Vài tháng sau, chúng tôi rời khỏi đồn điền khi chiến tranh đuổi theo sát gót. Khu vực Tây Nguyên đang nóng bỏng. Những tiếng nổ đằng xa xé toạc màn đêm và những sườn núi sáng rực lên. Bà ngoại nói Bình Dương không còn an toàn nữa ngay cả cho người bản xứ, vì “kẻ thù” – cách người lớn gọi những người Việt Cộng – là người địa phương về phe với miền Bắc để gây hấn với miền Nam. Tôi nghĩ về Ba tôi và nghĩ rằng tin này sẽ ảnh hưởng đến việc Ba về thăm nhà, và em của Ba, chú Thành, hẳn sẽ mất công việc lái xe jeep nhàn hạ, buộc phải cầm súng đi vào rừng, nơi nhiều Con Quái Vật nữa cần phải được thuần hóa – và không phải bằng cách nhắm mắt.
Tôi nhớ một lần, hồi ở Gò Vấp, chú Thành mang thư của Ba tới nhà, trong thư Ba nói Ba sẽ sớm về phép. Mẹ rất đỗi vui mừng nên cho tôi cắt một kiểu tóc ngắn xinh xắn rất giống Liên, chị họ tôi – tôi đã nài nỉ việc này nhiều tuần liền – và mua váy mới cho tôi. Mẹ dẫn tôi đi chợ, mua đồ nấu món khoái khẩu của ba – món gà kho gừng – để chào đón Ba. Ba về với một túi vải thô nhỏ cùng một phong bì giấy màu nâu và nói trong này chứa nhiều tài liệu Ba phải đi giao liền, đây là lý do ba được về nhà. Ba chỉ ở lại một đêm, và khi Ba sửa soạn để đi giao phong bì, tôi xin đi theo Ba. Ba do dự một lúc rồi nói, “Được rồi, nhưng con phải hứa giữ im lặng!.” Tôi phải khóa môi lại. Người tài xế quân đội
đến đón Ba và ngạc nhiên khi thấy tôi, nhưng cấp vị của Ba cao hơn nên tôi được đi theo. Chúng tôi dừng ở một miền quê – đẹp như vùng đất xung quanh ngôi nhà đồn điền – rồi Ba đưa phong bì bí ẩn cho một người lính khác, hầu như không nói gì nhiều. Trên đường chở tôi về nhà, tôi xin Ba ghé một quán gần xa lộ mua nước dừa, nhưng người tài xế nói, “Không được, dừng lại rất nguy hiểm!.” Một lần nữa, Ba phải dùng đến quyền hành của mình và tôi được uống nước dừa, nhưng chúng tôi không nấn ná ở lại lâu. Người tài xế nhấn ga ngay khi chúng tôi quay lại và tiến về thành phố. Đó là lần đầu tiên tôi nhận ra có cái gì đó thật sự tồi tệ, như những cơn ác mộng của tôi, sắp sửa diễn ra ở đất nước này.
* * *
Bác Chiêu và bác Quế phải bỏ việc ở đồn điền và dùng tiền tiết kiệm để mua một căn nhà ở quận Phú Nhuận, vùng ven Sài Gòn. Đó quả là một bước đi xuống. So với những cột nhà cẩm thạch và đèn chùm pha lê của căn biệt thự và khu nhà tươm tất dành cho người ở, thì căn nhà một phòng của chúng tôi trông như túp lều của người tị nạn. Nền đất dơ bẩn, nước lấy từ bên ngoài, một cái giường gỗ tồi tàn đồng thời là bàn ăn, và cột tre chống đỡ những bức tường mỏng tanh kết từ lá dừa, một cơn gió nhỏ nhất cũng đủ khiến nơi này run rẩy. Bà ngoại tự hỏi không biết căn nhà chống chọi ra sao trong mùa mưa tới. Ngay cả mấy cái cửa sổ bằng khung tre cũng cần gác vào thanh gỗ để mở, nhưng tôi và Thủy vờ như đang chơi nhà chòi. Chúng tôi cười đùa còn bà ngoại thì phát bực, và tôi gọi nơi này là Nhà Lá bởi vì tôi cảm thấy chúng tôi như đang sống trên cây.
Bác Chiêu gia nhập Cảnh lực Quốc gia, còn bác Quế thì tìm được việc ở một căn cứ Mỹ – giờ thì những cái này mọc khắp nơi. Hai bác không ở nhà thường xuyên nên bà ngoại phải lo toan mọi việc trong nhà và chăm sóc lũ chúng tôi. Bà đặt một cái bàn cưa sau phòng để đặt lò than và xếp hết số chén dĩa, muỗng nĩa, xoong nồi khiêm tốn của chúng tôi lên cái kệ nhỏ mà người chủ cũ bỏ lại. Mỗi đứa trong chúng tôi được bà phân công cho từng nhiệm vụ khác nhau. Việc của tôi là giúp bà xách nước từ cái giếng dùng chung trong xóm. Bà đặt hai thùng nước lên hai đầu của một đòn tre và gánh lên vai. Tôi mang theo cái thùng nhỏ của mình, đổ đầy nước rồi xách về nhà, mặc dù tôi thường vấp váp và làm đổ rất nhiều. Những đứa khác thì quét nhà và rửa chén, nên sau khi xong việc và trong cái nóng (tiết trời gần thành phố nóng hơn không gian rộng lớn ở đồn điền) chúng tôi túm tụm trên chiếc giường chung mỗi đêm, ai nấy đều kiệt sức. Đầu óc vốn đã mệt nhoài của chúng tôi còn chịu phiền muộn hơn nữa khi phải tìm hiểu hành động khác thường vào ban đêm của bà ngoại. Dù bà làm việc nhiều hơn bất cứ ai, nhưng hầu như bà chẳng bao giờ ngủ. Sau khi cho chúng tôi lên giường ngủ, bà ngồi cạnh chân giường, bên dưới mùng, thì thầm cầu nguyện, nghe như giọng của Mẹ vậy. Lát sau, bà ngồi dậy lúc nửa đêm và lầm bầm nói bằng cái giọng rất giống giọng ông ngoại. “Lỗi tại tôi. Lỗi tại tôi.” Bà không nói với ai hết. Thỉnh thoảng, bà còn đập tay vào lồng ngực, trông rất đáng sợ. Nhiều tiếng đồng hồ liền, em Thủy và tôi nằm im, mắt mở to trong bóng tối, chỉ để nhìn và chờ xem chuyện gì sẽ xảy ra tiếp theo, nhưng rồi chúng tôi lại ngủ lúc nào không hay.
Một lần, khi những cú đập vào ngực của bà trở thành những cú đấm mạnh, tôi ngồi dậy cạnh bà, chạm vào tay bà và nói “Bà ơi, dậy đi, dậy đi!.” Không hề nhìn tôi lấy một cái, bà nằm xuống như một bộ xương và nhìn chằm chằm lên trần nhà. Khi tôi trở lại chỗ của mình, em Thủy cuộn người lại như con mèo nhỏ, khóc nức nở và ôm ghì lấy cái mền của em. Không có bà để bám víu – bà như cái gối ôm của em – tôi trở thành người thay thế nên em cuộn người cạnh tôi, tôi ôm lấy em và cuối cùng chúng tôi ngủ thiếp đi.
Sáng hôm sau, mọi việc còn trở nên kỳ quặc hơn. Khi bà đang chuẩn bị bữa sáng, tôi thấy trên người bà có vết bầm tím, bên dưới áo. Tôi hỏi bà bị làm sao vậy, nghĩ rằng bà sẽ kể cho mình nghe chuyện đêm qua, nhưng bà chỉ xào thức ăn và nói “Ông ngoại Phan đang trừng phạt bà.”
“Vì sao vậy bà?”
“Vì không đi lễ cầu nguyện cho các con của bà. Có lẽ chúng không được lên thiên đàng.”
Có lẽ các anh chị họ của tôi cũng nghe thấy và kể lại với ba mẹ họ. Rồi bác Chiêu và bác Quế hẳn đã nói gì đó với bà, bởi vì, ít tuần sau, bà bắt đầu đọc kinh và dẫn chúng tôi đi lễ tại một nhà thờ Công giáo cách đó mấy khu nhà. Bà ngoại cũng không còn tự đánh mình nữa và cũng thôi cầu nguyện bằng cái giọng rì rầm. Tôi cảm thấy hơi nhớ chuyện cầu nguyện một chút, vì thật lạ lùng là khi được nghe lại giọng của Mẹ qua miệng bà ngoại, tôi cảm thấy được an ủi rất nhiều. Ít nhất, qua vài phút ngắn ngủi đó, tôi có thể ngừng lo lắng tại sao giờ này Mẹ vẫn chưa đi chợ về.
