Chúng tôi không tổ chức lễ cưới lớn để có nhiều chỗ cho những thiên thần hộ mệnh của tôi đến dự. Mẹ đến với tôi trong đêm đầu tiên của tuần trăng mật, sau khi Ronnie đã ngủ. Linh hồn Mẹ rất vui vẻ, và tiếng Mẹ gọi tên tôi rõ đến nỗi tôi thức dậy và ngồi trên giường. Trong ánh trăng nhẹ nhàng nhìn từ khe hở của tấm màn, Mẹ đứng trước mặt tôi, rõ ràng và thực như Ronnie đang ở bên tôi. Mẹ đẹp tuyệt vời và Mẹ nói bằng giọng nói quen thuộc. Việc của Mẹ đã hoàn thành. Giờ thì Mẹ đã mãn nguyện rồi. Ðã đến lúc Mẹ an nghỉ. Ronnie – mắt Mẹ hướng về anh trong một khắc – sẽ chăm lo cho con như Mẹ đã làm, và nó sẽ yêu con như Mẹ đã luôn yêu con. Mẹ cúi xuống và mỉm cười với tôi như hồi tôi còn nhỏ, rồi tan biến đi qua cửa sổ, nhạt nhòa trong ánh trăng. Tôi trở lại giấc ngủ, cảm thấy ấm áp bởi vì chắc chắn rằng tôi không còn là một người mồ côi nữa.
Ronnie là một người lính tận tâm. Sau một vài năm với Sư đoàn Bộ binh Không quân số 82 (được gọi là Binh đoàn Mỹ), anh được đề bạt lên thành Đội trưởng – một hạ sĩ quan như ba tôi vậy. Anh biết được tầm quan trọng của các nhiệm vụ và cố làm tốt trong mọi khía cạnh, nhưng niềm vui thực sự của anh đến từ sự gắn kết của anh đối với các binh lính của mình, giống như niềm vui của tôi đến từ sự kết nối với tổ ấm chúng tôi đã xây dựng nên: Eric ra đời năm 1982 được đặt tên theo một vị thánh của Thụy Điển và cũng xuất phát từ tên diễn viên Erik Estrada, và Jon ra đời năm 1984 được đặt tên theo thánh John và cũng là tên của một nhân vật khác mà tôi yêu thích – Jon Baker trong phim ChiPs[23]. Hai đứa cũng khác nhau một trời một vực như em Thủy và tôi vậy, vì thế nếu Mẹ tôi chịu được thì tôi cũng chịu được.

Kết thúc nhiệm kỳ đầu tiên, Ronnie giải ngũ để ở gần gia đình hơn. Anh làm một vài tháng cho Brown & Root ở Glen Rose, nhưng ba sắc cờ Mỹ đã ăn sâu vào máu anh. Anh nhớ quân đội và lại nhập ngũ với sự chúc phúc của tôi, rồi anh được phục hồi chức vụ cũ – Đội trưởng bộ binh. Trận dàn quân đầu tiên ở nước ngoài của anh là ở châu Á nhưng ở xa về phía bắc hơn là nơi tôi từng sống – trại Casey, một căn cứ quân đội Mỹ gần khu vực phi quân sự hóa ở Dongducheon (đôi khi được đánh vần là Tongduchon hoặc TDC), Nam Triều Tiên. Vì khí hậu khắc nghiệt và sự căng thẳng kinh niên giữa miền Nam và miền Bắc (tôi không lạ gì chuyện này), quân đội cho rằng đây là “một trận ra quân nhiều thách thức” và không cho phép người phụ thuộc đi theo. Điều này không có nghĩa là những lính Mỹ đóng quân ở đó không có ai có gia đình đi theo, chỉ là chính phủ sẽ không cấp chi phí cho họ. Dù vậy, Ronnie và tôi muốn được ở bên nhau. Tôi không muốn đứa con hai tuổi và đứa con mới hai tháng của anh bắt đầu cuộc sống mà cảm thấy thiếu vắng tình thương của cha như trẻ mồ côi, hay – như tôi trước đây – tự hỏi, ba (người lính) của chúng đang ở đâu, còn sống hay đã chết. Vì thế Ronnie bán bộ sưu tập súng mà anh cất giữ từ hồi niên thiếu, và chúng tôi đã vét hết tiền bạc để cả gia đình có thể đến sống cùng anh ở Triều Tiên. Chúng tôi thuê một căn hộ có một phòng ngủ (với toilet trong nhà!) gần trại lính, và vì đã quen với việc sống trong những không gian chật chội với trẻ nhỏ, tôi đã tạo dựng nên một mái ấm. Tôi rửa chén và giặt giũ ngay trong bồn rửa và treo đồ ăn dễ hư hỏng ra ngoài cửa sổ để giữ lạnh – vào mùa đông thì chuyện này không có vấn đề gì. Ronnie phải sống trong trại lính cùng binh lính của mình, và anh được phép mỗi tháng ở với chúng tôi một đêm. Với một cặp vợ chồng trẻ, khỏe mạnh và lại yêu nhau say đắm như chúng tôi thì chừng đó là không đủ, nên, là con gái của Mẹ tôi, tôi tìm cách để đến thăm anh cùng với các con, thậm chí là ngủ lại vài đêm trong lều Quonset. Như Mẹ đã làm với Ba, tôi mang đến cho anh đồ ăn tôi nấu mỗi lần đến thăm – thật tốt cho anh khi được tạm ngưng những bữa ăn quân đội. Thật ra, những lần “tiếp tế đồ ăn” như vậy là lý do chính khiến họ cho tôi qua cổng chính.
