Mưa. Mưa lúc lai rai, lúc ào ạt, đã kéo dài mấy ngày nay. Tất cả các cứ điểm, các tiền đồn báo động, đều phôn về chỉ huy sở Trung tâm báo là các hầm hố, chiến hào đều đã ngập nước. Sĩ quan, binh lính đều đã như những bầy chuột lúc nhúc trong trăm ngàn chiếc hố sũng sịu. Các trận địa pháo cũng trở thành những hố nước nhỏ, ngập tới ngang ống chân pháo thủ. Các đường hào sụt lở khá nhiều, có đoạn đã trở thành suối đục ngầu. Đáng sợ hơn nữa là khu hầm quân y; ở đó đã trở thành một cái gì đó như địa ngục. Nước đã tràn vào nhiều hầm, mấp mé các cáng thương binh. Các bác sĩ, y sĩ phải đứng mổ trong bùn nước. Cứt đái, bông băng nổi lềnh bềnh, không sao thu dọn hết. Nhiều nắp hầm làm vội hoặc làm dối đã bị dột, nước mưa nhỏ xuống mặt thương binh, mà không còn chỗ để di chuyển.
Mãi tới xế chiều nay mưa mới tạm dứt hạt, nhưng bầu trời vẫn nặng trĩu mây đen, tưởng như chỉ có thể cắm cây sào chọc tới được, và chỉ cần chọc một cái là mưa lại đổ xuống tức khắc. Tuy vậy, tạnh được một lúc đã là may. Tối nay, ở nghĩa địa mới trong khu trung tâm lại có thể chôn cất các sĩ quan và binh lính chết do pháo Việt Nam hoặc do các trận dụng độ ngoài các chiến hào từ đông sang tây Mường Thanh. Cha tuyên úy Trinquard mang quân hàm trung úy chủ trì lễ an táng này. Trong ba cha tuyên úy ở đây, chỉ còn có cha này còn khỏe mạnh hơn cả. Hai cha khác đều đã đổ xuống ốm vì khí hậu, vì kiệt sức, vì tinh thần suy sụp nữa.
Trong lúc chạng vạng tối ấy, giữa căn hầm chỉ huy kiên cố của mình, đại tá De Castries đang ngồi rất cô đơn, trầm lặng trước chiếc bàn đầy giấy tờ và những chiếc máy điện thoại cùng ra-đi-ô viễn thông. Một ngọn đèn điện treo trên trần hầm buông xuống một làn ánh sáng đỏ xuộm. Xăng nhớt thiếu nhiều rồi, cả tập đoàn cứ điểm đã phải hết sức hạn chế, chỉ có sở chỉ huy và khu quân y được phép dùng điện cả ngày đêm. De Castries ngồi đấy, chiếc mũ sắt trên đầu, quần soóc, áo sơ mi mở gần hết cúc để phanh bộ ngực đầy lông. Không khí trong hầm ngột ngạt. Từ sau khi các điểm tựa trọng yếu ở phía bắc: Béastrice (Him Lam), Grabrielle (đồi Độc Lập) thất thủ và Anne Marie phải bỏ chạy (Bản Kéo), De Castries đã gần như bỏ hẳn chiếc mũ calot đỏ, và cả chiếc khăn quàng đỏ điệu đàng kiêu hãnh trước đây. Và, như các sĩ quan trong căn cứ nhận xét, ông ta cũng hầu như rất ít khi ra khỏi hầm; mọi dáng vẻ kiêu dũng thường ngày của viên chỉ huy đã từng được danh tướng De Lattre de Tassigni gọi vui cùng các sĩ quan giỏi khác là “Các thống chế của tôi”, nay cũng không còn thấy nữa. Ông ta trở nên ít nói và gần như đau ốm. Còn nhớ tháng trước, khi tập đoàn cứ điểm chưa bị tấn công, các nhà báo đã liên tiếp lên viết bài, đưa tin: “De Castries tràn đầy sức sống...”. Cũng mới cách đây nửa tháng ông đã đấm tay xuống bàn tức giận khi một anh phóng viên của tờ Le monde dám gọi tập đoàn cứ điểm này là “Cái hố sư tử” (có ý giễu là ở vào vị thế bất lợi, hoặc tử địa). De Castries đã gần như quát lên: “Anh hãy chờ xem!”. Cũng dạo đó Ó Daniel, một viên tướng Mỹ đi lên đây với tư cách đồng minh, để quan sát và góp ý xây dựng căn cứ khổng lồ này, De Castries đã nói với Ó Daniel như dao chém đá: “Đây không những là một pháo đài bất khả xâm phạm mà còn sẽ là một cái cối xay thịt (Việt Minh)”...
Bây giờ De Castries trở nên không quyết đoán như mọi khi, và mọi phản ứng của ông ta cũng dường như không còn sắc bén. Có lẽ vì thế, mới cách đây hai hôm, đã xảy ra ở đây một sự việc có thể coi như một cuộc đảo chính. (Vì danh dự sĩ diện, De Castries đã không dám điện rõ về Hà Nội thực chất của vấn đề, mà chỉ tường trình như một sự phân công mới cho hợp với tình hình, và do chính De Castries chủ động đề xuất). Sự kiện ấy như sau: Viên trung tá Langlais chỉ huy tiểu đoàn 6 quân dù thuộc địa (6éBPC) cùng hầu hết sĩ quan dù bàn bạc với nhau rồi đột ngột cùng ồ ạt kéo vào sở chỉ huy, yêu cầu De Castries phải trao quyền chỉ huy tác chiến toàn bộ căn cứ cho Langlais và trao cho Bigeard chuyên trách chỉ huy các cuộc phản kích. De Castries buộc chấp hành mọi yêu sách. De Castries chỉ còn giữ chức chỉ huy chung chung và chịu trách nhiệm về pháp lý trước Bộ chỉ huy tối cao Pháp. Như vậy, Langlais đã thực sự tiếm quyền, với cương vị như một chỉ huy phó toàn tập đoàn cứ điểm. Tuy rất đau, rất căm, nhưng De Castries cũng thấy như trút được một phần gánh nặng. Cũng vì thế, thêm nữa với sự khôn ngoan trước thế yếu của mình, De Castries đã đồng ý với bọn Langlais, Bigeard là vẫn giữ, dù bề ngoài, một tình “thân hữu”. Cuộc “đảo chính” ấy mới xảy ra ngày 22 tháng 3 năm 1954.
Bây giờ De Castries đang ngồi đó âm thầm, xem lại những tấm không ảnh mới nhất vừa được một chiếc Dakota liều mạng hạ cánh hồi 5 giờ 30 phút lúc sương mù còn dày đặc mang tới. Đã 52 tuổi, chưa chịu đeo kính, nhưng để xem các bức không ảnh, De Castries phải dùng kính lúp để có thể phân biệt được từng chi tiết. Ông ta cúi xuống, khuôn mặt dài, càng như dài thêm. Chiếc kính lúp rà đi rà lại chầm chậm. Không còn nghi ngờ gì nữa, các chiến hào của đối phương cứ mỗi đêm lại tiến vào thêm được một đoạn dài, và cũng rõ ràng, so sánh với những bức không ảnh trước, tốc độ đào hào của “họ” cũng mỗi đêm một tăng. Tốc độ ấy nói lên điều gì? Họ quyết đánh. Tốc độ ấy còn nói thêm điều gì nữa? Lực lượng của “họ” đã được bổ sung.
Những bức không ảnh giống như các tấm ảnh khí tượng chụp từ trên không bởi khinh khí cầu cũng đã báo trước khá rõ: cơn bão lớn thứ hai đang tới gần. Không còn mơ hồ gì nữa với ảo tưởng là quân Việt chỉ đào hào để bao vây nhằm giữ chân quân Pháp tại đây, để rồi họ sẽ bí mật rút chủ lực, quay về đánh phá ở đồng bằng. Nhưng cũng lạ là trung tướng Cogni chỉ huy trưởng lực lượng Pháp toàn Bắc Bộ đồng thời được đại tướng Navarre giao cho chỉ huy Điện Biên Phủ, tuần trước vẫn còn hỏi lại: “Hãy thử xem có phải họ đang muốn trói chân ta, để rồi lên kéo về choảng ở vùng châu thổ sông Hồng không?”. Mãi gần đây cưỡi máy bay lên đây thị sát, và chắc cũng đã liên tục được xem các bức không ảnh, Cogni mới có chỉ thị lại “Họ đang chuẩn bị đợt tấn công thứ hai đấy! Các anh phải chuẩn bị! Các anh cũng phải có giao thông giữa các cứ điểm với nhau và với khu trung tâm. Hầm hố của các anh lại phải được xây đắp lại cho thật tốt...”.