* * *
Không khí phòng bị cho chiến tranh làm bà ngoại và lũ trẻ chúng tôi căng thẳng, nhưng còn gây nhiều khó khăn hơn cho bác Chiêu và bác Quế. Họ có giờ giấc trái ngược nhau, và dù về nhà cùng ăn tối thì hai bác cũng rời đi ngay theo hai hướng khác nhau. Không người nào quan tâm đến đám con của họ, chuyện này thật là lạ, nhất là đối với bác Quế, bởi Mẹ tôi thường nói chăm lo cho con cái – yêu thương và chăm sóc chúng – là nghĩa vụ cao cả nhất của người phụ nữ Việt. Có thể đó là lý do bác ấy và bác Chiêu bắt đầu cãi vã, mặc kệ ai nghe thấy thì nghe. Việc này không được hay ho cho lắm vì ở đây hàng xóm sống sát vách nhau.
Tôi không biết là tôi nghe được điều này từ bà ngoại, từ hàng xóm, hay từ con của hàng xóm, bác Chiêu buộc tội bác Quế ngoại tình với một người Mỹ nên đuổi bác ra khỏi nhà. Thế là bác gái rời đi, đến sống trong căn nhà đẹp đẽ của người Mỹ, để lại bà ngoại với sáu đứa nhỏ để lo, không đứa nào đủ lớn để có thể đỡ đần cho bà. Tiền gạo, áo quần, thuốc men và những thứ khác đa phần đều do bác Chiêu lo liệu, nhưng vì bác mới vào làm, lương của một cảnh sát không được bao nhiêu, và nhiều đêm bác ở lại doanh trại gần đồn của bác hoặc ở căn hộ bác mướn khi bác Quế bỏ đi. Vào những đêm bác về nhà, trông bác như một ông già và bác thường ngủ thiếp, người vẫn mặc nguyên bộ đồng phục, chân còn đi giày và bao súng vẫn giắt ngang lưng.
Thỉnh thoảng, bác Quế có tạt qua nhà khi bác biết bác Chiêu không có ở đó và để lại ít tiền để bà mua thức ăn. Với sự vắng mặt của mình, bác Quế đã tỏ rõ cho bà thấy rằng lũ trẻ chúng tôi, trong đó có bốn đứa con của bác, bây giờ là trách nhiệm của bà – đền đáp lại việc hai bác cho chúng tôi ăn nhờ ở đậu khi còn ở đồn điền. Điều họ không bao giờ nhận ra – hoặc cố tình làm ngơ – là lúc nào chúng tôi cũng đói cả.
Tôi thấy thương cho anh Ngọc – con trai lớn của họ. Ba Mẹ của tôi và Thủy vắng nhà vì có chuyện quan trọng phải làm nên không thể lo cho chúng tôi. Nhưng ba mẹ anh Ngọc không ở nhà để lo liệu cho con họ, đơn giản chỉ vì họ không muốn. Tôi biết điều này làm anh tổn thương. Anh làm tôi nhớ tới anh Quang. Tôi chỉ gặp anh đôi ba lần kể từ khi gia đình ly tán. Lần đầu tiên anh Quang thình lình xuất hiện trước cửa nhà chúng tôi là sau khi chúng tôi dọn đến ở Nhà Lá được vài tháng. Chuyện này vô cùng kỳ lạ vì anh đến một mình và trông như thể anh đã chạy suốt quãng đường từ trại quân đội của chú Thành. Anh rất đau khổ và tức giận.
“Chuyện gì vậy cháu?” bà ngoại vừa hỏi vừa dùng vạt áo lau gương mặt lấm lem mồ hôi và nước mắt của anh. “Có chuyện xảy ra với Em Bé rồi,” anh Quang nức nở. “Hôm qua cháu đi học về, cháu không thấy em đâu cả. Cháu đi tìm em nhưng không thấy. Có chuyện gì đó đã xảy ra với em rồi!.” Anh vừa thở hổn hển vừa khóc tức tưởi.
Nghe vậy, bà đuổi tôi và mấy đứa khác xa ra. Bà dẫn anh Quang đến ngồi trên ghế, cho anh uống nước, rồi ngồi bên cạnh ôm lấy anh một lúc. “Bà chắc là sẽ có lời giải thích cho chuyện này thôi,” bà bình tĩnh nói, tay vuốt vuốt chòm tóc đang bết vào mặt anh.
Anh Quang lầm bầm, “Chú Thành bảo rằng Em Bé đã được một nhà giàu nhận làm con nuôi…”
Bà ngoại nói bằng giọng dịu dàng,
“Tội nghiệp, đừng lo lắng. Bà cháu mình sẽ đi hỏi chú Thành về Em Bé. Giờ thì cháu kể cho bà nghe những gì đã xảy ra xem nào.”
Anh Quang bắt đầu kể chuyện buồn của mình…
“Hôm qua, cháu đi học về, không thấy Em Bé ở nhà, nên cháu hỏi chú Thành. Chú nói rằng một gia đình giàu có đã xin nhận nuôi em và em đang được chăm sóc chu đáo. Cháu biết thím Lan không thích cháu và em. Thím mới sinh em bé, một bé gái, chắc chắn là thím không muốn chăm sóc cả hai em bé. Cháu cứ hỏi mãi vì cháu không tin họ. Chú Thành và thím Lan không thèm nói chuyện với cháu nữa. Cháu đi hỏi mấy người hàng xóm xem thử họ có biết gì về Em Bé không. Một người kể rằng có tiếng la hét và tiếng khóc, rằng cả hai em bé đều khóc rất nhiều nhưng đó là lúc trước rồi. Một người khác nói thím bán em lấy tiền nhưng cháu không nghĩ vậy… bé gái khó bán hơn con trai, và giờ thì trẻ mồ côi đang đầy ra đó, nên chẳng có lý do gì người ta đi mua một em bé gái. Rồi vài người bạn của cháu kể tụi nó nghe tiếng thím Lan la hét với một em bé và bắt em “Đừng khóc nữa, đồ khốn kiếp!.” Rồi có tiếng đổ vỡ vọng ra từ ngôi nhà, và rồi im lặng. Không còn tiếng khóc. Cháu hỏi mẹ của tụi nó xem thử cô ấy có biết gì không nhưng cô không chịu trả lời, chỉ nhìn xuống đất, và lắc đầu. Vì vậy hôm nay cháu không biết phải làm gì, cháu rất sợ và buồn bởi vì Em Bé không còn nữa. Cháu thay đồ đi học như mọi ngày, nhưng thay vì đến trường, cháu chạy thẳng đến đây. Cháu không biết phải làm gì khác nữa.” Ngay tức khắc bà ngoại quyết định đi gặp chú Thành và thím Lan để hỏi cho ra lẽ. Bà nhắn lời đến chỗ làm của dì Thu và bảo dì về nhà. Ngay sáng hôm sau, tất cả chúng tôi – bà ngoại, dì Thu, anh Quang, em Thủy và tôi – đi tìm hiểu xem thử chúng tôi biết được gì về số phận của Em Bé.
Khi chúng tôi đến, chú Thành đuổi hết trẻ con ra ngoài chơi, gồm cả bốn đứa con của chú, bảo rằng đây là chuyện người lớn. Nhưng Thủy không chịu nhúc nhích mà vẫn bám dính lấy chân bà ngoại như thường ngày. Em được ở lại. Anh Quang và tôi cũng không muốn đi chỗ khác nên chúng tôi cứ quanh quẩn ở cửa chính. Tôi cảm nhận được một bầu không khí buồn bã, căng thẳng, nặng nề và cả sự căm ghét không thể hiện ra, đặc biệt là xung quanh thím Lan.
