Đã mười một giờ rồi mà toàn đại đội vẫn còn ngủ vùi trong các lán và dưới các tầng hầm trú ẩn. Một vài anh mệt quá hóa liều, nằm vật ra ngay dưới các gốc cây hoặc bên các bụi rậm. Đại đội trưởng Lanh như các buổi sáng, đi soát một vòng. Anh phải lay gọi những các anh chàng ngủ dưới các gốc cây, bụi rậm. Gọi mãi không được, phải quát tướng lên, bấy giờ mấy anh “họ nhà liều” mới lồm cồm bò dậy, dụi mắt, chui xuống hầm, và đặt mình xuống ngủ liền như chết. Việc quát thì phải quát, nhưng trong lòng Lanh lại xót thương vô hạn. Anh biết họ đều đã quá mệt. Năm đêm liền rồi, anh em phải quần quật đào hào ngoài cánh đồng, đào đến đứt cả hổ khẩu, toét máu, đào đến kiệt lực, có anh đã gục ngã ngay cạnh cán xẻng. Đào thâu đêm, sáng ra mới trở lại rừng, nhai vội vàng mấy miếng cơm là lăn ra ngủ. Nhưng ngủ ngày có ra cái gì: như ăn khoai sống trừ bữa. Chiều, sinh hoạt, kiểm điểm, rồi vào sâu trong rừng, leo lên các sườn núi xa, đốn gỗ, chặt tre để về làm nắp hầm và ngụy trang đường hào. Mờ tối lại ra đồng. Cứ như thế, ngày này qua ngày khác, đã thành quy luật. Trời nắng ráo còn đỡ vất vả, mấy hôm nay có mưa nên càng khổ cực: đường sá trơn nhẫy, các con hào đều trở nên đầy bùn, bùn có nơi gần tới gối, đi như đi trong những con sông cạn. Bùn đã làm tê liệt biết bao đôi chân. Bùn đã nuốt mất biết bao đôi giày vải và cả những đôi dép lốp mà quân ta hết sức cần trong các trận đấu. Ụ súng, hầm trú ẩn trên đường hào và trận địa, chỉ sau một đêm mưa đã làm sụt lở gần hết, phải làm đi làm lại. Nhiều đoạn đất yếu, các vách hào cũng làm sụt lở tơi bời. Đó là chưa kể bom đạn địch phá hoại...
Cứ như vậy, đã năm ngày đêm, quân ta lao vào một cuộc chiến đấu cực kỳ gian khổ, vất vả trên khắp cánh đồng Điện Biên. Bên phía đông cũng vậy, dưới phía nam cũng thế. Cả năm buổi sáng, không sáng nào Lanh không đi soát lại anh em một lượt, rồi mình có chợp mắt được chút nào hay chút ấy. Nhìn những người chiến sĩ nằm ngủ li bì, lăn lóc đủ kiểu, đủ dáng Lanh thấy lòng mình như có xát muối. Anh quên cả chính anh cũng vất vả như họ, thậm chí còn hơn họ: Nào lo nghĩ chỉ huy, nào họp hành, nào chăm nom cái chỗ ăn, chỗ ở cho anh em... Chiến sĩ ngủ được khoảng bốn giờ, anh và các cán bộ chỉ huy khác thường chỉ được có hai. Cũng vì vậy mà người anh đã tóp lại, bộ râu quai nón không có thì giờ để cạo đã đâm ra tua tủa đầy mặt, cái giọng lệnh vỡ cũng bớt oang oang.
Anh dừng lại trước căn hầm của một tổ ba người: Tích, Viễn, Hợi. Anh kéo miếng vải bạt, che không cho ánh nắng mặt trời, dù chẳng gay gắt gì, lọt vào hầm làm chói mắt họ. Đây là một tổ không khác gì lắm mọi tổ trong đại đội. Tổ nào cũng có ca tân binh, lẫn cựu binh và anh lớn xen anh bé. Có tổ anh lớn chênh anh bé tới hai mươi tuổi, y như bố với con. Lanh quay sang hầm bên cạnh. Đó là một căn hầm bỏ trống, mới từ hôm qua, chiến sĩ quân giới đã đem thuốc nổ và đạn dược chất cả vào đó làm kho. Đây là hầm của tổ Phiếm, Phát, Thìn. Phiếm là tổ trưởng, một tay lựu đạn tuyệt vời của đại đội: ném rất xa, ném rất trúng. Trong các trận tấn công khi đánh gần, rất cần lựu đạn cả cái vào các ổ đề kháng địch, kể cả các lỗ châu mai, hầm cố thủ. Chàng trai Nghệ An ấy đã có vợ và một con, nhưng vẫn nhất quyết xin tòng quân. Con người mộc mạc, chất phác ấy dường như không bao giờ biết buồn, biết khổ cứ suốt ngày véo von những câu hát dặm, hát ví. Còn Phát tổ viên thật ra cũng là tân binh, nhưng vừa qua được màn 1 chiến dịch, nghiễm nhiên trở thành lính cựu. Phát là một người dân tộc Tày Cao Bằng, to, khỏe, đặc biệt cả ngày không nói một câu, rất lành nhưng cục, đã cáu lên, trời cũng không sợ, vào màn 1 chiến dịch mới càng thấy hết sức gan góc của chàng trai này. Và Thìn là lính mới bổ sung sau màn 1. Anh học sinh nông thôn Phú Thọ này bẽn lẽn và mảnh mai như con gái. Lanh chưa kịp hiểu gì nhiều về cả ba, thì cả tổ đã bị một chùm 105 ly, ở ngay đầu chiến hào trong đêm thứ ba, khi họ chưa kịp đào sâu tới quá hai xẻng đất. Thân thể Phiếm như bị xé ra làm đôi. Phát thì bị gần như băm nát hết đầu, mặt mũi chỉ còn là một đống thịt đỏ lòm bầy nhầy. Còn Thìn, chàng trai mới tinh ấy bị cắt mất cả hai chân, từ bẹn trở xuống... Căn hầm của ba người ấy vẫn ở đây, nhưng họ đã trở về với cát bụi. Bây giờ mới chớm vào màn 2 mà đã bị tổn thất thế này, liệu rồi tới hết màn 2, rồi qua tổng tấn công nữa thì đại đội thì sẽ phải thay bao nhiêu lần nữa? Lanh ứa nước mắt. Thương anh em quá. Thương lính cũ, những của quý của đơn vị, những người vào sống ra chết, có biết bao nhiêu kỷ niệm vui buồn với nhau đã đành. Thương cả lính mới, những đứa trẻ như em, thậm chí như con anh, mới chỉ kịp biết mặt mà chưa nhớ nổi tên, mới cùng nhau tay cầm tay cùng hứa hẹn ngày về chiến thắng thì đùng một cái họ đã trở thành tử sĩ.
Lanh trở về căn hầm của mình làm nửa chìm nửa nổi, hình L, trên có lợp mái. Anh và chính trị viên Tốn cùng ở đây, mỗi người một ngách. Gieo mình xuống chiếc giường tre, Lanh ôm mặt, nước mắt tiếp tục âm thầm chảy. Giữa lúc ấy, chính trị viên Tốn đi họp ở trung đoàn trở về, tay cầm khư khư bó áp phích và bản tin mặt trận do cơ quan tuyên huấn chiến dịch in ấn và phát hành. Chiếc túi dết cố hữu luôn luôn ở bên sườn, trong đó có cuốn sổ tay mà anh ghi chép khá đầy đủ mà trung đoàn vừa phổ biến: “Mặt trận nhận định công cuộc đào hào đang tiến triển nói chung tốt nhưng còn chậm. Tư tưởng ngại khó ngại khổ phát sinh khá nhiều, cần phải có sự lãnh đạo chặt chẽ hơn, và cần động viên mạnh mẽ hơn để đẩy nhanh tốc độ hơn nữa...”.
Vừa bước vào hầm, Tốn toan cất tiếng hỏi, nhưng nom thấy Lanh đang nằm âm thầm khóc, Tốn lặng lẽ đi sang ngách hầm của mình. Ở với nhau đã lâu, Tốn đã hiểu Lanh: nom có vẻ hổ tướng như vậy, nhưng lại là người rất dễ xúc động một chút là có thể khóc. Đây không phải lần đầu Tốn bắt gặp Lanh khóc một mình. Trong màn 1 chiến dịch cũng đã thế. Năm 1951, 1952 Lanh là tiểu đội trưởng bộc phá, Tốn là tổ trưởng nuôi quân. Từ sau trận Sông Đà, Lanh tiến rất nhanh. Khi Lanh đã là đại đội trưởng Tốn vẫn làm “Vua Bếp”. Nhưng, tới cuộc học tập cải cách ruộng đất mùa hè vừa qua, Tốn đã được để bạt vượt cấp chính trị viên đại đội, vì Tốn thuộc thành phần cố nông, thời trước có đi ở cho địa chủ. Vừa mừng vừa hoảng, Tốn xin thôi, không dám nhận nhiệm vụ mới. Nhưng tổ chức đã bảo anh: “Cứ làm đi, khắc làm khắc quen. Đồng chí thuộc nguồn cán bộ Đảng, đồng chí cần cố gắng”. Thế là cứ phải làm. Cũng may, được Lanh thông cảm giúp đỡ, chỉ vẽ cho mọi việc, nên rồi cũng qua. Tốn biết khá rõ Lanh. Anh mồ côi từ nhỏ, ra Nam Định ở với chú. Chú nghèo, xin cho vào nhà máy tơ. Năm mười sáu tuổi nhưng Lanh đã khá cao, to. Anh được giao việc bốc xếp ở kho. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, anh bỏ nhà máy xung phong vào Vệ quốc đoàn. Năm nay đã hai mươi tám tuổi vẫn chưa vợ, thậm chí vẫn chưa biết thế nào là đàn bà. Những lúc vui, anh thường nói: “Thôi, bao giờ độc lập, sẽ về Nam Định kiếm một cô công nhân, nồi nào vung ấy, hợp hơn!” ..