Nhưng cái gọi là “đợt tấn công thứ hai” sắp tới sẽ diễn ra bao giờ, và thế nào? Có như đợt vừa rồi không? Họ tập trung mỗi đêm dứt một cứ điểm, hay còn dưới một dạng, một chiến thuật gì mới nữa? Với quân Việt, De Castries đã hiểu: sức mạnh của họ còn cả ở sự khôn ngoan. Họ luôn luôn biết thay đổi và phát triển. Langlais và cả Bigeard cho rằng “họ” sẽ lại đánh theo kiểu trước. De Castries lại nghĩ khác. Trong lúc De Castries xem lại bức không ảnh và có ý chờ Langlais cùng Bigeard (ông đã cho gọi từ hồi chiều) thì cha tuyên úy Trinquard đang từ nghĩa trang dã chiến của quân Pháp mới lập ở bên bờ sông Nậm Rốm, quay trở về. Ông cũng đội mũ sắt Mỹ, cũng mặc áo trận Mỹ, và mang giày nhảy dù Mỹ. Chỉ có khác, ở cổ ông lủng lẳng một cây thánh giá to. Trinquard mệt mỏi bước đi loạng choạng trong giao thông hào lõng bõng bùn nước. Ông vừa đi vừa lảm nhảm một mình bằng tiếng La tinh: Circum cludere me gemi tus mortis (Những tiếng kêu than của chết chóc vây quanh ta) và Exsurge, Domine adjeva nos el libera nos (Xin Chúa đứng lên để cứu vớt chúng tôi). Lòng hào chật hẹp, chốc chốc ông lại vấp một thùng đạn, hoặc một cây súng gãy chìm dưới nước, bùn, suýt ngã, phải bám vội, mười đầu ngón tay cắm ngập vào hai bên vách hào nhão nhoét. Ông tiếp tục vừa đi vừa lảm nhảm. Ông bỗng giật bắn người. Từ một hố cá nhân đào bên vách hào, một bóng đen xổ ra. Trời đã tối, ông phải căng mắt mới nhận ra một người đàn bà mặc quần đùi, áo sơ mi mở phanh hết cúc để nhô ra cả một chiếc soutient gorge đen và hai bầu vú cực to nhưng đã chảy xệ. Cha tuyên úy đã biết đó là ai. Cô là một gái điếm Algérienne, thuộc bộ lạc Ouled Nails được đưa đến đây cùng mấy cô điếm Việt để “giải sầu” cho lính. Cô điếm cũng đã nhận ra cha tuyên úy chứ không phải là một sĩ quan nào khác. Nhưng không bỏ, cô còn cười ré lên, và ôm chầm lấy cha, áp hẳn cả hai bầu vú vào ngực cha, ưỡn phần dưới của bụng mình, kỳ cọ, day, ấn mãi vào cha. “Lạy chúa tôi! Con quỷ! Con quỷ!”. Cha cuống cuồng cầu Chúa và gỡ mãi. Lát sau, cô điếm mới chịu buông ra và cười ré lên, hàm răng trắng lóe: “Đùa thôi, cha! Xem lúc đạn bom này con lợn của cha thế nào?”. Rồi đẩy cha đi, cô điếm nói tiếp: “Vậy mà con lợn vẫn sống. Được đấy, cha! Khi nào cần, gọi con, nghe! Gratuit, không lấy tiền của cha đâu mà ngại!” - “Ôi, con quỷ, con quỷ!... “. Cha tuyên úy tiếp tục rên rỉ. Chúng nó, bọn điếm ấy, có một khu hầm riêng, cớ sao lại đi lung tung tản mác như vậy? Ôi, hẳn lại do pháo kích. Pháo kích đã làm đảo lộn tất cả, đã chôn vùi tất cả, đã chôn vùi tất cả!...
Cha lại loạng choạng lần đi. Tới một đoạn khác, lại chợt nghe có tiếng thở hào hển và cả những tiếng rên, rú nho nhỏ tắc nghẹn ở một hầm trú ẩn khoét vào vách hào. Tuy sợ, nhưng cha vẫn đánh bạo ngó vào: Một bộ mông trắng nhễu đang nhấp nhổm trên một người đàn bà cũng đang trần truồng nằm trên mấy hòm súng kê cao khỏi mặt bùn. Cha vội nhắm mắt quay đi. Cũng lúc đó người đàn ông bỗng bật lên mấy tiếng líu ríu. Bấy giờ cha mới hiểu rõ: đó là vợ chồng một tên lính Mẹo đang làm tình với nhau. Tên lính Mẹo thuộc một trung đội thám báo đặc biệt, trực tiếp báo cáo mọi tình hình với Hà Nội, không cần thông qua De Castries. Bọn lính Mẹo được quyền mang theo cả bàn đèn thuốc phiện và vợ con vào căn cứ. Trước khi nổ ra cuộc chiến tranh ở đây, bọn này chuyên bí mật luồn rừng, đi xa, nắm tình hình đối phương. Chúng khá được việc. Nhưng từ khi chiến sự trở nên ác liệt, căn cứ bị bao vây, chúng đã trở nên vô dụng. Thiếu quân số, Langlais đã yêu cầu chúng cầm súng ra chiến đấu; nhưng tất cả đã từ chối. Tức điên lên, Langlais đã cho lệnh đuổi hết chúng khỏi khu hầm khá kiên cố được xây cất riêng. Hầm ấy nay đã được trao cho quân y để làm hầm thương binh. Từ bữa đó, bọn thám báo đặc biệt này tản mác trong khắp khu trung tâm, chui rúc đâu không ai rõ. Chỉ thấy đêm chúng xuất hiện như những bóng ma đi nhặt dù tiếp tế. Cả mấy tên sĩ quan Pháp chỉ huy chúng cũng vậy, biến mất, và thi thoảng mới nom thấy chúng với quần áo lếch thếch, râu ria như rừng.
Lát sau Trinquard đã mò tới dược sở chỉ huy De Castries, xin vào. Tên lính gác dã nhận ra ông là ai, nó gật đầu, chỉ tay vào phía trong. Một sĩ quan trẻ trực ở một cánh hầm nhỏ, bắt ông ngồi chờ để vào xin chỉ thị. De Castries đồng ý cho cha tuyên úy vào, mặc dầu không có hẹn trước.
- Thế nào cha, tôi được báo cáo là cha chủ trì lễ an táng sĩ tử tối nay phải không?
- Trình đại tá, đúng như vậy, và mọi việc đã xong.
- Cha uống gì, ca cao hay nước ngọt?
- Cảm ơn đại tá, tôi không uống gì, tôi chỉ xin đại tá cho phép trình một việc.
- Cha nói đi, tôi nghe đây.
Trinquard bỗng rấn lệ và như mếu máo:
- Trình đại tá, thế là hết! Vâng, thế là hết! Từ ngày mai...
- Sao, cha? - De Castries chăm chú.
- Trình đại tá, tất cả đất trong nghĩa trang, thậm chí cả vùng chung quanh đã hết cả. Từ đêm mai, theo ý các sĩ quan, sẽ phải chôn chung các xác vào một hố lớn. Nếu cứ hố một, như hiện nay, sẽ không còn đất để chiến đấu nữa.
- Đến thế kia ư? - De Castries không khỏi thốt lên kinh ngạc.
- Và, trình đại tá, quan tài cũng đã hết sạch. Đêm nay, phải bó chúng nó bằng vải dù đem chôn. Đại tá hãy thử tưởng tượng xem: trong tối tăm, cứ phải ném từng bó người xuống những cái hố đầy bùn nước, không một ngọn nến, không một nhành hoa... Thê thảm quá, trình dại tá. Xin dại tá hãy yêu cầu Hà Nội gửi thêm cho nhiều quan tài nữa...
- Lạy Chúa! Tất cả những nỗi khó khăn của tôi hiện nay, cha có hiểu cho không? Tiếp tế người và vũ khí là yêu cầu sống còn lúc này của cả hàng vạn con người lúc này, vẫn còn chưa đủ. Kế đó là lương thực, thuốc men cũng là những yêu cầu cực kỳ cấp thiết, vậy mà vẫn nhỏ giọt. Chắc cha cũng đã tận mắt thấy rõ. Vậy bây giờ lại còn yêu cầu quan tài nữa thì sao cho xuể hở cha?
Những chiếc quan tài của cha tuyên úy Trinquard quả là đã làm De Castries đau đầu không kém các bức ảnh chiến hào đối phương. Cầu hàng không, niềm tin mạnh mẽ, vững chắc của không riêng De Castries mà cả Bộ chỉ huy Bắc Bộ, thậm chí cả Bộ chỉ huy tối cao toàn Đông Dương cho đến lúc này đã rõ ràng là quá rệu rã. Sự xuất hiện của trọng pháo Việt Nam ở đây đã là một bất ngờ quá lớn, nhưng cao xạ 37 và đại liên phòng không cũng là một bất ngờ chết người. Bây giờ sân bay đã bị khống chế từ xa, không còn có thể hạ cánh tự do được nữa. Chỉ còn có thể, ít ra cho tới lúc này, lừa lừa những lúc pháo và cao xạ đối phương tạm ngừng trong giây lát, thì liều lướt xuống trong điểu kiện an toàn vô cùng tồi tệ. Hoặc lén hạ cánh vào những buổi sáng sương mù còn dày, pháo đối phương không nhìn rõ được mục tiêu. Nhưng nói chung là rất hãn hữu, và thường vẫn cứ bị bắn cháy, bắn hỏng. Các máy bay hạ cánh xuống được cái đường băng vá víu kinh khủng này chỉ là loại Dakota, chuyên chở không được nhiều cho lắm. Máy bay lớn hơn, những chiếc Pakettes của Mỹ (hai thân) bay nhanh hơn, chở được nhiều hơn, làm sao xuống được đường băng này? Tuy nhiên hai loại này cũng đang có chuyện: chúng đều do phi công Mỹ lái (giả danh là phi công dân dụng làm theo hợp đồng với Bộ chỉ huy Pháp ở Việt Nam). Nay đã có chiếc bị cao xạ Việt Nam bắn hạ và nhiều chiếc khác bị thương, bọn Mỹ đang đòi ngừng hợp đồng không chịu lên Điện Biên Phủ nữa. Nghe nói tướng Cogni và cả tướng Navarre đang cố dàn xếp, mặt khác các đơn vị đang hứa cố vét tất cả các loại máy bay vận tải trên toàn cõi Đông Dương để tăng cường tiếp tế cho De Castries. Song le, các vị cũng không giấu một điều: không còn mấy. Bên chính quốc cũng đang rất thiếu thốn. Vậy mà Trinquard lại đòi gửi thêm cả quan tài!... Y như một điều mỉa mai vậy...
