Anh cần vụ Mạn lại lúi húi gấp quần, gấp áo cho Hồng Đăng rồi nhét vào các túi ba lô các hộp crasse crôute, chocolat và thuốc lá chiến lợi phẩm mà các đơn vị gửi cho. Anh vẫn không quên một chai rượu Cognac để Hồng Đăng uống và tiếp bạn. Hồng Đăng còn xin được cả áo blouson Mỹ mới toanh cùng chăn dạ, màn tuyn và chiếc đệm cá nhân bằng cao su khi thổi phồng lên nằm rất êm. Chỉ phải tội là nặng, Mạn cõng sái cổ.
Trong khi Mạn sửa soạn ba lô, Hồng Đăng ngồi tranh thủ thời gian viết thư cho Nguyệt Lệ. Cô cùng đoàn cán bộ phụ nữ vẫn còn đi thăm các đơn vị và các trạm quân y, chưa trở vế mặt trận Bộ. Viết cho Nguyệt Lệ, anh bày tỏ lòng mong nhớ vô hạn, đồng thời dặn dò cô hết sức giữ gìn sức khỏe. Hồng Đăng cũng báo một tin buồn: Quýnh, em trai anh đã hy sinh trong trận chống phản kích vừa rồi. Hai anh em chênh tuổi khá nhiều, lại ít gần nhau, thêm nữa tính cách khác nhau nên cũng không có nhiều kỷ niệm. Tuy vậy, khi viết tới những dòng báo tin chẳng lành về Quýnh, với tình máu mủ, Hồng Đăng vẫn không khỏi thấy rưng rưng xúc động. Anh vẫn còn nhớ không phải chỉ một lần anh đã ngỏ ý muốn kéo Quýnh về trên cơ quan. Nhưng thật đáng tiếc, Quýnh đều từ chối. Anh biết đứa em trai của anh rất trong sáng, và dường như nó theo chủ nghĩa lý tưởng cực đoan nào đó. Mà Nguyệt Lệ, vợ anh, có lẽ phần nào cũng như thế...
Một anh trợ lý bỗng chạy vào đưa cho Hồng Đăng một văn bản đã đánh máy:
- Cái gì thế?
- Báo cáo, bên chính trị nhờ anh tiện thể xuống đơn vị, đưa cho họ quyết định khen thưởng này.
- Khen thưởng nào? Trận phản kích phía tây vừa rồi hả?
- Báo cáo phải.
Hồng Đăng đọc lướt qua: anh chú ý tới hai tên: Nguyễn Văn Dũng và Trần Hà Giao... Hà Giao thì chỉ biết qua, nhưng còn Dũng anh biết rõ hơn. Một cái gì đó như một làn gió quẩn thoáng nổi lên trên trong đầu óc anh. Thì ra hắn cũng có mặt trong trận này, trận đánh mà Bộ chỉ huy mặt trận đã đánh giá khá cao về tinh thần chiến đấu của đơn vị. Đây là trận phản kích địch đánh ra chiến hào ta có thể coi là lớn nhất, có tổ chức quy mô nhất trong tất cả các trận nhỏ, lẻ tẻ suốt gần nửa tháng qua trên khắp cánh đồng phía tây và cả bên phía đông, cũng như dưới phân khu Hồng Cúm. Trận đánh thắng lợi của quân ta đã chứng minh, khẳng định một điều quan trọng: quân Pháp không thể phá vỡ được các trận địa chiến hào bao vây tấn công của ta, dù ở địa điểm mà ta chưa củng cố được thật tốt, thậm chí còn sơ sài, thêm nữa còn bị bất ngờ trong chừng mực nào đó. Và dường như, theo Hồng Đăng suy nghĩ, không phải được chính thức phổ biến, trận thắng này của quân ta đã thúc đẩy thêm quyết tâm của trên nhanh chóng mở đợt hai chiến dịch. Hồng Đăng lại xuống các đơn vị ở cánh đồng phía tây hôm nay chính là để truyền đạt chỉ thị của Mặt trận về việc ấy. Đợt tấn công thứ hai, Hồng Đăng được biết, sẽ còn to lớn và quyết liệt hơn đợt đầu (hoặc màn 1). Đợt này nếu lại thắng lợi giòn giã, mặt trận sẽ có thể nhanh chóng chuyển sang tổng công kích, đánh bại toàn bộ quân Pháp ở thung lũng sẽ trở nên lịch sử này. Như vậy chiến thắng Điện Biên sẽ sớm hơn hội nghị Genève, sớm hơn khá nhiều. Anh lại tiếc cho thằng em anh. Không phải anh đã không cho nó biết: hòa bình và thắng lợi đã gần kề. Nhưng rồi hình ảnh Dũng (hoặc Dũng Linh chăng?) lại lởn vởn hiện lên như chiếc gai nhọn trước mắt...
Hồng Đăng tiếp tục đi, một người nữa chạy vào đưa tiếp một gói tài liệu:
- Lại cái gì nữa thế này?
- Báo cáo, nhà in mặt trận đã in xong thư Bác Hồ. Bên chính trị lại nhờ anh.
Hồng Đăng đỡ lấy gói tài liệu, mở ra. Đúng là thư Bác Hồ gửi các chiến sĩ mặt trận Điện Biên Phủ. Bác khen ngợi các cán bộ và chiến sĩ đã lập công lớn trong đợt một. Bác căn dặn phải chuẩn bị thật tốt để tiếp tục bước vào các đợt chiến đấu sắp tới... Hồng Đăng biết rất rõ: Bác đã theo dõi rất sát sao chiến dịch. Bác là linh hồn của mặt trận. Chính nhờ phương châm “đánh chắc tiến chắc” của Bác với sự thực hiện, chấp hành sáng tạo của bộ chỉ huy Mặt trận mà quân ta đã đánh thắng giòn giã trong đợt chiến đấu vừa qua. Bây giờ Bác lại chỉ thị: chuẩn bị tốt, thật tốt để giành chiến thắng tiếp theo. Bác như luôn luôn ở bên cạnh các chiến sĩ...
Hồng Đăng sửa soạn đi, lại một người nữa chạy vào. Hồng Đăng chau mày:
- Lại cái gì nữa thế?
- Báo cáo, có đoàn phụ nữ xin gặp anh...
- Hả? - Hồng Đăng mừng rỡ - Vậy mời vào đây!