Tốn đang loay hoay xếp lại những tờ áp phích và các bảng tin, có tiếng Lanh vọng sang:
- Đi họp về, có gì mới không ông Tốn?
Tốn mừng rỡ chạy sang. Lanh đã lau khô nước mắt, nhưng gương mặt vẫn còn chưa hết xúc động. Tốn vui vẻ:
- Có anh ạ. Trên có chỉ thị tăng cường lãnh đạo, tổ chức, đẩy nhanh tiến độ đào hào hơn nữa. Trên nhận định chung là tốt, nhưng còn chậm...
- Chậm hả? - Lanh chau mày gắt lời Tốn - Chậm là chậm thế nào? So sánh với chuẩn mực cụ thể nào? Hay so sánh với sự mong ước của cấp trên?
Biết tính Lanh đã cáu là hay nói ngang, Tốn ôn tồn đáp:
- Thấy phổ biến là như vậy. Chắc là ở trên cũng đã có phái viên đi xuống các nơi nắm tình hình, nghiên cứu...
- Phái viên ở đâu, tôi không biết, ở đây không có ma nào hết! Chậm! Nếu có chậm thật thì chậm ở đâu đó, chứ ở đây đã và đang làm tới kiệt sức rồi. Tôi đề nghị phản ánh giúp. Tôi đề nghị các anh phái viên, các anh tham mưu hãy xuống với chúng tôi cùng đào hào, chỉ một đêm thôi...
Tốn biết: càng nói, Lanh càng bực. Anh đứng dậy:
- Thôi, tôi đề nghị trưa nay ta hội ý cấp ủy trước, rồi họp chi bộ vào chiều nay, anh ạ. Có gì ta sẽ cùng trao đổi trong nội bộ phải không anh?
Lanh như dịu hẳn xuống. Tốn cũng biết: với Lanh hễ đã nói tới Đảng, là thôi không nói bừa nữa.
Mộc tổ trưởng nuôi quân lên báo cáo đã có cơm. Lanh gật đầu:
- Cho đánh kẻng đi!
Cả đại đội đã được đánh thức, anh vươn vai, anh ngáp dài, anh vặn mình, vẫn còn thèm ngủ. Trên gương mặt của họ sự nhọc nhằn vẫn còn khắc sâu trong các nếp nhăn và trũng sâu ở hai hốc mắt. Một tiếng còi nổi lên, mọi người cùng quây quần chung quanh những chiếc lá chuối được trải ra thay mâm. Trên mỗi chiếc lá là một chậu cơm có ngọn, một chậu khác đựng canh rau rừng nấu với muối trắng và một nắp ga-men to đựng thịt trâu kho. Đây là những món ăn gần như không thay đổi ở Điện Biên, vì một lẽ dễ hiểu: không có gì khác nữa. Anh em ngồi xổm, cắm đầu xì xụp ăn. Bát là bát sắt tráng men được phát hồi đầu chiến dịch, nhưng nay vào trận, nhiều anh đã đánh mất. Bây giờ có anh phải dùng gáo dừa hoặc ống tre cắt ngắn để thay bát. Đũa cũng vậy. Có anh còn giữ được những đôi đũa tre vót rất đẹp, mang từ hậu phương lên, nhưng có anh không còn gì hết, đã bẻ vội hai cành tre nhỏ để lùa cho xong mấy miếng cơm vào bụng. Tuy vậy, dù ở ngay mặt trận, với tiềm thức văn hóa Việt Nam đã ăn sâu trong tim óc, những người lính vẫn luôn luôn có ý nhường nhịn nhau từ miếng thịt, cho tới muỗng canh rau rừng, anh lớn nhường anh bé, anh ít tuổi nhường anh hơn tuổi.... Trong lúc họ ăn uống xì xụp, Mộc như một ông bố già, đi rảo quanh để trông nom, và cũng là xem chúng nó ăn ra sao, có ngon miệng không? Chỉ cần thấy chậu cơm vơi nhanh rồi hết nhẵn là Mộc đủ vui rồi, chưa nói tới nếu có một vài lời khen nữa thì Mộc càng sướng không thể tả. Nhưng không phải chỉ có Mộc, mà cả chính trị viên Tốn nữa. Anh cũng đi rảo, nét vui buồn luôn thay đổi lộ rõ trên gương mặt. Cơm xong, mọi người cũng chạy lại vây quanh lấy một chiếc chảo lớn còn đặt trên bếp Hoàng Cầm. Đó là chảo nước sôi nấu với cháy cơm. Nước cơm cháy tốt chán! Đào đâu ra trà ở đây? Nước cơm cháy có thêm tí gừng càng thơm, càng lành.
Sau đó, tất cả bắt tay ngay vào việc. Đời lính là như vậy. Việc là việc, nhất là ở mặt trận. Lanh đứng ngay bên chảo nước nói:
- Tất cả chú ý nhá! Bây giờ các tiểu đội họp rút kinh nghiệm đêm qua, còn các cán bộ trung đội lên đại đội hội ý. Sau đó chi bộ họp. Rồi lại đi lấy gỗ, lấy tre. Xong, chúng ta lại ra trận địa.
Lanh nói to và nhanh, làm cho lính dường như không nghe kịp, nhưng ngược lại lính dường như cũng không cần nghe hết, đã hiểu đủ mọi việc cần làm. Họ túa đi, và lao ngay vào việc. Thời gian luôn luôn khắc nghiệt với họ, những người chiến sĩ. Ở mặt trận đã vậy, ở hậu phương cũng thế thôi. Thời gian như không bao giờ dành riêng cho họ.
Quá trưa, các cuộc họp đã xong, quân ta lại chuẩn bị vào rừng đốn gỗ, chặt tre. Hôm qua Lanh đi cùng với họ. Hôm nay lẽ ra đến lượt Tốn, nhưng Tốn vừa đi họp ở trung đoàn về nên Lanh lại đi thay. Lanh. Anh đứng ngắm đoàn quân thành hàng dọc, đi vào rừng sâu. Lúc này anh em có vẻ tỉnh táo, khỏe mạnh hơn, nhưng vẫn nhếch nhác, chủ lực chẳng ra chủ lực, du kích chẳng ra du kích, và nhất là vẻ mệt nhọc vẫn không sao xóa hết được trên những gương mặt đều xanh tái, hoặc bạc ra. Lanh vẫn còn nhớ sáng hôm qua, tiểu đoàn trưởng Dũng xuống đại đội Lanh một lúc. Cùng Lanh đi rảo quanh chỗ anh em nằm ngủ, Dũng đã tự nhiên thốt lên: “Hồi ở mặt trận Phan Rang, mình có được nghe một người vốn là thầy giáo, bấy giờ cũng là bộ đội, nói: “Có một nhà văn phương Tây nào đã viết: họ, những người lính ấy, như những con vật chiến tranh. Mình bỗng nổi gai người. Tất nhiên đó là nói về những người lính cách mạng. Nhưng vẫn cứ có cảm giác gì như ít ra, những người lính của chúng ta hôm nay một khi lao vào cuộc chiến cũng không phải không có mặt nào tương tự...”. Lanh không hiểu và cũng không biết nghĩ như thế có đúng không? Tuy nhiên anh cũng cảm thấy như có một lưỡi dao nào đó lướt khía vào tim anh. Thật vậy, đã mấy ai hiểu hết được nỗi khổ của người lính? Để động viên họ vào trận, sẵn sàng chết vì nhiệm vụ, người ta đã thường chỉ viết và vẽ nên những hình ảnh thật hào hùng, đẹp đẽ và vui vẻ. Thật vậy, đã mấy ai hiểu hết mọi nỗi thống khổ của người lính, dù là những người lính có lý tưởng cách mạng...
Hoàng hôn xuống, rừng tối mờ, sương bắt đẩu dăng trên cánh đồng. Nhưng đây cũng là lúc pháo Mường Thanh, Hồng Cúm lại bắn dữ nhất. Khắp các cửa rừng, khe suối lại rừng rực lửa đạn.