Dù những chuyến viếng thăm vợ chồng như vậy là sai quy định, nhưng những người lính trong đơn vị của anh (và tôi cũng cho rằng cả những sĩ quan nữa) đồng cảm và âm thầm hợp tác. Họ sắp xếp một số bàn ghế trong lều Quonset để tạo thành một cái “tổ” riêng ở phía cuối lều, và chúng tôi được ngủ trên sàn thay vì trên giường xếp của quân đội. Hai cậu nhóc rất hợp tác – Eric (chập chững biết đi) rất được những người lính xa nhà yêu mến – và trong những lúc Jon thức dậy giữa đêm quấy khóc vì đói bụng thì ngay lập tức tôi cho con bú một bình sữa pha sẵn để con ngủ lại. Việc này rất quan trọng để tránh đánh thức những người lính khác ngủ chung trong lều, và tránh sự chú ý của lính đi tuần. Nếu họ biết được Ronnie giấu giếm vợ con thì anh sẽ bị quân sự trừng phạt rất nghiêm khắc: khai trừ khỏi quân đội. Nhìn chung, đó là một khoảng thời gian đầy phiêu lưu nhưng rất đáng nhớ, đặc biệt là đối với tôi, bởi vì chuyện này kết thúc khi tất cả chúng tôi được về nhà cùng một lượt trên máy bay, thay vì Eric và Jon phải đi – một mình – trên một chiếc xe đò nào đó.
* * *
Nhiệm vụ tiếp theo của Ronnie là người hướng dẫn sức khỏe quân đội ở Fort Sill gần thị trấn Lawton, Oklahoma (góc tây nam của bang Oklahoma). Đây là một điều tốt lành. Anh Quang và Thủy vẫn còn sống ở thành phố Oklahoma. Bubba, sau khi cùng với dì dượng chuyển đến sống tại khu cựu chiến binh ở Wilburton, Oklahoma, giờ đã ra ngoài thế giới, sống ở McAlester, Oklahoma và làm việc cho hãng UPS. Ông bà nội Choat thì ở bên biên giới Texas, thành phố Rainbow. Chính là ở đây cuộc sống của chúng tôi đã có một bước chuyển biến khác lạ. Sau khi chúng tôi cưới, vì không muốn xa tôi, Ronnie đã từ chối hai lời đề bạt lên thành Sĩ quan hành chánh (một bước đi có thể dẫn vào ngõ cụt nghề nghiệp). Giờ thì, để thưởng cho sự chỉ huy mẫu mực của anh, quân đội đã cho Ronnie một chỗ trong trường Đào tạo sĩ quan tiềm năng OCS (Officer Candidate School). Đây là một tin vui bởi vì những sĩ quan được đào tạo có mức lương cao hơn và được cấp nhà ở tốt hơn. Điều kiện duy nhất là anh phải hoàn tất hai năm học đại học và có được bằng trước khi khóa học mùa thu 1986 bắt đầu. Ronnie cương quyết ghi danh học thêm lớp ban đêm ở trường Đại học Cameron. Nhờ điểm thi tuyển cao, anh được miễn học nhiều môn bắt buộc, và đối với những môn còn lại, anh có thể học xong, có được bằng và bắt đầu khóa học tại OCS.
Mùa thu năm 1985 là khoảng thời gian đẹp nhất của gia đình trẻ chúng tôi, và cũng là khoảng thời gian hạnh phúc nhất cuộc đời tôi. Tôi đã có một gia đình thực sự là của tôi, một gia đình mở rộng không chỉ có các anh em ruột của tôi, một gia đình làm tràn ngập trái tim tôi sự thoải mái và ấm áp bằng cách “thuộc về ai đó,” từ việc ở với người thật sự là tri kỷ của mình. Chúng tôi yêu con trai mình và chúng tôi cũng thích vui vầy với chúng. Trong khoảng thời gian ngắn ngủi và đẹp đẽ này, chúng tôi là một gia đình quân đội Mỹ bình thường và hạnh phúc. Tương lai tràn trề hi vọng và xán lạn, và mọi việc thực sự rất tốt.
