báo cáo, đã gọi là “đánh chắc, tiến chắc” thì càng phải xây dựng trận địa cho thật tốt, không thể vội vàng được. - Dũng nói tiếp. Anh cảm thấy được khích lệ bởi số đông.

Cuộc tranh luận trở nên mỗi lúc thêm sôi nổi, thậm chí có phần căng thẳng. “Xã Đệ” - hỗn danh của tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 3 Trần Văn Đệ, người chỉ huy không sắc sảo lắm, nhưng cũng khá ngổ ngáo và ăn nói thì bỗ bã vào loại nhất ở đây. Xã Đệ cũng xin nói:

- Nói về quyết tâm thì chưa biết ai đã quyết tâm hơn ai. Chỉ có điều đã là kế hoạch mà lại là kế hoạch quân sự thì phải chính xác và cụ thể mới được. Tham mưu mặt trận thì mặt trận, các ông ấy đề ra mức này, đã tham khảo ý kiến các đơn vị tác chiến chưa?

Hồng Đăng bị cuộc tranh cãi lôi cuốn. Thấy chính ủy Đỗ Gia Quý đã tích cực giảng giải mà vẫn còn găng, Hồng Đăng không thể đứng bên ngoài mãi được nữa. Anh bèn xin nói:

- Tôi thấy ý kiến các đồng chí đều có những mặt đúng, cần lưu tâm. Nhưng cũng xin góp một vài điều mà tôi được nghe ở trên các anh ấy trao đổi, tất nhiên đây không phải là có văn bản chính thức gì cả. Ngoài lề, và nghe loáng thoáng được thôi. Nhưng cũng xin cung cấp để các đồng chí cảm thông với trên: Mùa mưa sắp tới rồi, các đồng chí biết đấy, mấy hôm nay mưa nhiều hơn. Các anh ở trên muốn dứt điểm càng sớm càng tốt. Mưa, bộ đội khổ đã đành, mà tác chiến cũng rất khó khăn, nhất là cơ động pháo lớn, và cao xạ...

Ý kiến ấy dường như có sức thuyết phục. Đám đông chùng hẳn xuống. “…Thôi, nếu đúng như vậy thì bằng mọi giá cũng phải làm thôi. Chết cũng phải làm!”. “... Được, vậy cứ tiến hành, rồi rút kinh nghiệm sau, miễn là làm hết mình, đánh hết mình”...

Cuộc họp tưởng như đã có thể giải tán, nhưng Dũng lại giơ tay có ý kiến tiếp:

- Báo cáo còn một vấn đề nữa, tôi xin xem xét lại.

Trong khi đám đông lại chăm chú lắng nghe thì ông Thâu lại cằn nhằn trong bụng: “Đúng là anh chàng đa sự!”.

- Báo cáo, tôi đề nghị cần bổ sung kế hoạch chi tiết và cụ thể hơn trong phần chiến đấu bảo vệ giao thông hào và chiến hào. Chắc chắn địch sẽ có những phản ứng liên tục và ác liệt. Nhỏ thì có thể là phục kích, lấp hào, lớn có thể sẽ có những trận với đơn vị tác chiến hợp thành để đánh chiếm lại nếu không được toàn bộ thì cũng là những đoạn hào và những trận địa tấn công hiểm yếu nhất của ta...

Dũng chưa nói hết, đám đông lại ồ lên. Họ lại đồng tình với anh. Xã Đệ lại bè nhè: “Đúng đấy, cần cụ thể hơn. Phải có dự kiến nhiều tình huống... Phải có nhiều phương án tác chiến. Chứ chỉ “cảnh giác” với “đề phòng”, “tích cực” với “tăng cường” chung chung thì rồi sẽ... khó đấy!”.

- Nhưng mà đây mới chỉ tập trung vào nhiệm vụ hàng đầu và trước mắt là đào hào, đào trận địa. Còn kế hoạch đánh địch nhất định là sẽ có cụ thể hơn... - Ông Thâu lại không giấu được sự bực tức nữa.

- .... của một kế hoạch. Hai việc: đào hào và tác chiến bảo vệ là gắn liền với nhau... - Dũng vẫn cứng cỏi đáp lại.