Đại đội lại lên đường. Khác với khi đi lấy gỗ, lúc này anh em đều nai nịt gọn gàng hơn, và mọi vẻ uể oải cũng như đã được cố giũ bỏ lại. Ra trận địa, người lính bao giờ cũng trang nghiêm, cẩn thận. Mọi tiếng nói chuyện, cười đùa không còn nữa, thay vào đó là những câu nói rất ngắn và nho nhỏ. Mỗi người một bó tre hoặc bó cành cây trên vai. Những cây gỗ lớn phải hai người khiêng đi lặc lè, lủng lẳng.
Lúc này, Lanh lại thấy một tình cảm gì như một niềm tự hào, kiêu hãnh đang dâng trào trong tâm hồn mình. Thật vậy những người lính của anh - những người anh em của anh lúc này sao đẹp quá...
Ra khỏi khu trú quân được một đoạn, toàn đại đội bắt đầu đi vào khe Trăn, nơi mới bị trận pháo kích tơi bời bữa trước. Lanh vượt lên trước, đứng sang một bên đường mòn, ra lệnh cho bộ đội đi thật thưa, từng tổ một, và đi thật mau, để nhanh chóng vượt qua khu vực nguy hiểm. Trời càng thêm tối. Dưới các vành mũ nan tre có lá cài ngụy trang bù xù, không nhìn rõ mặt ai, nhưng Lanh vẫn nhận ra được từng chiến sĩ thân yêu của mình, chỉ trừ những anh lính mới bổ sung sau màn 1 chiến dịch.
- Nhanh! Nhanh nữa lên! - Lanh giục giã.
Bộ đội chạy rình rịch. Lá ngụy trang rào rào. Cuốc xẻng va nhau lích kích cùng súng dạn. Tất cả những âm thanh quá quen thuộc ấy rộ lên càng làm cho Lanh thêm phấn hứng. Đấy là những bản nhạc kỳ diệu mà trên thế gian này có lẽ chưa một nhạc sĩ nào đã viết nổi. Bộ dội vẫn loang loáng lướt qua mặt Lanh. Những người khiêng gỗ tuy có chậm hơn, nhưng cũng vẫn cố bám sát. Tất cả đều như bị cuốn hút về phía trước. Ai cũng như ai, dần dần không còn phân biệt được đâu là lính cũ đâu là lính mới. Tất cả cứ băng đi băng đi. Những người cựu binh đã có sức cảm hóa, lôi cuốn đồng đội mãnh liệt đến như thế sao? Hay chính đó là nhiệm vụ, là truyền thống của đơn vị?
Đại đội vẫn chưa vượt hết khe Trăn. Trời càng tối sẫm. Lác đác có mấy hạt mưa. Chợt có tiếng chân rất nhẹ phía sau lưng, Lanh quay lại:
- Anh Dũng! - Lanh vui vẻ cất tiếng chào - Đêm nay anh đi với bọn tôi hả?
- Ừ!
- Hay quá! Quân tôi nó đang tị: mấy đêm trước tiểu đoàn trưởng toàn đi với “xê” ông Thìn, ông Niên.
- Chỗ chúng nó có ruộng lầy, lại có nhiều đá ngầm ở dưới sâu, khó nhá quá...
Dũng cười. Dưới vành mũ nan, hàm răng anh trắng đều đặn, rất đẹp.
Anh cũng cầm một chiếc xẻng cán dài y như lính.
- Cậu tổ chức cho anh em vượt khu vực này như thế là tốt.
Lanh vui vẻ và thành thật:
- Cũng là nghiêm chỉnh chấp hành chỉ thị của tiểu đoàn thôi. Tôi đã hiểu tính anh: mọi cái thì có thể thế nào cũng xong, nhưng đã vào việc, nhất là vào trận thì anh... khiếp lắm.
Dũng nhìn một toán chiến sĩ đang khiêng gỗ lặc lè đi tới:
- Tiểu đội cuối cùng đây phải không?
- Dạ, phải.
- Vậy ta đi thôi!
Dũng quay đi trước. Lanh luỵch uỵch chạy theo sau. Hai người cùng vượt lên trước đội hình của đơn vị.
- Chiều nay các ông họp chi bộ rồi hả?
- Báo cáo vâng. Tranh luận khá gay về chậm hay không chậm, có tư tưởng ngại khó ngại khổ hay không.
- Kết luận thế nào?
- Thôi thì cũng phải nhận là chậm, nếu so với quyết tâm cao nhất. - Lanh cười - Và ngại khó ngại khổ thì ai mà chẳng ngại, có điều là anh em chúng tôi thì không hề...
- Mình hiểu các ông. Nhưng mà ở đời này không thể thỏa mãn sớm một điều gì cả, trong chiến đấu càng không thể như thế. Động viên, hối thúc nữa cũng tốt thôi. Nhưng quan trọng hơn hết là phải xem lại cách thức tổ chức, đó là cái thiết thực nhất. Việc gì cũng vậy, chỉ có động viên không, không đủ.
- Dạ đúng như thế.
- Và, - Dũng tiếp - Nhanh nhưng vẫn không thể quên phải hết sức hạn chế thương vong. Tôi không bao giờ chỉ nhắm mắt xông lên, mà không cần biết rõ mình cần phải làm những gì để có thể thắng mà ít đổ máu.
Cả đại đội đã ra khỏi rừng. Cánh đồng mở ra bao la. Dù là đêm tối nhưng ngoài này vẫn sáng hơn. Mây rách ra vài mảng. Lờ mờ có ánh trăng suông. Địch dẫu sao cũng còn khá xa: các cứ điểm ở vành ngoài của sân bay và khu trung tâm Mường Thanh nằm cách cửa rừng tới trên bốn cây số, và cách giao thông hào trục của quân ta đang đào cũng trên dưới hai ngàn mét. Cũng vì vậy bằng mắt thường quân ta không nhìn thấy gì hết. Phía trước chỉ là một vùng tối tăm mờ mịt, bí mật, đầy bất trắc. Các cứ điểm của địch đều không thắp đèn lộ trên mặt đất kể từ sau màn 1 chiến dịch, vì pháo của ta đã vào gần hơn, thậm chí có những trận địa sơn pháo đã xuống hẳn cánh đồng, vào tới chân Bản Kéo, Độc Lập, Him Lam để bắn vào khu trung tâm và kiềm chế sân bay. Có lẽ lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh ở đây, quân Pháp cũng phải che giấu đèn lửa ban đêm, không chỉ riêng quân kháng chiến.
Chớp lửa lại rực lên ở phía trước.
- Đấy nó lại đánh trống tế bố nó đấy. - Một anh lính nào cười thốt lên.
- Cứ bắn! Cho mày dốc hết đạn của cả nước Pháp nhà mày vào đây, rồi cũng ngoẻo thôi con ạ! Mấy hôm nữa, ông mà vào, ông bẻ từng cái càng pháo ra! - Một anh khác nói theo.
- Ấy chớ! Chớ! Giữ lấy mà dùng chứ! Muốn nhắm rượu, về “ tậu” lấy một mẹ đĩ, nó sẽ cho ăn tiết canh và chân vịt, bẻ ra mà gặm, sướng hơn.
Tiếng cười rúc rích. Dũng cũng thầm mỉm cười. Anh biết: khi vào trận người ta thường có hai cách để tự trấn an và kích thích, một là cáu gắt, quát tháo, và văng tục, hoặc chửi thề, điều này thường thấy ở những người chỉ huy, hai là đùa cợt để tỏ ra coi thường kẻ địch, coi khinh hiểm nguy, thường thấy ở các chiến sĩ.
Dũng vẫn đi rảo. Cánh đồng đã gặt, chỉ còn trơ lại gốc rạ và những cây chó đẻ cùng cỏ dại đã mọc đầy sau những trận mưa đầu mùa. Lác đác có cả những cụm hoa riềng nhoi lên đỏ tươi - những nụ hoa dường như lạc lõng trên cánh đồng đã gần như hoang dại và chiến tranh đang gầm thét. Lanh bỗng bước rảo lên, đi sóng ngang với Dũng:
- Anh Dũng ạ... - Lanh nho nhỏ.
Cái anh lệnh vỡ này có gì mà thì thào vậy? Dũng lắng nghe.
- Anh Dũng ạ, hôm nọ ấy mà, cái hôm kia ở khe Trăn ấy, hôm gặp chị Lệ ấy...
- Sao? - Dũng chăm chú hơn.
- Tôi quý anh tôi mới nói thật, chứ anh hôm ấy... gì quá...
- Sao? - Dũng chau mày. Anh không ngờ Lanh vẫn còn quan tâm đến chuyện này.
- Lẽ ra hôm ấy, theo tôi, anh nên... nên...
- Thôi đi ông ạ! Tôi không muốn nhắc lại nữa. -Dũng thở dài gạt đi.
- Thật đấy, anh Dũng ạ, - Lanh vẫn không nghe - Chị ấy đã nói sơ qua lại mọi chuyện cho tôi nghe rồi.
- Đã bảo thôi, ta nói chuyện khác đi. Ôi, ông chưa hiểu đàn bà là thế nào đâu!