- ... Cha ơi, cha có hiểu không, chúng ta đang cần tới từng chiếc đinh ốc để sửa chữa máy bay và súng pháo. Chúng ta đang cần tới từng đôi pin để đêm đêm cho lính công binh ra sửa đường băng sân bay dưới hỏa pháo của địch. Chúng ta đang cần tới từng lít máu tươi để cứu thương binh... mà vẫn còn chưa có đủ, vậy nói gì đến quan tài nữa, thưa cha?
Cha tuyên úy Trinquard lau hai giọt nước mắt, lặng lẽ cáo từ, quay ra. Vừa lúc đó Langlais và Bigeard cùng xồng xộc kéo vào, không cần báo qua anh sĩ quan trực bên ngoài.
De Castries đẩy ghế đứng dậy. Mỉm cười, ông mềm mỏng và cả thầm nhẫn nhục, cất tiếng thân mật chào trước:
- Chào hai “con cừu non” của tôi! (Một lối gọi thân mật của người Pháp).
Hai viên sĩ quan đáp lại:
- Chào Christian! (Tên gọi thân mật của De Castries)
- Hai bạn ngồi! Hai bạn uống gì nào? Cognac cả nhé?
- OK - Langlais đáp kiểu Mỹ bỗ bã.
Bigeard cũng đồng ý như vậy.
Langlais cầm ly rượu, ngửa cổ làm một hơi hết sạch, sau đó hếch cái mặt xương xẩu và rắn đanh như đá đẽo lên. Năm nay đã 44 tuổi nhưng anh ta vẫn còn đầy vẻ cường tráng. Bigeard ít tuổi hơn, người cũng tầm thước hơn, nhưng nếu Langlais đầy vẻ tàn bạo, Bigeard có dáng bộ khá oai dũng và ngang tàng. Anh ta có một cặp mắt xanh trong veo và dữ như mắt cọp. Cả hai vẫn luôn luôn đội mũ bê-rê đỏ, như muốn phô diễn với mọi người sự can đảm kể cả lòng kiêu hãnh của mình.
- Uống nữa đi, và chúng ta sẽ trở lại vấn đề chiến hào cùng ý đồ hành động của đối phương sắp tới - De Castries nói.
Langlais đốt một điếu thuốc lá, khoanh tay, vắt tréo chân, mắt nhìn sang nơi khác, bình thản một cách cao ngạo và xấc xược.
- Vâng, xin đại tá cứ nói. Chúng ta vào việc rồi dấy! - Bigeard giục. De Castries cố bỏ qua thái độ của Langlais, ông ta cất tiếng thong thả:
- Hôm qua tôi và hai bạn mới nhất trí được với nhau là đối phương đang phát triển chiến hào ngày càng mạnh, mặc dầu không đêm nào chúng ta không cho quân ra cản phá, san lấp. Nhưng chúng ta chưa có thì giờ để bàn tiếp: Ý đồ của địch sẽ như thế nào? Họ sẽ tung ra đợt chiến đấu lớn thứ hai hay không? Và nếu có, sẽ là bao giờ? Sự kéo dài tương đối im lặng này của chiến trường nói lên điều gì? Le gars de Pierre (tên gọi thân mật của Langlais) và Bruno ạ, chúng ta cần phải hiểu rõ, hiểu đúng cả những điều ấy...
Langlais ném mẩu thuốc lá vào gạt tàn, quay lại, giọng rắn căng:
- Chúng sẽ đánh! Phải, chỉ có thế thôi. Kẻ nào bảo chúng chỉ bao vây rồi bí mật rút lực lượng về đồng bằng là không đúng. Chúng sẽ lại đánh lớn. Sự im lặng tạm thời này chỉ là một cơn bão ngủ!
Bigeard cũng gật đầu:
- Đúng thế, trình đại tá, chúng ta không thể không tin rằng “họ” đang chuẩn bị cho một cú lớn. Vậy dứt khoát chúng ta phải đẩy mạnh hơn nữa mọi sự chuẩn bị, đúng như tướng Cogni và cả đại tướng Navarre đã có lệnh.
De Castries thở dài nhè nhẹ:
- Rất hay là chúng ta cùng có ý kiến giống nhau. Tôi cũng vậy, tôi cũng thấy hiển nhiên quân địch đang có ý đẩy chiến hào tới tận các cứ điểm của chúng ta để có thể xung phong với cự ly hết sức ngắn.
Langlais bật xen vào:
- Họ đang thực hiện kiểu trận địa chiến như hồi thế chiến thứ nhất...
De Castries lắc đầu:
- Theo tôi có lẽ không phải thế, Le gars de Pierre ạ! Đây là các trận địa chiến hào cơ động, nhằm tấn công, khác với chiến thuật trận địa chiến xưa với các tuyến chiến hào phòng ngự, bao vây cố định, cứng nhắc!...
Một cái gì đó chạy lướt trên khuôn mặt gãy lưỡi cày và như đá đẽo của Langlais. Y cắt ngang lời De Castries:
- Tôi không đồng ý với ngài, trình đại tá.
Vẫn mểm mỏng và khôn khéo biết cần tiếp tục nín nhịn lúc này, De Castries nhẹ nhàng:
- Nhưng mà thôi, Le gars de Pierre ạ, về học thuật, chúng ta hãy gác nó lại, bạn đồng ý chứ? Đang nước sôi lửa bỏng, chúng ta chỉ cần thống nhất được với nhau là quân thù đang ráo riết chuẩn bị để tung ra đợt tấn công lớn thứ hai, thế là đã quá đủ rồi...
Bigeard cũng có vẻ không đồng tình với Langlais:
- Tôi đồng ý với đại tá là chúng ta hãy trở lại vấn để nóng bỏng trước mắt. Câu hỏi lớn được đặt ra: Chúng ta phải làm gì bây giờ?
Như dược Bigeard khích lệ, De Castries bớt dè dặt hơn:
- Đúng vậy! Chúng ta phải làm gì nữa đây? Vừa qua hai bạn đã thấy chúng ta cũng đã cho binh lính đào hào giao thông giữa các điểm tựa với nhau và giữa điểm tựa với Trung tâm chỉ huy. Chúng ta củng đã cho sửa sang, tăng cường hầm hố chiến đấu. Các bãi kẽm gai đã được mở rộng gấp đôi, và tất cả đã được gài mìn. Hơn thế nữa chúng ta đã liên tục cho quân ra lấp hào và phục kích địch... Vậy ta còn phải tiếp tục làm gì?
Langlais thôi không tranh cãi về chuyện “trận địa chiến kiểu cổ hay kiểu mới” nữa. Anh ta và Bigeard đồng ý với De Castries là tập đoàn cứ điểm đã và đang làm được nhiều việc cần thiết cấp bách. Để tiếp tục chuẩn bị đón đợt tấn công mới, cả hai đều nhấn mạnh vấn đề tiếp tế. Cả hai đều yêu cầu De Castries phải kêu gào Hà Nội mạnh hơn nữa, kêu gào cả với Bộ chỉ huy tối cao.
- Thưa đại tá - Bigeard nói - Người ta muốn binh đội ở đây phải dám chết vì danh dự nước Pháp, nhưng tại sao người ta lại không dám đủ can đảm để tập trung những phương tiện cần thiết cho nó?
- Đúng! Thượng cấp không thể có bất cứ lý do nào do dự trước tình hình này - Langlais cau có - Và, nếu như giục được người Mỹ sớm thực thi kế hoạch ném bom ồ ạt thì tình hình sẽ có thể lật ngược được hết sức mau lẹ.
De Castries bao giờ cũng tỏ ra có chừng mực, mặc dầu ông hiểu các “hổ tướng” đã cho ông ta là bạc nhược:
- Nhưng, Le gars de Pierre ạ, chưa có thể biết bao giờ cái kế hoạch Mỹ ấy sẽ được thực thi. Cũng chưa thể biết thượng cấp của chúng ta sẽ còn có thể làm gì hơn cho chúng ta, trong khi đó, thì chúng ta vẫn phải chiến đấu từng giờ, từng phút ở đây với nguy cơ của đợt tấn công mới của địch đang lơ lửng ở trước mắt, thậm chí đang mỗi ngày một gần kề ở trước mặt!