Cuộc thảo luận về Em Bé Bắt đầu. Bà ngoại lớn tiếng dù bà ít khi nào làm vậy, yêu cầu được biết vì sao không ai hỏi ý kiến bà trước khi mọi việc xảy ra. Chú Thành không trả lời trực tiếp mà chỉ nói rằng Em Bé đang ở trong một gia đình khá giả và danh giá. Bà đòi xem giấy tờ nhận con nuôi, nhưng chú bảo không được, vụ này đã xong rồi, không thể làm gì được nữa. Em Thủy đang ngồi trên đùi bà nên tôi từ từ nhích tới bên cạnh bà, thấy rằng cuộc nói chuyện sắp kết thúc rồi. Và đúng là vậy. Chú Thành không còn gì để nói, còn thím Lan thì chẳng nói lời nào cả.
Không nói lời nào, bà ngoại đứng dậy, bế em Thủy trên tay. Dì Thu, anh Quang và tôi đi tới đứng bên cạnh bà. Chúng tôi lặng lẽ rời ngôi nhà, đi bộ ra cổng. Ở Việt Nam, theo phép lịch sự thì người chủ nhà sẽ tiễn khách ra cổng, dù đó là với người trong nhà cũng vậy, nhưng cả chú Thành lẫn thím Lan đều không ra tiễn chúng tôi. Bà ngoại nói nhỏ với dì Thu rằng bà không tin chuyện “nhận nuôi” và rằng họ nên bí mật đi hỏi người hàng xóm mà anh Quang rất quý và biết rõ để hỏi về Em Bé.
Cô hàng xóm cũng lặp lại y như những lời anh Quang đã kể và nói thêm rằng cô có nghe tiếng la hét của Em Bé, rồi đột nhiên im lặng – cũng y như câu chuyện anh Quang nghe bạn anh kể hôm trước. Bà ngoại và dì Thu nhìn nhau, rồi bắt đầu đi bộ về nhà. Anh Quang ở lại đó, nhưng không phải anh chọn như vậy. Chú Thành bắt anh ở lại, còn bà ngoại thì không còn sức chống lại “chủ gia đình” nên phải miễn cưỡng chấp nhận. Anh Quang bị buộc phải ở lại ngôi nhà thống khổ và đáng sợ đó.
Sau ngày hôm đó, tôi không nhận thấy có bất cứ nỗ lực nào đáng kể từ phía những người lớn – bà ngoại, bác Chiêu, chú Hải hay dì Thu – để đào sâu vào điều bí ẩn này. Tất cả đều bỏ cuộc và không ai còn nhắc đến Em Bé nữa.
Lần thứ hai chúng tôi gặp anh Quang là khi chú Thành dẫn anh đến thăm. Tôi thấy một miếng băng gạc trên trán anh nhưng cũng không nghĩ ngợi gì nhiều. Lúc nào thì đám con trai chẳng bị thương chỗ này chỗ kia cơ chứ, vả lại, sống trong một khu doanh trại, chú Thành (người giám hộ của anh ấy) chắc chắn là đã bảo y tá hay bác sĩ chữa vết thương cho anh ấy. Dù vậy, bà ngoại biết có điều gì đó không ổn, nhưng bà không thể đoán ra được. Anh Quang ở lại vài ngày rồi trở lại đó mà không kể cho chúng tôi biết chuyện gì đã xảy ra.
Sau khi anh Quang về lại nhà của anh, tôi nhận ra tôi nhớ anh đến chừng nào. Và tôi có cớ để nói chuyện với anh Ngọc – người anh lớn mới của tôi. Tôi bảo anh kể lại những câu chuyện xưa về gia đình, về những vị anh hùng trong truyền thuyết của đất nước chúng tôi. Nói thật là tôi rất thích giọng của anh. Nó làm tôi nhớ đến Ba và khiến tôi tự hỏi Ba đang làm gì, đóng quân ở đâu. Hồi trước, Ba thường gửi thư về, Mẹ sẽ đọc to cho chúng tôi nghe, nhưng chúng tôi không nhận được lá thư nào kể từ chuyện ở Hồng Ngự. Giờ thì Mẹ cũng đi rồi nên tôi cho rằng chúng tôi phải đợi chiến tranh, đợi tất cả mọi thứ ổn định để mọi chuyện lại trở về như trước kia.
Gần một năm trôi qua mà nỗi mong nhớ gia đình cũ của tôi vẫn khôn nguôi, ít nhất là phần nào đó. Hồi tôi khoảng năm tuổi, dì Thu xuất hiện trước cửa Nhà Lá. Trong khi tất cả chúng tôi đều gầy nhẵng gầy nhăng vì ăn uống theo thực đơn kham khổ của bà ngoại, dì Thu lại tăng cân. “Dì đang mang bầu,” bà ngoại nói, tôi không hiểu vì sao bà lại thì thầm. Tôi không nhớ rõ lắm cái lần Mẹ mang bầu Em Bé, nhưng đó là khoảng thời gian có nhiều tiếng cười, nhiều dự định lớn lao. Bà cho dì Thu uống một loại trà loãng, và chúng tôi ngồi trên chiếc giường gỗ, chìm đắm trong những câu chuyện phiếm của gia đình. Tôi ngạc nhiên vì không ai đề cập đến đám cưới của dì – bình thường đây là chuyện trọng đại trong một gia đình Việt – nhưng sau đó, tôi biết được rằng điều này sẽ chẳng bao giờ xảy ra.
Tất nhiên, mấy lần trước dì có ghé qua, dẫn theo những người bạn trai. Một năm trước, dì ra mắt một chú sĩ quan quân đội Việt Nam điển trai. Chú này đã mời Mẹ và tôi cùng đi xem phim Bollywood với họ. Vì người soát vé rất mê Mẹ nên thường cho chúng tôi vào xem miễn phí, chuyện này không phải là chuyện to tát gì cho đến khi bà ngoại cho tôi biết chuyện này lạ chỗ nào. Bồ bịch thường muốn ở một mình, và vì Mẹ ít khi đưa chúng tôi đi chơi đâu nên bà cho rằng tôi đã làm điều gì đó đặc biệt để được ưu tiên như thế. Lý do gì thì cũng chẳng quan trọng với tôi, nhưng đó là lần đầu tiên tôi nhận ra đàn ông và đàn bà gặp rắc rối như thế nào khi tìm hiểu nhau, gây ấn tượng cho nhau trước khi kết hôn. Có lẽ dì Thu và ba của đứa bé không có thời gian để làm những điều đó. Dì giúp việc tại gia cho một gia đình giàu có trong thành phố, nhưng giờ, đứa bé sắp ra đời, bà ngoại nói tất cả đã kết thúc.
Dì Thu nhìn xuống tôi và hỏi, “Cháu nghĩ chúng ta nên đặt tên thằng bé là gì? Dì chắc chắn nó sẽ là con trai!.” Chưa bao giờ có ai hỏi ý kiến tôi về bất cứ điều gì, nói chi đến việc quan trọng như thế. Tôi há hốc sửng sốt và bắt đầu kể ra một lô một lốc những tên con trai mà tôi nghĩ ra, cho đến khi dì ngừng tôi lại và nói: “Hoàng, dì nghĩ chúng ta sẽ gọi nó là Hoàng.”
“Đó có nghĩa là hoàng tử!” tôi nói, cảm thấy tự hào vì vừa nhớ được một điều anh Ngọc đã chỉ.
“Ừ, đúng thế.” Dì Thu mỉm cười. “Nó sẽ là hoàng tử bé của dì! Và dì sẽ cho cháu phụ dì chăm sóc em bé. Cháu có thích không?” Tôi nói rằng tôi rất thích, và do đó Hoàng bước vào cuộc đời tôi. Dì Thu cho phép tôi sờ qua lớp áo để cảm nhận cái đầu nhỏ, cái chân hay cái mông của em, và tôi cảm thấy như được ôm cả thế giới.
* * *
Chẳng bao lâu sau chuyến viếng thăm, dì Thu dọn về ở với một đứa bé – giờ phải nuôi thêm một miệng ăn nữa, một cái miệng ồn ào. Nhưng tôi không quan tâm. Thỉnh thoảng, dì cho phép tôi bế Hoàng hay ru em ngủ khi những người lớn quá mệt hoặc quá bận. Thỉnh thoảng chính tôi cảm thấy mình như một người mẹ, dù tôi chỉ mới 6 tuổi. Tôi bắt đầu yêu quý Hoàng như em ruột. Vì có con nhỏ để chăm lo và cho bú mớm, nên dì Thu không thể đi làm bên ngoài. Dì dùng tiền dành dụm được mua một chiếc xe đẩy nhỏ để bán đồ ăn nước uống. Đồ dì bán – si-rô đá bào – là món ưa thích trong thời tiết oi bức quanh đây. Đặt xe hàng chỉ cách nhà vài bước, dì cố gắng bán tới giọt si-rô cuối cùng.