Lanh im bặt. Dũng nói cũng đúng: quả thật muốn khuyên nhủ Dũng, nhưng Lanh thật ra đã có chút kinh nghiệm nào về tình yêu? Cả tuổi trẻ của anh đã ném vào quân ngũ và chiến tranh. Tự nhiên Lanh cũng thấy buồn. Đã hai mươi tám tuổi đầu, chiến tranh vẫn còn đang nhe răng múa vuốt trước mặt, chưa hề biết thế nào là một nụ hôn, chứ chưa nói xa hơn nữa. Hai người tiếp tục đi sóng đôi bên nhau, nhưng cùng rơi vào im lặng, mỗi người theo đuổi một ý nghĩ riêng.
Có tiếng máy bay ì ì. Dỏng tai lên nghe, Lanh nhận ra tiếng bọn tiếp tế. Anh đề nghị cứ cho bộ đội tiến. Dũng đồng ý. Tiếng máy bay gần hơn, rồi ầm ào như ở ngay trên đầu đại đội. Nghe thấy như có nhiều, chứ không phải một chiếc. Đã nom thấy cả những chấm đèn ở bụng, ở đuôi và hai đầu cánh của chúng. Trời lại đầy mây, nên không thể nhìn rõ được gì hơn. Nhưng cũng đúng lúc ấy có những tràng đạn đại liên từ dưới cánh đồng, ở liền ngay sau giao thông hào trục phía trước, quất lên rất giòn giã. Đạn vạch đường rất chụm, vun vút như từng bó lửa tung lên hết sức đẹp mắt. Hả dạ vô cùng.
- Ở đâu vẫn vậy anh? - Lanh hỏi.
- Đại liên phòng không của cậu Quýnh đây! Chúng nó mới ra đây hôm qua, bám sát yểm trợ bộ binh, và vào gần thế này để uy hiếp trực tiếp việc thả dù tiếp tế trên sân bay và khu trung tâm.
Lanh hớn hở:
- Thế thì phải gọi các cậu ấy là phòng không xung kích.
- Phải! Cậu Quýnh này hay lắm. Chỉ huy rất giỏi, lại gan góc không chê vào đâu được. Tính nết cũng rất cởi mở.
- Anh biết Quýnh.
- Phải. Đầu năm ngoái, khi cầm giấy về đại đoàn, còn đang sớ rớ chưa gặp ai, thì tớ gặp cậu này cũng mới nhận được giấy gọi về đại đoàn để nhận nhiệm vụ ở phòng không. Hai đứa nằm khan ở tạm trú xá. Mấy hôm sau mới thấy một bố ở phòng cán bộ khật khưỡng đi ra...
- Tôi cũng biết cậu Quýnh - Lanh nói - Hồi chỉnh quân cải cách ruộng đất mùa hè vừa rồi, tôi với cậu ấy học ở cùng một đại đội. Buồn cười: khi có báo động máy bay cậu ấy cứ nằm dài đọc tài liệu, không chịu ra hầm, ai cũng bảo quá chủ quan. Nhưng có hôm mới nghe tiếng máy bay còn xa cậu ấy đã tung người dậy hét: xuống hầm ngay. Mọi người còn ngờ ngợ, thì quả nhiên bom nó đã đạp liền mấy quả xuống một ngọn đồi ở ngay bên cạnh. May mà không ai việc gì. Bấy giờ mới khen: “Thằng Quýnh giỏi”. Cậu ấy chỉ cười: chuyện ấy quá nhỏ với dân phòng không. Không nghe được tiếng máy bay để đoán hướng, thì còn làm anh lính cao xạ làm gì!
Đã tới giao thông hào trục. Tuy chưa hoàn thành, nhưng còn hào đã vươn khá dài như cắt dọc cánh đồng, chia ra hai phần nửa bên phía tây là ta, nửa bên phía Nậm Rốm là địch. Con hào như một giới tuyến. Hào khá rộng và sâu lút đầu người. Có thể vận chuyển khá dễ dàng cáng thương, kể cả khiêng vác, vận chuyển các bộ phận của pháo nhẹ, và ĐKZ. Hai bên vách hào dựng đứng như tường. Nơi nào đất yếu, vách đã được gia cố bằng những phên nứa, phên tre phòng sụt lở. Quãng quãng, ở hai bên lại có hầm cá nhân kiểu hàm ếch để làm chỗ nghỉ ngơi và trú ẩn. Cũng quãng quãng lại có một ụ súng trung liên, đại liên hoặc ĐKZ. Từ tường hào trục (như cả một đường hầm dài dặc ấy) quân ta đã bắt đầu, không đợi hoàn tất hào trục, tranh thủ đào vươn về phía địch những con hào nhỏ hơn, nhưng cũng đủ cho quân ta có thể vận động tiến lên mà không thể phơi mình trên mặt ruộng. Tất nhiên những con hào tấn công này mới được bắt đầu nhưng hầu hết mới chỉ là vươn lên được trên dưới một trăm mét. Ở đẩu mút hào vẫn còn dang dở, có nơi quân ta mới chỉ đào sâu hai ba lưỡi xẻng, có nơi pháo địch đã bắn nát, san bằng các mặt ruộng.
Tới đây như đã ngửi thấy mùi thuốc đạn, mùi cháy và cả mùi máu tươi. Nhưng các chiến sĩ ngay lập tức ùa vào công việc. Đêm nào cũng vậy, trước cảnh tượng này, Dũng vẫn thấy trong lòng mình trào lên những niềm xúc động và phấn khích.
Đại đội Lanh đã dàn ra, một bộ phận tiếp tục đào hào trục để nối với đại đội bạn ở phía dưới, một bộ phận đi lên ở phía trước tiếp tục đào hào tấn công tiến về phía địch. Lanh đã biến vào đám đông chiến sĩ. Chính trị viên Tốn chạy theo, và cũng nhập luôn vào một đám đông ở cánh phải, nơi tiếp giáp với đại đội bạn. Mây lại rách ra một vài mảng. Ánh trăng lại lờ mờ rọi xuống. Có thể nom rõ hơn cảnh tượng lao động tấp lập, hối hả kỳ lạ của hàng trăm con người trên cánh đồng. Và nếu tính cả các hướng thì có tới hàng ngàn, hàng vạn con người đang lao vào cuộc xây đắp chiến hào này. Những tấm lưng nhấp nhô như những đợt sóng đang dồn dập trào lên rồi lại trút xuống, liên tục, thôi thúc và mãnh liệt.
Dũng cầm xẻng cũng nhảy xuống một đoạn hào. Bùn ngập quá mắt cá chân anh, trào ngay vào đôi giày vải cao cổ. Quân ta đang vừa phải múc bùn, vừa đào. Dụng cụ để múc và vét bùn hết sức linh tinh: có anh dùng mũ sắt chiếm được của địch, có anh dùng hòm sắt đựng đạn, có anh dùng thúng mủng rách nhặt được ở các bản bị giặt đốt cháy, dân đã chạy cả vào rừng. Làm cật lực mà tốc độ vẫn chậm. Vét xong bùn, là đào, là xúc. Rất mệt nhọc. Không mấy ai nói chuyện nữa. Chỉ còn có tiếng thở phì phò và tiếng cuốc xẻ thình thịch xả vào đất, hòa quyện với nhau, tạo thành một dải âm thanh trầm đục, nặng nề trên suốt chiều dọc cánh đồng. Cùng đào với các chiến sĩ một lúc, mới chỉ một lúc thôi, mà hai lòng bàn tay Dũng đã rát bỏng, lưng mỏi như dần, hai cánh tay rã ra, hơi thở cũng dứt khúc. Ngẩng lên, gạt mồ hôi đẫm trên trán (dù trời đêm se se lạnh), nhỏ nước bọt vào hai lòng bàn tay, anh mím môi lại. Liệu có nên tổ chức những tổ vét bùn, xúc đất, và những tổ chuyên đào đất?... Anh sẽ phải bàn lại với các đại đội trưởng ngay ngày mai.
Một lúc sau anh quay trở lại sở chỉ huy nhẹ của tiểu đoàn đặt ở khu ruộng hơi lui về phía sau một chút, và chếch về phía đại đội của Thìn. Gọi là sở chỉ huy, nhưng thực ra chỉ là mấy chiếc công sự, cái đã có nắp, cái chưa, mỗi cái chứa được khoảng ba bốn người, cái dành cho tổ thông tin, cái để cho cán bộ tác huấn và trợ lý chính trị, cái khá hơn, đã có nắp là nơi các cán bộ chỉ huy tiểu đoàn làm việc. Công sự nào cũng có giao thông hào ăn thông sang hầm chỉ huy và công sự kế bên để dễ bề cơ động, liên lạc với nhau.