Nếu như trong vấn đề trước tích cực ủng hộ ý kiến ông Thâu, tới vấn đề này chính ủy Quý thấy Dũng là phải. Ông lại đứng dậy, và bây giờ thì ông bảo vệ Dũng. Đám đông mỉm cười, nhận thấy ông Quý là người trung thực, đáng quý, đúng như cái tên của ông. Để kết luận ý kiến của mình, ông Quý đề nghị cơ quan tham mưu trung đoàn cấp tốc bổ sung phần tác chiến bảo vệ hào và trận địa. Ông Thâu ngồi im lặng. Chẳng phải ở đây, mà ở mọi nơi đều thế, ông đã biết rõ, chính ủy là người có tiếng nói cuối cùng.

... Mọi người ra về. Dũng cùng Xã Đệ ra sau cùng. Đi liền với anh là mấy cán bộ trẻ của ban tham mưu trung đoàn. Họ nháy nhau, cái nháy có nhiều ý nghĩa, nhìn theo hai người đoàn trưởng. Họ vốn không thích Xã Đệ cho lắm, chẳng phải vì cái tính lè phè rượu, thịt chó và tác phong luộm thuộm, gia trưởng của anh, mà vì Đệ chỉ huy tác chiến không xuất sắc. Cánh cán bộ tham mưu rất hiểu: cái thời chỉ cần hăng hái, xông xáo là đủ (như những năm đầu của cuộc kháng chiến) đã qua rồi. Nay đã là 1954, những người chỉ huy còn cần phải có “đầu óc”. Tác chiến đã lên tới cấp trung đoàn, thậm chí đại đoàn với binh chủng hợp thành. Người chỉ huy phải có trình độ, đâu phải chỉ có “hét”, đâu phải chỉ có “gan vàng dạ sắt” là được? Cũng bởi vậy cánh cán bộ tham mưu trung đoàn chỉ khoái có Phan Đức tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 1 và Nguyễn Văn Dũng tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 2, mặc dầu hai người này có những cá tính hoặc tác phong mà họ cũng chưa chịu. Phan Đức là học viên Võ bị Trần Quốc Tuấn khóa đầu tiên, chỉ huy tương đối bài bản. Còn Dũng trưởng thành từ lính chiến, lăn lộn nhiều, đánh giặc như đã “có sỏi ở trong đầu”, sau cũng đã qua một khóa cán bộ chỉ huy sơ cấp ở Quảng Ngãi. Các trận thắng của Dũng thường nhanh gọn và ít thương vong.

Chia tay với Xã Đệ ở ngã ba, Dũng cắm đầu bước rảo để trở về tiểu đoàn. Chợt có tiếng gọi vọng lên ở phía sau.

- Dũng Linh!

Toàn thân anh thoắt rung lên. Nhưng vốn từ lâu đã đề phòng, và sau bao nhiêu năm chiến trận đầu óc anh cũng đã lì ra như đá, sự phản xạ bất ngờ chỉ có thể xảy ra trong những trường hợp thật đặc biệt. Dũng bình thản bước tiếp.

- Dũng Linh!

Tiếng người nào đó cất lên một lần nữa.

Dũng vẫn không quay lại, thậm chí một cử chỉ nhỏ tỏ ra có chú ý tới tiếng gọi cũng không.

Nhưng đã nghe thấy tiếng chân người, đúng hơn là tiếng giày da luỵch uỵch chạy gấp đuổi theo anh. Dũng vẫn bước nhanh. Người đuổi theo đã bắt kịp. Hồng Đăng. Anh giảm tốc độ, đi bên Dũng, thở gấp gáp, nhọc mệt:

- Đồng chí Dũng!

Bây giờ Dũng mới quay mặt lại, đôi mắt lì lợm liếc nhìn Hồng Đăng từ đầu tới chân.

- À, anh Hồng Đăng! Báo cáo, anh gặp tôi ạ?

- Phải! Phải - Hồng Đăng vẫn chưa hết hào hển - Này, mình đi với “ông” một đoạn, được chứ?

- Dạ, không sao - Cái giọng hơi khàn khàn của Dũng vẫn bình thản.

- Này “ông” Dũng - Hồng Đăng không giấu được vẻ lúng túng - Vừa rồi... mình có gọi...

Gương mặt sạm nắng như thờ ơ, Dũng đáp:

- Tôi không để ý. Tôi không nghe thấy gì cả.

- Mình gọi Dũng Linh - Hồng Dăng như bình tĩnh hơn - “ông” Dũng ạ, “ông” là Dũng Linh, tôi... cảm thấy thế. Phải không, xin lỗi.

Vẫn nhìn thẳng về phía trước, giọng nói của Dũng trở nên lạnh như băng:

- Không. Tôi là Nguyễn Văn Dũng.

Hồng Đăng thở dài:

- Lẽ nào tôi nhầm nhỉ?

- Lầm lẫn là thường chứ anh!