Langlais mím môi suy nghĩ, rồi như thở hắt ra:
- Thôi được, tạm gạt sang bên vấn đề Mỹ, kể cả sự chi viện lớn hơn nữa của Sài Gòn và Hà Nội. Ta bàn về sự nỗ lực trước mắt của chính ta phải có ở đây để cải thiện tình hình. Theo tôi, trước hết là phải dùng lực lượng bản thân kết hợp với không quân đánh mạnh ra, phá cái thế bao vây, vào gần của địch. Đồng thời củng cố chiến hào, hầm hố kiên cố hơn nữa, cố gắng giữ vững không cho tình thế xấu hơn. Có thế mới chờ được kế hoạch “Diều hâu” của Mỹ, chí ít cũng chờ được tăng viện tốt hơn nữa của Hà Nội.
Ngừng lại một chút để uống thêm một hớp rượu, có lẽ để lấy thêm phần khí thế, Langlais tiếp:
- Thật vậy, phải đánh mạnh và đánh mạnh!
Nói đoạn, hai con mắt nhọn sắc của Langlais như phóng thẳng vào mặt De Castries và cả Bigeard. Biết Langlais vẫn còn hăng, De Castries chưa tiện nói ngay cố ý nhường lời cho Bigeard. Đôi mắt xanh biếc trong veo như mắt cọp, bật sáng, Bigeard nói gọn:
- Tôi đồng ý với Le gars de Pierre!
Đến lúc ấy De Castries buộc phải bày tỏ ý kiến của mình:
- Đánh ra, cũng là tích cực phòng ngự. Mà củng cố trận địa ngăn chặn bằng mọi giá không cho quân thù tiến lên cũng là phòng ngự quyết chiến. Nhưng ta thử xem lại: suốt gần 10 đêm ngày vừa qua chúng ta đều đã có đánh ra, nhưng rất ít hiệu quả, nếu không nói là không có hiệu quả, trong khi đó lực lượng ta lại bị tiêu hao, vì bản thân quân ta cũng phải phơi mình trên cánh đồng trống trải, đâu phải chỉ có đối phương? Bị tiêu hao dần mòn trong khi đó tiếp vận chỉ nhỏ giọt. Hẳn hai bạn đều biết hôm qua chúng ta yêu cầu ném xuống 100 lính, thì chỉ được có 35, chưa kể một số tên nhảy xuống đã què chân gãy cẳng thành thương binh, thành gánh nặng thêm cho chúng ta...
Cả hai viên “hổ tướng” đều im lặng. De Castries đã nói hoàn toàn đúng sự thật. Thật vậy, từ bữa nắm quyền chỉ huy tác chiến toàn căn cứ, Langlais đã biết rõ hơn sự thiệt hại hàng ngày. Mới hai hôm nay thôi, lác đác cộng lại đã hơn 50 tên vừa chết vừa bị thương. De Castries đã có lý: đánh mạnh ra, nhưng thương vong sẽ ra sao? Và đã đánh ra, phải đánh trên nhiều điểm xung yếu, và phải đánh liên tục, vậy có dám tung những tiểu đoàn dự trữ cuối cùng ra hay không? Ngược lại cứ để tình trạng như thế này tới lúc chiến hào địch vào tới hàng rào, mà tiếp viện vẫn không đủ, nhất là cái gọi là kế hoạch “Diều hâu” vẫn chưa được thực thi, thì sự thể sẽ ra sao, khi đối phương đột ngột mở đợt tấn công thứ hai?
Cuối cùng đâm ra bí cả với nhau. Chủ động đánh mạnh ra, hay chỉ cố gắng phòng ngự trong hầm hố thôi? Thảo luận đi thảo luận lại, vẫn cứ thấy bí. Cả ba còn đang ngồi đấy, chợt có ánh lửa đỏ khé chiếu hắt vào trong hầm, rồi tiếng pháo nổ dồn dập phía bắc sân bay. Langlais và cả Bigeard cùng vội vã nhào ra. Cả một vầng trời đỏ rực, và cả một dòng sông lửa đang cuồn cuộn, ngoằn ngoèo chảy ở phía trước. Cảnh tượng hãi hùng và kỳ lạ chưa từng có.
- Cái gì thế? - Langlais thét lên.
Một sĩ quan, mình trần, nhễ nhại mồ hôi và nước bùn, chạy lại:
- Trình trung tá, các phuy xăng ở dưới sông Nậm Rốm trúng đạn pháo địch bốc cháy hết rồi.
- Lạy Chúa tôi!...
Langlais đã hiểu ra. Mới cách đây vài hôm, thấy các máy bay hạ cánh ban đêm khó khăn và nguy hiểm quá, vì hệ thống đèn hiệu đã hỏng hoặc bị bắn phá, dùng đèn pin không ăn thua, Langlais đã có sáng kiến thả một phuy xăng xuống sông Nậm Rốm, đêm đêm đốt lên làm một vị trí chuẩn bổ trợ, cho máy bay hạ cánh, nhưng không ngờ chỉ mới được có hai đêm, té ra trên dòng sông còn có nhiều phuy xăng khác trôi nổi mà không ai để ý...
Trong lúc đó De Castries lại ngồi cô đơn, buồn bã. Ông vặn núm chiếc ra-đi-ô ở đầu giường. Đúng giờ đài “Con nhạn” của quân đội Pháp ở trong thành Hà Nội. Một giọng nữ đầy mồm lưỡi cất lên: “Đây là buổi phát thanh dành riêng cho các chiến binh và sĩ quan đang chiến đấu ở pháo đài Điện Biên Phủ oai hùng. Thưa quý bạn, tối nay chúng tôi xin đọc hầu quý bạn một tiểu thuyết nổi tiếng của Pháp trước đây: cuốn Bí mật thành Paris. Thưa quý bạn, đây là một tiểu thuyết bi thảm...”. De Castries, tắt vội chiếc đài. Ngả người, nằm xuống, gối đầu lên hai cùi tay, ông thở dài: “Ôi, tụi tao cũng đang sống trong quá khứ thừa bi thảm đây, còn cần gì thêm bi thảm nữa!”...
*
Lại mưa lai rai. Hà Nội âm thầm, ướt át, ủ rũ. Các đường phố vắng hoe. Thi thoảng mới có vài chiếc xe nhà binh Pháp chạy hối hả, nước bắn tung tóe. Mấy chiếc xích lô ế khách lơ vơ, ngơ ngác ở các ngã tư, ngã ba. Trên cột cờ của thành cổ, lá cờ tam tài ướt sũng rũ xuống như con gà bị cắt tiết. Cây cầu Doumer nhấp nhô, mờ chìm trong mưa xa. Dòng sông Hồng mùa nước cạn, phẳng lặng, trễ nải trôi xuôi. Tại quán rượu Pháp ở đầu phố Tràng Tiền mọi khi còn có khá đông Tây, đầm ra vào, hoặc uống cà phê hoặc uống rượu, ở quanh những chiếc bàn nhỏ bầy ở ngoài trời, kín cả vỉa hè, phong cách đặc Pháp, nay cũng lác đác chỉ có mấy anh nhà báo quốc tế ngồi tán gẫu ở phòng trong. Họ đang trao đổi với nhau những tờ báo mới nhận được qua đường máy bay. Tờ “Le monde” với hàng chữ tít lớn chạy kín cả trang báo: “Điện Biên Phủ đang nghẹt thở”, tờ “Le point”: “Navarre và Cogni đang bối rối: giữ hay bỏ?'; Tờ “L’ Humanité”: “Điện Biên Phủ: một sai lầm lớn về chính trị và cả quân sự”. Tờ “France soir”: “Baogiờ thì đợt2”...
Một chiếc xe gíp có vũ trang bỗng rú lên, chạy ngang qua; liên sau đó là một chiếc xe Citroen bóng lộn êm ái lướt theo. Một anh nhà báo tinh mắt, bật dậy:
- Ồ, tướng Cogni!
- Ông ta đi đâu vậy hả? - Một anh khác trông với theo, hỏi.
Một anh khác cất tiếng bâng quơ:
- Mà này, trước khi có chiến sự trên đó, tướng Navarre ra Hà Nội xoành xoạch. Bây giờ ông cứ ngồi tịt trong Sài Gòn hả?
Họ đã nhận ra đúng là Cogni. Ông ta vừa từ nhà thương Đồn Thủy thăm sĩ quan binh lính từ Điện Biên Phủ về. Nhưng các nhà báo đã không biết được: Navarre vừa bí mật bay ra Hà Nội. Cogni đang đi tới gặp vị chỉ huy tối cao của mình.