Cách dì làm dạy tôi rất nhiều về chuyện buôn bán. Dì dậy trước khi trời sáng đê hầm đậu xanh, đậu đỏ – việc cần thiết để giữ nguyên được hương vị thơm ngon – rồi nghiền mịn. Đến lúc bán, dì cho thêm hạt é, bánh lọt đủ màu, sương sáo, nước cốt dừa, và si-rô. Một băng đá lớn bọc bằng bao bố và vỏ trấu được giao tới vào sáng sớm, và đến khi tôi đánh răng rửa mặt xong, thì dì đã bào đá cho khách, bỏ những đồng xu vào hộp thiếc cũ.
Tuy dì có thể làm tất cả những chuyện này trong khi điệu em Hoàng trước ngực, nhưng nếu tôi ẵm em Hoàng thì sẽ dễ dàng hơn, nên chúng tôi thường làm việc như một đội, vỗ tay nhau như đội cổ vũ khi dì Thu đắt hàng. Chẳng bao lâu sau, dì Thu biết được tất cả sở thích của từng khách hàng và bổ sung thêm những loại đậu khác nhau, thêm bột báng, ít hay nhiều nước cốt dừa, và cho thêm nhiều nước đường, nhờ vậy, càng ngày càng có nhiều người muốn mua kem đá bào của dì. Vì chúng tôi không có tủ lạnh, nên đám chúng tôi được “hưởng xái” đồ thừa sau khi dì bán xong vào cuối mỗi ngày, dù lúc đó chỉ còn lại nước đường. Chúng tôi cũng không màng cho lắm. Đó vẫn là một món ngon, nên chúng tôi luôn thầm cầu nguyện một cách ích kỷ cho trời mưa để dì bán không hết.
Dù vậy, dì Thu không nghĩ rằng chuyện buôn bán của dì đã thành công. Nguyên liệu không miễn phí, giá cả phải phù hợp với giá thị trường nên tiền lời cũng không nhiều nhặn gì. Thời tiết xấu thì buôn bán ế, và tuy rằng lũ chúng tôi rất thích ăn đồ thừa nhưng chúng tôi biết mình đang nuốt chửng những đồng tiền lời của dì. Khi mùa mưa đến, trời mưa suốt nhiều ngày không dứt, mọi người hối hả đến nơi cần đến, người mua trở nên thưa thớt dần. Dì quyết định bán xe hàng và kiếm một công việc lâu dài hơn vì Hoàng (lúc này đã được 3 tháng) đã có thể uống sữa bột. Dì chỉ biết giúp việc nhà và hầu như người giúp việc nào cũng phải ở trong nhà chủ, nên dì phải dọn ra. Điều này cũng có nghĩa là “trại trẻ mồ côi” không chính thống của bà ngoại giờ có được bảy đứa, không đứa nào quá bảy tuổi.
Những tháng mưa gió u tối, buồn bã, ngay cả bà ngoại cũng trở nên lầm lì, ít nói khi sống trong tù túng với lũ nhóc chúng tôi. Bác Chiêu và bác Quế ít ghé lại hơn, công việc mới của dì Thu làm dì bận rộn suốt ngày đêm, nên chúng tôi có rất ít tiền. Bà ngoại thường phải vun vén làm sao để lương thực của một ngày có thể nấu được cả tuần. Chiêu quen thuộc của bà là nấu một nắm gạo với rất nhiều nước, thành một kiểu cháo loãng với vài ba hạt cháo trong mỗi chén. Bà nêm muối vào, và khi tôi đề xuất bưng chén lên uống (để tôi không phải rửa thêm muỗng), bà bảo “Không được, ăn bằng muỗng sẽ làm cháu ăn chậm hơn và giúp no lâu hơn. Thêm nữa, cháu sẽ không bỏ sót một hạt cháo nào!.” Thỉnh thoảng, chúng tôi được ăn cơm với nước mắm, lúc lại chan nước trà loãng để dễ nuốt và mau no hơn. Em Thủy đặc biệt thích món cơm chan trà, nên tôi hay nhường cho em phần của tôi khi chúng tôi được ăn món này. Khi tôi làm vậy, bà ngoại khẽ tay tôi, nhưng vì bà thường ăn sau cùng và ăn ít nhất, nên tôi nghĩ tôi phải noi gương bà. Một người hàng xóm của chúng tôi – cô Hân (chồng cô có công việc ổn định) – thỉnh thoảng ghé qua cho chúng tôi chút đồ thừa, và bà thường vờ bảo rằng chúng tôi không cần đến – đúng kiểu cách của một tiểu thư lớn lên ở miền Bắc. Tôi trở thành bạn bè thân thiết với cô con gái tên Trúc của cô Hân, cô bạn này cũng trạc tuổi tôi. Việc đến chơi nhà Trúc trở thành những dịp xả hơi vui vẻ, thoát khỏi căn nhà đầy nhóc anh em họ hàng, vì thế tôi thường nán lại khá lâu.
Trúc là một cô bạn thông minh, già dặn và không quan tâm lắm đến những trò trẻ con, nên những khi tôi qua chơi, chúng tôi toàn nói chuyện như người lớn. Gia đình Trúc theo đạo Phật nhưng bạn rất thích mọi thứ về đạo Công giáo, từ chuỗi hạt cườm của bà ngoại tôi cho đến cây thánh giá nhỏ xíu gắn trên vách lá nhà tôi. Bạn muốn biết ý nghĩa của những thứ đó nên tôi kể cho bạn nghe mọi điều tôi biết và cũng bịa thêm một số chuyện, vì khi đi lễ ở nhà thờ, chỉ có cha xứ mới được nói còn đối với lũ trẻ chúng tôi, nhiệm vụ tôn giáo cao cả nhất chúng tôi được phép làm là im lặng và ngồi yên. Đổi lại, Trúc kể cho tôi nghe mọi chuyện về đức Phật, về cuộc đời và chuyện thuyết pháp. Nghe bạn kể, tôi cảm thấy ông ấy giống như một ông bác vui vẻ hơn so với Thiên Chúa nghiêm trang và khắc khổ của chúng tôi. Cuối cùng, chúng tôi quyết định rằng cả Chúa và đức Phật đều tốt và thần thánh, chẳng có ai mắc sai lầm khi sống một cuộc đời như họ đã sống.
Tín ngưỡng và thế giới tâm linh là chuyện rất thật đối với hầu hết người Việt Nam, dù theo đạo Công giáo La Mã hay đạo Phật. Phải xoa dịu những linh hồn giận dữ, bằng không sẽ gặp họa. Ở xóm chúng tôi có một người, ông ta sống trong mộ của mình, và vì lý do nào đó, ngôi mộ nằm kế bên nhà Trúc thay vì ở nghĩa trang. Khi tôi hỏi Trúc về điều này, mắt bạn mở to và bạn thì thầm với tôi rằng linh hồn này vừa nói chuyện với ba mẹ bạn. Ông ta không vui vẻ gì khi đám trẻ hàng xóm tè lên ngôi mộ. Chuyện này có thật, mấy đứa con trai nghĩ tè trên mộ là vui lắm. Nhưng linh hồn thì không nghĩ vậy. Ông ta nói rằng nếu mộ của mình không được dời tới nơi an toàn và khô ráo hơn, ông sẽ “phá hoại” công chuyện làm ăn của gia đình Trúc. Lời đe dọa phát huy tác dụng. Vài ngày sau, ba Trúc dời bia mộ về sân sau nhà họ, dựng bàn thờ để thờ cúng và, để chắc chắn rằng linh hồn sẽ hài lòng, bắt đầu thắp nhang và cúng thức ăn như cúng Phật trong nhà. Chú ấy còn để một băng ghế đá lên chỗ cũ của ngôi mộ để người khác không chiếm dụng chỗ đó. Từ đó về sau, linh hồn giữ im lặng, và tất cả chúng tôi đều thấy nhẹ nhõm và vui vẻ hơn. Vì những chuyện này, công việc làm ăn của nhà Trúc không còn lao xuống dốc nữa và bắt đầu tiến triển tốt đẹp. Bạn muốn hiểu sao thì hiểu.