- Này, nhưng hồi 1947, 1948 anh có ở vùng Đại Từ -Thái Nguyên không nhỉ?

- Không.

- Anh có biết ai là... Nguyệt Lệ không nhỉ?

- Không.

- Lạ nhỉ? - Đôi mắt Hồng Đăng vẫn chưa thôi xoi mói như khoan vào mặt Dũng.

Hết sức khó chịu, Dũng hỏi lại với mục đích để ngăn chặn sự xoi mói và lục soát ấy:

- Nhưng sao anh lại có thể nghĩ tôi là Dũng Linh nào đó?

- À, chẳng là... - Hồng Đăng không khỏi lúng túng. Anh lại liếc nhìn anh cán bộ trẻ hơn mình tới bốn năm tuổi, nhưng có một vẻ gì già dặn và sắc sảo thật đáng gờm, chưa kể cái vẻ lì lợm thản nhiên như khinh khỉnh nữa. - À, chẳng là... gia đình vợ tôi trước có quen biết một anh tên Dũng Linh. Hồi 47, 48 ấy mà! Sau mất liên lạc. Có người bảo anh ấy đã hy sinh, nhưng có người lại nói anh ấy vẫn còn sống... Gia đình vợ tôi rất muốn được gặp lại anh ấy...

- Để làm gì?

- Tôi... tôi... cũng không rõ lắm. Nhưng chắc là vấn đề tình cảm.

Dũng thoáng nhếch môi. Dường như anh cười, nhưng củng lại tựa như lóe ra một nét giận dữ:

- À, ra thế! - Anh thốt lên khô khan. Và từ đó không nói, cũng chẳng hỏi lại điều gì nữa. Biết ý Dũng không muốn mình cứ lẽo đẽo đi theo mãi, Hồng Đăng buộc phải bắt tay anh: - Thôi nhé, mình xin lỗi. Có lẽ thấy có chữ Dũng giống nhau, và cùng là bộ đội, cho nên cứ tưởng là...

- Không sao cả - Dũng vẫn khô khan gần như khiếm nhã.

Hồng Đăng quay trở lại một quãng xa mà đầu óc vẫn còn nặng trĩu. Lại nhớ tới buổi gặp Nguyệt Lệ ở cơ quan hậu cần mặt trận. “Bôn” đến thế kia ư? Nhưng không phải! Con người ấy đâu phải loại cán bộ phụ nữ chỉ có đam mê chính trị mà phải giữ gìn từng cử chỉ, hành động quá đáng đến như thế...

*

Dũng đã về tới tiểu đoàn. Anh cho triệu tập cán bộ lại phổ biến nhiệm vụ luôn, sau khi đã họp tiểu đoàn ủy để tường trình lại toàn bộ các vấn để trong cuộc họp trên trung đoàn. Anh rất tiếc thiếu mất chính trị viên Đỗ Thủy. Thủy là bí thư tiểu đoàn ủy. Anh bị thương trong màn 1 chiến dịch, chưa có người về thay. Trên chỉ định Dũng tạm quyền bí thư.

Cuộc họp ở tiểu đoàn khá nhanh, gọn. Có thể còn nhanh gọn hơn nữa nếu tiểu đoàn phó anh Hà Giao không dây cà ra dây muỗng đến nỗi mọi người phải sốt ruột, và đại đội trưởng Lanh xồm vốn nổi tiếng nóng nảy đã phải mấy lần nói ngang: “Thôi, rõ rồi, ở mặt trận mà cứ như bà vãi nói chuyện ở cửa chùa thì còn làm ăn gì được nữa”... Ai cũng hiểu Giao luôn luôn muốn mọi người phải hiểu rằng mình cũng sắc sảo không có thua kém bất cứ ai...

Mọi người đã ra về, chỉ còn lại Dũng và Hà Giao. Anh ta tỏ vẻ vẫn còn nhiều ý kiến quan trọng. Tuy nhiên, lúc này lại có vẻ rất thân mật:

- Bây giờ tôi nói riêng với anh, anh Dũng ạ. Nói thật chứ anh nhận nhiệm vụ của tiểu đoàn mình quá nặng đấy!

Đã quá hiểu Giao, không ngạc nhiên chút nào, cũng không cảm động, Dũng lắc đầu:

- Không phải thế đầu.