Chúng tôi vẫn xoay xở được với mức lương bậc Trung sĩ Nhất (E6), và những thói quen thật khó bỏ. Nhờ sự tiện tặn và thực tế tôi học được từ thời thơ ấu ở Việt Nam, tôi đã biết góp gió thành bão. Chúng tôi rời khỏi Triều Tiên với gần 10.000 đô tiết kiệm được – một món tiền kha khá nhưng vẫn chưa đủ để mua một căn hộ khiêm tốn ở Lawton. Và nói thật là, nếu chúng tôi có tìm được một ngôi nhà cũ xập xệ đi chăng nữa, hẳn tôi cũng khóa mọi cửa nẻo đến ngân hàng. Ronnie thường suy xét mọi việc theo lẽ thường và không phải là một người tiện tặn chi tiêu. Anh giao phó việc giữ hầu bao chi tiêu của gia đình cho tôi – một vai trò mà Mẹ tôi đã thực hiện trong cuộc hôn nhân của Mẹ. Ronnie tin rằng mục tiêu cuộc đời không cần phải chết trong giàu có, mà phải sử dụng những nguồn lực mà Chúa ban cho để sống một cuộc đời hạnh phúc và hữu dụng. Sự lạc quan của anh thật đáng ngưỡng mộ và đó là một trong những lý do tôi yêu anh. Dù vậy, đối với tôi, tiền đã vào trong tay thì khó có thể ra được. Thỉnh thoảng tôi mang ý nghĩ này thành ra cực đoan, và Ronnie rất biết cách đối phó. Cuối cùng chúng tôi dùng toàn bộ số tiền để dành được để mua một miếng đất hơn 160 ngàn mét vuông mà dượng Al đã chọn ở Wilburton. Dượng Al đã thuyết phục anh rằng chúng tôi có thể xây dựng căn nhà trong mơ của mình kế bên nhà của dượng sau khi nhiệm vụ của anh kết thúc.
Khi chúng tôi còn sống ở Triều Tiên, tôi nhớ là tôi vẫn còn mang đôi giày mua từ hồi học trung học, đã thủng ở ngón chân và đế giày đã há mỏ, kêu lẹp xẹp khi tôi bước đi. Cuối cùng, khi tôi không hiểu những ngụ ý tế nhị của anh là phải mua một đôi mới, anh đưa tôi đi mua sắm thỏa thuê cho sinh nhật của tôi ở một quận bán lẻ ở Yongsan (trung tâm Seoul), nơi mà hầu hết các lính Mỹ mua đồ đạc cho mình. Anh dừng lại ở một cửa hàng quần áo phụ nữ, lấy cớ mua cho tôi một đôi dép xỏ ngón bằng cao su, và khi tôi cởi giày ra, anh đã bảo ngay với người nhân viên bán hàng “vứt quách đôi giày này đi!.” Vì tôi không thể đi chân đất trong mùa đông ở Triều Tiên, anh đã làm được điều mong muốn, còn tôi thì có giày mới để mang.
Ronnie cũng rất thông cảm với những người công nhân đang gặp khó khăn và làm những công việc lương thấp. Một lần vào năm 1985, sau bữa tối kỷ niệm của chúng tôi ở Red Lobster – bữa ăn đầu tiên của tôi ở một nhà hàng chuyên về một món nào đó ngoài hamburgers và nước ngọt – chúng tôi bàn bạc về việc nên boa cho người phục vụ bàn bao nhiêu tiền. Cô gái trẻ rất thân thiện, chăm chỉ làm việc và rất vui khi phục vụ trong buổi tối đặc biệt của chúng tôi, nên Ronnie nghĩ em cũng xứng đáng được cái gì đó đặc biệt, như là năm đô-la. Không, tôi nói, ba đô la là nhiều rồi, nhưng đêm đó cũng là đêm của Ronnie nên anh để lại cho cô gái tờ giấy năm đô. Khi chúng tôi vừa mới ra tới chỗ đậu xe của mình ở bãi đậu thì cô đuổi theo kịp và ôm choàng lấy chúng tôi. Đó là món tiền boa nhiều nhất mà cô từng nhận được, cô nói, và cô hi vọng là chúng tôi đã không để nhầm. Ronnie đã làm cho cô vui cả ngày, và có thể là cả tuần. Đó là một món quà cho cô và một bài học cho tôi, nhưng lại là một chuyện “bình thường” đối với người đàn ông của tôi.