Việc tốt đẹp nhất khi đến chơi nhà Trúc là nếu chúng tôi nói chuyện và chơi với nhau lâu, mẹ bạn sẽ gọi chúng tôi ăn trưa, nên thỉnh thoảng tôi có ít nhất một bữa ăn đàng hoàng trong khi những người còn lại trong nhà tôi chỉ có nửa khẩu phần. Ban đầu thì tôi từ chối và nói với cô rằng thật không công bằng lắm khi tôi được ăn, trong khi em gái và anh chị họ đang nhịn đói, nhưng cô Hân cố nài. Thật ra, tôi càng từ chối thì cô càng tò mò về gia đình chúng tôi. Trong một bữa cơm trưa, cô hỏi về ba mẹ của đám trẻ trong nhà. Tôi kể cho cô nghe những gì tôi biết, rằng bác Chiêu là cảnh sát, bác Quế làm việc cho người Mỹ, còn dì Thu giúp việc trong phố. Tôi kể Ba tôi là lính phải đi làm nhiệm vụ ở xa, còn Mẹ tôi thì đang đi chợ ở một thành phố khác và sẽ sớm về với chúng tôi.
Nghe vậy, cả bàn đều im lặng. Khi chúng tôi ăn xong, cô Hân rửa chén, Trúc chỉ vào mảnh vải đen bên trên túi áo của tôi. Lâu nay tôi vẫn đeo nó nên thường quên rằng nó có ở đó. “Cái này là gì vậy?” Trúc hỏi.
Tôi nhìn xuống và sờ lên mảnh vải đen bà ngoại đã khâu vào áo ngay khi chúng tôi từ Hồng Ngự trở về. “Ờ… ờ thì bà ngoại bảo mình phải đeo nó để cho mọi người thấy mình yêu thương và kính trọng Ba Mẹ như thế nào.”
Trúc im lặng một lát rồi nói: “Mình nghĩ rằng bạn phải đeo nó thêm hai năm nữa.”
Việc này khá bất ngờ. “Vì sao vậy?”
“Vì mình đã thấy những đứa khác và cả người lớn cũng đeo nó. Mẹ mình nói đó là dấu hiệu để tang.”
“Để tang?”
“Bạn biết đấy, khi bạn rất buồn vì ai đó chết đi… Bạn hiểu chết là gì mà, đúng không?”
Thật ra thì tôi không biết, và vì giờ đây trong nhà Trúc trở nên tối sầm lại, mọi chuyện trở nên tù mù trong đầu tôi, tim tôi bắt đầu đập nhanh hơn nên tôi không thể nghe bạn nói, tôi chỉ có thể khẽ nhún vai.
“Chết là khi một người ngưng thở và được chôn dưới đất,” Trúc nói. Không một chút ác ý, bạn nói thêm: “Mẹ bạn đi chợ lâu rồi, phải không?”
“Anh Quang! Em không đi được! Em đang đứng trên một xác chết!.” Từ trong bóng tối của căn hầm hẹp, anh Quang nói: “Được rồi. Hãy vờ như chúng ta đang chơi trốn tìm. Em hãy nhắm mắt lại và đếm tới ba, rồi nhảy xuống và đi tìm Ba.” Tôi làm theo và nhảy xuống đất. Trời đã sáng hơn, và tôi thấy ngoài thân thể này và cái đầu kia còn nhiều thân thể khác. Khắp nơi vương vãi những cánh tay, những cẳng chân, những mảnh áo quần, đồ đạc, những chiếc hộp rỗng và những mái nhà rách nát. Trời mát mẻ nhưng không khí có mùi như trong một cái lò. Anh Quang theo sau tôi, leo ra khỏi căn hầm và Mẹ đưa Em Bé cho anh, người em giờ bê bết máu. Đến lượt Mẹ leo ra, người Mẹ cũng đầy máu từ vai trái xuống tới hông. Trong khi tôi đứng nhìn Mẹ, anh Quang trả em lại cho Mẹ, rồi lôi chiếc chiếu trong nhà ra, kéo nó sát bên căn hầm. Mẹ nằm lên đó, ôm Em Bé dưới cánh tay lành lặn của mình. Ngay lúc đó, một đám người – những hồn ma xám xịt với gương mặt vô hồn – tiến lại gần chúng tôi, bị ba người cầm súng dí sau lưng. Khi họ tới gần hơn, tôi thấy nửa số người có gương mặt vô hồn, không cầm khí giới trong tay, là những người lính như Ba, còn những người khác đang kinh hãi trông như những người vợ, những người ông, người bà mà chúng tôi đã thấy đóng trại quanh chúng tôi trong một tuần qua. Những người cầm súng trông như phiên bản lớn hơn anh Quang, họ không phải là đàn ông mà là những thằng nhóc.
Những người lính-hồn-ma không có vũ khí bị bắt quỳ xuống, quay mặt vào hàng rào. Thân nhân của họ ngồi xổm sát bên vách nhà của Ba. ẦMMMM!!! Một tiếng nổ lớn xé toạc không gian. Tôi không thở nổi, tai ù đi. Mọi người hoặc hụp xuống hoặc ngã xuống, nhưng không ai đứng dậy. Một người cầm súng vẫn nằm đó, cùng với thân nhân gồm anh Quang và tôi. Anh Quang ôm lấy cổ và nhìn xuống bàn tay dính máu của mình. Đàn chim xao xác bay khỏi bờ sông. Hai người còn sống tay cầm súng nhìn xung quanh, mắt mở to rồi chạy mất. Những người sống sót còn lại trong khu trại cũng nhìn quanh, rồi họ lóc cóc chạy theo hướng ngược lại, về phía bờ sông. Anh Quang, Mẹ, Em Bé và tôi là những người duy nhất ở lại. Em Bé bắt đầu gào khóc nên Mẹ phải cho em bú. Mặt trời đã lên quá ngọn cây, và tôi thấy một vết thương lớn đỏ au trên vai Mẹ, gần cổ Mẹ. Máu rỉ rả tuôn ra như nước được dẫn vào ruộng lúa. Giọng Mẹ làm tôi bừng tỉnh. “Đi tìm Ba con, nhanh lên!.”

Sau trận đánh – Cuộc thảm sát tại đồn lính của Ba ở Hồng Ngự (1964)
“Bé Hiền, cháu không sao chứ?” Cô Hân chạm vào vai tôi và cúi xuống, nhìn vào mặt tôi.
Tôi nhìn lên, trán tôi lấm tấm mồ hôi. Tôi không thể nói, không thể chớp mắt.
“Đến lúc về nhà rồi.” Cô Hân giúp tôi đứng dậy, rồi giúi một giỏ nhỏ chứa đầy trái cây và bánh gạo vào tay tôi. “Tụi con có thể chơi tiếp vào ngày mai. Nói với bà ngoại chuối và đu đủ là cho mấy đứa. Đây là đồ cúng nên không còn tươi nữa. Để lâu quá hư uổng. Ngày mai, cô đi chợ mua thứ khác.”
Đi chợ… Tôi đứng dậy và bỏ đi, loạng choạng như đứa trẻ đang tập đi. Lần đầu tiên trong đời, tôi tự hỏi có thật là Mẹ đang đi chợ không… Bạn biết đấy, như khi bạn buồn và nhớ ai đó đã chết và được chôn dưới đất…
Tôi đưa giỏ đồ cúng cho bà ngoại, bà liếc nhìn. Tôi lo bà sẽ bắt tôi quay lại bên kia đường, trở lại căn nhà đã làm mắt tôi cay xè, tai ù lại và bắt tôi trả lại nó. Nhưng thay vào đó, bà ngửi ngửi mớ trái cây để xem thử còn tươi không và nói: “Chúng ta có thể ăn đồ cúng Phật, miễn là mình không thờ Phật. Chúng ta biết ơn cô Hân vì cô có lòng tốt của người Công giáo, dù cô ta không theo đạo Công giáo. Cháu đi nói các anh chị tối nay chúng ta sẽ có một bữa thịnh soạn.”