Dùng lưỡi xẻng gạt bùn đất ở hai ống quẩn và đôi giày, đoạn, cắm mạnh chiếc xẻng xuống gờ đất bên một công sự, Dũng ngồi xuống, bỏ mũ ra, vụm tay xòe bật lửa mồi một điếu thuốc lá. Anh không xuống hầm ngay. Còn đang nóng bức trong người, và anh cũng muốn yên tĩnh một mình trong giây lát. Khói thuốc im nặng bay, anh ngửa mặt nhìn lên bầu trời của Điện Biên Phủ. Chiến tranh quả có nhiều bộ mặt. Dũng biết cũng khá nhiều, nhưng cho tới cái trận quyết đấu này, anh như mới hiểu chiến tranh vẫn còn có bộ mặt gớm ghiếc đặc biệt như ở nơi đây...
Những ý nghĩ của anh bỗng chốc chuyển sang một hướng khác. Câu chuyện Lanh nói lúc nãy lại làm cho anh thoáng buồn. Lanh bảo anh xử sự như vậy không đúng. Lanh đâu có hiểu. Mình đã là một con người khốn khổ và cả độc dữ nữa. Gặp lại nhau giờ đây còn gì để nói? Và nói thế nào, xử sự thế nào cho đúng với lòng mình nhất? Cuộc sống đã không bao giờ dễ dãi và luôn ngọt ngào, còn Lệ té ra cũng chỉ là một quả độc... Những vết thương cũ trên khắp cả thân thể anh như bỗng càng trở nên đau buốt. Đầu anh trĩu nặng. Đúng lúc đó, những vạt lửa trong Mường Thanh lại rực lên, rồi những tiếng nổ tơi bời làm rung chuyển ngay cả vùng đất Dũng đang ngồi. Như choàng tỉnh, anh lảo đảo đứng dậy, và nhận ra trọng pháo địch đang nã xuống khu vực của đại đội Thìn...
- Báu! - Anh gọi, rồi băng đi liền, về hướng đang có tàn sát.
Anh chiến sĩ liên lạc tròn như hạt mít cũng cực nhanh, tung mình lên khỏi công sự, cắm đầu lao theo Dũng.
Pháo địch tiếp tục bắn, vẫn đúng vào tọa độ cũ. Dũng không khỏi ngạc nhiên: mọi đêm bọn Pháp củng thường bắn ra giao thông hào trục, dù ta có ngụy trang mà những chiếc “đầm già” đã nhìn thấy, thậm chí có thể đã chụp ảnh nữa. Nhưng đêm nay không hiểu sao chúng bắn dữ, và lại bắn tập trung ở quãng này.
Hai anh em vừa chạy vừa phải liên tục lao xuống ruộng, dán bụng mỗi khi thấy từ trong Mường Thanh lại nhoáng lên ánh lửa. Vừa tới mép hào trục, lại một loạt trọng pháo nữa nã tới, hai anh em lại phải lăn đi một vòng rồi mới nhào xuống được. Một trận mưa đất, bùn trút xuống tối tăm cả mặt mũi cả hai người. Vuốt mặt, ngẩng lên, Dũng đã thấy đại đội trưởng Thìn và chính trị viên Hào với biệt danh Hào sứt (vì anh bị sứt mất hai chiếc răng cửa) đã có mặt tại đó.
- Báo cáo anh, nó bắn trúng chỗ anh em trung đội ba đang đào về phía trung tâm, chứ không phải ở đoạn trục nối với đơn vị bạn ở cánh phải, phía nam.
- Thương vong ra sao?
- Báo cáo... báo cáo...
Thìn chưa nói hết câu thì từ phía trước một chiếc cáng xồng xộc theo đường hào trục chạy lại.
- Đồng chí nào đây? - Giọng Thìn đã gần như khê đặc vì mất ngủ quá nhiều, và quá mệt nhọc, lúc này như run lên, và càng như khê đặc tựa như khản tiếng.
- Một cậu tân binh, không nhớ tên ạ. - Một anh khiêng cáng ấp úng đáp.
Mọi người cùng vội vã cúi xuống gần sát khuôn mặt đẫm máu của anh chiến sĩ. Chính trị viên Hào sứt nghẹn ngào:
- Cậu Hạnh, học sinh trung học Thái Nguyên! Mới chiều nay cậu ấy cứ hớn hở hỏi tôi: có phải đánh xong Điện Biên ta sẽ về Hà Nội phải không anh?
Dũng lật tấm chăn che nửa người phía dưới của anh chiến sĩ lên: chỉ còn thấy một đống thịt đỏ lòm, bầy nhầy. Không còn thấy đâu đôi chân nữa...
Mọi người chưa kịp nói gì thêm, một cáng thương nữa lại hổn hển trở về. Trên cáng là một thân người không đầu. Nơi cổ, những mạch máu dường như vẫn còn đang phập phồng phòi máu.
- Trời ơi! - Đại đội trưởng Thìn rít lên - Thế là mất tay trung liên nối tiếp cậu Đỗ đã “đổ” trong trận chặn viện rồi...
- Có đúng cậu này không? - Dũng hỏi mà thấy cổ mình cũng như nghẹn lại.
- Báo cáo đúng, chỉ nhìn hai bàn tay của cậu ta tôi cũng nhận ra ngay. Cậu Duẩn, Phạm Công Duẩn.
Dũng cúi sát xuống. Lòng hào quá tối. Anh đã nhìn rõ hai bàn tay khá to đầy chai sẹo, đặc biệt là các kẽ ngón và hổ khẩu đều bị rách, rớm máu vì đã cầm xẻng đào, cuốc quá nhiều.
- Đi tìm ngay cái... cái... đầu - Chính trị viên Hào sứt nói.
- Tìm rồi mà không thấy - Các chiến sĩ cáng thương đáp.
- Tìm lại! Phải tìm lại! - Hào sứt bật nấc lên.
- Báo cáo, pháo nó còn đang bắn. Ngớt, anh em chúng tôi sẽ tiếp tục tìm.
Lại một cáng thương nữa. Một chiến sĩ bị thương ở bụng, tất cả ruột gan đểu lòi ra thành một đống lớn. Anh đang mê man, hai tay ôm lấy đống ruột ấy, miệng thều thào: “Mẹ ơi! Mẹ ơi!”.
Dũng nói nhanh:
- Anh Hào ở lại giải quyết thương binh, tử sĩ thật chu đáo. Tôi và anh Thìn lên đó xem sao. Anh em mình còn cả ở trên đó.
Thìn vội vã bám theo Dũng. Hai người cùng rẽ vào ngách hào mới bắt đầu đào được ít nhiều từ đêm qua, tiến lên phía trước. Báu cũng không rời Dũng nửa bước. Thìn, khác hẳn với Lanh, thấp bé, đen đúa, đặc biệt có đôi mắt luôn luôn đỏ như mắt cá chày, có lẽ vì lông quặm. Thìn mới từ cơ quan tải thương của đại đoàn được đưa xuống chỉ huy đại đội được hơn một năm nay. Tuy không xuất sắc, nếu không muốn nói là chậm chạp và ít linh hoạt nhưng lại rất cần cù, chịu khó, việc gì được giao cũng làm được một cách chu đáo cẩn thận, chắc chắn, lại không chè rượu, trai gái. Nói chung anh sống khá gương mẫu. Dũng rất tin anh, thậm chí cũng rất mến.
Ba người ra tới nơi vừa bị tàn sát, địch cũng vừa ngừng bắn. Không còn nhận ra đâu là chiến hào đâu là mặt ruộng nữa. Tất cả cồn lên như những lớp sóng đất. Hố pháo chi chít, be bét. Khói đạn vẫn còn chưa tan. Khét nồng. Tanh lợm. Không gian vẫn còn như nghiêng ngả.
- Miền đâu? - Thìn cất tiếng gọi to.
- Có tôi! - Một bóng người từ một đống đất ở xế bên như mọc lên. Đó là trung đội trưởng trung đội 1, người trong số còn sót lại của trung đội này sau trận phòng ngự giữ cứ điểm đồi Độc Lập. Thật vậy, trận đó trung đội này đã bị gục gần hết, chỉ còn lại Miền, trung đội trưởng và bốn chiến sĩ, một giữ tiểu liên, hai súng trường, và một anh bắn ba-dô-ka.
Miền chạy lại. Thấy có cả tiểu đoàn trưởng, anh vội vã đứng nghiêm chào, nhưng đất đã bị cày xới thành từng hòn từng tảng, không bằng phẳng, anh trượt chân, lảo đảo suýt ngã.
- Chào đồng chí - Dũng bước nhanh lại, đỡ cho Miền thăng bằng lại - Anh em đâu cả rồi?
- Báo cáo, anh em ở quanh đây cả!
Miền vỗ tay mấy cái. Từ các đống đất và cả những hố pháo, một loạt những cái đầu với mũ nan và cả mũ sắt chiến lợi phẩm cùng nhô lên.
- Chào tất cả các đồng chí! - Dũng cất tiếng nói to. Rất ít khi gào to, ngay cả những khi điên giận nhất, nhưng lúc này anh biết anh cần lên tiếng ngay với anh em; không phải là cá nhân anh, mà với tư cách chỉ huy cao nhất của tiểu đoàn, gửi họ lời chào thật bình tĩnh. Anh em chắc hiểu: trong những giây phút này, tiểu đoàn vẫn luôn luôn ở bên họ. Quả nhiên, anh mới chỉ chào có thế, chưa nói thêm được điều gì, tất cả chiến sĩ, không ai bảo ai, cũng bật reo lên:
- Hoan hô!