Nhưng không phải là cả đoàn. Không có Nguyệt Lệ, mà chỉ có bà Lợi và Văn Túc. Hồng Đăng gượng vui, chào:
- Thưa chị, chẳng hay có việc gì đấy ạ?
Bà Lợi liếc mắt nhìn Túc, rồi nói:
- Thưa anh, chúng tôi đến để chào anh, ngày mai đoàn chúng tôi về xuôi.
Hồng Đăng ngạc nhiên:
- Các chị về ạ?
- Vâng, đi như thế đã quá chương trình mất một tuần rồi, mà ở nhà còn lắm việc lắm anh ạ!
Văn Túc vẫn chỉ ngồi im nặng cầm chiếc ca “Quyết chiến quyết thắng” uống từng hớp nước nhỏ. Bà Lợi ngước nhìn Túc, rồi đắn đo:
- Nhân đây, thưa anh Đăng, cũng báo cáo để anh rõ: đoàn chúng tôi về, riêng chị Nguyệt Lệ vẫn ở lại...
Đôi mắt mở to, Hồng Đăng ngắt lời bà Lợi:
- Sao? Cô Lệ nhà tôi ở lại? Để làm gì?
Tránh cái nhìn đầy sửng sốt của Hồng Đăng, bà Lợi đáp:
- Thưa anh, cô ấy xin ở lại phục vụ quân y viện mặt trận.
- Ô hay! Vậy... vậy... chị đồng ý cho cô ấy ở lại sao?
- Thưa, không phải như thế. Chúng tôi đã bảo cô ấy cùng về. Nhưng cô ấy không nghe. Chúng tôi đã phân tích: cô ấy không có chuyên môn, ở lại thì làm được việc gì? Hộ lý ư? Nhưng hộ lý thì đâu có thiếu lắm...
- Đúng! Đúng như vậy! - Hồng Đăng như cuống quít.
- Thế mà cô ấy vẫn cứ một mực không nghe. Đến nỗi tôi phải nhân danh đoàn trưởng chỉ thị cho cô ấy phải cùng về, cô ấy nhất định không chịu. Sau tôi lại phải bảo để hỏi ý kiến anh đã...
- Đúng! Đúng như thế! - Hổng Đăng lại vội vã nói. Mặt anh đã bừng đỏ - Phải hỏi tôi đã chứ!
- Nhưng, thưa anh, cô ấy vẫn không thay đổi ý kiến. Cô ấy nói sẽ báo với anh sau.
Hồng Đăng như choáng váng. Anh không nén được mình nữa, rít lên:
- Hừ! Kỳ cục! Kỳ cục thực!
Lặng đi mấy giây, anh như chồm hẳn người về phía bà Lợi:
- Vậy tôi yêu cầu chị hãy nán lại một ngày. Tôi có việc gấp phải xuống đơn vị X. Ngày mai tôi sẽ tìm được cô ấy, lôi về đây.
Tới lúc đó Văn Túc thấy mình phải lên tiếng. Anh nhẹ nhàng hỏi lại:
- Vậy thưa anh, anh không muốn cho chị ấy ở lại đây ạ?
- Phải!
- Thưa, vì sao vậy?
- Cô ấy quá lãng mạn, mơ mộng. Cô ấy không hiểu gì hết. Ở đây không ai cần tới cô ấy. Cô ấy ở lại chỉ thêm một gánh nặng tiếp tế cho mặt trận.
Văn Túc không thể nhẹ nhàng được nữa. Anh nghiêm trang:
- Thưa anh, xin phép anh cho tôi nói thật, việc chị Lệ xin ở lại là chính đáng. Ai có mặt ở mặt trận này đều có ích cả, tôi trộm nghĩ như thế. Cho nên, chỗ thân tình, xin phép cho tôi được chân thành góp ý với anh: anh là một đồng chí cán bộ cao cấp, nếu anh phản đối việc này e sẽ không hay, không có lợi cho uy tín của anh.
Cũng không ngờ câu nói của Văn Túc có hiệu lực. Hồng Đăng ngồi lặng đi. Đúng, sẽ không có lợi cho uy tín, cho cả bước đường công danh của anh về sau nữa. Phải tìm cách giải quyết êm hơn, không thể ầm ĩ được. Một lúc sau, anh gượng gạo nói trong căm giận và thất vọng:
- Thôi được, tôi sẽ liệu sau vậy. Dẫu sao cũng cám ơn chị và anh đã báo cho biết tin này.
Bà Lợi và Văn Túc cùng đứng dậy, nháy nhau và mau lẹ quay ra.
Hai người khách đi khỏi, Hồng Đăng hất hàm gọi Mạn một cách gay gắt:
- Mạn đâu? Đi! Đi thôi!
Tất cả sự tức giận của anh dường như trút xuống đầu anh cần vụ. Ra khỏi khu lán trại, Hổng Đăng và Mạn cũng đi theo một con đường tắt mới mở xuống các đơn vị ở phía tây, không theo con đường cũ đi ngang qua quân y viện mặt trận. Mạn cung cúc gùi ba lô, vác súng đi trước quên cả bực mình vì bị gắt vô cớ. Anh mừng thầm: “May quá, ông ấy không bắt đi theo đường cũ”. Mạn biết nếu qua đó, thế nào Hồng Đăng cũng lại bắt dừng lại để ghé vào viện. Mà chuyện lòng thòng của ông với cô bác sĩ nào đó, Mạn vẫn còn nghe xì xầm.
Nhưng không phải Hồng Đăng không có ý định vào quân y viện. Ngược lại, xong công việc lúc về anh sẽ vào, nhưng lần này vào không phải chỉ để gặp Kim Oanh mà còn để xem Nguyệt Lệ có đó hay không. Nếu gặp, anh sẽ phải dạy cho cô biết thế nào là bổn phận của một người vợ đối với chồng trong những công việc như thế này. Anh cũng sẽ phải làm cho cái đầu óc mơ mộng, lãng mạn của cô tỉnh táo, thực tế trở lại. Hành động tự ý của Nguyệt Lệ đã như một sự xúc phạm đối với anh, nhưng anh đã không khỏi buồn. Hành động này còn như một biểu hiện của tình cảm phai nhạt, thậm chí tình cảm có lẽ chưa hề có thật của Nguyệt Lệ đối với anh. Nếu tính cả sự từ chối không sống chung với anh trong những ngày đầu gặp gỡ ở mặt trận thì càng có thể tin hơn mối nghi hoài của anh là đúng. Quả như vậy, không những đáng buồn mà càng cay đắng biết bao!.. Nếu thật sự như vậy thì chẳng lẽ hóa ra từ trước tới nay anh mới chỉ chiếm được Nguyệt Lệ phần xác mà chưa hề chiếm được phần hổn của cô?
