Dịch giả: Hoàng Phương

Phải Sống

Lượt đọc: 381 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 8
TRONG HANG HÙM – 1969

❊ ❊ ❊

Ngay cả chiến binh cũng cần nghỉ ngơi thư giãn, và đối với những người lính Mỹ, Nha Trang là nơi tuyệt vời với bãi biển rộng lớn óng ả, những cơn sóng vỗ rì rầm, không khí biển mát lành từ biển Đông. Đó là điểm đến của chúng tôi, nhưng trước khi đến Nha Trang, chúng tôi phải tạt về nhà để đón những thành viên còn lại ở Phú Nhuận.

Bà ngoại vẫn không thay đổi một chút nào. Anh Quang thì cao hơn và trông có vẻ khỏe khoắn. Em Thủy vẫn bám dính lấy đầu gối của bà, hoặc trốn trong đồ đạc hoặc cây cối nhưng ngay khi biết chúng tôi đã ở trước cửa, em không còn nhát nữa và chào đón chị của em trở về. Thật tốt quá! Hoàng và tôi trở thành những người khách nhiều chuyện trong khi dượng Al và dì Thu đi săn nhà ở Nha Trang. Thêm một năm nữa và một căn nhà khác! Có lẽ chúng tôi sẽ may mắn thuê được căn biệt thự với hàng xóm hào phóng như Alice – mà không có máu và đạn – nhưng tôi cũng không dám tin lắm. Những gì tôi tin là, lần đầu tiên trong năm năm sau khi Ba Mẹ mất, tất cả con cái của Ba Mẹ tôi sẽ ở cùng một nơi. Bà rất vui. Lúc đó đang là giữa hè nhưng chúng tôi có cảm giác như thể đang trong mấy ngày Tết.

Cuối tháng Sáu, dượng Al và dì Thu thuê một căn nhà hai tầng gần bãi biển. Nhà đủ rộng cho tất cả mọi người nên chúng tôi giúp bà, em Thủy và anh Quang dọn đi để bác Chiêu và bác Quế dọn về ở hẳn tại Nhà Gạch – một sự đoàn tụ mà tôi và Thủy không buồn nhớ tới.

Ngôi nhà ở Nha Trang đối mặt với con đường huyết mạch vào Sài Gòn, vì vậy mặc dù sống gần biển nhưng chúng tôi vẫn cảm thấy như thể đang sống ở thành phố. Dân tình và lính tráng thường xuyên kéo đến đây, và ở đâu có người qua lại thì ở đó hàng quán, khách khứa tấp nập. Mọi người lũ lượt kéo đến hoặc rời đi. Một số như những linh hồn lạc lối, chỉ tạt ngang qua, chào bán thứ này thứ kia, gõ cửa nhà bạn chỉ để tìm kiếm người thân hay để xin ăn. Ngoài không khí biển mát lành, điều tốt đẹp nhất khi ở đây là lần đầu tiên trong năm, bà ngoại không còn lo lắng tìm cái ăn cái mặc cho đám cháu của mình – hay không cần phải bảo vệ chúng tôi khỏi chiến tranh tàn bạo. Vì dượng Al được người Mỹ trả lương rất hậu, dượng có thể thuê một người giúp việc và một đầu bếp, và dì Thu lại làm bà chủ như hồi dì có người ăn kẻ ở bên Philippines.

Bà ngoại lại có cơ hội đóng vai phu nhân quyền quý, để người khác phục vụ mình. Bà vui vầy với con cháu thay vì phải phục vụ chúng. Đổi lại, chúng tôi có một người bà đủ thư thả để dạy cho chúng tôi điều này điều kia ngoài kỹ năng biến thức ăn đủ nấu một bữa thành một tuần hay kỹ năng sống sót trên đường phố. Bà dạy chúng tôi về lễ nghĩa cũng như sự chịu đựng, biết quan tâm chăm sóc người khác cũng như biết chăm lo cho bản thân mình, và biết ơn công lao của những người đã giúp mình. Bà là một người phụ nữ chu đáo và giỏi giang.

Do ở rất gần một căn cứ Mỹ khác nên dượng Al thường mang về cho chúng tôi những thứ như táo Washington, cam Florida hay bưởi từ vùng Tây Nam mà dượng có thể dễ dàng lấy được ở một nơi gọi là “Exchange”[5] hay ở phòng ăn nơi dượng kết bạn với người quản lý phục vụ. Và đôi khi kết quả của tình bạn thân thiết ấy của dượng là số trái cây thừa mứa chúng tôi ăn không hết, vì vậy chúng tôi thường đem chia cho những người hàng xóm và cả gia đình chủ nhà. Chúng tôi rất vui với cách giải quyết này và dĩ nhiên họ cũng vậy. Đây chỉ là những hành động nhỏ nhưng những chuyện lặt vặt trong cuộc sống mà chúng tôi làm cho nhau cũng thể hiện tình làng nghĩa xóm và đẩy bật đi những hoài nghi chính trị. Tuy nhiên, bên ngoài chốn đây, thế giới là một nơi khác biệt.