- Hoan hô ban chỉ huy!
Sao lại hoan hô? Có gì mà hoan hô? Nhưng Dũng hiểu đó là một cách biểu lộ tình cảm của anh em. Anh bỗng thấy trái tim mình ấm hẳn lại.
Cùng Thìn đi tới từng vị trí để động viên và hỏi han cặn kẽ về tình hình địch bắn phá ra sao, Dũng dần dần nhận ra thêm được một điều mà chính anh bây giờ mới hiểu rõ: đào trận địa tiến sâu về phía địch, không thể giống hoàn toàn như đào giao thông hào trục, không thể rải người thành hàng dọc kéo dài trên mặt ruộng rồi cùng đào một lượt. Bây giờ địch đã thấy rõ những điều gì đang xẩy ra đêm đêm trước mặt chúng. Sự phản ứng của chúng do vậy càng dữ dội, càng có trọng điểm hơn. Vì vậy ta càng phải sớm thay đổi tổ chức và biện pháp, nếu không sẽ còn bị thiệt hại nữa. Có lẽ cũng phải rải quân ra, nhưng không phải tất cả cùng đào thành vệt dài ngay, mà phải cho anh em đào những hố cá nhân trước, nhằm mau chóng có công sự bảo vệ mình an toàn, sau đó mới đào nối liền hố nọ với hố kia, hình thành ra chiến hào liên tục... Đầu óc Dũng nghĩ ra rất lung. Anh nghĩ mãi. Sau đó vẫy Thìn lại, anh nói rất vắn tắt nhưng rất cụ thể về những gì vừa lóe lên nhưng đã cháy bỏng trong đầu óc anh.
- ...Báo cáo, vậy là tiểu đoàn quyết định thay đổi lại cách... - Thìn ngập ngừng.
- Phải, tôi quyết. Và anh phải tổ chức lại ngay. Ngay bây giờ, rồi rút kinh nghiệm.
- Rõ.
Trong khi đại đội Thìn cùng với trung đội trưởng Miền cùng ngồi trong một hố pháo lớn trao đổi ý kiến để tổ chức lại việc đào hào, Dũng đi tới bên một anh chiến sĩ cao lòng khòng ngồi trong một đoạn hào còn sót lại nhưng nông choèn.
Trong ánh đêm mờ mờ, chỉ nhìn thấy rõ nhất đôi mắt anh chiến sĩ khá to và một cái miệng với đôi môi hơi mỏng. Đẩu trần, vẻ người nhẹ nhõm. Khi thấy Dũng, anh ta cũng định đứng vội dậy để chào nhưng Dũng đã cầm tay anh kéo ngồi xuống như cũ.
- Đồng chí tên gì? Mới về hả?
- Báo cáo em là Lẫm, Trần Văn Lẫm ạ. Vâng, em là tân binh.
- Trước ở nhà làm gì, hay đi học?
- Báo cáo... em thành phần... - Anh lính ngần ngừ.
Dũng biết những năm gần đây, nhất là từ khi cuộc cải cách ruộng đất được phát động, vấn đề thành phần giai cấp đã được quan tâm rất nhiều, cả ở hậu phương, cả trong quân đội. Nhưng theo anh, nhiều nơi đã quá cứng nhắc, máy móc trong vấn đề này, nên có những chuyện không hay thậm chí rất đáng buồn xảy ra. Mà chưa có ai có thể thổ lộ...
- Cứ nói đi, không sao cả.
Anh lính gãi gãi tai:
- Báo cáo, em thành phần... linh tinh ạ.
Dũng không khỏi mỉm cười:
- Là thế nào?
- Báo cáo, em cũng được học ít nhiều nhưng phải bỏ học kiếm sống vì nhà đông em quá. Em đi cắt tóc, cắt tóc chán, đi làm thợ xẻ, chán rồi lại đi chữa xe đạp. Sau xoay ra vẽ truyền thần. Vì nhờ trời, em có tý hoa tay. Cũng không ngờ lại kiếm ăn được. Sau đó em lại kiêm cả nghề chuyên viết thư hộ các nhà có con đi bộ đội mà ông bà ở nhà không biết chữ. Rồi phấn khởi lên, được bà con nhờ vả, em lại còn làm cả việc hàng tuần chạy lên bưu điện kháng chiến của huyện ở tít tận trong rừng, bỏ thư giúp bà con và nhận thư về. Đợi bưu tá cứ gọi là hàng tháng. Tháng tám vừa rồi em xung phong đi bộ đội. Cũng lại là phấn khởi lên, vì mấy thằng bạn thân nó rủ.
- Cậu cứ luôn luôn phấn khởi như thế cũng tốt đấy - Dũng lại mỉm cười - Vậy vừa qua pháo nó bắn, thấy thế nào?
Lẫm cười theo:
- Báo cáo, nó bắn mặc nó chứ ạ.
- Thế có nghĩa là không sợ?
- Vâng! Không sợ chứ ạ.
Dũng ngắm nhìn anh ta, đôi mắt dừng lại ở khẩu súng trường mà anh ta đeo ở sau lưng. Đầu nòng súng có một nút giẻ thút nút lại.
- Này cậu cẩn thận tốt đấy. Thút nút súng lại thế này là phải. Kinh nghiệm này cẩn phổ biến.
Được khen, Lẫm hăng hái:
- Báo cáo, không thế, nó bắn, bụi, rồi cả bùn nữa nhét vào thì chỉ có mà khóc, khi có lệnh nổ súng.
Dũng chăm chú hỏi tiếp:
- Cậu có vẻ yêu cây súng này lắm nhỉ?
- Không ạ - Lẫm thật thà - Em mê trung liên hơn. Báo cáo, nhẽ ra em cũng được giữ trung liên thay anh Đỗ sau trận chống tái chiếm đồi Độc Lập, nhưng vì em thành phần linh tinh, nên đại đội giao cho đồng chí Duẩn, đồng chí vừa hy sinh đấy ạ. Nhưng cũng phải nói anh Duẩn cũng là tay cực giỏi. Anh ấy bần nông chính hiệu đấy ạ.
Dũng không cười:
- Này, cậu có muốn và có dám giữ trung liên thay anh Duẩn không? Nếu muốn, tôi đề nghị với đại đội cho.
Vẫn không khỏi giọng nghịch ngợm, Lẫm hỏi lại:
- Báo cáo, tiểu đoàn không giễu em đấy chứ?
- Hoàn toàn không.
- Vậy em xin hứa với tiểu đoàn nếu chết thì thôi, còn sống làm anh lính Cụ Hồ, em sẽ cho thằng Pháp biết thế nào là trung liên của em.
- Rất tốt! - Dũng cầm lấy tay anh lính lắc mạnh, rồi đứng dậy, trở lại chỗ Thìn và Miên. Anh trao đổi vắn tắt về chuyện trung liên của Lẫm, sau đó quay về sở chỉ huy. Báu vẫn luôn luôn bán theo anh như hình với bóng.
Dũng vừa về tới nơi, một cán bộ tác huấn đã nhô lên, mừng rỡ:
- May quá, trung đoàn đang gọi tiểu đoàn trưởng.
Nhẹ nhàng buông mình xuống công sự, Dũng đỡ lấy ống tổng hợp:
- A lô, tôi nghe đây.
- A, Dũng đấy ư, tốt lắm! Tôi, Quý đây. Anh Lê Thâu “ép” (đại đoàn) từ chiều chưa về. Tôi trực. Thế nào, ngoài đó ra sao, pháo nó bắn dữ thế?
- Báo cáo chính ủy hai tử sĩ, một thương binh. “Xê” cậu Thìn ở chiến hào tấn công, chứ không phải hào trục.
- Thế kia ư? Đã làm tốt công tác thương binh tử sĩ chưa?
- Hào sứt ở ngay chỗ đó, tôi đã trao cho cậu ấy lo liệu.
- Tốt! Này, thế nó bắn nhiều như đêm nay như vậy có gì khác?
- Báo cáo, theo tôi, vẫn là bắn phá hoại như mọi đêm, nhưng cũng có điều đáng chú ý, đêm nay chúng bắn tập trung vào một sỗ điểm mà đểu là ở hào tiến công. Như vậy có nhiều khả năng chúng đã biết ta bắt đầu tiến vào phía chúng, nên sự đối phó từ nay đã bắt đầu ác liệt và có trọng điểm hơn...
- Thế theo ý anh trọng điểm mà chúng nhằm là thế nào?
- Báo cáo: các trận địa tấn công. Và như vậy, trên phạm vi của trung đoàn ta, thì tiểu đoàn của tôi có lẽ là trọng điểm. Vì trận địa tiến công của tiểu đoàn tôi gần với sân bay hơn cả.
- Có thể có lý. Tôi sẽ trao đổi lại với anh Thâu. Này, còn có vấn đề gì nữa không?