- Sao lại không? Đoạn hào của tiểu đoàn mình vừa dài vừa lại ở ngay đối diện với sân bay của nó, mà tiểu đoàn mình sau màn 1 cũng đã bã cả ra rồi. “Xê” thằng Niên, thì chính trị viên “đổ” rồi. Hai trong ba trung đội trưởng thì mới lên. “Xê” thằng Thìn thì chính trị viên mới ở cơ quan xuống chưa quá hai chiến dịch; riêng thằng Thìn chỉ được cái tận tụy, nhưng lại thiếu văn hóa, kém linh hoạt. Chỉ có thằng Lanh “xê ba” chiến đấu tốt, nhưng lại nóng nảy, bộp chộp... Còn quân số nói chung toàn tiểu đoàn thì chưa được bổ sung đẩy đủ. Lớp tân binh vừa về mấy hôm nay phần đông là dân địch hậu mới ra, về chủ lực đánh lớn như thế này, e gay đấy.

Dũng hơi nhếch môi, thoáng một nụ cười nhiều ý nghĩa:

- Khó khăn thì bên “ông” Phan Đức xem ra còn hơn ta. Vả lại, là chủ công, cũng cần phải tập trung củng cố cho “ông” ấy để chuẩn bị cho những trận ác chiến sắp tới, nên lần này trên có nhẹ cho D1 cũng là đúng. Còn bên “ông” Xã Đệ tuy phụ trách đoạn chếch xuống phía nam, tiếp giáp với trung đoàn 1 chỗ ấy có ngắn thật, nhưng quân “ông” Đệ còn thiếu hơn ta...

- Chà! Người ta vẫn bảo anh hay quá nhường nhịn...

- Thôi, ta bắt tay vào việc đi ông! - Dũng chỉ nói gọn.

Đã quá thuộc tính nhau, mỗi khi Dũng đã cất cái giọng khàn khàn khô khốc lên nói gọn một hai câu, là Giao thường phải thôi luôn, mặc dầu trong lòng còn đầy hậm hực.

Sau khi Hà Giao chạy sang hầm của trợ lý tác huấn, Dũng cũng bắt tay vào việc chuẩn bị kế hoạch để đêm nay đưa các cán bộ đại đội ra cánh đồng nghiên cứu, trinh sát thực địa, và phân công, vạch ranh giới ngay tại chỗ. Anh vừa ngồi xuống chưa được quá ba mươi phút bỗng có tiếng máy bay lượn tới rất gần, tiếng máy bay trinh sát. Anh còn đang lắng nghe, thì một loạt trọng pháo đã gầm lên rung chuyển cả căn hầm. Tiếp đó là liên hồi những tiếng nổ, như không còn phân biệt được từng trái một, mà là cả những vệt sấm kinh hồn kéo dài. Dũng nhào ra khỏi hầm, quan sát. Không phải ở tiểu đoàn bộ, mà cũng không phải ở c1 của Thìn đóng gần đó! Xa hơn một chút. Anh còn đang ngờ ngợ, thì Báu, cậu liên lạc trẻ măng tròn như hạt mít, lao tới giọng hốt hoảng:

- Báo cáo, có lẽ nó dập xê ba! Pháo kinh quá tiểu đoàn trưởng ơi!

Dũng cũng đã nhận ra được hướng bị pháo địch đang nã tới là hướng của đại đội Lanh xồm.

- Báu, đi với mình, ra đó xem sao!

Nói đoạn, Dũng vẫy tay gọi một liên lạc viên khác:

- Báo với anh Hà Giao về trực thay tôi.

Sau đó, hai anh em, Dũng và Báu, cùng như hai con chim cất cánh bay vù vào rừng rậm.

Hà Giao nhăn nhó trở lại hầm chỉ huy cùng hai trợ lý:

- Mẹ kiếp! Vừa giao việc này lại giao việc nọ. Cái gì cũng cứ cuống cả lên. Người chỉ huy phải bình tĩnh chứ. Cứ cho liên lạc chạy ra xem sao đã nào...

Anh cằn nhằn, dường như nói với mình, nhưng hai anh trợ lý tác huấn cũng hiểu anh muốn nói với cả họ. Cả hai đều im lặng và làm như không nghe thấy gì. Âm thầm đố kỵ với Dũng từ lâu, anh tiểu đoàn phó này đã không từ bất cứ cơ hội nào để gièm pha hoặc tung tin xấu sau lưng bạn. Giữa lúc đó, hai anh em, Dũng và Báu vẫn xé rừng mà chạy. Pháo địch đã ngừng. Nhưng mặt đất, rừng rậm, suối sâu vẫn như còn nghiêng ngả. Quả là pháo Điện Biên. Dũng phải thầm nhủ. Đã qua không ít chiến trường khác nhau, suốt bảy tám năm qua, chưa bao giờ Dũng thấy pháo địch tập trung ác liệt và liên tục như ở đây. Bom cũng vậy. “Chúng ta sẽ cho họ thấy hỏa lực của ta”, Navarre quả là đã không khoác lác cho lắm khi tuyên bố như thế với binh lính của ông ta ở tập đoàn cứ điểm này.