Tôi nghĩ dì Thu sẽ cho những đứa trẻ lớn chúng tôi đi học ở một trường công gần nhất, nhưng không như thế. Tôi không hỏi lý do – một phần vì tôi vẫn còn nhớ kinh nghiệm đau thương của mình ở Philippines, và phần nữa là vì ba mẹ luôn là người ra quyết định. Chẳng ích gì khi cố đoán ý người lớn. Nhưng hóa ra lý do thật sự còn phức tạp hơn sự thờ ơ thường thấy của dì đối với chuyện học hành. Đầu tiên, công việc ở công ty của dượng Al chỉ là tạm thời, vì vậy chúng tôi chỉ thuê nhà trả theo tháng, nếu chúng tôi ghi danh đi học và phải rời khỏi ngay lúc mới bắt đầu thì cũng không được lợi lộc gì. Quan trọng hơn thảy, mặc dù Nha Trang là một điểm nổi tiếng về R&R[6] nhưng cuộc chiến đang đến gần. Đêm đến, những tiếng nổ ở đằng xa và tiếng súng thi thoảng vọng lại phá ngang giấc ngủ của chúng tôi, và dù chưa có cuộc đánh nhau hay cướp bóc nào diễn ra trong thành phố, người lớn cũng thường giữ lũ trẻ quanh quẩn gần bên. Chúng tôi chỉ được phép chơi trong nhà hoặc ở nhà hàng xóm sát bên và không bao giờ được phép ra ngoài bãi biển nếu không có người lớn đi kèm. Những chuyến phiêu lưu với biển xanh cát trắng chỉ được thực hiện vào cuối tuần khi dượng Al và bè bạn nam giới của dượng có thể đi cùng chúng tôi. Những chuyến tham quan này thường biến thành bữa tiệc bãi biển hoành tráng với thịt nướng ngoài trời, bia và nước ngọt. Trong một bữa tiệc như vậy, tôi đã thử uống nước ngọt có ga – một lon Dr Pepper. Vị ngọt và ga lên tới não khiến tôi không nuốt nổi, nhưng cũng giả vờ như ngon lắm. Khi không ai để ý, tôi đổ cả lon nước xuống cát. Anh Quang thì cực giỏi chuyện uống nước ngọt, anh thường ợ to để chúng tôi cười lớn, nhưng đó là mùi vị và một khả năng tôi không đời nào học được.

Việc không đến trường, có nhiều thời gian rảnh, cộng thêm bị nhốt cả ngày trong nhà đã khiến cả lũ nhàn cư chúng tôi bất thiện. Anh Quang và tôi thường là những đứa đầu têu, với em Hoàng phụ tá. Khi vừa đến ở chẳng bao lâu, em dùng cây ná dượng Al cho để bắn vào cửa kính của một cửa hàng bên kia đường. Dì Thu bồi thường cho người chủ tiệm và tịch thu luôn vũ khí, nghiêm khắc bảo chúng tôi phải ngoan. Nếu chàng hoàng tử thương yêu của dì có thể hành động dại dột như vậy thì lũ nghịch như quỷ chúng tôi có thể làm được những trò gì nữa? Dì chẳng cần đợi lâu để biết được.

Đám chúng tôi thường phải ngủ trưa ở phòng ngủ trên lầu. Như những đứa con ngoan ngoãn, sau bữa trưa chúng tôi lũ lượt kéo lên lầu và chờ cho đến khi người lớn bận rộn, anh Quang và tôi bày ra trò gì đó để chơi. Sự lựa chọn đầu tiên của chúng tôi là ra ngoài ban công nhìn người qua lại, ném trái cây hư vào xe cộ trên đường – một trò dại dột, tôi biết chứ, nhưng với những đứa nhỏ đang rảnh rỗi mà không biết làm gì, những phép tắc được lập ra là để phá bỏ, như những tấm cửa kính vậy.

Giờ trưa luôn là lúc đông người qua lại nhất, và một ngày nọ, chúng tôi thấy vài học sinh lớp lớn đang đi bộ đến buổi học chiều. Chúng tôi đang có mấy quả táo hư mềm nhũn từ số trái cây dượng mang về tuần trước, nên chúng tôi thấy ngay cơ hội của mình. Đi đầu trong nhóm học sinh là một nữ sinh cấp ba xinh xắn, chị mặc một chiếc áo dài trắng và đội nón lá.

Luyện tập bắn trúng mục tiêu - Nha Trang

“Anh ném trước,” tôi khiêu khích anh Quang.

Những nữ sinh này đang đi ngay bên dưới chúng tôi thì anh Quang đột ngột nói, “Không, em trước.”

Vì thế, khi tấm lưng của chị nữ sinh này trong tầm ngắm, tôi ném mạnh, không nghĩ sẽ trúng. Thay vào đó, cú ném đầu tiên của tôi rơi bẹp vào vành nón lá, táo thối bắn tung tóe xuống áo dài của chị.