Anh ngọt ngào và dịu dàng với đôi mắt xanh rất đẹp, và đối với tôi, anh đẹp như một diễn viên điện ảnh. Nhưng không phải vì vậy mà tôi thích anh, tôi yêu anh vì trái tim nhân hậu của anh. Tôi nghĩ bất cứ ai gặp anh cũng sẽ yêu quý anh. Đôi khi anh về nhà muộn, anh xin lỗi và giải thích rằng anh đã giúp một người lạ thay lốp xe bị lủng, giúp khởi động xe, hoặc giúp ai đó đi qua đường. Anh nói rằng anh luôn làm những điều đó vì tôi. Anh muốn tin rằng khi anh tử tế với người khác thì một ngày nào đó sự tử tế sẽ được trả lại cho tôi, giúp tôi khi tôi cần được giúp đỡ hay trợ giúp.
Tôi cười và hôn anh. Tôi bảo anh đừng quá lo lắng bởi vì những người lạ vẫn thường giúp đỡ tôi. Khi tôi tiếp tục chuẩn bị bữa tối, lần đầu tiên trong nhiều năm trời, tôi nghĩ đến người cảnh sát ở Hồng Ngự đã đưa anh Quang, tôi và Em Bé về nhà vào buổi sáng sau cái đêm nổ súng ở nơi đóng quân của Ba, và người tài xế taxi ở Sài Gòn ngày hôm sau đã dành cả buổi chiều và buổi tối để giúp anh Quang và tôi tìm bà ngoại trong một thành phố có hàng triệu người, một việc tưởng chừng như không làm được. Những người lạ và những thiên thần, mỗi người trong số họ, ai cũng nhân ái và Ronnie cũng vậy.
Thế nhưng, con lắc của cuộc đời lại đong đưa ở cả hai phía.
Trong năm 1986, khi Ronnie chuẩn bị tốt nghiệp trường Đại học Cameron (lớp học ban đêm), anh bắt đầu phàn nàn về những cơn đau dai dẳng ở đầu gối và ở sau lưng. Lúc đầu, chúng tôi cho rằng những cơn đau này có thể là hậu quả của cuộc đời người lính thường ngồi nhiều nên nghĩ rằng chúng sẽ qua mau. Khi những cơn đau không khỏi, Ronnie đến một phòng khám ở trại lính Fort Sill, trợ lý điều trị khám nhanh và không chịu chuyển anh tới bác sĩ. Người này buộc tội Ronnie muốn “trốn nhiệm vụ,” “muốn ở nhà với vợ con,” và bảo anh “thôi phàn nàn mà hãy trở lại công việc đi.” Trong đầu của người trợ lý, “chẩn đoán” của ông ta được xác nhận khi kết quả chụp X-quang của Ronnie không thể hiện điều gì bất thường. Vì là một người lính tốt, Ronnie nghe theo lời anh ta. Anh sống với những cơn đau, cắn răng chịu đựng thêm ba tháng nữa cho đến một buổi chiều tháng Ba, trong lúc đổ xăng ở trạm xăng ngoài cổng trại Fort Sill, anh đổ quỵ xuống.
Một chiếc xe cứu thương đưa anh tới nhà thương trại lính. Bác sĩ ra lệnh xét nghiệm máu thêm và thực hiện xét nghiệm CAT. Một vài ngày sau, kết quả báo: Ronnie, 27 tuổi, đang bị ung thư xương giai đoạn 4. Có lẽ phải hy vọng vào phép lạ, bác sĩ nói tại giường bệnh của Ronnie, anh chỉ có thể sống được khoảng 6 tháng.
Một thời gian ngắn sau, khi Ronnie và tôi đang vô cùng sốc, đau khổ và tuyệt vọng, người trợ lý từ phòng khám đến và xin lỗi chúng tôi một cách hững hờ. “Tôi xin lỗi vì đã không chuyển anh cho cấp trên của tôi, Trung sĩ Choat à,” anh ta nói với một cái nhún vai. “Bất cứ ai cũng có thể phạm sai lầm.”
Không phải sai lầm như thế này đâu, đồ khốn! Tôi điên lên, cơn giận bùng nổ. “Sai lầm của anh lấy đi mạng sống của chồng tôi!”
Ronnie nắm lấy tay tôi, có thể là lúc đó tôi đang sấn đến để chuẩn bị đấm anh ta, và nhẹ nhàng kéo tôi lại. “Bỏ qua đi em,” anh khẽ nói. “Anh ta không cố ý đâu.”
Có thể không, nhưng nhiều tấn bi kịch xuất phát từ những lỗi lầm như vậy. Số phận của quê nhà tôi là một trong số đó.
Đêm đó, tôi cuộn người nằm với hai con trong bóng tối, nghĩ về tất cả những gì đã xảy ra với Ronnie. Tôi cứng đờ với nỗi đau không thể nói ra. Cái chết đã chia ly những người thân yêu nhất của đời tôi, bây giờ nó lại lặp lại một lần nữa. Sự thường hằng bất biến của cái chết luôn đeo bám trái tim tôi. Không bao giờ được Mẹ chải tóc cho tôi lần nữa. Không bao giờ có Ba ôm tôi một lần nữa. Không bao giờ có được sự an ủi vỗ về của bà ngoại. Không bao giờ được Ronnie nắm lấy bàn tay tôi một lần nữa. Đó là tương lai của tôi. Tôi không thể chịu đựng được. Tôi âm thầm khóc cho đến khi ngủ thiếp đi.