Hai chiếc xe qua Tràng Thi, lướt ngang thành cột cờ, rẽ vào đường đôi để chạy ra phía Hồ Tây. Hai chiếc xe đỗ lại trước một biệt thự không lớn lắm nhưng sang trọng. Đây là nhà tạm trú của tướng bốn sao Navarre đã được rà mìn, và tổ chức canh gác cực kỳ nghiêm mật cả công khai và bí mật. Mưa vẫn lắc rắc rơi. Mặt hồ càng như bao la và buồn chết lặng. Cogni xuống xe theo một viên sĩ quan tùy tùng của Navarre bước nhanh lên thềm, rồi đi vào phòng trong, nơi làm việc của Navarre. Căn phòng được trang trí hoàn toàn theo phong cách của thời vua Louis thứ XIV Pháp. Mùi nước hoa hết sức đắt tiền phảng phất đâu đây làm tôn thêm vẻ quý phái của ngôi nhà. Cogni đã chuẩn bị sẵn sàng để bước vào cuộc gặp gỡ mà ông biết trước là sẽ có thể gay gắt, chí ít cũng kém vui khác hẳn với cuộc gặp gỡ hồi tháng 2 vừa qua ông và Navarre đã cùng nhau lên thị sát “căn cứ quân sự Điện Biên Phủ”. Navarre không thích một chút nào hình ảnh con nhím mà một số báo chí hay ví von. Theo Navarre, “Con nhím” là của Saland trước đây. Căn cứ Điện Biên Phủ không phải thế, nó là bàn đạp tấn công, là trung tâm đề kháng cho miền Tây Bắc Việt Nam và cả miền Thượng Lào; nó còn là cái bẫy nhử chủ lực Việt Nam tới để nghiền nát. Cogni thật ra không thích cái “pháo đài” này, vì nó ngốn quá nhiều quân của Bắc Bộ, chiến trường mà ông ta chịu trách nhiệm. Nhưng khi lên thấy căn cứ quân sự Điện Biên to lớn, hùng mạnh quá, đến nỗi tướng Mỹ O’ Daniel lên coi cũng phải nức nở khen, thì Cogni cũng trở nên hào hứng, tán thành. Mặt khác cũng còn vì phải nể và chiều ý Navarre, người đã quyết xây dựng căn cứ này, như dám đánh cá cả danh tiếng và sự nghiệp của mình vào đó. Nay thì mọi việc đã rất phức tạp, chẳng còn gì là vui. Cái căn cứ quân sự khổng lồ này tưởng là hút quân chủ lực Việt Nam lại mà đánh; nay hóa ra chính nó đã trở thành cái xoáy nước kinh khủng nuốt mất bao nhiêu lực lượng của đồng bằng ném vào đó. Sự va chạm giữa Navarre và Cogni cũng bắt đầu từ đó. Cogni luôn phàn nàn về sự tốn kém của Điện Biên Phủ, không những thế còn nói với một vài chính khách Pháp: đó là một sai lầm của Navarre. Cũng không hiểu vì sao những lời nói ấy đều đến tai Navarre. Ông ta đã có thư trách về việc này. Không những trách mà xem ra ông còn có ý nghi ngờ Cogni phản ông, muốn hạ uy tín của ông trước chính phủ Pháp. Cogni đã có thư phúc trần. Nhưng xem ra vẫn chưa xong. Lần này ra Hà Nội, ngoài công việc cấp bách phải giải quyết cho Điện Biên Phủ, hẳn ông ta sẽ “đì” Cogni về cái chuyện mà ông ta gọi là “đâm dao sau lưng” ông ta đây! Được để xem sao!
Navarre đang ngồi trước bàn làm việc. Ông mang một bộ áo dạ rất sang. Nhưng vẻ sang trọng có lẽ chính lại là ở gương mặt trí thức rất sáng sủa và điềm đạm của ông ta.
Cogni cao lớn như hộ pháp, đứng nghiêm, ưỡn ngực, xòe ngửa bàn tay đưa lên vành mũ chào, hết sức đúng quy cách. Navarre đẩy ghế đứng dậy, đưa tay ra. Miệng mỉm cười nhưng ánh mắt vẫn lạnh. Cogni cũng đáp lại bằng một thái độ lịch sự nhưng cũng khá nhạt nhẽo. Cogni vốn là viên tướng lâu năm ở chiến trường này. Ông tự coi không có bất cứ ai có thể không tôn trọng sự dày dạn và cả công lao to lớn của ông ở xứ sở này, kể cả những vinh quang ông đã mang về cho nước Pháp. Ông cũng tự nghĩ, ông không biết sợ một ai hết, ngoài sợ sự thật.
- Trung tướng khỏe chứ? - Navarre hỏi.
- Trình đại tướng, cảm ơn, tôi vẫn khỏe!
Chỉ chào hỏi mấy câu vắn tắt, hai người bắt đầu làm việc.
- ... Tôi đã nhận được tất cả các báo cáo của trung tướng về đồng bằng và nhất là Điện Biên Phủ. Tôi cũng đã có thư và mệnh lệnh gửi ra. Trung tướng nhận được đủ chứ? - Navarre hỏi.
Cogni chú ý tới hai từ “mệnh lệnh” rất có tình của Navarre. Ông ta muốn phủ đầu mình bằng cấp chức bề trên đây. Cogni thấy khó chịu hơn là e ngại.
Navarre tiếp tục nói giọng đều đều, nhưng khá vang, đầy vẻ quyền uy và trí tuệ:
- Tôi ra nhanh chuyến này, mục đích để nắm thêm tình hình và bàn với ông về một số chủ trương cấp bách...
Dẫu sao vẫn phải lịch sự, Cogni đáp:
- Tôi rất mừng được gặp lại đại tướng, và sẵn sàng đón nhận mọi mệnh lệnh của đại tướng.
- Trước hết, tôi muốn nói với ông đôi điều rằng: những chuyện không hay đã xảy ra giữa chúng ta chung quanh vấn đề Điện Biên Phủ cần thiết hay không cần thiết? Điện Biên Phủ, chỉ là quyết định của Navarre hay nó có nguồn gốc từ Paris?... Trung tướng ạ, tôi không có ý định trao đổi như vậy hôm nay. Tôi muốn gác nó lại đã. Với tư cách và trách nhiệm của những người lính chiến, tôi muốn ông và tôi cùng đấu trí, hợp lực để đối phó với tình thế hiện nay một cách hết mình đã. Tôi nghĩ đó là thái độ đúng nhất và cần có của chúng ta hôm nay...
Cũng không ngờ Navarre đã có thái độ như vậy, Cogni bớt căng thẳng, khó chịu. Ông ta thầm nghĩ: Đúng là một viên tướng đã từng làm tình báo. Ông ta đã khá khôn ngoan biết tránh các vấn đề hóc búa dễ dẫn tới va chạm. Cogni bèn đọc bức điện mới nhất của De Castries vê cuộc họp giữa ông ta và Langlais, Bigeard, mà nội dung nổi bật là yêu cầu tăng viện lớn hơn nữa, sau đó là biểu thị tinh thần sẵn sàng đánh đến cùng của tất cả sĩ quan trên Điện Biên Phủ.
Navarre ngồi nghe chăm chú. Rồi ông khẽ nhún vai:
- Họ lại kêu gào! Tôi đã đề nghị, đến nỗi có báo đã viết rằng: Navarre kêu gào tiếp viện đã làm cho cả chính phủ Laniél phải hoảng sợ. Vậy còn kêu gào đến đâu nữa?
Rồi nhìn thẳng vào Cogni, Navarre tiếp:
- Chính ông cũng đã biết đấy, ông trung tướng: không phải chỉ xin chính phủ, tôi đã vét phần lớn quân dù từ phía nam ra cho ông từ sau Grabielle thất thủ. Tôi cũng đã chỉ thị cho ông tuyển mộ cả lính tình nguyện nữa. Chỉ cần huấn luyện chúng nhảy dù được một lần là đủ. Cái đội quân này, báo chí đã giễu là “Lính dù một nhảy”. Ông vẫn nhớ đúng thế chứ, trung tướng?
- Thưa đúng.
- Nhưng dẫu sao, hôm nay ra Hà Nội tôi cũng có ý định nhấn mạnh thêm với trung tướng là phải lấy quân tình nguyện mạnh hơn nữa. Vâng, lấy mạnh hơn nữa! Không có tình nguyện, trung tướng phải cho vây ráp. Phải, hãy vây ráp tất cả những ai có thể vây ráp, từ nông thôn tới thành phố, nhất là các thành phố, bọn vô công rồi nghề hãy còn nhiều, và cả học sinh, sinh viên nữa, cho tất cả vào cái đội quân “lính dù một nhảy” ấy. Ô hợp cũng phải chịu.
- Rõ, trình đại tướng.
- Còn máy bay, tôi đã yêu cầu ông cao ủy De Jean gặp đại sứ Mỹ (ở Sài Gòn) khẩn thiết xin cấp tốc thêm B26, và cả C47. Donalt Heath đã nhận lời và hứa sẽ xin Lầu năm góc lấy căn cứ Clark (Philippine) gửi sang ngay. Còn cái Vautour của Mỹ, nhân đây tôi cũng nói cho trung tướng biết: cho tới nay không phải chỉ có tổng trưởng quốc phòng Pleven, mà cả thủ tướng Laniel cũng đang ráo riết hối thúc. Thủ tướng ta còn vận động cả thủ tướng Anh Churchill. Nhưng theo tôi biết: tất cả hãy còn phải xem lại đã...