Trong một khắc, tôi bụm miệng cười rồi đắc ý đánh vào cánh tay anh Quang một cái, nhưng anh đã nằm sát xuống nền vì hàng chục con mắt đang ngước lên, nhìn về hướng của chúng tôi. Tôi cũng nằm rạp xuống sàn.

Chuyện xảy ra tiếp theo cũng tồi tệ như việc phải chờ cho bom đạn ngừng vào Tết năm đó. Nạn nhân không la hét. Chị không chửi mắng cũng không bắt tôi phải lộ diện để đánh cho một trận. Chị chỉ tức tưởi khóc trong vòng tay của mấy người bạn đang cố gắng an ủi chị. Rõ ràng đây là một ngày đến trường quan trọng, buộc phải mặc áo dài, và tôi vừa mới làm dơ nó. Tôi nghe thấy chị quay ngược trở lại, trong khi bạn bè mình thì chạy vội đi vì không muốn trễ học. Tôi không biết chị là ai hay ngày đặc biệt tôi vừa phá hoại là ngày gì, nhưng tôi cảm thấy mình hư hỏng còn hơn trái táo hư trên vệ đường. Tôi đã biết về quả báo từ người bạn cũ – Trúc – khi tôi vẫn còn đeo mẩu vải đen và được người mẹ tốt bụng của bạn cho ăn trưa. Tôi đang tự hỏi số phận sẽ làm gì tôi với trò đùa hèn nhát và ngu xuẩn này. Rồi, tôi nhớ lại số phận may rủi kỳ lạ trước kia của mình, tôi quyết định rằng tốt nhất là không nên biết trước.

Việc bị nhốt trong nhà cũng có mặt sáng của nó. Tôi có thời gian để học nấu nướng từ dì Thu, và đặc biệt là từ bà ngoại. Dượng Al thích thịt nướng nên dì hay giao cho tôi nhiệm vụ làm nước chấm. Dì chỉ cho tôi cách thái mỏng thịt heo, thịt gà, nêm vào chút nước mắm, rắc vào ít đường và các gia vị khác. Tôi biết bí mật của thịt xiên nướng là xiên những miếng thịt nhỏ vào que thật vừa đủ để chúng chín đều. Mặc dù dì hiếm khi hài lòng với bất cứ việc gì tôi làm nhưng bếp trưởng Al lại thích và không phản đối, đó mới là điều quan trọng nhất.

* * *

Ở Nha Trang, sống theo lối sống trung lưu thoải mái là điều gì đó mới mẻ và khác lạ mà thậm chí giờ đây khi nhớ lại, tôi vẫn có cảm giác không thực và gần giống như được sống ở một thế giới khác. Ở đó, tôi bắt đầu một mối tình dài lâu với những bãi biển, trò lướt sóng, và những cơn gió biển mát lành. Kể từ khi Mẹ mất tới giờ, đây là lần đầu tiên tôi thấy bà ngoại tươi cười vui vẻ và mãn nguyện với cuộc sống. Đây là khoảng thời gian nghỉ ngơi xứng đáng cho bà vì bà đã trải qua những năm dài khó khăn, hiểm nguy và đáng sợ. Không ai trong chúng tôi bị đói và chúng tôi không bị tác động bởi nỗi sợ hay chiến tranh. Trong lúc này đây, cuộc đời thật tốt đẹp biết bao!

* * *

Năm 1970, sáu tháng sau khi đến Nha Trang, chúng tôi rời khỏi đó. Công ty của dượng Al chuyển dượng đến căn cứ Mỹ lớn nhất ở Việt Nam – Long Bình Biên Hòa, hoặc gọi ngắn là Long Biên theo như các lính Mỹ vẫn thường gọi – cách Sài Gòn hơn 30 cây số. So với Nha Trang thì đây là một nơi ồn ào, náo nhiệt và rất gần với Đô thành, tất cả chúng tôi đều hít một hơi thật sâu, chuẩn bị tinh thần để trở về với thế giới của chiến tranh và lo âu.

Ngôi nhà chúng tôi thuê nằm trong khu dân cư ở Thủ Đức, cách đại lộ chính một khu nhà nên không quá ồn ào, nhưng dượng Al phải mất ba mươi phút mới tới được chỗ làm. Ngôi nhà này nhỏ hơn nhà ở Nha Trang nên bà ngoại, em Thủy và tôi phải cùng ngủ trong một phòng. Bubba và anh Quang ở một phòng khác, còn dượng Al và dì Thu ở phòng còn lại. Dù nhà được xây theo kiểu khác nhưng ít nhất chúng tôi cũng có phòng tắm trong nhà nên rất biết ơn vì điều này. Dù gì thì những đại gia đình người Việt rất giỏi trong chuyện dùng chung phòng tắm hay nhà vệ sinh.