Vì địa thế chật chội và phức tạp, đại đội của Lanh xồm đã phải đóng hơi xa tiểu đoàn, và ở gần đường mòn trục, hơn nữa lại gần một cửa rừng. Dũng đã bắt Lanh phải cho quân đào hầm hố thật đầy đủ, làm bếp Hoàng Cầm rất cẩn thận để tránh khói lửa. Ngoài ra, công việc ngụy trang cũng được lệnh thực hiện hết sức nghiêm ngặt. Dũng đã xuống kiểm tra nhiều lẩn tất cả công việc này.

Báu mới mười chín, lại béo khỏe, cắp tiểu liên chạy băng băng. Nhưng bao giờ Báu cũng phải bám đuôi tiểu đoàn trưởng của mình. “Cái ông này kinh thật! Bom đạn đã băm gần nát người mà vẫn cứ như không!”.

Hai anh em bỗng nhìn thấy một chiến sĩ cài lá ngụy trang bù xù đầy mình đang từ phía trước hộc tốc chạy lại. Chỉ nhác nom, Dũng đã hét lên:

- Quân xê ba phải không?

Chiến sĩ nọ dừng lại, thở dốc:

- Báo cáo, phải ạ!

- Sao? Xê ba có sao không?

- Báo cáo, anh Lanh cho em lên tiểu đoàn báo cáo: Xê ba an toàn. Địch bắn vào cửa rừng, chỗ Khe Trăn.

Dũng thở trút.

- Nhưng chỗ ấy có gì mà nó bắn?

- Báo cáo, em cũng không biết. Nhưng nghe đâu đêm qua dân các bản Cò Mỵ và Long Nhai đem trâu chạy vào đó giấu...

- Vậy hả? - Dũng mím môi lại, suy nghĩ một chút - Thôi được, cho cậu quay vê báo với anh Lanh: tôi ra thẳng Khe Trăn đây, không vào đại đội nữa đâu!

- Tiểu đoàn trưởng ra đấy làm gì ạ? - Báu hỏi.

- Ngoài đó có thể có dân, xem có gì cần giúp họ. Cũng muốn quan sát lại khu vực này nữa. Thôi, ta đi, Báu!

Khe Trăn. Cảnh tàn phá bày ra trước mặt hai anh em thật dữ dội. Cây cối bị phạt đổ tơi bời. Đất bị cày xới lên cồn cồn như sóng biển bão. Đá núi bị phá đổ từng mảng lớn, trắng xóa, mảnh văng khắp chỗ. Mùi thuốc đạn, mùi lửa cháy vẫn còn nồng nặc. Giữa cảnh tàn phá ấy là xác của trên một chục con trâu nằm ngổn ngang, con cụt đầu, con gẫy cẳng, con bị phanh bụng, ruột lòi ra từng đống. Máu chảy luễ lõa khắp mặt đất. Dũng nhảy từ bờ đất cao xuống. Anh gấp gáp đi tìm xác người trước. Báu cũng nhanh như cắt làm theo anh. Nhưng tuyệt nhiên không thấy gì khác, ngoài những xác trâu cùng cây cối đổ gãy bề bộn.

- Quái, không có người nào nhỉ? Nếu vậy, thật là may.

Dũng vừa nói với Báu thì có tiếng Lanh xồm như lệnh vỡ vang lên:

- Anh Dũng!

Ngẩng lên, thấy không chỉ có Lanh mà còn có một tổ chiến sĩ đi theo.

- Báo cáo, thấy bảo tiểu đoàn trưởng ra đây, tôi cũng đi liền.

Dũng rất bằng lòng cách ứng xử của Lanh nhằm sẵn sàng hỗ trợ cho anh khi cần thiết.

Lanh cho biết rõ hơn: chiều tối qua khi dân các bản đưa trâu vào đây, Lanh đã cho người ra căn dặn phải giữ kín khu vực, hơn thế nữa còn chỉ cho họ một chỗ ẩn náu khá tốt. Cũng vì thế từ sáng nay, dân buộc trâu xong đã rời khỏi khu vực này, đi khá xa. Nhờ vậy, chỉ có trâu bị trọng pháo địch giết chết. Có lẽ đã có con do buộc không kỹ, sổng ra, đi lại lộn xộn, máy bay “bà già” của địch nom thấy...