Nhưng vì sao vậy? Khiêm tốn đến mấy, anh cũng biết rõ mình là người đàn ông khá đầy đủ chức vụ, tiền tài, kể cả sức lực, và diện mạo để cho nhiều cô phải mơ ước. Còn về sự yêu thương săn sóc thì anh cũng có thể tự ví như một ông hoàng Ba Tư đối với một người đẹp, một người vợ say đắm mà ông đã kiếm tìm được từ một sa mạc hoang vu, nghèo khổ. Trong cuộc sống, anh đã chu cấp cho nàng rất đầy đủ, kể cả gia đình nàng nữa. Vậy tại sao suốt hai năm qua, anh luôn luôn cảm thấy mình không bao giờ được hoàn toàn thỏa mãn cả về xác thịt lẫn tình cảm. Và cho tới lần này... Phải chăng cái bóng của cái tên Dũng Linh nào đó vẫn còn luôn luôn lởn vởn trong đầu óc nàng? Phải chăng, ở đây, dường như nàng đã gặp lại hắn, hoặc ít ra cũng mơ tưởng rằng hắn còn sống và có thể may ra sẽ gặp lại được còn tinh thần “vì chiến sĩ, vì muốn được đóng góp” ư? Làm gì ở nàng có nhiều đến thế!...
Giận quá mà cũng đau quá. Phải làm gì đây? Làm thế nào để giành lại nàng? Làm gì? Làm gì?...
Mạn vẫn cung cúc đi, nhưng chốc chốc ngoái lại. Anh quá ái ngại: Hồng Đăng hôm nay có vẻ rất mệt. Thật tội nghiệp! Mạn đã quên rồi và quên hẳn sự gắt gỏng vô lý của Hồng Đăng lúc ra đi.
*
Trong khi đó, trời hửng nắng ấm, ở khúc suối kín đáo đã quen thuộc, Kim Oanh trần truồng, không một mảnh vải che, đang nằm thả mình dưới làn nước trong vắt, hai mắt lim dim. Cô đang tìm một khoái cảm. Đã lâu lâu không có đàn ông, cô cồn cào thèm khát - thèm khát đến nỗi cứ mong bất cứ thằng đàn ông nào ôm lấy cô là cô sẵn sàng ngả xuống, chứ không cần phải đó chính là Hồng Đăng người tình lý tưởng mà cho tới bây giờ cô mới được gặp, sau không ít những chàng trai khác. Nhưng tất cả bọn đàn ông ở cái viện này đều là đổ bỏ đi. Chúng luôn nhìn cô, cô biết, như chọc thủng cả áo quần, như chó đang nhỏ dãi, nhưng rút cục chẳng thằng nào dám lơ mơ. Chúng sợ cái gì không biết? Trời ơi, thì ra con người ta càng văn minh càng làm khổ nhau bằng biết bao lệ luật, phong tục, tập quán và cả dư luận phi lý, mà do chính con người tự bày đặt ra. Cũng đã có lần Kim Oanh gần như chủ động với họ, nhưng rồi họ cứ “cài số lùi”. Nên lại càng nhớ, càng mong Hồng Đăng như không chịu nổi. Ôi, con người vừa ga-lăng vừa sung mãn về thể lực ấy sao mà tuyệt vời...
Bỗng “rắc”, một tiếng cành cây gãy, Kim Oanh nhỏm người lên, thì nghe có tiếng chân người chạy thình thịch đi xa. Hiểu rồi: một thằng mất dạy nào đó đã mò tới đây xem trộm Kim Oanh tắm. Nhưng mà “tiên sư nó” đã thèm mà còn nhát, đã mò ra tới đây mà còn sợ bỏ chạy. Hắn là ai vậy? Nhưng bất cần, giá mà hắn cứ nhảy đại xuống đây thì có phải là... Kim Oanh sẽ chồm lên bụng hắn, rồi đè xuống, đè xuống cho tới khi cả hai cùng chết lịm...
Lát sau, “cơn hỏa” dịu xuống, Kim Oanh mới mặc quần áo trở về viện.
Quanh co mấy khu lán, Kim Oanh đi ngang qua phòng làm việc của viện trưởng. Đó là một chiếc lán làm nửa chìm nửa nổi, một cô gái mặc áo khoác xanh đang ngồi đó, hai tay ôm một chiếc túi dết nhỏ trong lòng. Tò mò ngó vào, Kim Oanh bật kêu lên:
- Chị Nguyệt Lệ!
Nguyệt Lệ quay ra. Hai người đã biết nhau sơ sơ qua lần đại biểu phụ nữ tới thăm viện cách đây chừng hơn mười ngày. Nguyệt Lệ tươi tắn chào lại. Kim Oanh hỏi:
- Chị đến đây có một mình? Chị có việc gì vậy?
Nụ cười vẫn dịu dàng trên đôi môi Nguyệt Lệ:
- Tôi đến để xin... phục vụ ở đây chị ạ.
- Ô hay, thế ạ?... - Kim Oanh dường như không hiểu nổi, hoặc nghĩ là mình nghe nhầm. Nhưng Nguyệt Lệ vẫn nhắc lại đúng như thế. Cô nói rõ thêm: cô đang chờ viện trưởng, ông còn đang mắc chút việc trên khu thương binh sọ não. Kim Oanh đứng lặng ngắm Nguyệt Lệ như nhìn một hiện tượng lạ. À, thì ra cô ta đang “nổi máu anh hùng”! Tuyệt! Nhưng... hay là cô ta đã biết chuyện gì về Hổng Đăng với mình nên muốn cắm ở đây để kiểm soát và có thể gây chuyện? Con bé quả là đẹp, đẹp đến phát ghét lên được, phát ghét ngay từ hôm mới gặp. Và đây cũng là “bà phu nhân trầm lặng, bướng bỉnh” của Hồng Đăng mà, Kim Oanh đã từng nghe người trong khu căn cứ địa ít nhiều đồn thổi. Dẫu sao cũng sẽ phiền đây! Nó mà ở đây thì còn tự do với Hồng Đăng sao được. Đó là chưa kể, giả sử biết chuyện nó có thể còn làm “xì căng đan” nữa chứ!