Chúng tôi dọn đến Thủ Đức cũng là lúc học kỳ mới bắt đầu, và vì dượng Al có ý định sẽ ở đây lâu dài nên tôi hỏi dì Thu về chuyện đi học. Dì giảng cho tôi một bài, nói rằng chuyện học thức của con gái chẳng liên quan gì đến “con đường làm mẹ,” và ngoài ra, với việc lưu trữ sổ sách cẩu thả của chính quyền thời đó cộng với giấy tờ khai sinh lộn xộn của chúng tôi, làm sao người ta biết được chúng tôi thuộc cấp lớp nào. Thế là không ai đả động đến chuyện đi học nữa, cho đến một ngày nọ, cậu Hải đến.

Vì Thủ Đức cách trạm Hải quân của cậu không xa nên cậu là người họ hàng đầu tiên ghé thăm chúng tôi. Cậu nhắc dì Thu nhớ rằng Mẹ tôi rất coi trọng việc giáo dục cho con gái và nếu dì Thu và dượng Al không thể nuôi chúng tôi như mong muốn của Mẹ thì họ nên đưa chúng tôi vào trại trẻ mồ côi để chúng tôi còn được đi học. Với sự hậu thuẫn của bà ngoại, dì Thu cũng nhượng bộ và đưa chúng tôi đến một trường dòng cách nhà khoảng nửa tiếng đi bộ. Khi chúng tôi trở về, tôi được nhận vào lớp Ba, anh Quang lớp Năm, còn em Thủy lớp Một. Tuy “con đường làm mẹ” không hẳn bị đẩy lùi, nhưng ít nhất tôi cũng có thể quay lại với thế giới của sách vở và bút viết.

Người họ hàng nữa đến thăm chúng tôi là bác Chiêu, trừ dượng Al thì ai cũng lo lắng khi gặp bác. Rõ ràng là bác Chiêu đã chia tay với bác Quế – thêm một lần nữa – và bác đến Thủ Đức hầu như mỗi tuần để khoe chiếc mô-tô hiệu Honda đời 1967 và cô bồ mới của mình. Vì dượng Al phải đi xe công để di chuyển và những chuyến đi đó ít khi nào chúng tôi được theo cùng nên lũ chúng tôi liền chớp thời cơ để đi nhờ xe bác Chiêu đến chợ, đến trường hoặc thậm chí đến những vùng ngoại ô xa Bắc Sài Gòn để ăn hàng hoặc ngắm cảnh. Cách xếp chỗ ngồi của chúng tôi trên xe hẳn không đời nào được một bậc phụ huynh cẩn trọng đồng tình. Bác Chiêu ở vị trí lái xe, cô bồ của bác ngồi sau, còn đám chúng tôi có thể chen vào trên hay vào giữa, bất cứ chỗ nào có thể nhét vừa – chỗ bình xăng, chỗ hành lý, trên thanh chắn sốc ở bánh trước. Chúng tôi trở về sau những chuyến đi như thế này chỉ với vài vết trầy và định kiến của chúng tôi về bác Chiêu bắt đầu thay đổi. Bác trở thành một “người bác vui tính.”

May mắn là dượng Al thường mời bác Chiêu tham gia cùng trong những buổi “team building” vào cuối tuần mà dượng tổ chức cho nhân viên của mình. Dì Thu thường tất bật chuẩn bị hàng núi đồ nướng cho những buổi như vậy, và tôi thường xung phong giúp dì. Nhìn mọi người nói cười và uống bia, tôi thường nhớ về nhà hàng ở Philippines của dượng, dù tôi vẫn còn ám ảnh cảnh những người đàn ông mang súng nhảy xổ vào – lần này thay vì những gã găng-tơ sẽ là những người lính từ miền Bắc. Dù việc bắn phá vẫn chưa xảy ra ở Thủ Đức, nhưng đây vẫn là vùng chiến. Tiệc tùng thường kết thúc với phân nửa những người đàn ông say xỉn bắt đầu nhảy múa vũ điệu con voi trong sân của chúng tôi hay trên đường. Tôi thường hơi khó chịu khi khách khứa say xỉn tới mức này nhưng ít nhất là họ đang vui vẻ.

Ở gần căn cứ Hải quân của cậu Hải, chúng tôi còn được mợ Nga viếng thăm thường xuyên, đây là vợ của cậu Hải và tôi ít gặp mợ trong những năm trước. Cậu Hải gặp vợ mình khi đang đóng quân ở Cần Thơ vào năm 1967 và giờ họ sống gần chỗ làm hiện tại của cậu ở bến Bạch Đằng, Sài Gòn. Mợ Nga có vóc người nhỏ bé, lịch sự và là người nết na, thùy mị.