- Báo cáo, tôi thấy các dụng cụ vét bùn, đất cần được cải tiến lại. Nhưng còn vấn đề lớn hơn nữa: đội hình và phương pháp đào hào trục, nhất là chiến hào tiến công. Theo tôi chiến hào tiến công nên đào theo lối cóc nhảy. Tôi đã cho Thìn thử áp dụng ngay đêm nay, xem kết quả cụ thể thế nào. Mai sẽ báo cáo với các anh cụ thể.
- Tốt! Cần phải phát hiện được các vấn đề như vậy, chứ không phải ra chiến hào chỉ là để động viên không thôi. Mai sớm, lên trung đoàn ngay nhé. Cả anh Thâu và tôi cũng nghe! - Và không quên thói quen nghề nghiệp, ông nhắc - Vẫn phải nhớ động viên anh em giữ vững quyết tâm đấy nhé.
Dũng bỏ ống tổ hợp xuống. Ít khi anh có cuộc nói chuyện dễ chịu với chính ủy Đỗ Gia Quý như đêm nay. Anh cũng như hầu hết cán bộ trong trung đoàn này vốn không thích Đỗ Gia Quý cho lắm vì cái tính chủ quan, võ đoán của ông: dường như ông không bao giờ để ý nghe bất cứ một ai, mà chỉ thích huấn thị và dạy bảo người khác. Tất nhiên ông là người cũng có chút học thức, có ít nhiều lý luận, và làm việc cũng có năng lực; người ta còn không thích ông ở tác phong xa quần chúng và cái nhìn thường ít rộng rãi, độ lượng đối với cán bộ, cái gì cũng quy vào quan điểm, lập trường. Xã Đệ, người bạo phổi và hay nói ngang đã giễu: “Cũng là dân có đuôi cả thôi (ý nói thuộc giai cấp tiểu tư sản) nhưng để tỏ ra cái điều ta đây triệt để cách mạng hơn ai hết, ông ấy bảo hoàng còn hơn cả nhà vua!”.
Thật vậy, từ màn 1 chiến dịch tới hôm nay Dũng mới thấy có cuộc nói chuyện dễ chịu với ông Quý. Dường như ông đã quên chuyện va chạm, tưởng như thoảng qua nhưng cũng khá khó chịu, chung quanh trận chiến đấu của tiểu đoàn anh, nói cho đúng hơn, đại đội Thìn, chống địch tái chiếm đồi Độc Lập. Đêm ấy tiểu đoàn anh nhận được lệnh của trung đoàn, (trong khi tiểu đoàn của Phan Đức và Xã Đệ tấn công cứ điểm mà Phan Đức là chủ công). Trong lệnh ghi cụ thể: dùng một đại đội để chặn viện từ Mường Thanh ra ứng cứu hoặc tái chiếm đồi Độc Lập. Dũng cảm thấy không ổn. Anh đề nghị cho tiểu đoàn sử dụng toàn lực lượng, để chắc thắng. Với lý do: quân ta suốt mùa hè qua, nói cho đúng hơn: xưa nay, chưa hề được huấn luyện kỹ về phòng ngự, mà chỉ có học tấn công. (Hình như trong tư tưởng người ta nghĩ rằng quân đội cách mạng chỉ có tấn công. Đặt vấn đề phòng ngự ra là sai quan điểm, là hữu khuynh, sợ địch). Lý do nữa: ở đây là mặt trận lớn, Dũng tin là không hề giống như việc chặn viện khi ta đánh các cứ điểm lẻ trong những năm trước. Do vậy, chắc chắn địch sẽ phản kích lớn. Nhưng, ý kiến của anh đã bị ông Thâu gạt đi. Ông Quý cũng vậy, không những thế, ông Quý còn nói xa xôi như thể Dũng thiếu quyết tâm. Dũng đã chấp hành mệnh lệnh, cho đại đội Thìn ra đào chiến hào, ngay trong đêm, trên đồng trống, dưới chân đồi Độc Lập, để sẵn sàng chiến đấu. Anh tự thấy không thể không có mặt cùng đại đội này, mặc dầu thông thường khi sử dụng lực lượng chỉ một đại đội thì cán bộ chỉ huy tiểu đoàn không cần thiết phải đi cùng; quá lắm chỉ cho tiểu đoàn phó đi. Trận chiến đấu đã thắng lợi, nhưng bị thiệt hại nặng: một trung đội thương vong. Sau trận đó, Dũng đã nói thẳng, nói hết ý mình. Anh phê bình việc huấn luyện một chiều của ta, anh cũng không đồng ý với quyết định sử dụng lực lượng của trung đoàn... “Cũng may mà thằng De Castries dao động, non gan. Giả dụ lúc đó nó cứ quyết tung quân lớn ra đánh, thì chỉ cần một đợt nữa là cả đại đội của chúng tôi chắc đã bị... xóa sổ, và có thể chúng sẽ chiếm lại đồi Độc Lập”. Ông Thâu đã bác bỏ mọi điều anh nêu lên. Còn chính ủy Đỗ Gia Quý thì phê câu nói đó của Dũng: “Cũng may là thế nào? Không, không có sự may rủi nào hết. Trên mặt trận chỉ có sức mạnh chiến thắng của quân đội cách mạng của chúng ta và sự bạc nhược, ươn hèn của địch...”. Chưa hết, ngay sau đó có việc sơ kết chiến thắng màn 1, Dũng lại có ý kiến. Về trận trung đoàn tấn công cứ điểm, theo anh, việc chọn hướng đột phá chủ yếu là chưa tốt, cộng thêm việc chần chừ đợi pháo là không linh hoạt... Đã có sự tranh cãi giữa một bên là đa số cán bộ đơn vị tác chiến mà Dũng là nhân vật trung tâm, còn một bên là hai ông Thâu, Quý và cán bộ của cơ quan đoàn bộ.
Từ đó, một không khí, dù âm thầm nhưng cũng khá nhợt nhạt phủ lên quan hệ giữa Dũng và hai vị chỉ huy. Nhưng ông Thâu dẫu sao cũng chỉ thều thào thôi. Riêng ông Quý thì khác. Dũng biết ông vốn từ lâu đã không thích anh vì hay có ý kiến trái với cấp trên, ông còn chưa thật tin ở anh cả về quá khứ vì anh là một cán bộ mới về mà ông chưa thật tin là mình đã hiểu hết. Thêm nữa, theo ông, anh còn là một cán bộ không thuộc thành phần cơ bản...
Nhưng hôm nay, không hiểu có ngọn gió lành nào đã làm cho ông mát mẻ, ân cần dễ chịu như vậy? Dũng thấy trong người cũng nhẹ nhõm. Từ đó cho tới gần sáng, địch lại bắn tiếp khu vực của tiểu đoàn hai lần. Nhưng không có đợt oanh tạc nào trúng vào chiến hào nữa. Bốn rưỡi sáng, Dũng hạ lệnh thu quân trở về rừng. Một bộ phận nhỏ được nghỉ ngơi, ngủ tốt suốt đêm trong hậu cứ, đã ra để thay thế. Dũng có ý chờ đại đội của Thìn đi qua. Vừa nhác nom thấy anh đại đội trưởng đặc nông dân, thấp bé, đen đúa với đôi mắt cá chày ấy, Dũng đã hỏi ngay:
- Thế nào Thìn?
Thìn vui vẻ nói như reo lên:
- Anh ơi, được! Được lắm! Thời gian lại nhanh hơn!
Dũng cũng không khỏi mừng rỡ:
- Vậy hả? Tôi cứ lo đào kiểu ấy tuy an toàn hơn, nhưng có thể sẽ chậm. Té ra lại như vậy! Ừ, có thể chính vì đào như vậy đỡ lo, đỡ thấp thỏm, nên anh em đào lại có năng suất hơn.
- Vâng, có nhẽ thế.
- Thôi được, mai cả ông, cả tôi lên báo cáo với trung đoàn đấy nhá.
Tất cả các đại đội lần lượt đi qua hết, Dũng đi cuối cùng. Khi đi ngang qua khu vực trận địa phòng không ở gần sau giao thông hào trục, Dũng chợt nhớ tới Quýnh. Anh bảo Báu về trước cùng các cán bộ tác huấn, thông tin, rồi xăm xăm rẽ trái đi một lúc tới cái khu vực mà đêm đêm, ngày ngày vẫn thấy phóng lên những làn đạn quyết liệt hất tung được rất nhiều đợt máy bay của địch định vào khu trung tâm. Anh muốn gặp Quýnh trò chuyện, và cũng tranh thủ trao đổi ý kiến về phối hợp tác chiến giữa tiểu đoàn với đơn vị Quýnh, phòng khi cần thiết.