- Thưa vì sao, đại tướng? - Cogni chăm chú.
- Có những điều rất tế nhị: người Mỹ một mặt đang giúp ta, nhưng cũng đang có ý muốn hất cẳng ta để nhảy vào Đông Dương. Họ đã không thắng được ở Triều Tiên, họ rất cần phải vào Đông Dương, theo chiến lược chống cộng toàn cầu của họ. Và vì lợi ích kinh tế riêng của họ nữa. Vì vậy chưa chắc cái Vautour sẽ được thực hiện. Tôi linh cảm thấy thế. Họ sẽ mặc ta thất thế trong hội nghị Genève sắp tới. Và đó sẽ là cơ hội để họ sẽ nhảy vào Việt Nam và Đông Dương một cách dễ dàng...
- Trình đại tướng, tôi dã hiểu hơn! Chà, nó ra thế!
- Thật vậy, trung tướng. Thử hỏi: nếu Mỹ thực thi kế hoạch này, tạo một cơn hồng thủy bom đạn hủy diệt sẽ làm thất bại quân Việt, và chúng ta người Pháp sẽ thắng ở đây thì Mỹ sẽ được lợi lộc gì? Hay là cứ dể cho chúng ta chìm dần đi, rồi chú Sam sẽ vào thay thế?...
- Còn ông Churchill? Thưa, dại tướng?
- Ông ta là một vĩ nhân, cực kỳ thông minh, khôn khéo, về công khai ông ta sẽ tỏ ra đồng ý với kế hoạch ném bom này của Mỹ nhưng chính là đồng ý để cho Mỹ sẽ dần dần vào thay thế Pháp sau hội nghị Genève. Churchill, con cáo già ấy quá biết nước Pháp của chúng ta đã kiệt quệ lắm rồi.
- Sự phân tích rất sâu sắc, thưa đại tướng.
- Thôi, bây giờ ta lại trở về với chúng ta. Theo điện mới nhận của De Castries, ông ta và các sĩ quan vẫn cam kết đánh tới cùng với điều kiện tăng viện mạnh, phải không? Thái độ họ, theo trung tướng thế nào?
- Thưa, tôi nghĩ cũng chỉ có cách ấy, không thể khác.
- Tôi cũng thấy như vậy. Nhưng cũng cần nói rõ hơn, giữa tôi và trung tướng, thực tế Điện Biên Phủ đang đặt ra trước mắt chúng ta ba kịch bản chứ không phải chỉ có một, trung tướng ạ...
- Tôi xin nghe đây, thưa đại tướng!
- Kịch bản thứ nhất như ta vừa nói: Đánh để cố thủ. Nhưng kịch bản thứ hai lại có thể là: Điện Biên cố cầm cự, trong khi đó Bộ chỉ huy Bắc Bộ Việt Nam với sự chi viện của Bộ chỉ huy tối cao, tung ra những cuộc hành quân lớn, đánh vào các vùng hậu phương quan trọng của địch, ví dụ Thái Nguyên hoặc Yên Bái. Chủ lực địch sẽ phải rút về. Điện Biên sẽ được giải tỏa. Còn kịch bản thứ ba: binh đội đồn trú ở Điện Biên Phủ sẽ bỏ lại tất cả: thương binh và vũ khí, cho nhẹ, bí mật chia thành mấy đường rút chạy sang Lào với lực lượng của đại tá Crevecoeur từ Lào hỗ trợ, rồi sẽ tính quay trở lại nếu có điều kiện cho phép.
Cogni ngồi thẳng người dậy, hai mắt mở to. Navarre vẫn thật tỉnh táo, ngay cả trong những lúc bối rối nhất. Và ông ta cũng thật dũng cảm đã dám nói ra cả ba điều suy nghĩ tối quan trọng ấy với Cogni, người mà ông ta vẫn đang nghi là phản lại ông ta. Tất nhiên cả ba phương án ấy đối với Cogni không phải hoàn toàn mới lạ, vì chính Cogni cũng đã âm thầm nghĩ tới những gì dó tuy không giống hắn, nhưng tương tự. Chỉ có khác là Cogni chưa hề dám hé ra với bất cứ ai, càng không dám tham khảo Navarre.
- Trung tướng ạ, trong ba kịch bản ấy, tôi có thể nói ngay ý kiến tôi: chỉ có phương án 1. Còn rút? Chúng ta không sợ tổn hại tới danh dự, nhưng biết chắc rằng sẽ không thể dược. Quân địch đã bao vây chặt. Hơn nữa họ đã xuống cánh đồng. Không thể đi lọt được với một binh đội lớn. Ngoài ra, chúng ta cũng đã có kinh nghiệm mới đây: binh đội đồn trú ở Lai Châu rút về Điện Biên đã bị họ bám suốt dọc đường như thế nào, nhất là trận Mường Pồn. Còn kịch bản thứ hai, thật ra nêu lên cũng chỉ để cho hết nhẽ, chứ không thể thực hiện nổi. Quân đâu nữa? Máy bay đâu nữa? Ta vốn cũng đã có những kinh nghiệm năm 1950, khi chiến cuộc lớn nổ ra trên dường số 4 biên giới Trung - Việt, chúng ta cũng đã có cuộc hành quân giải tỏa lên Thái Nguyên, nhưng chẳng kết quả gì. Ông Hồ Chí Minh đã thực hiện một kiểu chiến tranh là “chiến tranh nhân dân” với ba thứ quân. Ông ấy không bao giờ bị động, mà trái lại. Tập trung lực lượng đi đánh đâu, ông ấy vẫn có lực lượng chiến đấu tại chỗ.
- Trình đại tướng, còn tôi, hoàn toàn nhất trí với đại tướng: chỉ có đánh, tiếp tục đánh! - Cogni đáp, không đợi phải hỏi.
Navarre gật đầu, vẻ mặt vẫn điềm đạm:
- Nhưng đánh thế nào? Hôm nay ra Hà Nội tôi cũng có ý định trao đổi kỹ với trung tướng về chuyện này đây...
- Tôi xin nghe.
- Nhìn chung, tôi thấy các sĩ quan, chiến binh của chúng ta không tồi. Lê dương, dù, vẫn là những đơn vị tuyệt vời. Cho đến cả lính thuộc địa như Algériens, Marocains, Sénegalais... thậm chí cả quân dù Việt Nam (ngụy) cũng khá. Chỉ riêng việc chỉ huy nói chung là có những điều chưa tốt...
Cogni lắng nghe. Ông ta lại nóng mặt. Navarre nói tới việc chỉ huy hẳn không phải chỉ nói riêng tới De Castries. Mặt Cogni lại nóng lên...
- Điểu chưa tốt là: phản kích quá yếu ớt. Tôi không hiểu tại sao vậy, trong khi lòng dũng cảm của tất cả mọi người có thừa.
Cogni cười nhạt:
- Trình đại tướng: mới hôm kia họ đã có một trận phản kích quyết liệt, phá được hào, diệt được bốn pháo 75, nhiều ĐKZ và bộ binh địch, khai thông được đường từ Mường Thanh xuống Hồng Cúm.
Navarre vẫn không thay đổi sắc mặt:
- Phải! Tôi đã được báo cáo. Nhưng đó mới chỉ là một trận, và mới là một chiến thắng đầu tiên. Tôi còn biết thêm: trung tá Langlais ngay hôm đó đã ngồi xe Jeep chạy xuống tận Hồng Cúm để gặp Lalande. Anh ta thật dũng cảm. Nhưng anh ta cần hiểu nhiều hơn nữa: Hồng Cúm tuy quan trọng thật, nhưng còn cấp bách hơn là sườn phía đông và phía tây Mường Thanh đang bị uy hiếp lớn. Địch dã đào chiến hào khắp cánh đồng, và đã đưa cả cao xạ nhẹ vào theo sát bộ binh, làm khó dễ cho các máy bay ta rất nhiều...
Mắt Cogni càng đỏ hơn lên:
- Trình đại tướng, tôi đã có dự kiến sẽ lệnh cho họ phải đánh mạnh, nhằm giải tỏa sườn phía tây và trục bằng được những trận địa cao xạ nhỏ ấy đi.
- Rất tốt.
- Nhưng, việc phản kích mạnh có nghĩa là lực lượng phải lớn. Mà dự bị đội của De Castries thì chẳng còn là bao, thưa đại tướng.
- Tôi biết. Tôi không có ý định bảo họ dốc túi để đánh tràn lan, phản kích tràn lan khắp bốn phía như nhau. Nhưng tôi yêu cầu họ phải mạnh dạn tập trung lực lượng để phản kích có trọng điểm. Có như vậy mới ngăn chặn được, không để cho địch tiến sâu hơn nữa vào các hiểm huyệt của mình. Vừa qua, những người của chúng ta ở Điện Biên Phủ mới chỉ phản kích bằng các phân đội nhỏ vừa, chỉ là gãi ghẻ, mà lại hao tổn thêm binh lực. Chỉ gãi ghẻ kẻ thù rồi ngôi kêu gào tăng viện. Phải bắt họ tiến lên, đánh mạnh hơn nữa.