Một bóng áo trắng hiện ra. Ông viện trưởng đã về. Nguyệt Lệ vội đứng dậy.
- Mời chị ngồi! Mời chị ngồi! - Ông viện trưởng sốt sắng, lịch sự - Tôi biết rồi. Tôi đã đọc giấy của phòng chính trị Mặt trận giới thiệu chị. Chị uống nước đi! Chị đi đường, leo núi, có mệt lắm không?
Kim Oanh sầm mặt, nguýt một cái dài. Thằng già này hỏng! Nó chẳng biết còn có mặt mình ở đây nữa! Tức giận, Kim Oanh đá vào chiếc thùng gỗ đựng thuốc ở dưới chân. Bấy giờ ông viện trưởng mới quay lại, nở một nụ cười như xin lỗi:
- À, chị Kim Oanh! Mời chị cùng ngồi! Ta cùng nói chuyện cho vui. Không có gì bí mật cả.
Kim Oanh vùng vằng ngồi xuống. Nguyệt Lệ đã nhìn thấy hết sắc thái, cử chỉ của cô bác sĩ mập mạp có rất nhiều đường cong khêu gợi, và một đôi mắt rất lẳng này. Từ buổi đầu gặp Kim Oanh ở đây, Nguyệt Lệ đã không thích lối nói năng phóng túng, lắm khi như suồng sã của cô.
Ông viện trưởng lại vui vẻ, niềm nở:
- Nào, bây giờ chị Nguyệt Lệ cho biết ý kiến, chị muốn nhận công tác gì ở viện tôi nào?
Nguyệt Lệ mỉm cười nhỏ nhẹ:
- Báo cáo viện trưởng, xin cho tôi làm hộ lý.
Không phải chỉ như Kim Oanh lúc nãy, mà ông viện trưởng giờ đây cũng ngạc nhiên:
- Chị muốn làm hộ lý ư?
- Dạ vâng! Vì tôi không có chuyên môn. Tôi làm hộ lý có lẽ là hợp hơn cả.
- Nhưng...
- Thưa, tôi rất vui lòng và tự nguyện ạ.
Ông viện trưởng cắn môi suy nghĩ một chút rồi lại tươi cười:
- Thôi được, như thế này nhé: chúng tôi sẽ bố trí chị làm việc ở văn phòng. Chắc sổ sách thì chị quá quen rồi.
Nguyệt Lệ lắc đầu:
- Thưa, xin cứ cho tôi làm hộ lý. Thú thật tôi muốn được làm một việc gì đó trực tiếp hơn. Nếu làm sổ sách văn phòng thì tôi không xin ở lại.
Ông viện trưởng nhắm mắt, ngửa cổ lên, và mỉm cười. Kim Oanh, thừa lúc đó xen vào:
- Thì cô ấy đã có tinh thần cao đến như thế, viện trưởng cứ cho cô ấy làm hộ lý có sao đâu!
Như không nghe thấy Kim Oanh nói, thậm chí như quên không có Kim Oanh ở đây nữa, ông viện trưởng mở mắt ra, và nụ cười như càng rộng hơn:
- Vâng. Tôi đã hiểu. Vậy chị sẽ được như ý muốn. Tôi chúc chị sẽ làm cho các thương binh của tôi được vui hơn. Tôi mong và tin như thế.
Nguyệt Lệ hơi cúi đầu:
- Cám ơn viện trưởng. Tôi hy vọng rằng tôi sẽ không làm cho các anh thương binh phải phàn nàn vì tôi.
Kim Oanh nhìn Nguyệt Lệ bằng đuôi con mắt. Con bé này đúng là ương ngạnh. Hẳn là anh Hồng Đăng rất khổ vì nó. Mà khéo nó còn “hâm” nữa cũng nên. Không chịu đẻ, thích ở nơi bom đạn, lại còn muốn làm công việc vất vả, bẩn thỉu... Chắc là để làm “anh hùng”.
Ngay chiêu hôm đó, Nguyệt Lệ được đưa tới một lán thương binh nặng. Trong chiếc áo blouse trắng tinh, cô cùng cô Dậu, một nông dân Phú Thọ và cô Len, một cô gái Thái cùng đi đổ bô cho thương binh rồi giặt giũ gạc, băng. Sau đó, Nguyệt Lệ đứng bên một anh chiến sĩ trẻ có đôi mắt tinh nhanh và nghịch ngợm. Anh bị thương bó bột cả hai chân.
- Anh tên gì? - Nguyệt Lệ khẽ hỏi.
Anh thương binh tươi cười:
- Em tên Cốc, Cốc mò, chị ạ - Cái giọng xứ Nghệ vui vui.
Không riêng Lệ, mọi người chung quanh đều bật cười.
- Tên hay nhỉ!
- Báo cáo chị, em thì mò giỏi lắm. Bất cứ ai để quên cái chi ở đâu, đánh mất ở đâu, em mò được tất.
- Anh bị thương trận nào?
- Trận phản kích ở Pe Luông.
- Anh bị trong trường hợp nào vậy?
Cốc lại cười toe toét:
- Em có biết chi mô! Nghe đùng một cái, em chết liền. Sau lại sống. Nhưng tức hai cái chân quá, không sao chỉ huy được nữa. Em đành lết đi kiếm lựu đạn và súng cho anh em khác “oánh”. Nhưng pháo nó lại tấn tơi bời. Em lại chết. Đến khi sống lại lần thứ hai, thì đã thấy anh em xúm xít chung quanh. Anh cười anh khóc. Bảo: “Cốc ơi dậy mà mò, thăng rồi...”.
- Em ở đơn vị nào, của ai?
- Đại đội anh Noãn.
- Tiểu đoàn nào?
- Tiểu đoàn anh Dũng.
Cốc đáp xong chợt thấy gương mặt chị hộ lý xinh đẹp đang hỏi chuyện bỗng như tái đi.
- Anh Dũng... có sao không em?
- Không. Ấy, anh em họ bảo anh ấy đã phát hiện thấy em được xếp vào sổ tử sĩ, anh ấy cõng em về. Chị cứ hỏi chính trị viên em, anh Phạm Tá nằm ở cuối lán, anh ấy cũng biết đấy...