Chỉ trong vài ngày, Ronnie được chuyển đến Trung tâm y tế quân đội Brook tại Fort Sam Houston, San Antonio để điều trị hóa trị và xạ trị. Tất nhiên là cuối cùng quân đội chăm nom mọi thứ của họ. Tôi gửi hai con trai mình cho ông bà nội tại nhà họ ở Rainbow. Họ có đất đai rộng rãi, nhiều không gian ngoài trời để những cậu bé nhiều năng lượng được vui vẻ chơi đùa. Còn tôi đến nhà thương ở với chồng. Khi không thể trông nom nổi hai cậu nhóc đang tuổi ăn tuổi quậy và ba mẹ của Ronnie cần nghỉ ngơi, thì dượng Al và dì Thu nhận đưa chúng đến khu cựu chiến binh ở Wilburton. Cho đến giờ, tôi rất ít khi gặp họ và cuộc sống của họ, cũng như tôi, đã thay đổi rất nhiều. Dượng Al luôn rất ngưỡng mộ Ronnie và rất vui lòng chăm lo cho con trai anh. Dì Thu, tôi nghĩ đang bị chứng “nhà quá trống” sau khi hoàng tử bé Bubba của dì chuyển đi, nên cũng rất vui khi lại có thể đóng vai trò làm mẹ. Rốt cuộc thì, nếu có cái gì đó dì am tường thì đó là những đứa trẻ mồ côi.
Khi rõ ràng là việc điều trị của Ronnie sẽ rất khó khăn và (nếu chúng tôi may mắn) sẽ kéo dài, tôi phải tìm một nơi tạm trú ở San Antonio. Tôi muốn ở gần nhà thương nhưng cũng muốn hai con cạnh bên để tất cả chúng tôi có thể thăm ba của chúng. Công cuộc tìm kiếm của tôi không thành công – vì những lý do mà tôi đã quên từ lâu. San Antonio là một nơi khác xa so với những khu còn lại của Texas, hay thậm chí là Oklahoma. Nó được bao quanh bởi những khu lính với đầy những người vẫn còn nhớ về cuộc chiến và đổ lỗi cho tôi là một “Việt Cộng” lợi dụng phúc lợi Mỹ, hoặc là một người tồi tệ không thể bảo vệ nổi đất nước của mình. Tôi bị chối từ thậm chí là ở những khu vực nghèo nhất và ở những căn hộ bẩn thỉu nhất, chỉ bởi vì tôi là người Việt. May mắn là những nhân viên làm việc tại nhà thương – thấy tôi ngủ hết đêm này đến đêm kia trên ghế sofa ở sảnh – đã đem ra một cái ghế dựa ở phòng nghỉ của y tá để tôi có thể ở lại với Ronnie. Khi tôi cần phải đi khỏi tiếng ồn và mùi ở nhà thương, tôi ngủ vài tiếng ở ghế sau xe hơi, nhưng luôn trở lại phòng bệnh ngay khi thức dậy. Không phải người nhân viên nào cũng thấu hiểu như vậy. Một người quản lý phản đối việc xuất hiện thường xuyên của tôi và đem chuyện này phàn nàn với người Đại tá điều hành nhà thương. “Việc để cho người bình thường ngủ trong phòng bệnh là trái quy định,” ông ta nói. “Được rồi, tôi biết rồi,” Đại tá xoa cằm, nghĩ ngợi một lúc rồi ông trả lời với một sự quyết tâm, “Hãy để cô ấy yên.”
Cuối cùng ông nội Choat đề nghị mang chiếc xe moóc đến San Antonio để hai thằng bé và tôi có thể ở cùng nhau trong khi vẫn ở cạnh Ronnie. Ngay lập tức, tôi tìm thấy nơi cho thuê chỗ đậu xe moóc gần nhà thương. Thấy bãi đậu trống phân nửa, tôi liền đến văn phòng để dàn xếp. Người phụ nữ Texas rắn rỏi đang điều hành chỗ này nhìn tôi từ đầu xuống chân rồi nói, “Xin lỗi, chúng tôi hết chỗ rồi.” Tôi không màng chuyện tranh cãi với bà ta – ở đó có rất nhiều chỗ trống – mà đi ngay đến trạm điện thoại gần nhất để gọi cho ông nội Choat. Ông ấy hỏi tôi số điện thoại của trạm điện thoại và bảo tôi chờ đó. Một vài phút xong, tiếng chuông điện thoại reng lên.