Tôi leo lên giường với cái bụng no gấp đôi bình thường, nhưng không ngủ nghê gì được. Bà ngoại trở lại với nghi thức hằng đêm và đập nhẹ vào người mình cho đến khi bà khóc nức nở, trông như một tử thần bên dưới cái mùng rách rưới của bà, rồi bà nằm trở lại, nhắm đôi mắt buồn bã của mình. Tôi cũng nhắm mắt, cố hết sức để xua đuổi Con Quái Vật đã trở lại và ngồi nhìn tôi như một con rồng to khủng khiếp, chực chờ bẻ đầu tôi và đẩy tôi xuống đất. Cuối cùng, tôi nghe tiếng Mẹ xa xăm gọi tôi từ chợ, rồi chập chờn đi vào giấc ngủ.
Kỳ lạ là chính ngôi chợ trong xóm cuối cùng đã cứu sống tất cả chúng tôi.
* * *
Tôi không biết ba Trúc làm nghề gì nhưng chắc chú vừa mất việc. Cô Hân không còn mời tôi ở lại ăn trưa nữa, và những chiếc giỏ đựng đồ cúng mà chúng tôi đang sống nhờ vào đó trở nên thưa thớt dần rồi ngừng hẳn. Ngay cả Trúc cũng ít nói hơn và thường chơi ở xóm khác với những đứa khác, tôi đoán chắc bạn cũng trở thành một vị khách quen ở mấy khu xóm đó rồi. Chí ít giờ đây cả nhà tôi ai cũng đói, và mấy giỏ đồ cúng mà gia đình cô Hân đã hào phóng trao cho chúng tôi khiến bà gạt sĩ diện sang một bên, và bước ra thế giới bên ngoài để kiếm đồ cho vào bụng. Bà không biết chữ, gầy như một khúc cây, với bảy đứa nhỏ phải chăm lo nên không thể làm gì dù có kiếm ra việc. Thay vào đó, bà phân công tôi phụ việc cho bà; thế là trong khi những đứa trẻ khác trong nhà đi ngủ trưa, chúng tôi đến khu chợ gần đó, và khám phá ra một chiêu mới lạ để mua đồ.
Đầu tiên, bà bắt đầu cuộc trò chuyện thân mật với chủ quầy trong khi bà giả vờ như đang lựa hàng của họ, thỉnh thoảng bà mua vài thứ bằng những đồng tiền hiếm hoi của bác Chiêu. Sau một lúc, bà canh giờ để chúng tôi ghé lại vào lúc chiều muộn, khi những quầy hàng đang chuẩn bị đóng cửa. Chủ quầy đang muốn nhanh về nhà nên họ không phiền hà gì khi một bà già và đứa cháu gái nhỏ xíu của bà giúp họ dọn đáy thùng, đáy giỏ, nhặt nhạnh lá rau sót lại, cả mấy cọng trà mà bà xem như phần thưởng. Nếu có trái cây hay rau củ sót lại mà vẫn còn nguyên vẹn, đã bị dập hoặc sắp hư – bà ngoại sẽ chỉ ra mấy thức này, và than thở rằng giờ bà không có tiền, một tuần nữa bà sẽ quay lại mua. Hầu như người bán nào cũng biết đồ hư thì không để lâu được, vả lại dù có để được lâu thì cũng không ai mua, nên đa số sẽ bảo bà cứ lấy đi trong khi họ đang kéo dù hay bạt che nắng xuống. Tôi luôn tự hỏi vì sao bà cần tôi trong việc này cho đến khi một bà bán hàng vỗ vỗ đầu tôi và gọi tôi là “đứa trẻ dễ thương nhất” bà từng gặp, rồi cho tôi một mẩu đường vàng miễn phí. Chuyện này xảy ra lần nữa ở quầy khác, ở đó, một người đàn ông tốt bụng cho chúng tôi thêm một quả cam, và lần thứ ba thì người chủ cho bà ngoại lấy một nhúm thuốc lào để hút. Dù việc học chính thức của tôi chỉ khiêm tốn với vài tháng mẫu giáo, tôi có thể hiểu một cộng một bằng hai. Một bà già trò chuyện cùng đứa cháu dễ thương cũng có thể kiếm sống được chỉ bằng cách tỏ ra vui vẻ. Dù bà ngoại đã chịu cúi mình, nhưng việc này cũng có những giới hạn.
Một ngày Chủ nhật sau khi lễ xong, cha xứ thông báo rằng Hội Chữ thập đỏ Mỹ sẽ phát gạo cho những gia đình nghèo khó thông qua nhà thờ. Đối với tôi, chuyện này nghe thật tuyệt vời, nhưng bà ngoại lại nghĩ đứng trong hàng để chờ đồ phát chẩn của nhà thờ thì khác và, vì lẽ nào đó, tồi tệ hơn chuyện xin xỏ trái cây thừa từ những quầy bán thân thiện. Tôi chỉ ra rằng chúng tôi đã may mắn khi có ít thực phẩm để sống qua ngày, nhưng không người bán hàng nào cho gạo miễn phí, đây là lương thực quan trọng của người châu Á. Để chuyện dễ dàng hơn, tôi nói tôi sẽ đi với bà, cùng đứng xếp hàng với cái nồi nhỏ của mình để lấy được nhiều gạo hơn. Bà miễn cưỡng đồng ý.
Khi chúng tôi đến thì người ta đã xếp một hàng rất dài, nên có rất nhiều thời gian để nghe những người xung quanh bàn tán về quy định: mỗi nhà một phần – một phần hai lon, không thêm hạt nào. Tôi cảm thấy rất có lỗi vì đã ăn đồ cúng Phật của gia đình cô Hân. Tôi không cho rằng tôi khôn ngoan khi xúc phạm Chúa vì lấy hai phần đồ từ thiện của nhà thờ. Mặt khác, chúng tôi đã có hơn một gia đình sống dưới mái nhà mình, với gia đình bác Chiêu, em Hoàng con trai dì Thu, chưa kể đến em Thủy và tôi, nên nếu việc cộng thêm cái nồi nhỏ của tôi với phần của bà là một cái tội thì chắc cũng không phải là tội lỗi lớn lao gì.
Hàng người từ từ tiến về phía trước. Bà ngoại nhận phần của mình với cặp mắt cúi xuống đất đầy tôn trọng, và người phụ nữ tiếp theo cũng vậy, rồi đến lượt tôi. Tôi chìa cái nồi nhỏ của mình ra – chỉ bằng một nửa so với nồi của những người xung quanh – và ngước nhìn mặt một sơ xinh đẹp.
“Ồ, bé Hiền.” Sơ mỉm cười. “Ta vừa cho bà ngoại con khẩu phần của gia đình con rồi. Con không gặp bà à? Chắc là bà đang đợi con đấy.”
Tôi cảm thấy hai má nóng bừng, nhưng đây là lúc được ăn cả, ngã về không. Chúa sẽ hiểu thôi. “Con biết,” tôi nói, rồi lèo lái sự thật một chút. “Cái nồi này là của bác Chiêu, bác đang đi làm và hôm nay không đến đây được.”
Sơ liếc tôi nhưng rồi cũng đổ gạo vào nồi – chưa đầy một lon – rồi bảo tôi “chuồn mau đi,” và tôi vui vẻ làm ngay. Bà chỉ khịt mũi và nhìn chỗ khác khi tôi kể bà nghe chuyện (xưng tội rất tốt cho linh hồn mình). Tôi chuẩn bị để nhận một lời khen, hoặc là bị la một trận khi về đến nhà, nhưng không có điều nào xảy ra cả. Nhờ vậy chúng tôi được ăn cháo trong suốt hai tháng, kèm thêm những thực phẩm quý giá kiếm được ở chợ. Nếu Chúa hay Phật có trách tội chúng tôi thì họ cũng không thể hiện điều đó ra đâu.Sáu tháng nữa trôi qua với trái tim hân hoan và cái bụng no đủ, chúng tôi đủ ăn hơn trước đây nhưng vẫn còn ít hơn những gì mong muốn. Ngoại trừ những cơn ác mộng thỉnh thoảng ập đến như bom đạn trong đầu tôi, đó là khoảng thời gian vui vẻ và bình yên. Tôi phấn khởi đóng vai dì nhỏ với em Hoàng và cặp em bên hông, tha em đi khắp nơi như một người mẹ, cho em ăn cháo trắng và nước dừa, cho đến một ngày kia, dì Thu xuất hiện cùng ba của em.