Nguyệt Lệ đi tới bên Phạm Tá. Anh đang nằm bất động. Cả hai chân cả hai tay anh đều bó bột. Toàn thân anh như một cây bột cứng nhắc.
- Anh dễ chịu không anh? - Nguyệt Lệ ân cần.
- Cám ơn chị, tôi đã khá hơn, nhưng vẫn chưa muốn ăn.
- Vậy chút nữa sẽ bón anh ăn nhé!
- Phiền cô quá.
- Ô nhiệm vụ của em mà anh!
- Cô mới đến thì phải?
- Vâng đây là buổi làm việc đầu tiên của em.
- Cô quê ở đâu?
- Em ở Hà Nội. Nhà tản cư lên Thái Nguyên.
- Cô tốt quá.
- Ô, em đã làm được gì đâu! Anh Tá, anh có biết anh Dũng chứ?
- Anh Dũng tiểu đoàn trưởng của tôi ấy à?
- Vâng.
- Cô là... thế nào với anh ấy?
- À, cũng là quen thôi. Trước kia anh ấy thường đi qua, uống cà phê ở quán nhà em. Trận vừa qua anh Dũng không sao chứ anh?
- Vâng. Anh ấy đi họp vắng. Trận địa gần mất hết, anh ấy mới về chỉ huy đánh lại. Giá mà có anh ấy ở nhà ngay từ đầu thì có nhẽ... không đến nỗi thiệt hại nhiều, và trận địa cũng không thể mất đến bốn, năm tiếng đồng hồ như thế...
- Nghe anh nói, em có cảm tưởng các anh quý anh ấy lắm thì phải.
- Đúng thế đấy. Nhưng ông này phải cái tính ngang lắm. Luôn tranh cãi với cấp trên, chẳng có sợ ai, chiến đấu như vậy, trình độ như vậy, như người ta có thể đã tham mưu trưởng trung đoàn hoặc trung đoàn phó cũng nên... Ngoài cái tính quá thẳng ấy, lại còn có chút mắc mớ về... lý lịch.
- Sao cơ, anh? Em không hiểu.
- Chẳng là anh ấy chiến đấu, qua nhiều chiến trường, nhưng giấy tờ lại đánh mất một số, nên cứ liệt vào loại “cán bộ chưa đầy đủ giấy tờ”. Đến dịp cải cách, lại còn bị một số đồng chí làm công tác cán bộ, bảo vệ nghi vấn là thành phần trí thức tư sản. Cũng lạ. Nhưng chẳng dám ai nói ra...
Nguyệt Lệ thở dài kín đáo. Phạm Tá tiếp tục cởi mở:
- Vì vậy anh ấy nhiều khi cũng buồn. À mà cô chưa gặp anh ấy hả?
- Chưa anh ạ.
Đáng lẽ còn tới nói chuyện với anh lính trẻ bị thương băng kín cả hai mắt mà tất cả thương binh trận phản kích đều hết lời ca ngợi, nhưng đã tới giờ ăn cơm, Nguyệt Lệ cùng các cô hộ lý phải vội vàng chạy xuống nhà bếp lấy các món ăn. Khi các cô đi khỏi, trong lán thương binh cùng nổi lên những tiếng lào rào. Anh khen cô hộ lý mới ăn nói dễ thương. Anh lại khen cô quá đẹp. Anh nhận xét con người ngà ngọc như vậy mà không nề hà cứt đái, máu mủ... Một không khí vui vẻ, ấm áp bỗng nhiên như bừng lên trong căn lán vốn khá tối tăm, lạnh lẽo, trầm lặng.
Tối hôm ấy, Nguyệt Lệ vào một căn hầm ngủ cùng với hai cô Dậu, Len. Căn hầm ẩm, lạnh, tối om. Nguyệt Lệ thao thức mãi. Cô nghĩ tới buổi tối ngủ ở hầm tiểu đoàn Lê Phong. Phải chăng ý định xin ở lại mặt trận phục vụ đã nảy mầm từ cái đêm vừa sợ hãi vừa có bao xúc động ấy? Thật vậy đêm ấy cứ băn khoăn: mình có thể đóng góp và nên đóng góp gì ở đây đối với các chiến sĩ? Cứ nghĩ đến khi trở về hậu phương với những công việc buồn tẻ hàng ngày trong rừng sâu, lại thấy quá ngán. Nhưng nếu ở lại đây, có thể sẽ gặp lại anh ấy, Nguyệt Lệ cũng đã lường trước trường hợp này. Sẽ tìm cách tránh thôi. Để cho anh khỏi tức giận và cả đau khổ, mà mình cũng không tan nát ruột gan. Có lẽ anh nói đúng: hãy quên đi, quên đi tất cả!... Tuy nhiên, cho tới hôm nay, đã yên công việc ở đây, nằm hai bên cô bạn mới, tâm hồn Lệ lại nôn nao, xáo trộn. Cô đã không thể dối lừa mình mãi: Cô vừa sợ gặp lại anh, nhưng cũng vừa phấp phỏng mong anh trở lại. Thật vậy, cô vẫn âm thầm mong ngóng được gặp lại anh trở về thăm thương binh ở đây, cho dù anh sẽ lại ném cho cô những lời cay đắng, căm giận; cho dù cô vẫn không thể nào giãi bày được tất cả mọi điều để mong được có sự cảm thông, chứ không bao giờ nghĩ tới sự trở lại...
Qua ngày hôm sau, lại vào buổi chiều, khi Nguyệt Lệ đang bón cho thương binh ăn, một anh y tá chạy vào vui vẻ:
- Chị Nguyệt Lệ ra có khách, mau!
Ngạc nhiên, Nguyệt Lệ hỏi lại:
- Tôi ư? Tôi có khách?
Rồi xin lỗi anh em thương binh, cô chạy vội vã. Nỗi hồi hộp làm cho chân cô líu ríu. Anh ấy chăng? Trời ơi, nếu vậy mình sẽ biết nói gì với anh, hay lại chỉ còn biết khóc? Hay là tránh đi? Ừ, hay là tránh đi như đã từng suy nghĩ? Nhưng sao lại tránh? Ôi anh yêu của em, làm sao em có thể dối lừa mãi mãi: em đã yêu anh, em vẫn yêu anh, và yêu đến trọn đời. Em không thể xa anh, em không thể thiếu anh, cho dù anh hắt hủi, xua đuổi em đến thế nào, em vẫn yêu anh, yêu anh như một định mệnh, như một chân lý...