Con gái của cậu mợ còn rất nhỏ so với chúng tôi: Tâm hai tuổi, Yến một tuổi, và Sương vẫn còn là một em bé. Bởi vì một người thì khó lòng chăm nổi bầy con nheo nhóc này nên mợ Nga thường ở với chúng tôi khi cậu Hải ra khơi. Lũ trẻ rất đáng yêu nên Thủy và tôi rất thích chơi đùa và chăm sóc chúng, nhưng mợ Nga cũng giống như người chồng sạch sẽ láng lẫy của mình thường xuyên nhảy dựng lên khi chúng làm bẩn quần áo, cho đồ bẩn vào miệng hay chạm vào những thứ bẩn thỉu – bao gồm chúng tôi. Ban đầu, chuyện này làm tôi hơi tự ái một chút, khiến tôi nhớ tới cái cách mà cậu Hải xua tôi đi trong lần đầu tiên cậu ghé thăm Nhà Gạch trước khi đưa tôi đến chợ Bến Thành. Lúc đó, cậu đang mặc một bộ đồng phục Hải quân trắng sạch thì chuyện này cũng hợp lý thôi. Dù bà ngoại đã cố gắng hết sức để nuôi dạy chúng tôi thật tốt, nhưng chúng tôi chỉ là trẻ con, mà trẻ con thì hay lấm bẩn và lem luốc khi chơi đùa, lúc chạy nhảy hay trèo cây. Tôi nghĩ vì mợ Nga là người xinh đẹp và kỹ tính nên chỉ muốn giữ các cô em họ của tôi thật gọn gàng, sạch sẽ. Bà ngoại bảo với tôi, “Ôi dào, vài người mẹ thường thế,” nhưng tôi nghĩ cũng có thể là mợ Nga coi chúng tôi là lũ mồ côi dơ bẩn – một vết nhơ mà nhiều năm trước tôi biết là không gì gột sạch.

Quay trở lại lớp Ba làm tôi nhớ lý do vì sao tôi lại yêu thích trường học đến vậy. Một lần nữa, tôi đóng bộ áo sơ mi trắng và váy màu xanh, giống như Ba thường mặc bộ quân phục cũ khi ông về thăm nhà. Lần này, tôi không còn là chiến sĩ đơn độc mà là một đạo quân chống giặc dốt cùng với anh Quang và em Thủy bên cạnh. Chúng tôi cảm thấy như mình là một lực lượng bất khả xâm phạm.

Chúng tôi đều đăng ký học buổi sáng để cùng nhau đi đến trường và cùng về nhà, cho đến khi đi chung với những đứa trẻ Công giáo khác trong xóm. Vài thứ đã thay đổi so với hồi lớp Hai. Đầu tiên, lớp học đông hơn vì chiến tranh đang tới gần, nhiều gia đình rời bỏ miền quê và đến tìm nơi ẩn náu ở gần Đô thành. Thứ hai, tôi nhận ra bộ đồng phục không chỉ để đám học sinh chúng tôi trông gọn gàng đẹp đẽ trong mắt giáo viên, nó còn làm chúng tôi trông giống nhau, ranh giới giàu nghèo không còn nữa và chúng tôi buộc phải tập trung vào nhiệm vụ quan trọng: phải chăm học và phải thể hiện ra chúng tôi đã học được những gì. Những đứa nhà giàu không có thêm lợi thế còn những đứa nhà nghèo không mang theo gánh nặng nào khác. Mọi người đều có cơ hội như nhau để trở nên xuất sắc hoặc nếu không qua được thử thách, sẽ bị đánh rớt. Tôi quyết tâm rằng cô học trò lớp Ba được vài người thân gọi là Vân, còn vài người khác lại gọi là Hiền (mặc dù dượng Al và Bubba vẫn gọi tôi là Sissy khi ở nhà) sẽ một lần nữa trở thành một học sinh gương mẫu. Mẹ tôi không mong ước gì hơn thế.

Đến tháng Giêng năm 1971, tôi đã mười một tuổi, lấy lại phong độ học hành, cũng như có nhiều bạn mới. Một lý do cho điều này là sự thay đổi tôi nhận thấy rõ: Tôi không còn là đứa trẻ nhỏ thó gầy gò trong lớp. Trên thực tế, sau vài năm ăn uống đầy đủ và sung túc, tôi đã phần nào cao hơn mức trung bình, do đó rất nhiều học sinh đối xử với tôi bằng sự tôn trọng mà họ thường dành cho những học sinh lớn hơn. Thầy cô giáo thì coi tôi như “người lãnh đạo bẩm sinh” – đặt ra yêu cầu cho tôi cao hơn và cũng tưởng thưởng khi tôi cố gắng hơn. Nói chung, đây là một năm tuyệt vời.

Một trong những bạn mới của tôi là Cúc, học cùng lớp Ba với tôi. Mẹ bạn cưới một người Mỹ, và cũng như dượng Al mới chuyển đến Long Bình gần đây. Họ cũng sống ở Thủ Đức nhưng ở khu vực được gọi là Làng đại học – một khu vực đẹp đẽ, ngăn nắp với một trường đại học ở trung tâm như hạt đậu phộng bên trong viên kẹo M&M màu xanh lá cây. Tôi đi ngang qua khu này mỗi ngày trên đường đến trường và luôn ghen tị với người sống ở đó. Như tôi, Cúc nhập học vào giữa học kỳ nên bạn cũng rất vui khi có một “ma cũ” và trưởng lớp làm bạn để chỉ dẫn cho bạn. Tuy nhiên, vị trí của tôi trên đỉnh tháp ngà không kéo dài bao lâu.