Ba của Hoàng còn trẻ, đẹp trai và cao so với người Việt. Bà ngoại kể cho tôi biết chú là công chức ở một hãng hàng không và đang sống với mẹ như một người con trai hiếu thảo. Và vì chú là
người con hiếu thảo, chú không thể cưới vợ trái ý với mẹ, đó là lý do vì sao dì Thu phải làm mẹ đơn thân.
“Cháu thấy đấy,” bà ngoại nói với tôi sau khi họ đi khỏi, “người mẹ nào cũng muốn con mình cưới vợ tốt, còn dì Thu của cháu lại không được học hành đàng hoàng.
Nếu nó có tiền thì không có vấn đề gì. Nhưng dù là vậy thì nó vẫn thấp kém hơn chồng nó.”
“Nhưng mà,” tôi nói, “bà cũng không đi học, bà cưới ông ngoại và sống trong một ngôi nhà lớn ở miền Bắc. Bà có người ở, có đầu bếp và quần áo đẹp…”
“Đúng là vậy,” bà mỉm cười. “Bố bà cho bà chọn giữa việc kết hôn và việc học. Bà đã chọn cuộc sống gia đình. Bà đã nghĩ vì sao cần phải học khi con có chồng để lo mọi chuyện chứ? Việc đọc sách không làm chúng ta biết thay tã hay làm chuyện này chuyện kia! Bà cứ nghĩ cuộc đời sẽ diễn ra như thế, nhưng dĩ nhiên…,” bà bỏ lửng câu nói như khi bà đập vào ngực mình, nhưng đây chưa phải giờ đi ngủ – và những hồn ma sẽ không quay lại cho đến nửa đêm.
“Dù gì thì” – bà vỗ vỗ đầu gối tôi và đứng dậy để chuẩn bị cơm tối – “dì Thu chỉ muốn người đàn ông của mình được gặp con trai của anh ta trước khi chia tay. Nó sẽ ra Quy Nhơn làm việc cho người Mỹ. Dĩ nhiên là Hoàng sẽ ở lại đây cho đến khi cuộc sống của dì ổn định. Rồi thì, ai mà biết được? Có lẽ nó sẽ có một tấm chồng.”
Không lâu sau đó, chúng tôi có cuộc đoàn tụ gia đình khác, ít thân tình hơn. Bác Quế tạt qua để đưa ít tiền và kẹo cho con. Mấy đứa con của bác rất vui khi gặp bác, còn bác cố tình ngó lơ các cháu của mình – Hoàng, Thủy và tôi. Khi chuẩn bị đi, bác lạnh lùng nói: “Xin lỗi, không có kẹo cho đám tụi mày đâu. Nếu tụi mày là con tao thì khác, có cha mẹ sẽ khác. Hãy mừng là tụi bây không bị tống vào trại mồ côi,
tao còn cho tụi bây cái để ăn và chỗ để ngủ. Giờ thì đi giúp bà mày chuẩn bị cơm tối đi. Tao đói rồi, tao còn phải về nhà trước khi trời tối.”
Khi bác quay đi, em Thủy nhìn tôi, mắt em mở to và ngơ ngác như cặp mắt của một con mèo ướt. “Sao bác Quế ác vậy? Vì sao Mẹ chưa đi chợ về để lo cho chúng ta? Khi nào thì chúng ta sẽ đi gặp Ba?”
Tôi không thể trả lời các câu hỏi của em. Bản thân tôi cũng buồn và tổn thương, tôi đang cố gắng hết sức để không bật khóc. Tôi chỉ để em ôm tôi còn tôi thì ôm chặt em Hoàng như chuẩn bị tinh thần cho chuyến viếng thăm tiếp theo của Con Quái Vật.
* * *
Không may là Con Quái Vật trong giấc mơ không phải là thứ duy nhất tra tấn tôi. Không biết là do những câu chuyện phiếm qua lại của cô Hân với hàng xóm hay vì đó là việc ai cũng biết mà càng ngày càng có nhiều người – cả trẻ con lẫn người lớn – đều bắt đầu đối xử với chúng tôi như bác Quế, gọi chúng tôi là Đám con gái ngu xuẩn, hư hỏng, không cha không mẹ. Đám trẻ mồ côi xui xẻo! Tôi biết tôi không ngốc, nhiều đứa khác còn ồn ào và hỗn xược hơn tôi. Dù có mấy lần tôi đánh nhau vì chuyện gọi tên này kia, tôi vẫn không biết ý họ là gì khi gọi chúng tôi là lũ mồ côi, nên tôi đi hỏi bà.
“Đừng lo chuyện đó,” bà nói, cứ như thể đó chỉ là chuyện cái đầu gối bị trầy, nhưng tôi biết điều này cũng làm bà phiền lòng nữa. Một lần, bà ngoại phải lôi một bà mẹ đang phừng phừng tức giận ra khỏi tôi khi tôi có trận chiến kéo tóc với con gái cô ta, vì nó đã gọi tôi là “đồ mồ côi ngu ngốc hư hỏng.” Vì, theo lời nó nói, tôi không được dạy dỗ nên tôi cho rằng tôi có thể đấm nó, và tôi đã làm thế. Nó ngã xuống, nắm lấy tóc tôi theo cùng. Mẹ nó chạy ra khỏi nhà và túm lấy vai tôi, khiến bà tôi cũng đáp trả y như vậy.
“Con quỷ cái của bà là đồ ác ôn!” người phụ nữ trẻ la lên. “Phải dạy nó một bài học!”
“Nó không học được gì từ cô đâu!” bà to tiếng đáp lại. “Con ranh nhà cô nghĩ nó là ai mà gọi tên người ta thế này thế kia?”
Và chuyện xảy ra. Trận chiến bắt đầu. Người phụ nữ đánh bà ngoại, bà đang ghì lấy lưng cô ta và cả hai ngã xuống đất. Tôi nhảy lên lưng người phụ nữ còn đứa con gái kia đấm đá vào bà và tôi. Gần như ngay lúc đó, Trúc và ba mẹ bạn từ nhà chạy đến và tách chúng tôi ra.
“Cô làm gì vậy hả?” cô Hân la người phụ nữ trẻ, “Cô dám đánh cả một người già mà lại lớn lối nói về tư cách ư?”
“Đám mồ côi xui xẻo!” người phụ nữ hét lên rồi dắt con gái mình bỏ về phía nhà họ. “Chúng là tai ương cho cả cái xóm này! Nhìn chồng mày kìa – mất việc rồi đấy! Nếu mày thích chúng thì cứ chơi với chúng. Đám chúng mày cút xuống địa ngục hết đi!”
Cô Hân giúp tôi đưa bà về nhà – một cánh tay áo của bà bị xé toạc khỏi áo, và mặt bà bầm tím với nhiều vết cào. Dù tôi rất buồn vì bà bị thương khi bảo vệ tôi, nhưng tôi không bao giờ hối tiếc về chuyện đập vào mặt con nhỏ xấu xa đó. Nó không làm phiền tôi lần nữa. Cô Hân lau vết thương cho bà ngoại bằng khăn ướt, nhưng thật lòng mà nói, tôi đã nhìn thấy bà trông còn tồi tệ hơn trong một lần bà tự trừng phạt mình. Em Thủy lặng thinh đứng nhìn, và mơ hồ nhận ra rằng đây sẽ là một cảnh tượng quen thuộc. Sau đó, vì em mà mỗi ngày tôi phải đeo lên mặt chiếc mặt nạ dũng cảm, cũng như cái cách tôi mặc lên người áo quần sạch sẽ và đeo miếng vải đen – một cái khiên để bảo vệ cả hai chúng tôi.
* * *
Vài tuần sau, tôi phát hiện ra rằng những lần bác Quế ghé qua gửi lại tiền, kẹo, và cả sự ác ý không phải là tình cờ. Thời vận của bác đã thay đổi theo hướng tốt đẹp hơn, điều đó có nghĩa là bác có thể làm gì đó cho chúng tôi. Bất cứ ai làm gì liên quan đến người Mỹ cũng đều phất lên. Người Mỹ xuất hiện ngày càng đông ở khắp thành phố. Bác đã kiếm đủ tiền để thuê thầu khoán sửa sang lại căn nhà lá thành nơi thoải mái hơn cho bốn đứa con của bác. Nếu điều này làm lợi cho Thủy và tôi thì đây chỉ là tình cờ và nhất thời. Rõ ràng là bác Quế cho rằng cuộc sống của các con bác sẽ tốt hơn nếu chúng tôi không có mặt trong cuộc sống của họ.