Cô đã tới lán tiếp khách của viện. Nhưng không phải Dũng. Đất dưới chân cô như tụt hẫng. Hồng Đăng! Anh đang ngồi đó, mặt nặng trĩu. Ngẩng lên thấy Nguyệt Lệ, anh cất tiếng hỏi, cố cho thật dịu dàng và bình tĩnh:
- Em sao thế? Ốm đấy hả?
Nguyệt Lệ giấu một tiếng thở dài. Cô biết mặt mũi mình đang biến sắc.
- Không, có lẽ... hôm nay hơi lạnh anh ạ.
Hồng Đăng ngắm nhìn người vợ trẻ một mình. Không phải chiếc blouse với chiếc mũ vải trắng đã làm cho nàng như khác lạ mà do một cảm giác gì đó chính từ lòng anh đang dâng lên và lan tỏa, một cảm giác xa xôi, khó khăn, và buồn bã...
Thật vậy, ngồi gần nhau mà hơn bao giờ hết Hồng Đăng bỗng cảm thấy như nàng rất xa, quá xa, đến mức như không thể nào cầm bắt được nữa.
Anh lại cất tiếng hỏi với giọng khá mệt mỏi của một người đã cảm nhận thấy mình như bất lực:
- Nguyệt Lệ, anh tới thăm em, vì biết em đang ở đây. Anh cũng muốn hỏi em vì sao em quyết định ở lại mà không trao đổi trước với anh.
Hai bàn tay kẹp vào đùi, Nguyệt Lệ cúi nhìn xuống, tránh đôi mắt của Hồng Đăng:
- Ở mặt trận mà anh! Em làm sao tìm được anh dễ dàng. Em định rồi sẽ báo lại với anh sau.
- Nhưng em quyết định ở lại để làm gì?
- Chẳng lẽ anh lại không hiểu sao? Và chẳng lẽ anh không đổng ý cho em ở lại ư?
Hồng Đăng đỏ mặt. Cơn tức giận tưởng đã dẹp được, lúc này lại trỗi dậy. Anh không thể chịu được cái lối trả lời bằng những câu chất vấn trở lại đã quá quen thuộc của Nguyệt Lệ:
- Tôi hiểu chứ - Giọng anh như rin rín - Nhưng tôi hiểu còn hơn cả những lời cô muốn giải thích cho tôi.
Nguyệt Lệ vẫn bình thản:
- Vâng, anh hiểu như thế nào ạ?
- Thôi đi! Nên nói thẳng với nhau thì hơn. Tôi hiểu không thể nào đồng ý với thái độ của cô. Cô có hiểu cô tự ý như vậy, tức là cô quá coi thường tôi, cô xúc phạm tôi không?
- Anh nghĩ quá cho em. Sao lại xúc phạm ạ?
- Cô đã cư xử không đúng! Ít ra, muốn làm gì, có mặt tôi ở đây cô cũng nói với tôi một tiếng chứ. Và tôi cũng hỏi thẳng cô: có thật cô muốn ở lại vì chiến sĩ hay chính một người nào đó, mà cũng có thể chỉ một cái bóng nào đó?...
Đến lúc này Nguyệt Lệ dường như không chịu đựng được nữa, mặt cô càng mét xanh.
- Anh còn muốn nói những gì nữa không? Em thấy quá đủ rồi đấy.
- Tôi cũng không muốn nói nhiều. Tôi chỉ muốn cô hãy cho tôi biết sự thật việc này là như thế nào?
- Anh muốn nghe sự thật ư?
- Phải!
- Nhưng để làm gì? Sự thật chẳng phải điều gì cũng tươi hồng cả, anh chắc biết.
- Nhưng tôi không muốn sống mãi trong tình trạng như thế này. Vì vậy tôi muốn chúng ta hãy nói thật với nhau...
Nguyệt Lệ bỗng rớm nước mắt. Lặng đi một chút, rồi cô cất tiếng, hết sức buồn bã:
- Thôi được, có lẽ đây cũng là dịp dể em có thể nói được với anh một vài điều mà trước dây em không bao giờ dám nói, chỉ vì muốn có sự ổn định, và vì em vẫn luôn tôn trọng và ghi ơn tất cả những gì anh đã đối xử với gia đình em và em, không phải trước kia mà ngay cả bây giờ. Nhưng có lẽ anh không hiểu hoặc cố tình không hiểu điều ấy. Anh vẫn như một ông chủ và một ông chủ quá tự tin, quá thỏa mãn. Tình yêu của anh là có thật, em biết. Nhưng đó là tình yêu của một ông chủ. Tình yêu ấy có thể đến mê muội nữa kia nhưng vẫn là của một ông chủ... chỉ cần nhắc một việc nhỏ ngay trước mắt: nếu không xin phép anh, mọi hành động dù đúng cũng sẽ trở thành bậy bạ, và là sự xúc phạm tới quyền uy của anh. Nhưng nếu như hỏi trước anh, chỉ cần một câu có lẽ anh sẽ hoan hô em và em lại... muốn gì được nấy. Anh ạ. Những chuyện như thế không ít đâu anh, suốt hai năm qua, chắc anh vẫn còn nhớ...
Mặt Hồng Đăng từ đỏ chuyển sang tím. Từng lời của Nguyệt Lệ như những giọt a-xít bắn vào trái tim anh. Anh gần như gầm lên, dù nho nhỏ giữa hai người:
- Thôi đi! Ôi té ra tất cả tình yêu của tôi đã được đền đáp như thế này đây...
- Không, em vẫn và mãi mãi biết ơn anh, nhưng quả là em thấy anh đã khác trước, khác với hình ảnh anh chiến sĩ hào hùng, tươi đẹp khi ở mặt trận trở về... Nay anh đã trở thành ông quan, ông quan cách mạng với những điều không phải là hoàn toàn tốt đẹp cả.
- Thôi đi! Đã bảo thôi đi! Thì ra cô đã nhìn tôi xấu xa đến như thế...
Nguyệt Lệ như đã thực sự nổi loạn, cô như say đi, không cần giữ gìn gì nữa, nói tiếp:
- Em xin anh tỉnh táo lại. Sự thiếu tỉnh táo của anh rõ nhất trong việc anh nhìn nhận về những gì em đã nghĩ khi quyết định ở lại. Lần này thì lòng ghen tuông đã làm anh không còn sáng suốt và làm cho anh trở nên vừa yếu đuối, thiếu tự tin, vừa đen tối cả trong lòng nữa.