Một ngày nọ, chúng tôi đang chơi nhảy dây trong giờ giải lao thì bạn thì thầm vào tai tôi, “Này Vân, quần lót bồ bị dính máu kìa!.”

Tôi dừng lại, làm sợi dây quấn lùng nhùng dưới chân. “Thật không?” tôi hỏi lại (đây như một mong ước hơn là một câu hỏi). “Ý bồ là gì?”

Bạn chỉ vào chiếc váy xanh của tôi. “Bồ biết đấy. Có thể là bồ tới kỳ rồi.”

Kỳ duy nhất mà tôi biết là kỳ thi. Nếu tôi bị chảy máu thì có vấn đề gì đó rồi. Tôi chưa bao giờ thấy ai chảy máu mà không liên quan đến điều gì đó khủng khiếp.

“Được rồi,” Cúc nói rồi nắm lấy tay tôi, “Mình đi gặp sơ nào.”

Nhưng giờ giải lao đã hết và lớp học cuối chuẩn bị bắt đầu. Tôi không bị thương chỗ nào hết nên tôi không đến gặp sơ mà cố tập trung vào nhiệm vụ trước mắt, tức là lo lắng không biết tôi có bị bệnh gì không. Khi tan trường, Cúc cùng tôi đi bộ về. Vừa đến nhà bạn, chúng tôi chia tay nhau và tôi vội vã chạy hết quãng đường còn lại để về nhà. Tôi thấy bà ngoại trong phòng ngủ. Sau khi đảm bảo không có đứa trẻ nào ở xung quanh, tôi kể chuyện của mình cho bà nghe.

Bà ngoại chỉ cười và ôm lấy tôi. “Đừng lo, Vân à. Chỉ là cháu đang lớn thôi. Đi với bà.”

Tình cờ mợ Nga cũng có mặt ở đây nên bà ngoại bảo tôi xuống nhà gặp mợ, có lẽ bà cho rằng một người phụ nữ trẻ có thể giải thích rõ ràng hơn. Bà thì thầm bí mật của tôi vào tai mợ Nga, và mợ mỉm cười, một nụ cười rất đẹp. Họ cùng nhau nói cho tôi biết về chuyện sinh nở – họ không kể hết, nhưng đủ để trấn an là tôi hoàn toàn khỏe mạnh và cái chuyện nho nhỏ đáng ngượng này chỉ là một bước nữa để tôi trở thành một người phụ nữ. “Và thế,” họ nói thêm, “rồi đây sẽ có nhiều bước nữa cháu phải trải qua.”

Sau chuyện đó, Cúc và tôi thân nhau như chị em. Mỗi sáng, bạn chờ trước cổng nhà bạn, đợi anh Quang, Thủy và tôi đi ngang qua, rồi cùng đi bộ đến trường. Một ngày nọ, bạn không có mặt trước cổng. Tôi gõ cửa, mẹ bạn cho biết là bạn bị bệnh và có lẽ hôm sau mới đi học được, chúng tôi chào cô rồi tiếp tục đến trường. Và vì thế bạn bị lỡ chuyện này.

Khi chúng tôi đến gần Làng đại học, một khu vực có nhiều cây cối và bụi rậm, tôi nói anh Quang và Thủy đợi tôi vì tôi mắc tè.

“Em không nín được cho tới khi đến trường à?” anh Quang vừa tỏ ra khó chịu vừa hỏi.

“Không, em phải đi ngay bây giờ!”

“Được rồi,” anh thở dài và chỉ vào một bụi rậm. “Em đi chỗ kia kìa, nhanh lên đó!”

Họ bắt đầu bước đi tà tà còn tôi chạy vào bụi rậm, ngồi xổm xuống và giải quyết “công chuyện.” Xong, tôi đứng dậy, kéo quần lên, gỡ đám cây cỏ dính trên váy, rồi quay sang để đuổi theo họ thì vấp vào một cánh tay và suýt ngã nhào. Chỉ có một cánh tay mà không có cơ thể.

“ANH QUANG!” tôi hét toáng lên như thể tôi là người vừa bị ám sát. “Đến đây mau!”

Anh chạy nhanh đến với em Thủy theo sát sau lưng, rồi ngừng lại khi anh thấy tôi không bị sao cả.

“Em hét lên cái gì vậy?” Anh ấy thực sự khó chịu, có lẽ vì cho rằng tôi đã nhìn thấy một con rắn.

“Dưới kia! Nhìn này! Đó là cánh tay của ai đó!”