“Xong cả rồi,” Floyd nói, “Ba sẽ đến với chiếc xe moóc vào buổi sáng và đón các con ở nhà thương.”
Tôi không hiểu rõ xong là xong như thế nào cho đến khi ông chở tôi đến nơi đậu xe moóc cùng chỗ hôm trước, và chúng tôi cùng nhau đến cửa. Ông bảo ông là Floyd Choat từ Rainbow và muốn đặt trước ba tháng. Cũng người phụ nữ quản lý đó, người đã hất tôi ra, thấy tôi đứng sau ba Floyd thì biết điều gì đã diễn ra: “xong” ở đây có nghĩa là đã giải quyết xong bà ta. Bà đẩy ra một tấm sơ đồ chỗ và đơn đăng kí cho ba Floyd rồi bảo “Ông chọn đi.”
Dù vậy, tôi vẫn chưa chiến thắng hoàn toàn – và việc ở lại lâu dài của chúng tôi vẫn chưa được đảm bảo, cho đến khi người phụ nữ này hiểu được “con bò ăn bắp cải như thế nào”[24], như bà Gilchrest thường nói, trước khi chúng tôi rời khỏi văn phòng.
“Chị còn nhớ tôi chứ?” tôi hỏi.
Bà ta biết đây là câu hỏi đánh đố. “Tất nhiên rồi. Cô đã vào đây hôm qua.”
“Chị bảo rằng chị không còn chỗ nữa. Giờ thì chị nói với ba chồng tôi rằng ông có thể chọn chỗ.”
“Chúng tôi có vài người hủy đăng ký.”
“Mười người hủy đăng ký trong một ngày ư?”
Bà ta phì ra một luồng khói thuốc. “Hôm nay làm ăn bết bát quá, em gái ạ.”
Floyd điền xong đơn nhưng trước khi ba đưa nó cho bà ta, tôi bước tới và điền tên tôi vào ô trống đề là Người đăng ký.
“Tôi rất tiếc là như vậy,” tôi nói đanh thép. “Hy vọng là bà không có một ngày như vậy nữa.”
Trình độ tiếng Anh của tôi đã tốt lên rất nhiều.
* * *
Đáng buồn là chúng tôi không cần toàn bộ thời gian ông nội Choat đặt trước. Khi rõ ràng là Ronnie không khá lên chút nào, anh được chuyển đến Nhà thương VA ở thành phố Oklahoma. Ít nhất thì thời gian còn lại, anh sẽ được ở chỗ quen thuộc và thân thiện. Một vài tuần sau khi anh chuyển đến, họ lại chuyển anh đến một Nhà thương VA nhỏ hơn ở Muskogee, Oklahoma. Có vẻ như nhà thương lớn VA dành cho những bệnh nhân nào có ít nhất là một cơ hội sống sót: họ cần giường trống cho những người sống. Tất cả những gì mà bất cứ ai cũng có thể làm cho Ronnie bây giờ là giúp anh đỡ đau hơn, dễ chịu hơn. Có lẽ là kết thúc cuộc đời của anh như lúc nó bắt đầu, ở một thị trấn thôn dã nhỏ, là cách tốt nhất để kết thúc câu chuyện đời anh. Tuy nhiên, thậm chí cái điều nhỏ bé ấy cũng chối từ anh.
Sau một tháng vụng về thử các cách điều trị, nhà thương Muskogee VA quyết định rằng họ không đủ trang thiết bị để điều trị cho một bệnh nhân ở giai đoạn cuối với các nhu cầu đặc biệt, nên họ lại đẩy anh trở về với Oklahoma City VA. Những người quản lý ở đây lại than phiền rằng họ vẫn không có giường trống cho những bệnh nhân nằm chờ chết, nên anh phải quay trở lại Muskogee hoặc phải vào ở trong nhà điều dưỡng địa phương. Đối với tôi, điều này là đỉnh điểm của sự quan liêu độc ác cho đến khi tôi nhận ra rằng đối với quân đội, mọi người lính đều sẽ hy sinh, dù có mặc quân phục hay không cuối cùng cái chết cũng sẽ đến với bất kỳ ai. Thế nên thay vì cứ hết lần này đến lần khác lôi anh đi hàng trăm dặm về lại miền đông Oklahoma, tôi thuê một căn hộ ở khu ngoại ô Bethany và tự mình chăm sóc cho anh đến giờ phút cuối cùng, miễn là tôi còn hi vọng. Ronnie chưa bao giờ than vãn, duy có một lần anh nói với tôi rằng có lẽ số phận đang trừng phạt anh vì không hiến tặng nhiều cho nhà thờ, Hội đồng của Chúa. Có lẽ vị Chúa Tin lành nghiêm khắc của anh phản đối khi anh vẫn thường đi lễ nhà thờ Công giáo với tôi. Tôi trấn an anh rằng vị Chúa mà tôi biết chỉ muốn chúng tôi yêu thương và chăm sóc nhau, mà việc này thì Ronnie sẽ đạt số điểm tuyệt đối. Và cũng như Ba, anh là một người lính tốt. Việc than thân trách phận không có trong từ điển của anh.