- Nguyệt Lệ, cô thóa mạ tôi đấy ư? Trời ơi, cô thóa mạ tôi!...
- Anh muốn biết rõ sự thật cơ mà! Em đã nói với anh là không phải bất cứ sự thật nào cũng đẹp đẽ và đáng nói cả...
Một anh y tá vừa từ ngoài bỗng chạy vào, vô tình cắt đứt cuộc đối thoại bi thảm giữa hai vợ chồng:
- Báo cáo đồng chí, viện trưởng được tin đổng chí ghé qua, viện trưởng cho tôi mời đồng chí vào chơi.
Nhợt nhạt, đứng dậy, Hổng Đăng khoát tay trả lời anh y tá:
- Thôi cảm ơn! Tôi phải đi ngay đây. Nói với viện trưởng để khi khác.
Rồi anh lảo đảo bước ra ngoài. Cần vụ Mạn vẫn ôm cây súng với chiếc ba lô to đùng nhẫn nại ngồi chờ ở trạm gác. Nguyệt Lệ cũng cúi đầu, quay trở vào khu lán thương binh. Vừa đi cô vừa lau những ngấn lệ còn ở nơi mắt. Tâm hồn cô vẫn còn bàng hoàng như vừa trải qua một cơn liều lĩnh, cơn liều lĩnh mà cô không hề định trước...
Tối hôm đó, Nguyệt Lệ cáo mệt, đi ngủ sớm. Một mình cuộn trong chiếc chăn mỏng, cô trằn trọc. Cuộc nói chuyện với Hồng Đăng hồi chiểu vẫn còn nặng trĩu trong lòng. Nói ra những điều không vui ấy, cô cũng chẳng sung sướng gì. Tuy nhiên, Nguyệt Lệ cũng không hề hối tiếc về tất cả những gì mình đã nói. Chợt có tiếng chân người chạy ở phía bên ngoài. Rồi có tiếng lao xao:
- Lệnh chuẩn bị phòng mổ sẵn sàng, biết chưa?
- Bà Kim Oanh lại chạy đâu không biết, tệ thật!
- Đêm nay lại có đánh lớn ở cánh đồng phía tây, trên báo như vậy.
Nguyệt Lệ nhỏm dậy. Lại có tác chiến thật ư? Quả nhiên, chỉ một lúc sau đã nghe thấy tiếng trọng pháo từ xa xa dội về mỗi lúc một nhiều. Nguyệt Lệ tung chăn, chạy ra ngoài. Thấp thoáng qua các vòm lá, cả một vùng trời phía tây đỏ rựng như đang có những đám cháy lớn. Cô Dậu và cô Len cùng chạy về.
- Đêm nay lại có đánh ở ngoài ấy phải không các chị? - Nguyệt Lệ hỏi.
- Vâng, trên bảo thế! Sớm mai thế nào cũng có thương binh dưới đó đưa về.
Mờ sáng hôm sau, quả nhiên, đã có cáng thương rình rịch ở phòng tiếp nhận. Nhưng không nhiều, chỉ có hai ca: một ca sọ não và một ca ở phần bụng phải làm đại phẫu. Thương binh nhẹ, để cả dưới trạm quân y đại đoàn giải quyết.
Thương binh được đưa vào phòng mổ ngay. Nguyệt Lệ chạy theo. Một anh cán bộ trẻ của đơn vị đi cùng các cáng thương, ngồi im lặng hút thuốc lá, chờ đợi ở hầm phía ngoài. Nguyệt Lệ rón rén đến bên anh:
- Đêm qua các anh đánh ở đâu thế ạ?
- Báo cáo với chị, cũng gần chỗ đánh lớn hôm nọ thôi. Nhưng đêm nay khác.
- Khác là thế nào anh? - Nguyệt Lệ hồi hộp.
- Lần trước là nó đánh mình trước. Lần này là đơn vị chúng tôi chủ động ra phục kích chúng. Nhỏ thôi, nhưng lại thắng lớn chị ạ.
- Các anh ở đơn vị nào thế?
- Tiểu đoàn anh Dũng.
Ôi... Nguyệt Lệ suýt bật kêu lên. Anh cán bộ vui miệng kể tiếp:
- Chả là thế này chị ạ, sau trận trước, hai ngày củng cố xong đơn vị lấy lại khí thế cho quân ta, và cũng là tích cực phòng ngự, không để bị động như trước. Ông Thâu trung đoàn trưởng của chúng tôi cho là cay cú, không đồng ý. Hai bên tranh cãi khá gay gắt. Sau, thường vụ Đảng ủy trung đoàn hội ý và nhất trí cho đánh. Anh Dũng trực tiếp tổ chức trận này, đi cùng đại đội anh Lanh. Trận đánh chỉ có trong vòng hơn hai mươi phút mà diệt gọn một đại đội tuần thám. Diệt gọn, lại bắt được cả tù binh nữa. Mà thương vong lại quá ít: chỉ có hai đồng chí bị pháo nặng đưa lên đây, còn ba đồng chí nhẹ để cả dưới đại đoàn.
Nguyệt Lệ thở trút. Cô từ từ cầm lấy bàn tay anh cán bộ trẻ, như cầm tay một người bạn thân thiết từ lâu. Anh cán bộ ngạc nhiên, lúng túng, không biết nên rút tay lại, hay cứ để nguyên? Anh chỉ còn biết trố mắt nhìn cô hộ lý không chớp.
Cũng mờ sáng hôm ấy, ở đại đội của Lanh xồm, bốn tên tù binh vẫn còn ngồi đó chờ người tới giải lên đại đoàn. Một thiếu úy ngụy, một trung úy lê dương Pháp và hai lính lê dương người gốc Đức.
Viên thiếu úy ngụy mặc đồ dù loang lổ bó chẽn lấy người, đầu trần, tóc bết đất, mặt nhợt nhạt. Hắn được gọi vào một căn hầm. Hắn run rẩy khom người bước vào, đứng nghiêm lại trước một người tầm thước nhưng rắn chắc, mặt cháy nắng, có một vết sẹo ngang trên gò má trái, đang ngồi trên mấy thùng đạn.
Dũng đã hỏi cung mấy tên người Âu xong. Anh đưa cho viên thiếu úy ngụy một điếu thuốc lá. Hắn lấm lét, sợ hãi đưa cả hai tay ra:
- Con xin đa tạ ông.