Trận địa phòng không thật là đẹp. Anh em phòng không đã quen làm công sự, hầm hào, thêm nữa hẳn là Quýnh cũng đã chỉ huy đôn đốc anh em làm thật chu đáo, vững chắc nên mới được như thế này. Sáu ụ súng tròn xoay, chìm sâu dưới mặt ruộng, vách hầm thẳng đứng, phẳng lì như đất nện. Trong các ụ súng là những khẩu đại liên cao xạ ngóc cao nòng về phía các hướng có biển số cắm đều đặn. Ở giữa các ụ súng là khu hầm chỉ huy của đại đội: hầm có nắp dày tới trên mét rưỡi. Từ hầm chỉ huy có giao thông hào chạy ra cả sáu ụ súng. Ở xa hơn, trên một khu ruộng khác, là hầm trú ẩn và nghỉ ngơi của chiến sĩ. Xa hơn chút nữa là khu hầm đạn dược và cứu thương. Tất cả đều gọn gàng, đẹp như mô hình để học tập.
- Ô kìa, đàn anh sao lại quá bộ đến chơi thế này? - Quýnh đang ngồi trên nóc hầm hút thuốc lá, thấy Dũng tới, không giấu được vẻ ngạc nhiên. Trời đã lờ mờ sáng. Dũng siết chặt tay Quýnh, ngắm chàng trai tầm thước nhưng nở nang cân đối, với gương mặt cởi mở, và cặp mắt to, sáng, lúc nào cũng như tươi cười rất yêu đời.
- Ông vẫn vậy, chẳng sút đi tí nào nhỉ - Dũng nói.
- Anh ngồi xuống đây đã. Chà, đã nói tới gian nan thì phòng không chúng tôi đã thấm gì với bộ binh các anh.
Hai người trò chuyện hết sức vui vẻ. Sau khi trao đổi ý kiến về hợp đồng tác chiến, câu chuyện chuyển sang những vấn đề khác, không định sẵn. Quýnh nói vẻ khá quan trọng:
- Này, anh ạ, tôi có ông anh ở trên cơ quan bộ, nay cũng đang ở mặt trận này. Ông cho biết: mặc dầu quân ta cực kỳ vất vả và máu đổ ra cũng không ít, nhưng trên vẫn muốn thúc nữa. Muốn đánh sớm anh ạ. Lo mùa mưa...
Dũng nhớ ra rồi, ngắt lời Quýnh:
- Có phải anh Hồng Đăng không?
Quýnh ngạc nhiên, tươi cười:
- Đúng, anh cũng biết anh ấy hả?
- Mới được trông thấy người. Hôm vừa rồi anh ấy xuống trung đoàn mình. Anh ấy cũng nói trên rất lo là mưa sẽ nhiều hơn nữa, thì rất trở ngại.
Quýnh có vẻ quan trọng hơn nữa:
- Anh ấy còn nói với tôi điều này, không biết có nói với các anh hôm ấy không: Hội nghị Giơ-ne-vơ về Đông Dương sắp họp để tìm giải pháp chấm dứt cuộc chiến, anh ạ. Vì vậy, trên cũng rất muốn sớm có một cái gì đó thật vang dội để đặt lên bàn hội nghị để cán cân nhất định phải nghiêng về phía có lợi cho ta.
- Không! Không thấy anh ấy nói ở trung đoàn. Có lẽ sợ ảnh hưởng tư tưởng anh em chăng?
Dũng vừa đáp và suy nghĩ. Thì ra còn có chuyện to lớn cực kỳ ấy nữa! Thì ra người lính bao giờ cũng vậy, chỉ được biết chung quanh cái vành mũ của anh ta, trong khi đó ở trên đầu anh ta còn có biết bao nhiêu điều hệ trọng: mà hầu hết những điều ấy dù xa xôi hoặc gần, dù lớn nhỏ, dù bí mật hay công khai cuối cùng đều có liên quan tới cái sống và cái chết của người lính một cách gián tiếp hoặc trực tiếp.
- ... Và ông anh tôi cũng cho biết thêm: bọn Pháp cảm thấy Điện Biên có nguy cơ hỏng rồi nên chúng vừa cử tướng E-ly tổng tham mưu trưởng sang Mỹ, yêu cầu Mỹ gỡ cho bàn thua trông thấy này. Mỹ đang ráo riết chuẩn bị một kế hoạch ném bom ồ ạt, rải thảm quanh Điện Biên, bằng hàng trăm máy bay B29. Mà đã dùng tới loại này tức là có khả năng chúng dùng cả bom nguyên tử...
Lại một chuyện “động trời”. Nhưng cuối cùng tất cả những tin tức ấy cũng không làm cho Dũng chú ý nhiều. Anh thầm nghĩ: thực chất cũng là một người lính, mình chỉ được biết và cũng chỉ nên biết chung quanh cái vành mũ của mình. Mặt khác tâm trí anh cũng đang còn để ở những điều đáng xúc động khác. Anh hỏi Quýnh:
- Quýnh là em ruột hay em họ anh Hồng Đăng?
- Em ruột. Anh ấy là anh lớn nhất. Nhà còn mấy anh, chị nữa. Tôi là út, anh ạ.
Rồi như trôi theo dòng tâm sự, Quýnh tiếp:
- Anh ấy là lớn nhất và cũng là người mà ông bố tôi bảo: may mắn nhất nhà. Tốt nghiệp thành chung xong, thi vào thư ký tòa sứ nhưng trượt. Anh ấy vốn khỏe mạnh và cũng rất ham chơi. Ở nhà, anh ấy đánh bạn với đủ loại trong cái phố huyện quê mùa ấy. Nay rủ nhau đá bóng, mai đi chơi, mốt đánh bạc, cũng có khi bí mật rủ nhau lên tỉnh chơi cô đầu. Bố tôi làm trạm trưởng bưu điện ở huyện, rất lắm việc. Cụ cứ kệ cho anh ấy muốn làm gì thì làm. May sao năm 1944 có lễ hội lớn ở một làng quê cuối huyện, anh Đăng đi xem. Cũng không ngờ trong đám hội anh ấy đã tình cờ gặp lại một ông chú họ nhà nghèo, đi hoạt động cách mạng từ 1938. Hai chú cháu gặp nhau trò chuyện suốt một buổi. Sau đó anh Đăng được giới thiệu vào tổ Việt Minh ở huyện. Chỉ ba tháng sau, cách mạng bùng nổ, anh ấy nghiễm nhiên trở thành đội phó tự vệ của huyện lỵ. Một tháng sau đã là chỉ huy trưởng, rồi được kéo lên tỉnh... Cứ như diều, sau một khóa quân chính, kháng chiến toàn quốc bắt đầu, anh ấy trở thành tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn vệ quốc quân của tỉnh 1948, được đề bạt lên cán bộ trung đoàn, và chỉ huy một trung đoàn của quân khu... đánh một số trận ở biên giới...
Ngừng một lát, Quýnh tiếp:
- Nhưng anh em tôi mỗi người một tỉnh. Cũng ít khi gặp nhau. Ngay cả khi anh ấy lấy vợ, tôi cũng không về...
Dũng vẫn im lặng thong thả hút thuốc. Hai đầu ngón tay từ lâu đã vàng khè.
- ... Về sau, nghe nói hai anh chị ấy sống cũng không thật hạnh phúc cho lắm, tôi cũng vẫn chẳng có dịp về. Phần vì tôi là cán bộ cấp thấp làm sao mà đi lại dễ dàng như anh ấy, phần nữa tôi cũng không muốn tham gia vào những chuyện ấy.
Dũng muốn hỏi lại một điểu gì đó. Nhưng rồi lòng tự trọng và lý trí ngăn anh lại. Quýnh lại sôi nổi và thân mật tiếp:
- Tôi cũng đã được gặp chị ấy. Đẹp! Đẹp anh ạ và là một con người hết sức tốt, có chiều sâu. Tôi quý lắm. Nói thật, tôi lại mến chị ấy hơn ông anh tôi. Từ khi ông ấy lên cao, thay đổi nhiều quá. Nhưng cũng có rất nhiều người lên cao, họ vẫn rất hay, đâu có thế!
Dũng vẫn không thể và cũng không muốn hỏi thêm điều gì nữa. Lát sau anh ra về. Trời đã sáng rõ hơn. Nhìn sang phía đông, cả một mảng trời trên đỉnh những dãy núi cao trùng điệp đã như tráng bạc. Dũng bước nhanh trên mặt ruộng đầy cỏ dại và thấp thoáng những bông hoa nghệ như lạc lõng giữa khung cảnh tàn phá. Cuộc gặp gỡ bất ngờ ở khe Trăn lại thức dậy trong lòng anh, mặc dầu anh đã hứa với mình là phải chôn vùi nó. Câu chuyện với Lanh xồm tối hôm trước cũng trở lại và làm anh thêm buồn: “Ta đúng hay ta đã sai?” Câu hỏi ấy lại vang lên đọng lại mãi trong đầu anh. “Ta đúng hay ta đã sai?”...
Dưới chân anh, cỏ rối, chó đẻ, hoa riềng như quấn chặt, gỡ mãi không ra. Ngẩng lên, bấy giờ anh mới để ý tới trên một số sườn núi hoa ban vẫn còn nở trắng, đẹp lạ lùng. Thì ra vẫn đang còn là mùa xuân. Mùa xuân vẫn chưa qua hết thật ư?...