Lanh xồm còn cho biết thêm: khi pháo địch vừa dập được vài loạt, Lanh cũng đã cho người ra quan sát, thì gặp một nhóm ba phụ nữ đi công tác ngang qua khu vực này đang nằm chết khiếp trong một khe suối, ở ngoài khu vực bị tàn sát. Nhưng cũng chỉ suýt soát với những loạt đạn ngoài cùng không quá 50 mét..

- Họ đâu? - Dũng hỏi.

- Báo cáo kia! Anh em còn để cho mấy bà ngồi thở và hoàn hổn, ở sau khe đá kia! Tí nữa tôi định mời họ vào đại đội nghỉ ngơi, rồi sẽ cho đưa họ ra khỏi khu vực nguy hiểm này.

- Tốt.

- Báo cáo, anh nên gặp họ một chút để trấn an.

- Cũng được.

Dũng vẫy Báu cùng đi theo Lanh và nhóm chiến sĩ lên bờ đất cao, rồi rẽ vào một khe đá có những tảng chồng chất, như cả một bầy voi lớn đang quần tụ uống nước bên bờ suối.

Ba người phụ nữ đang ngồi nép vào một tảng đá lớn hơi ngả xuống như một mái che. Hai người đã đứng tuổi, búi tóc còn một người rất trẻ, trạc hăm ba, hăm bốn. Tất cả đểu còn đang xanh tái. Vừa chợt nom thấy người trẻ tuổi, đất dưới chân Dũng thoắt như chao đi. Anh đứng sững lại, vịn vội vào một thân cây. Cũng vừa lúc đó, người phụ nữ trẻ bật dậy, hai mắt sáng lòa. Cô lập cập chạy lại phía Dũng, kêu lên:

- Anh Dũng Linh!

Tiếng gọi gần như thất thanh. Lanh xồm và tất cả mọi người đểu sững sờ, ngạc nhiên.

- Anh Dũng Linh!

Cô gái đã tới trước mặt Dũng và cầm chặt lấy hai tay anh. Lanh xồm càng tròn xoe đôi mắt.

- Anh Dũng Linh! Trời ơi, làm sao em lại được gặp anh ở đây?...

Tới lúc đó, Dũng đã tự trấn tĩnh lại được. Anh từ từ rút tay mình ra khỏi bàn tay run rẩy của cô gái:

- Không! Có lẽ cô lầm rồi.

Đôi mắt rất đẹp của cô gái càng mở to và như long lanh có ngấn lệ:

- Ô kìa! Anh Dũng Linh! Em không lầm mà! Làm sao mà em lầm được? Nhìn thấy anh là em nhận ra ngay. Trời ơi, sau bao nhiêu năm rồi, mà em cứ tưởng là anh đã...

Rồi cô bật khóc rũ:

- Ôi chắc là có trời phật dun dủi, mới có ngày hôm nay, em được gặp lại anh... Vậy sao anh lại không nhận là anh? Sao vậy ? Sao vậy anh ơi ?...

Mọi người càng đứng ngây trước cảnh tượng hết sức lạ lùng và bất ngờ này. Không một ai biết nên nói gì hoặc hỏi gì lúc này nữa.

Dũng đã kịp xử trí.

- Ông Lanh, chúng ta hãy rút ngay khỏi nơi này đã! Về đại đội mau! Đưa các chị cùng về.

Lanh “rõ” một tiếng thật to. Anh đã được gỡ ra khỏi cảnh huống hết sức khó xử này. Anh xăm xăm chạy trước. Mọi người cùng vội vã đi theo anh. Dũng ra hiệu cho Báu. Hoàn toàn hiểu ý anh, Báu tụt lại, đi cùng ba chị phụ nữ, vừa để giúp họ vượt đá, leo dốc, vừa để bảo vệ. Tổ chiến sĩ của Lanh cũng nhanh ý, cùng lùi lại với Báu.

Về tới khu vực của đại đội, Lanh cũng trở nên nhanh trí hơn: anh đưa hai chị phụ nữ lớn tuổi sang khu hầm của trung đội, riêng người phụ nữ trẻ anh mời vào hầm của anh cùng với Dũng, đoạn nháy mắt cho Báu đi theo mình. Dũng không kịp cản lại ý định tế nhị đó. Anh miễn cưỡng bước vào hầm, ngồi xuống mấy chiếc hòm đạn, trước mặt Nguyệt Lệ. Tới lúc này chỉ còn có hai người, cô lại cầm chặt lấy hai bàn tay đầy chai sẹo của anh và lại khóc ròng:

- Ôi làm sao mà anh đến nông nỗi này? Làm sao mà anh lại khổ cực đến như thế này?...