Anh còn không thèm nhìn mà chỉ nắm lấy tay tôi. “Thôi quên nó đi. Đi học nào!”

Anh quay đi với Thủy, em ấy cũng không hề tỏ ý tò mò và bắt đầu đi xuống con đường. Tôi đi vòng qua cánh tay bị bầm dập, và nhìn sắc xanh xám xịt của nó, tôi đoán những vết thương không mới, dù vậy, rõ ràng là ai đó đã bị mất cánh tay của mình từ khuỷu tay trở xuống. Những hình ảnh sống động ùa vào đầu tôi từ chuyện Hồng Ngự, chuyện trên đường ở trước Nhà Gạch và những cái bàn đẫm máu ở tiệm Albert’s – nhưng tôi không cảm thấy buồn nôn. Tôi cũng không choáng váng, cũng không cần một thiên thần hộ mệnh giúp tôi nhảy xuống khỏi ngực một người chết. Có lẽ cuộc sống của tôi đã trở nên quá đỗi bình thường, quá sạch sẽ, quá thoải mái với gia đình dượng Al nên những hình ảnh như thế này, đột ngột xuất hiện, đã làm tôi ít nhiều thấy sốc. Nhưng anh Quang và em Thủy đã quá quen với chúng, quá quen với việc đi ngủ trong tiếng pháo binh và đấu súng trên đường hay trong các xóm nghèo nơi Việt Cộng không chỉ cảm thấy an toàn mà còn thường sống tại đó. Không phải anh Quang không quan tâm, chỉ là anh quan tâm đến nhiều chuyện khác hơn, cũng như chú Thành – con cú già thông thái biết khi nào không nên nhúng mỏ vào nguy hiểm và khi nào thì nên cất tiếng hú rúc. Tôi đuổi theo họ, và khi chúng tôi đến trường, thế giới của tôi đã trở lại bình thường như thể cánh tay gớm ghiếc ấy chỉ là một giấc mơ khủng khiếp đã phai nhạt dần.

Rủi thay, trong nhiều tháng sau đó, không ai có được một giấc ngủ ngon, nói chi đến việc nằm mơ hay gặp ác mộng.

Vấn đề đầu tiên là chiến tranh luôn lởn vởn cạnh bên, như một cái bóng ồn ào. Biên Hòa là nơi rộng lớn và trở thành một mục tiêu hấp dẫn mà miền Bắc không thể nào làm ngơ, và những đơn vị của họ đều đặn hành quân xa hơn về phía Nam. Mặc dù khu vực dân cư ở Thủ Đức vẫn chưa bị sờ tới, nhưng những trận chiến bắt đầu nổ ra thường xuyên hơn ở các khu vực ngoại ô. Nhưng bất chấp những cuộc tiến quân này, chiến thắng của miền Bắc vẫn là điều không tưởng. Cuối cùng thì tại Paris cũng bắt đầu diễn ra những cuộc đàm phán hòa bình giữa Mỹ và miền Bắc Việt Nam. Mọi người – từ các sơ, đức cha đến ông lái taxi, bà bán hàng, cảnh sát khu phố, ngay cả đồng nghiệp của dượng Al từ cơ sở – dù có vẻ lạc quan nhưng vẫn hết sức thận trọng, ai nấy đều để mắt đến hầm trú ở sân sau nhà mình.

Khó khăn thứ hai khiến tâm trí tôi không có chút bình yên lại xảy ra ở nhà: chính dượng Al. Tôi không biết có phải do không khí tiệc tùng sau những nhiệm vụ gần đây của dượng hay không nhưng dượng trở nên hung hăng và bạo lực hơn, hoặc cũng có thể dượng nhận ra bé gái dượng nhận nuôi bây giờ đang ở tuổi xuân thì và sắp trở thành một thiếu nữ. Thái độ của dượng về tôi bắt đầu thay đổi, nhưng không theo chiều hướng tốt. Đó là một con người khác của dượng mà tôi chưa từng thấy bao giờ và cũng chỉ biết hy vọng – trong mơ hồ – rằng tôi sẽ không bao giờ thấy nữa.

Chuyện bắt đầu từ một đêm tiệc tùng của chúng tôi sau khi khách khứa về hết. Dượng Al hơi say một chút, còn cả nhà vẫn đang bận bịu với những nhiệm vụ còn lại và vẫn còn phấn khích vì vừa tổ chức một bữa tiệc vui ra trò. Dù chúng tôi đã mệt cả, nhưng không ai (trừ bà ngoại vì bà đã đi ngủ từ sớm) muốn tàn cuộc, nên dượng đề nghị cùng chơi trò trốn tìm. Khi dì Thu và đám chúng tôi tụ tập lại ở phòng khách, dượng tắt đèn, và nói rằng một người sẽ là “Nó” – dượng sẽ bắt đầu trước – và công việc của “Nó” là tìm ra người khác trong bóng tối. Người đầu tiên mà dượng đụng vào sẽ “bị” và người đó sẽ tiếp tục trò chơi cho đến khi tất cả mọi người đều “bị.”