Chẳng bao lâu khi một người y tá đến thăm, cô nói với tôi Ronnie cần có sự chăm sóc chuyên nghiệp 24/7. Những người ở VA đã thu xếp để anh ở trong nhà điều dưỡng, và anh ở đó cho đến khi tình trạng của anh kiệt quệ và tồi tệ đến nỗi đơn vị Hồi sức cấp cứu ở nhà thương chính là lựa chọn duy nhất. Trong trường hợp này, họ sẵn sàng dành một cái giường cho anh bởi vì họ biết anh sẽ không ở lại được bao lâu nữa. Đó là nơi cuối cùng của Ronnie.
Đến phút cuối, một cuộc tranh đấu “đạo đức” đã diễn ra ngay trước mặt tôi, theo nghĩa đen, ngay tại giường bệnh của Ronnie. Người trưởng khoa quyết định chấm dứt mọi sự điều trị, trừ việc sử dụng thuốc giảm đau. Việc này không hề được hỏi ý kiến tôi hay Ronnie, không yêu cầu sự chấp thuận từ ai trong chúng tôi, cũng không lời giải thích. Một bác sĩ trẻ hơn phản đối kịch liệt và những lời nói nặng nề được trao qua đổi lại giữa hai người họ, với tôi đứng giữa, cứ như thể tôi không có mặt ở đó. Người đàn ông trẻ tuổi hơn tranh luận rằng người trưởng khoa đang giết chồng tôi, và anh ta không muốn can dự gì trong quyết định này, và rằng anh sẽ rời khỏi đây. Người bác sĩ lớn hơn trả lời, “Nếu anh đi khỏi, anh sẽ bị đuổi việc!” nhưng người trẻ hơn vẫn đi. Tôi không bao giờ gặp lại người bác sĩ trẻ nữa.
Ronnie bám trụ thêm một vài ngày. Hai đứa nhỏ và tôi luôn ở bên cạnh anh, và có vẻ như anh thấy an ủi khi có chúng tôi ở bên. Anh rất thích ôm hai đứa, và chúng tôi thay phiên nhau nằm trên giường cùng anh, hoặc chỉ nắm tay anh. Trước ngày anh qua đời, Ronnie bảo tôi bế Eric và Jon lên giường nằm bên cạnh anh.
Ronnie nói với Eric, “Ba sẽ phải đi khỏi đây, và con sẽ là người đàn ông trong nhà. Con có nhiệm vụ phải chăm sóc mẹ và em.” Có vẻ như Eric ý thức được tình hình và chấp nhận trách nhiệm này với một cái gật đầu nghiêm trang, mặc dù tôi không chắc là nó hiểu được không.
Tôi lại nghĩ về bản thân mình ở tuổi đó, nhìn Mẹ được đưa xuống mồ mà không tin được điều tôi đã thấy. Rồi nhận ra giờ đây, như tôi đã âm thầm thừa nhận nhiều năm rồi, rằng Ba tôi cũng rất có thể đã bỏ mạng nơi chiến trường đó, để lại chỉ vài bức ảnh ố vàng để thể hiện rằng Ba đã từng tồn tại trên đời này. Từ kinh nghiệm của mình, tôi biết thề thốt lòng trung thành với người chết sẽ là gánh nặng, thậm chí đối với người mạnh mẽ nhất.
Khi tôi bế Eric xuống đất, Jon nắm lấy tay tôi và nói, “Mẹ ơi, khi nào con lớn, con sẽ trở thành bác sĩ để có thể chăm sóc cho cả mẹ nữa.”
Với đôi mắt đẫm nước mắt, tôi xoa đầu Jon. Tôi thật sự rất tiếc khi đứa con trai nhỏ của tôi còn quá nhỏ để có được những ký ức về ba nó hay về tình thương của ba. Ba năm sau, ở tuổi lên năm, Jon bảo tôi rút hết tiền trong ngân hàng ra để mua cho nó một người ba, để nó có thể có ba bên mình trong trận đấu bóng chày như những đứa khác.
Tôi cúi xuống gần Ronnie và nói, “Em hy vọng rằng Eric sẽ không mang gánh nặng đó suốt cuộc đời nó.”
“Em đừng lo.” Ronnie mỉm cười nụ cười tuyệt đẹp của anh lần cuối cùng. “Nó là một đứa mạnh mẽ, em trai nó cũng vậy. Giờ thì nó đã có được mục đích của cuộc đời.”