Rồi cô run rẩy hết sờ lên vết sẹo ở ngang gò má, lại tới mấy vết sẹo nhỏ ở trên trán và cả ở nơi cổ anh.

Dũng từ từ gỡ bàn tay cô. Trên gương mặt sạm đen cứng cỏi của anh có cái gì đó xôn xao như sóng. Và anh không thể không cất tiếng buồn bã:

- Phải! Tôi không cần chối cãi nữa, khi cô vẫn còn nhận ra tôi. Nhưng nay tôi là Dũng. Cái từ Linh gắn thêm vào trong những năm đầu chiến tranh đầy mơ mộng, lãng mạn nay đã bỏ đi rồi.

- Ôi anh Dũng Linh, anh Dũng Linh của em... - Cô vẫn siết chặt lấy tay anh.

- Và có nghĩa là Dũng Linh cũng không còn nữa, cũng như mối tình đầu khốn khổ của anh ta cũng đã chết...

- Trời ơi! Không! Không! - Nguyệt Lệ gần như thét lên - Sao lại thế? Sao lại thế anh?

Dũng trở lại câm lặng. Nhưng có lẽ tiếng khóc não lòng của Nguyệt Lệ đã làm cho anh lại phải cất tiếng:

- Vì sao ư? Người ta đã phản bội tôi, phản bội mối tình mà tôi cứ nghĩ rằng tôi có thể chết vì nó...

- Không! Không - Nguyệt Lệ lắc mạnh tay Dũng - Anh lầm rồi. Ôi anh lầm rồi. Anh đã không hiểu thấu cho em...

- Tôi không hề lẩm.

- Anh ơi khổ thân em anh ơi, hãy nghe em nói đây, em nói đây, nghe em đã...

- Không!

Ngọn lửa hờn giận tưởng đã lụi tàn theo năm tháng máu lửa khổ cực, gian nan không ngờ nay lại vụt cháy bủng, làm cho Dũng cảm thấy hết sức đau đớn và mất bình tĩnh.

- .. . Anh ơi, hãy thương em, hãy nghe em nói đã: em lấy chổng chỉ vì nghĩa, vì anh ấy cứu vớt gia đình em. Anh ấy...

- Tôi có biết anh ta. Năm 1952 gần như thân tàn ma dại từ chiến trường Thượng Lào trở về Khu ba, tôi đã được nghe kể về một câu chuyện hôn nhân tuyệt vời ngựa hồng côn bạt... Và tôi cũng đã tình cờ gặp anh ta từ trên Bộ xuống kiểm tra hậu cần các đơn vị. Tôi đã toan giết chết anh ta, không bằng súng mà chỉ bằng một lưỡi dao nhọn. Nhưng rồi, tôi hiểu: anh thật ra không có lỗi. Người đàn ông nào cũng thế cả. Lỗi chính là ở người đàn bà phản bội... Nhưng với cô tôi sẽ không cần làm như thế, cô cứ yên tâm.

Tôi chỉ coi như chưa bao giờ quen biết cô, và củng mong cô hãy tin là tôi đã chết. Thế là đủ!

- Trời ơi!... Nguyệt Lệ gục hẳn đầu mình lên hai đầu gối của Dũng và gần như ngất xỉu. Dũng lặng ngồi như tượng. Trong lòng anh vẫn chưa thôi cháy bỏng. Anh cũng không ngờ hôm nay anh lại nói nhiều và cay đắng đến như thế.

... Trong lúc đó, ở hầm bên, Lanh xồm đang mời nước hai chị phụ nữ. Anh băn khoăn:

- Quái, có thể nhầm thật các chị ạ! Năm ngoái, trung đoàn trưởng của chúng tôi đưa anh ấy về tiểu đoàn giới thiệu, chỉ thấy nói là Nguyễn Văn Dũng. Không thấy nói Dũng Linh - Dũng Lung nào cả.

Hai chị phụ nữ tỏ vẻ suy nghĩ. Với mẫn cảm giới mình, hai chị em đều cảm thấy có chuyện gì đây khá hệ trọng. Một chị nói nho nhỏ:

- Cứ để xem sao đã anh ạ! Cũng có thể có điều gì mắc mớ đây...