Chúng tôi nhanh chóng lẩn đi và trốn sau đồ đạc, trong góc phòng, hoặc ở sát tường. Dượng Al gầm lên như một con hổ và nói, “Ta đến bắt các ngươi đây!” khi dượng đi lùng sục khắp trong phòng, làm Hoàng và em Thủy rúc rích cười, anh Quang và dì Thu cũng cười lớn, tất cả đều dễ dàng trốn thoát dượng. Tôi thì không may như thế. Dượng bắt gặp tôi đang cuộn người sau một cái ghế, cánh tay khỏe mạnh của dượng vòng qua eo tôi, cù tôi, và nhấc bổng tôi lên. Tôi cười lớn và cho rằng đã đến lượt mình, nhưng những ngón tay của dượng không ngừng lại. Những ngón tay cù cao hơn và thấp hơn cho đến khi tôi biết chắc chắn rằng có cái gì đó không đơn thuần là trò trẻ con nữa. Tiếng cười của tôi chuyển thành tiếng hét, và tôi vùng vẫy thoát ra, chạy khỏi phòng. Phía sau tôi, dượng nói, “Được rồi, Sissy nghỉ chơi! Ai tiếp đây? Ồ, Bubba đây rồi – bắt được con rồi!.” Hoàng hét lên và trò chơi lại được bắt đầu, nhưng chắc chắn là không có tôi. Tôi đi tìm bà, mong muốn hỏi bà về toàn bộ chuyện này nhưng bà đã ngủ. Dù gì thì tôi cũng hoảng sợ và xấu hổ quá. Đây là một chuyện hoàn toàn mới và bối rối – và, tôi biết, tận sâu trong đáy lòng mình, cực kỳ, cực kỳ sai lầm.

Ngày hôm sau, không ai nói bất cứ điều gì về “trò chơi” mới, nhất là dượng và tôi, dù chúng tôi phải chơi trò này thêm mấy lần nữa trong những tháng tới. Tôi cảnh giác cao độ và gia tăng khoảng cách giữa tôi và dượng khi dượng là “Nó,” và thường đẩy anh Quang hay Bubba ra cho dượng tìm thấy họ trước, không làm phiền tới tôi, nhưng có những cách khác để dượng thỏa mãn thú vui mới, đầy tội lỗi này của mình. Ví dụ như nếu tôi đang với lên cao để lau dọn thì dượng sẽ tìm cái cớ nào đó để “giúp” tôi hoặc chỉ cho tôi cách làm tốt hơn, và những bài học như vậy thường kèm theo một cái chạm, cái vỗ hay cái bóp nhẹ mà không liên quan gì tới công việc. Nếu tôi vùng vằng hoặc cố lẩn đi thì có vẻ như chỉ làm dượng khoái chí thêm, nên tôi chỉ chịu đựng và nói nhanh “Ồ, được rồi, cảm ơn dượng. Giờ thì con hiểu rồi,” hay điều gì khác để ra hiệu rằng trò chơi đã kết thúc. So với những gì đang xảy ra ở những vùng nông thôn xung quanh chúng tôi thì tôi vẫn không thật sự tin rằng hành vi kỳ cục và không đứng đắn của dượng là một mối đe dọa, nhưng hành vi đó chắc chắn là như vậy. Cuối cùng nó trở thành một điều tôi phải chịu đựng, và như mọi mối hiểm nguy khác mà ta cần được cảnh giác và coi trọng, tôi trở nên rất giỏi né tránh nó.

* * *

Vào mùa hè năm 1971, dượng Al quyết định rằng đã đến lúc chuyển nhà lần nữa. Với một sự nồng nhiệt mà có trời mới biết được vì sao, dượng nói dượng sẽ không làm những chuyện nửa vời nữa mà sẽ tự làm chủ số phận của mình. Dượng nói dượng yêu Việt Nam, yêu dì Thu và muốn có được cả hai trong phần đời còn lại của mình. Dượng làm giấy tờ để được có hai quốc tịch, có thể vừa là công dân Mỹ, vừa là công dân nước Việt Nam Cộng hòa, và để hợp thức hóa cuộc hôn nhân của mình ở đất nước và với người mà dượng yêu. Việc có được hai quốc tịch cũng sẽ tạo điều kiện giúp dượng thực hiện được kế hoạch còn lại của mình: mở một doanh nghiệp tại quê hương mới trong một khu vực ít bị chiến tranh đe dọa và củng cố để phất lên một khi chiến tranh kết thúc. Như một người bạn của dượng ở Philippines từng nói, những doanh nhân không có gì ngoài sự lạc quan. Tôi cho rằng tôi cũng có thể học để trở thành một doanh nhân.

Phương Nam phát hành - NXB Phụ Nữ 7/2017
Nguồn: Việt Nam Thư Quan
Được bạn: Ct.Ly đưa lên
vào ngày: 17 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.