Tôi tin rằng Ronnie đã đúng. Tôi tin rằng Eric đã tự hào khi được ba giao phó bằng cái cách sâu sắc đến vậy, và nó đã không quên những lời của ba nó.
Mục đích cuộc đời. Cho đến lúc đó, tôi không bao giờ nghĩ về cuộc đời mình theo cách này. Là một đứa mồ côi, bị hành hạ, bị đe dọa và sợ hãi – đó là những gánh nặng mà chúng tôi có, nhưng chúng tôi chọn việc mang nó như thế nào. Nếu chúng tôi đã quyết sống, tồn tại, thì đó là vì chúng tôi đã xem nó như mục đích cuộc đời mình.

Đó cũng là những lời cuối tôi nghe được từ Ronnie. Cả hai đứa nhỏ đã bị cảm vì ở lại nhà thương quá nhiều nên tôi phải đưa chúng về nhà, tắm rửa cho chúng và cho chúng đi ngủ. Khi chúng tôi lên xe đi, tôi đã nghĩ đến việc quay xe và trở lại nhà thương – nếu không chỉ để trấn an hai đứa lần cuối là ba nó sẽ sống, rồi cho rằng mình sai khi biết rằng anh sẽ không thể. Rồi tôi nghe giọng anh. “Đưa con về nhà đi. Không sao đâu.” Và tôi làm vậy. Chúng ngủ ngay khi đầu chạm vào gối, và tôi cũng thế. Lúc 5 giờ 30 phút sáng, tôi bị đánh thức bởi tiếng chuông điện thoại gọi từ người y tá trưởng ở nhà thương. Ronnie vừa mới ra đi. Không sao đâu, anh trấn an tôi. Không sao đâu. Khi thiên thần hộ mệnh nói chuyện với bạn, thì tôi biết tốt nhất là bạn nên lắng nghe.
Tôi nhớ lại lần cuối cùng Mẹ đến thăm trong đêm tân hôn và tôi tự hỏi vì sao Mẹ hạnh phúc như vậy về cuộc sống mới giữa tôi và Ronnie khi có lẽ Mẹ biết nó sẽ ngắn ngủi. Sau một lúc, tôi biết tôi đã tìm thấy câu trả lời. Ronnie đã để lại cho tôi hai đứa con xinh đẹp, khỏe mạnh và thông minh, và anh để lại cho tôi sức mạnh bên trong mà có thể tôi sẽ không bao giờ khám phá ra nếu không có khoảng thời gian được sống cạnh anh. Đó là lý do vì sao Mẹ mừng cho tôi. Mẹ không hứa với tôi một cuộc sống dài lâu với Ronnie, nhưng bà đã nói với tôi rằng tình yêu của anh sẽ nảy nở trong tôi, cho tôi sức mạnh và nghị lực sống.

Chúng tôi đặt Ronnie xuống an nghỉ tại một nghĩa trang nhỏ ở Rainbow, Texas, phía đông của Glen Rose. Ở một nơi thôn dã với những đồi cỏ, những luồng gió mát làm cho nghĩa trang là một nơi an lành. Mộ của anh chỉ cách cửa nhà ba mẹ anh vài trăm thước. Trước khi người ta đặt anh xuống đất, tôi nhét một tấm ảnh nhỏ hình con tôi và một lọn tóc của tôi, giờ chỉ ngắn tới vai, bên dưới áo vét lễ phục của anh. Tôi đeo chiếc nhẫn của Ba – cái nhẫn mà Mẹ đã đưa cho anh Quang ở Hồng Ngự – vào ngón tay của Ronnie với hy vọng rằng anh sẽ tìm được đường đến chỗ Ba, rằng Ba sẽ nhận ra cái nhẫn và sẽ nhận ra Ronnie. Mong ước lớn lao nhất cuộc đời tôi là linh hồn hai người đàn ông tôi yêu thương nhất cuộc đời sẽ ở cùng nhau ở một nơi nào đó đẹp đẽ, và được gắn kết bằng tình yêu tôi dành cho họ. Đám tang được tổ chức theo kiểu quân đội với một đội danh dự được ban Cựu chiến binh đưa tới, một lá cờ được gấp lại một cách chu đáo, màn trình diễn đầy ám ảnh của một nghệ sĩ thổi kèn hiệu bậc thầy và một màn súng chào đinh tai kiểu truyền thống với 21 khẩu súng, nhưng không có một người sĩ quan nào đến viếng, không một người lính nào, không một bạn bè chiến hữu từ những ban bộ trước của anh. Không có lời chia buồn nào gửi đến gia đình từ quân đội mà anh yêu quý cũng nhiều như anh yêu chúng tôi vậy. Cứ như thể anh đã biến mất khỏi quân đội, lại một người mất tích nữa, một người lính giống như Ba.