- Tôi sẽ chỉ thị cho họ thực hiện ngay ý kiến của đại tướng.
- Trung tướng ạ, tuy nhiên tôi vẫn còn muốn nói rõ thêm: tôi chỉ hy vọng sự phản kích mạnh sẽ ngăn chặn được địch, không cho tiến nhanh mà thôi. Tôi không có ảo tưởng lật lại thế cờ dễ dàng, chính vì vậy tôi muốn nói điều sau rổt với trung tướng hôm nay, mà cũng là điều có thể coi là phương châm hệ trọng nhất...
- Phương châm chỉ đạo toàn cuộc ở Điện Biên Phủ hôm nay?
- Phải! Tôi yêu cầu phản kích mạnh chủ yếu để trì hoãn bước tiến của địch, cũng có nghĩa là tôi muốn chúng ta thực hiện bằng mọi cách, kể cả phản kích lớn như vừa nói, nhằm thực hiện việc kéo dài, hoặc nói cách khác, làm chậm cuộc chiến đấu lại...
- Làm chậm cuộc chiến lại?
- Phải! Cố cho sang đầu tháng 5, làm sao địch chưa mở được cuộc tấn công mới. Lúc đó hội nghị Genève sẽ họp. Hội nghị họp khi mặt trận Điện Biên Phủ chưa ngã ngủ. Cán cân chắc chắn sẽ lệch về phía ta. Trung tướng ạ, tôi đồ chừng rằng, nếu tôi không lầm, Cụ Hồ và ông Giáp đang rất muốn đánh nhanh để giành lấy chiến thắng. Họ cũng đang chịu áp lực của hội nghị Genève. Họ có thể lo các nước lớn, kể cả đồng minh của họ sẽ mà cả với nhau trên lưng họ.
Thế là đã rõ: Navarre đã tung ra phương châm chỉ đạo tác chiến mới cho Điện Biên: đánh kéo dài, làm chậm cuộc tấn công của quân Việt Nam, không cho mở đợt 2 sớm trước đầu tháng 5-1954. Để thực hiện phương châm và ý đồ này: các trận phản kích phải lớn phải mạnh hơn ở những trọng điểm, kết hợp với việc tăng cường giội bom xuống tất cả núi rừng bốn chung quanh Mường Thanh, nhất là các trận địa pháo binh, cao xạ Việt Nam, trong khi đó vẫn cứ hy vọng và chờ đợi kế hoạch Giội bom tràn ngập, hủy diệt của Mỹ, cái kế hoạch “Diều hâu” có thể có cả nguyên tử.
Cogni đứng dậy giơ tay chào rồi xin cáo lui. Navarre bắt tay viên trung tướng. Không khí có phần bớt lạnh lẽo hơn lúc đầu gặp nhau. Tuy nhiên lúc tiễn Cogni ra cửa, Navarre vẫn không quên nhắc lại:
- Còn những chuyện rắc rối giữa chúng ta, như tôi đã nói: sẽ có dịp làm cho sáng tỏ. Trước mắt, chúng ta hãy cùng chiến đấu đã. Hãy tạm quên mọi chuyện di, và đừng có xì xầm, đừng có bô báo nhau sau lưng nữa.
Nghe nói vậy, Cogni lại muốn lộn tiết. Chiếc Citroen lại lộn về qua phố Quán Thánh. Bất chợt quay ra, nhìn qua cửa xe, Cogni nhìn thấy một chiếc cổng lớn với hai trụ cao xây theo kiểu cổ Việt Nam, phía trong cổng là một khuôn viên khá rộng, cuối khuôn viên là một tòa biệt thự kiểu miền Provence nước Pháp. Cogni nhận ra dó là nhà viên tri phủ Đặng Văn Khiết, nay đang là một Ủy viên Ban điều hành lực lượng “Quân thứ hành chính báo động” của chính quyển bù nhìn Bảo Đại (GAMO) cơ quan này đặt trực tiếp dưới sự chỉ đạo của thủ hiến Bắc Việt Nguyễn Hữu Trí. Đây là một lực lượng rất lợi hại, chuyên tung các đội xuống các địa phương tổ chức thực hiện việc tảo trừ các cơ sở cách mạng, rồi lập chính quyền tề ngụy tại địa phương. Đã hơn một lần, Cogni và Nguyễn Hữu Trí được Khiết mời tới tòa biệt thự này dự tiệc và nhảy. Cogni lại sực nhớ tới việc phải vây ráp bắt “quân tình nguyện” mà Navarre vừa nói. Cogni thầm nhủ: “Việc này có lẽ cũng phải có sự tham gia của lũ này đây”. Và ông ta dự định sẽ gặp Khiết một buổi, có lẽ ngay ngày mai.
*
Đặng Văn Khiết đang ngồi nói chuyện với người con cả là trưởng phòng thông tin Phủ Thủ hiến Bắc Việt, và người con trai thứ hai vừa tốt nghiệp bác sĩ y khoa. Mặc âu phục, đầu chải lật láng bóng, râu ria nhẵn thín, Đặng Văn Khiết có dáng vẻ một nhà thầu khoán, khác hẳn với tám năm trước đây khi còn làm “quan phụ mẫu” ở một phủ nọ thuộc một tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, quanh năm chỉ áo gấm, bài ngà, giày đen Gia Định, quần chúc bâu ống xớ, khăn xếp, và một hàng ria nhỏ trên mép. Ba cha con đang nói chuyện về Điện Biên Phủ, thời sự nóng bỏng nhất hiện nay.
Anh con cả cho biết:
- Papa ạ, tụi phi công về nói: dù thả suốt ngày, xanh đỏ trắng vàng đầy trời, nhưng rơi xuống phía Việt Minh tới non nửa. Còn việc hạ cánh thì càng ngày càng cực kỳ khó. Mới hôm qua một thằng liều hạ cánh xuống được một lúc, nhưng khi sửa soạn cất cánh lại bị bắn cháy. Cái sân bay giờ thành cái nghĩa trang máy bay rồi. Papa ạ, bây giờ không thằng nào muốn bay lên đó nữa, nhận lệnh nhiều thằng khóc như cha chết...
- Hỏng! Hỏng thật rồi! - Đặng Văn Khiết lẩm bẩm.
Người con cả tiếp:
- Con có quen một thằng nhà báo Mỹ, thằng Nelson. Khá thân. Nó vừa tiết lộ cho biết: Mỹ đang tìm cách để hất cẳng Pháp ở Việt Nam và Đông Dương. Nó nói trước là cái Điện Biên này nhất định sẽ thất thủ về tay Việt Minh.
Đặng Văn Khiết kinh ngạc:
- Sao? Người Mỹ đang tích cực chuẩn bị một kế hoạch ném bom hủy diệt ở Điện Biên để cứu người Pháp cơ mà?
- Không đâu, thằng Nelson nói với con là kế hoạch làm ra vẻ hết lòng vậy thôi, nhưng nó sẽ bị bác bỏ. Pháp mà thua, tất sẽ phải ra, vậy thì Mỹ sẽ vào. Vậy đấy papa ạ. Papa cũng liệu mà “chuyển buồm, chuyển gió” đi. Pháp sắp hết thời rồi.
Người em cứ ngồi trố mắt nghe người anh nói, tới lúc đó mới xen vào:
- Em thấy các nước lớn đồng minh với nhau, họ đàng hoàng lắm. Làm gì có chuyện lừa gạt nhau như vậy?
Người anh cười khẩy:
- Em làm nghề khoa học, em không hiểu gì hết. Làm gì có chuyện đàng hoàng!
Đặng Văn Khiết thở ngắn, thở dài:
- Thời thế đang biến chuyển thật. Nhưng ta nên thế nào đây cho phải? Mà việc này là vô cùng quan trọng. Lỡ một cái là chết ráo.
Ngẫm nghĩ một lúc, ông ta bỗng bật lên:
- Phải coi lại tử vi, các con ạ!
Người con cả cho là phải. Người con thứ hai lặng thinh. Đặng Văn Khiết vui mừng tiếp:
- Ta nhớ ra rồi các con ạ, phải nhờ ông Tú An ở Gia Lộc mới được. Từ khi rời nơi ấy, đã hơn tám năm nay, ta chưa gặp được ông thầy nào uyên thâm như ông Tú An. Các con ạ, đúng, đúng phải mời ông cụ Tú lên đây xem giúp cho.
Người con cả cười rộ:
- Papa như mơ ngủ. Việt Minh đang đánh khắp đồng bằng. Đường số 5 liên tục bị mìn và bị đánh “độn thổ”. Cụ Tú lên đây sao được?
Đặng Văn Khiết ngớ ra:
- Ừ nhỉ, ba quên!