- Hút đi! Anh rét lắm hả? Đơn vị nào?
- Trình ông, con thuộc tiểu đoàn 8 dù ngoại quốc, hoặc 6 gì đó, thú thật con cũng không nhớ rõ nữa.
Dũng chau mày:
- Sao lại không nhớ rõ?
- Trình ông, con cũng mới bị ném xuống đây có vài ngày. Họ đưa con vào tiểu đoàn nào con cũng chưa kịp biết thật đích xác. Con vốn là bảo an, chứ có phải quân dù đâu. Họ vét quân ở các nơi, cho tập có vài buổi, thế là ném xuống đây luôn.
- Bảo an? Vậy trước khi lên đây anh ở đâu, đơn vị nào?
- Trình ông, con đóng ở bốt Gia Lộc - Hải Dương...
- Gia Lộc? - Dũng ngạc nhiên, ngắt lời viên thiếu úy.
- Bẩm, vâng ạ.
Dũng không ngờ anh lại bắt được một tên ở chính quê hương mình. Một cảm xúc rất lạ dội lên trong lòng anh.
- Vậy chắc anh biết rõ mấy làng ở ngay quanh đó?
- Trình ông, có. Chúng con thỉnh thoảng vẫn về đó lục soát và thu gà lợn.
Dũng chăm chú và hồi hộp. Anh cứ tưởng đã quá lâu rồi mình không còn biết thế nào là hồi hộp.
- Vậy anh có nghe, hoặc có biết ai là cụ Tú An không?
- Bẩm có ạ. Cụ Tú là người bốc thuốc, xem cả tử vi, cả vùng ai mà chẳng biết cụ. Cụ còn dạy cả chữ Hán, nhưng bây giờ không có ai học chữ Hán nữa.
Một cái gì đó càng như trào lên trong trái tim anh. Dũng hỏi tiếp:
- Anh có biết ông cụ và gia đình bây giờ sống ra sao không? Cứ nói thực. Không sao cả...
- Trình ông, vừa rồi con được lệnh tỉnh trưởng đem tới cho cụ lá thư và một lá số. Cụ xem qua rồi đuổi về.
- Cụ ra sao?
- Trình ông, cụ gầy lắm. Nhà tranh vách đất. Cụ không làm việc cho bên nào cả, nên không có ai đụng tới cụ.
- Thế hả?
Viên thiếu úy bỗng như cảm thấy có chuyện gì đó có thể như một mối liên hệ giữa người sĩ quan đang hỏi chuyện hắn với ông cụ nhà nho nổi tiếng khí khái và ngang bướng nọ. Hắn bạo dạn nói tiếp, cũng có ý thăm dò:
- Trình ông, ông cụ có một người con bên kháng chiến cũng vì vậy trên đồn, dù không đụng gì đến cụ, nhưng vẫn cứ có lệnh giám sát.
Dũng cúi đẩu, dụi mẩu thuốc lá, như để giấu những xúc động có lẽ đang xáo trộn trên mặt mình. Anh mồi tiếp điếu khác.
- Tôi hỏi lại: Ông cụ vẫn còn sống chứ?
- Bẩm vâng. Sống chứ ạ.
- Còn bà cụ?
- Cũng còn sống cả. Không có cụ bà trông nom, cụ ông cũng khổ.
- Còn những người con?
- Bẩm có một người hồi cư về, dạy học ở làng, còn một người khác nữa bị bắt lính hồi 1950, sau lại bị bên kháng chiến bắt ở Phát Diệm, rồi thả về. Bây giờ đánh xe bò thuê kiếm sống. Cũng nghèo lắm.
- Thôi được, cho anh ra. Có người đưa anh về nơi tập trung kia rồi. Anh cứ yên tâm, chúng tôi không xử xấu với tù binh bao giờ. Chỉ cần một điều: các anh phải thành thật.
- Dạ xin đa tạ ông.
Dũng vẫn còn ngồi lại trong hầm, đôi mắt mênh mông. Anh lại đốt tiếp một điếu thuốc. Vui buồn như sóng ở trong lòng.
Cha ơi, mẹ của con ơi, không ngờ cho đến bây giờ con mới được tin về cha mẹ. Vui sướng và cũng nhớ thương không biết chừng nào. Xin hãy tha thứ cho con, từ khi lớn lên, chiến tranh bùng nổ, con đã sớm phải ra đi. Con không báo hiếu được chút nào cho cha mẹ, không dược ở bên người để phụng dưỡng lúc tuổi già sức yếu. Ra đi, con mới chỉ làm được một phần nghĩa vụ đối với Tổ quốc, nhưng với cha mẹ và gia đình thì như thế đẩy. Không những thế, vì con mà cha mẹ còn luôn luôn như bị một lưỡi gươm tàn bạo của quân thù treo lơ lửng ở trên đầu. Thêm nữa, tám năm ra đi, nhiều lúc vui anh vui em, mải mê chiến đấu, và gần đây lại héo khô đi vì mối tình đẩu bị phản bội, con đã có lúc dường như quên đi mình đã có mẹ cha, đã có cả một gia đình dù nghèo khó nhưng xiết bao thân thương. Thật vậy, nhiều lúc đã quên đi cả thời thơ ấu của mình được sống bên mẹ cha để nghe những lợi dạy bảo về nhân nghĩa, về tình thương yêu gia đình, bè bạn và làng xóm... những điều mà giờ đây tưởng chừng như không còn mấy ý nghĩa trong cuộc sống chiến tranh quá khắc nghiệt này. Biết đến bao giờ con mới được trở lại? Nếu còn sống, con sẽ về bên cha mẹ để cố làm lại những gì mình chưa làm được với gia đình. Nhưng có một điều là chắc chắn con sẽ không bao giờ làm được, ấy là ý nguyện của cha, từ khi con còn nhỏ, là lớn lên con sẽ làm bác sĩ, hoặc thầy thuốc để cứu nhân độ thế, nối nghiệp cha. Không, con sẽ không thể làm cha được toại nguyện về điều ấy. Nếu còn sống trở về, con sẽ chỉ là một đứa con thay đổi quá nhiều, và cũng đã quá nhiều thương tích cả trong phần xác lẫn hồn. Cha ơi...
Suốt đêm ấy, Dũng không sao ngủ được.