Trong căn hầm của Lanh. Nguyệt Lệ vẫn nước mắt chảy dài:

- ... Ôi khổ thân anh, và cũng khổ thân em biết chừng nào. Vì sao vậy? Giá mà khi ấy anh đừng đột ngột đi xa, thì có phải là...

Nguyệt Lệ đã nhắc lại cái mùa hè năm 1948 không sao quên ấy. Dũng thở dài đứng dậy, anh đã ra đi đột ngột, hết sức đột ngột, và cũng hết sức bí mật nữa. Dạo ấy có một đợt cán bộ tốt nghiệp bộ. Thiếu mất vài người. Một số cán bộ trung đội trẻ thuộc các đơn vị quanh Bộ đã được chọn đi. Dũng rất thích, nó hoàn toàn phù hợp với tâm hồn đang đầy lãng mạn, phiêu lưu, phơi phới, với tinh thần hăng say sẵn sàng sả thân vì nước đang rất bồng bột. Nhưng phải xa Nguyệt Lệ lại là một điều thật sự đau khổ. Dũng đã ra đi với một tâm trạng phức tạp như vậy. Suốt dọc đường khi trên bộ, lúc nằm thuyền, buổi trên rừng, ngày xuống biển, đêm đêm anh đều nằm mơ, ú ớ gọi tên em, đến nỗi đã nổi tiếng trong đoàn về chuyện này. Rồi bước vào chiến đấu ở Tuy Hòa, Quy Nhơn. Mặt trận vỡ, dạt lên Cao Nguyên. Chiến đấu ở đó một hồi, anh lại dược điều qua Lào tham gia tình nguyện quân. Tới 1952 dược trở về Khu ba, sau một khóa học sĩ quan cấp đại đội và tiểu đoàn. Và sau chót, được về đại đoàn này, một đơn vị chủ lực trực thuộc Bộ. Luôn luôn hình ảnh Nguyệt Lệ không rời anh. Có lần ở Tuy Hòa, bị thương đã tưởng chết, đồng đội nghẹn ngào, hỏi anh có muốn nhắn gì về Bắc không? Dũng chỉ thều thào: “Nguyệt Lệ...”. Lên Cao Nguyên, một lần địch phục kích bất ngờ, anh bị thương. Bị bắt và bị tra tấn cực hình, anh và mấy chiến sĩ đều không một lời cung khai. Địch đem đi bắn. Chúng hỏi anh trước khi chết muốn nói điều gì? Dũng cũng chỉ trả lời: “Nguyệt Lệ”. Nhưng, cũng may sao, giữa lúc đó, các chiến sĩ du kích Thượng đã phục sẵn, phóng ra một trận mưa tên nỏ và cứu thoát anh, cõng chạy lên núi. Địch bắn đuổi theo. Anh lại bị thêm một vết thương nữa vào đùi. Máu anh đã chảy dài suốt từ đó lên tới đỉnh núi. Tưởng rằng mất hết máu, anh không còn sống nổi nữa, các chiến sĩ Thượng cùng khóc rống, chuẩn bị đem chôn thì anh lại lắp bắp: “Nguyệt Lệ”... Và cũng như bao lần trước, không hiểu sao thần chết cũng chưa bắt nổi anh. Anh chỉ hiểu có một điều: anh vẫn không muốn chết. Anh còn muốn được trở về với Nguyệt Lệ... Nhưng Nguyệt Lệ đây, Nguyệt Lệ đã phản bội anh từ lâu.

Cuối cùng, anh đứng dậy, mặt sắt lại, đôi mắt lạnh ngắt:

- Thôi thế có lẽ đủ rồi. Tôi xin nhắc lại: cô cứ yên tâm. Và quên mọi chuyện đi, quên cả cuộc gặp này. Tôi cũng vậy. Đó là điều tốt nhất đối với cô và cả tôi. Thôi cô ở lại đây một lát, rồi sẽ có người đưa cô và hai chị ra khỏi chốn này. Chào cô!

Đoạn anh khom mình bước nhanh ra khỏi căn hầm trước sự sững sờ, bàng hoàng của Nguyệt Lệ. Cô vội nhào ra theo, chới với:

- Anh Dũng! Anh Dũng! Em không có tội, em không có tội...

Nhưng Dũng đã khuất vào khu rừng rậm ở phía bên. Anh không ở lại gặp Lanh và hai chị phụ nữ. Cũng không cần gọi Báu, anh đạp rừng cắt thẳng một đường về tiểu đoàn bộ. Bước chân anh như điên cuồng và tàn bạo.

Thực hiện ebook: hoi_ls
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 27 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.