Người con cả mỉm cười, nói thêm:
- Vả lại, nếu có yên, mời, cụ ấy vị tẫt đã chịu đi. Papa hẳn chưa quên là khi trước làm quan phụ mẫu tại chỗ, papa cho mời mà cụ có chịu đi đâu. Rốt cuộc papa phải đích thân đến tận nhà. Cái ông cụ này kỳ cục đã nổi tiếng cả một vùng. Đến như công sứ có bà vợ người Việt mê tử vi và lại đang ốm, chữa thuốc Tây mãi không khỏi, cũng cho mời ông cụ lên, vừa để chữa bệnh, vừa xem tử vi cho bà sứ. Ông cụ cũng nhất định không chịu đi. Bảo: “Tôi chữa bệnh cứu người, ai tôi cũng chữa. Tử vi cũng vậy, ai cần xem, tôi xem giúp, không có phân biệt quan lại hay thứ dân. Nhưng ai cần thì tới, tôi không đi đâu cả”. Ông sứ dã cho lính về đốt nhà, và bắt trói đem đi...
Thấy con trai kể lại chuyện vui cũ, nhưng có chi tiết sai, Đặng Văn Khiết chữa lại:
- Không, ông Tú nổi giận lên, tự cầm lửa đốt nhà mình chứ! Dân làng phải tới chữa mãi mới cứu được, không thì ra tro.
Người con cả vui vẻ hỏi lại:
- Nhưng lính có trói và khiêng ông cụ lên ô tô, phải không papa?
- Đúng. Nhưng lên tới tỉnh, ông Tú vẫn dứt khoát không chữa, không xem. Bảo đã hành hung như giặc cướp thì không phải là người cho cụ cứu giúp nữa. Và thách: bắn cứ bắn, giết cứ giết. Ông sứ thấy ông cụ là người có tiếng, cũng khó xử sau đành phải tha cho về.
Người con cả lại cười rộ:
- Đấy, con người như vậy mà bảo mời lên, mời làm sao được.
Đặng Văn Khiết nói:
- Ta đã có cách rồi: ta sẽ gửi lá số về cho thằng Phồn là tỉnh trưởng. Nó là cai cơ của ta trước đây. Nó sẽ cho người đưa xuống huyện nhờ ông Tú coi. Ta cũng sẽ có thư kèm theo với tình xưa nghĩa cũ...
Cả hai người con cho rằng chỉ có cách ấy may được.
Ba hôm sau, một tiểu đội bảo an do một viên thiếu úy kéo về một thôn ở ngay sát huyện ly. Mọi người xôn xao, không hiểu có chuyện gì. Ông cụ đang nằm co ro như con mèo hen trên tấm phản gỗ trước bàn thờ gia tiên. Lính vào, cụ vẫn cứ nằm, không mời ngồi, cũng không cho nước uống.
- Các chú về bắt tôi, hay có chuyện gì? - Cụ hỏi.
Viên thiếu úy khá lễ phép:
- Cụ có thư của quan lớn Đặng Văn Khiết trên Hà Nội gửi về.
Ông cụ nheo nheo mắt, nghĩ ngợi:
- Đặng Văn Khiết nào nhỉ?
Mãi sau ông cụ mới gật đầu, chép miệng:
- À nhớ ra rồi: ông phủ Kiết họ Đặng. Nhưng mà này, bây giờ ông ấy làm gì nhỉ?
Viên thiếu úy đáp:
- Cháu không biết. Cháu chỉ được lệnh cấp trên đưa thư và một lá số tử vi về cho cụ. Ngoài ra không biết gì cả.
Ông Tú đỡ lấy phong thư, mở ra xem. Cụ bà từ trong buồng nhẹ nhàng bước ra, ghé ngồi bên cụ ông, thì thầm:
- Có phải thư lão phủ Khiết không? Tám năm rồi mà lão ấy còn nhớ tới nhà này cũng lạ. Ông ạ, tôi hay đi chợ, nghe người ta nói lão này bây giờ đâu như làm to lắm trên Hà Nội.
Cụ ông ngừng đọc, hạ kính xuống:
- Làm to?
Nhưng rồi tiếp tục đọc. Xong, cụ đặt bức thư và lá số xuống hất hàm bảo viên thiếu úy:
- Thôi được, các chú cứ về. Khi nào xong, tôi sẽ nhắn xuống lấy. Bây giờ chưa xem được!
Viên thiếu úy phân vân:
- Vậy cụ không viết cho vài chữ ư?
- Không cần, các chú cứ về, bảo ông Phồn là tôi bận lắm. Khi nào rảnh xem xong sẽ báo.
Khi đám lính bảo an quay ra, người trong xóm đã bu đấy ngoài cổng. Người đoán: có lẽ lính về bắt ông cụ, vì có người con thứ ba đi kháng chiến, nghe đâu là bộ đội Việt Bắc. Người lại cho là lính nghi trong nhà có hầm bí mật...
Khi đám lính đi khỏi, ông cụ lại ngả mình xuống phản. Cụ chẳng bận gì hết, nhưng cụ đang rất buồn phiền. Thời cuộc càng rối ren, nóng bỏng, cụ lại càng buồn, càng nhớ thằng Dũng của cụ. Nhà có ba người con trai, hai người con gái. Nhưng cụ chỉ yêu thương và đặt nhiều hy vọng ở Dũng hơn cả, mặc dầu coi số nó cụ biết rất long đong, vất vả. Dũng đã học hết trung học, đỗ xong, mới lên ban tú tài thứ nhất. Nhưng năm học đang dở dang thì kháng chiến bùng nổ. Dũng xin đi bộ đội. Anh đóng quân ở Quảng Yên. Nghe nói đã cùng bộ đội Ký con ra đánh ngoài đảo Cô Tô. Nhưng chết gần hết, cả đại đội chỉ còn có gần mười anh, trong số đó có Dũng, bơi dược từ đảo vào bờ, sống sót. Sau đó anh lên Thái Nguyên. Từ đó gia đình không còn tin tức gì về Dũng nữa. Người đồn anh đã hy sinh. Người bảo anh vẫn còn sống nhưng ở Nam Bộ. Gần đây, lại có người nói: Dũng đang đánh nhau trên Điện Biên Phủ... Đúng là trong ba đứa con, chỉ có nó là có tư chất khá nhất và cũng có chí nhất. Vậy nay nó ở đâu, còn hay mất?... Còn hai người con trai kia chỉ an phận thủ thường. Anh lớn trước dạy học ở tỉnh, kháng chiến, cũng tản cư được một dạo, sau khổ quá, đem vợ con về, xin mãi mới được dạy ở trường làng. Người con thứ hai làm ở ty Dây thép ở tỉnh được vài tháng thì bị động viên đi lính Bảo Đại. Cũng mới được vài tháng làm lính truyền tin, thì bị bộ đội kháng chiến đánh vào Phát Diệm, bắt sống. Cải tạo ở ngoài khu tự do gần một năm, anh này được thả về. Bây giờ ở nhà chạy xe bò. Thế đấy! Cuộc chiến đã làm đảo lộn tới tận đáy cùng của xã hội, đã xáo trộn tất cả đời sống của mọi gia đình... Con người đã và đang chịu biết bao thử thách, đau khổ. Ai vững thì sống, ai may thì sướng, đó là cái quy luật chung, nhưng cũng không khỏi có biết bao oan trái, nghịch cảnh, phi lý mà con người phải chịu đựng hoặc không sao tránh được. Đen, đỏ, sáng, tối, còn dang lẫn lộn, thực giả đang còn khó phân. Ai cũng nói mình là phải, là tốt. Thậm chí đến như Bảo Đại cũng long trọng tuyên bố mình là người yêu nước, cho tới Đặng Văn Khiết, như trong thư vừa đọc, cũng bày tỏ mình là người nhân hậu, ăn ở với mọi người như bát nước đầy... Cụ Tú buồn lắm. Cụ chỉ cầu mong sao cho các con cụ nhất là Dũng sẽ trở về và sẽ có được một cuộc sống yên ổn. Thế là đủ, nhưng cứ như lá số đặc biệt của Dũng thì Dũng đã chết tới ba lần. Và còn có thể chết nữa... Lúc thì do gươm đao, nhưng có lúc lại không phải thế. Cụ đang còn ngẫm xem.
Cụ bà từ trong buồng lại bước ra:
- Mặc xác nhà lão ta! Ông đừng xem, có mà thừa hơi!
Cụ Tú cười buồn:
- Ấy không, cứ xem chứ. Để biết thêm việc đời bà ạ! Tôi vừa mới lướt qua, cái số này thật kinh khủng: vô tài vô đức, quỷ quyệt khôn lường mà nó được làm nên tới khanh tướng.
Rồi cụ tiếp:
- Nhưng thế mới là chuyện đời bà ạ. Chứ cứ ai nhân đức, ai tài ba thì rồi cũng được vinh hiển cả, thì còn nói gì! Không đâu! Thời nào cũng thế cả. Rồi bà xem: vẫn còn thằng còng làm cho thằng ngay ăn, thằng dốt dạy bảo người sáng, quân giả dối, quỷ quyệt lại làm nên ông to bà lớn...
Bà cụ lắc đầu:
- Tôi không hiểu. Tôi chỉ van ông xem kỹ lại cái số cho thằng Dũng, xem nó thế nào...