Người ta thay tường lá, cột tre bằng cấu trúc hai tầng bằng xi măng để chống chịu mưa gió tốt hơn. Bên trong có trát vữa để nhà mát hơn và đẹp hơn – không phải là căn nhà đồn điền, nhưng chắc chắn là tốt hơn trước rất nhiều. Bác Quế rất hài lòng với ý tưởng này nên bác ghé nhà thường xuyên hơn và cho các con mình nhiều kẹo và tiền. Dĩ nhiên, đám họ hàng chúng tôi bị gạt ra, nhưng đây không phải điều mới mẻ gì. Điều mới mẻ là chị Liên – con gái lớn của bác, trạc tuổi em Thủy và giờ bắt đầu nhận ra những gì đang xảy ra trong nhà – đã đến gặp tôi trong khi bác Quế ở trong bếp và thì thầm “Đừng lo, chị sẽ chia phần cho em.” Cổ họng tôi nghẹn lại và mắt bắt đầu ngấn nước. Tôi không quan tâm đến kẹo, và dù rằng chúng tôi sử dụng tiền của bác, nhưng tiền không thể thay thế được sự quan tâm. Tôi không biết vì sao bác Quế lại đột ngột quay lưng với chúng tôi, nhưng số phận có vẻ như đền bù cho tôi phần nào khi mang lại cho tôi một người chị nữa.
Nhưng, vận may của tôi kết thúc trong cùng ngày hôm đó.
Lúc các anh chị họ và bà ngoại dẫn Hoàng ra ngoài chơi, bác Quế từ bếp lên với hai sợi dây thừng. Chúng thô ráp và cứng, như kiểu dây thừng chúng tôi thường dùng để cột những cây tre chống mái nhà, nên tôi không nghĩ ngợi nhiều về chúng – cho đến lúc này. Bác Quế cầm chúng như những cây roi.
“Cái đó để làm gì vậy bác?”
“Không có gì,” bác Quế nói. “Chỉ là mớ dây cũ tao cần kiểm tra lại. Dùng để sửa nhà. Chỉ mất vài phút thôi. Không đau đớn gì đâu.”
Không đau đớn?
Bác bảo Thủy và tôi đứng trên giường của bà ngay bên dưới thanh xà đỡ mái. Bác nhanh tay cột dây quanh cổ tay chúng tôi, rồi đưa lên tới đầu. Bác vòng dây vào cổ chúng tôi mấy vòng liền rồi ném sợi dây qua thanh xà. Rồi bác giật mạnh sợi dây, nhấc bổng chúng tôi lên.
Chúng tôi cố la hét nhưng cuộn dây làm chúng tôi nghẹn thở. Bằng sự thuần thục như thợ lành nghề, bác Quế cột đầu dây dài vào chân giường, và rồi đứng lùi ra, chiêm ngưỡng công trình của mình. Chúng tôi vùng vẫy như cá sa vào lưới, những giọt nước mắt lặng lẽ chảy trên má chúng tôi, nhưng bác ta chỉ đứng nhìn. Bác khụt khịt gì đó, có lẽ là khúc khích cười, rồi mở nút cột khỏi chân giường, chúng tôi rớt bịch xuống chiếu.

“Được rồi, cũng không đến nỗi nào, đúng không? Giờ thì thử kiểu khác nhé.”
Bác cởi dây khỏi cổ và tay, rồi cột vào mắt cá chân chúng tôi. Chúng tôi còn quá nhỏ, hoặc quá hoảng sợ, hoặc quá ngu ngốc, hoặc quá cả tin, nên không đứa nào giẫy giụa, hay la hét, hay đấm đá khi có cơ hội. Trước khi chúng tôi kịp nhận ra thì sợi dây lại được siết chặt, và chúng tôi bị treo ngược như những con gà bày bán trong chợ.
“Chúng cháu đã làm gì để bác tức giận đến vậy?” tôi hỏi qua đôi môi run rẩy. “Tại sao… tại sao bác làm đau chúng cháu?”
“Thôi thôi, im nào,” bác hờ hững nói. “Tụi bây không chết được đâu. Hãy câm mồm. Tao sẽ trở lại.”
Nói xong, bác đi khỏi nhà. Bị bỏ lại một mình mà không có người lớn nào – thậm chí đó là người đã tra tấn mình – làm em Thủy sợ hãi hơn sợ sợi dây thừng, nên em bắt đầu khóc. Nhưng tiếng trẻ con khóc không phải chuyện lạ lùng gì ở xóm chúng tôi. Trong tiếng la hét chơi đùa của mấy người anh chị họ và lũ trẻ ngoài kia cùng tiếng xe cộ trên đường, chẳng ai nghe thấy chúng tôi. Tôi cố gắng rướn người, chồm tháo dây buộc cổ chân nhưng không đủ sức nên rớt về vị trí cũ. Thủy càng la hét, tôi càng quyết tâm không khóc. Tôi vặn vẹo để nhìn ra cửa, nhưng bác Quế đã đóng nó lại sau khi bước ra khỏi nhà. Tôi đành vặn vẹo trở lại trong vô vọng. Trong thâm tâm, sự sợ hãi đang biến thành nỗi căm phẫn. Lần đầu tiên, trái tim sáu tuổi của tôi biết thế nào là căm ghét, và tôi thề rằng bác Quế sẽ không bao giờ làm tôi khóc một lần nào nữa. Tôi nói lớn, “Khi chị em mình lớn, không ai có thể bắt nạt chúng ta. Đừng khóc nữa, em gái à….”
Anh Quang nắm lấy tay tôi, và chúng tôi chạy thật nhanh xung quanh tiền đồn, nhảy cóc qua những xác chết và gạch đá đổ nát, vừa chạy vừa gọi “Ba ơi, Ba ơi…” nhưng không có tiếng trả lời. Chúng tôi quay trở lại với Mẹ và Em Bé lúc này đang nằm trên chiếu, và Mẹ bảo chúng tôi tìm cái lò than và một cái nồi trong nhà Ba. Nghe lời Mẹ, tôi nhặt gạo rơi vãi trên đất, còn anh Quang xuống sông xách nước. Chúng tôi nhóm lửa và nồi cơm bắt đầu sôi lên. “Cho ít nước gạo vào chén để Mẹ uống,” Mẹ nói, “Mẹ cần uống nước để có sữa cho Em Bé.” Vai mẹ vẫn còn rỉ máu, và mẹ bắt đầu trông như một quả chuối chín nẫu – khô quắt lại, biến sắc và dập nát. Anh Quang đang đút từng muỗng nước gạo cho Mẹ thì hai thằng lính mặt non choẹt, mặc đồ màu đen, đội nón lá, mang dép cao su xuất hiện ở chỗ chúng tôi. Hai thằng lính trẻ con này mang súng có lưỡi lê lớn gắn trên đầu súng. Một đứa đá anh Quang ra rồi xé toạc áo Mẹ, làm lộ một bên ngực, rồi bên ngực còn lại. Chúng cười lớn cho đến khi thấy vết thương trên vai Mẹ. “Bả không qua nổi đâu,” một đứa nói rồi quay qua vỗ vỗ lên đầu tôi. “Đừng có lo, em gái. Ai đó sẽ tìm thấy em.” Chúng đi khỏi. Anh Quang giơ nắm đấm và bắt đầu ném cái muỗng về phía chúng, nhưng Mẹ hét lên “Dừng lại.”
Sau khi chúng tôi bị treo trong một lúc lâu – Một tiếng? Hay lâu hơn? – bà ngoại ẵm Hoàng từ cửa bước vào. Thấy chúng tôi, bà sững người. “Lạy Chúa tôi!” bà la lên, đặt Hoàng xuống rồi chạy đến giường. Bà tháo dây ở cổ chân tôi trước, thả tôi xuống giường. “Chuyện gì thế này? Ai gây ra chuyện này?” Thủy rớt xuống bên cạnh tôi. Chúng tôi xoa xoa cổ chân phồng rộp, còn bà thu dây từ trên thanh xà xuống. Trước khi chúng tôi kịp trả lời, bác Quế bước vào.
Bà ngoại trừng mắt giận dữ: “Cô gây ra chuyện này đúng không?”
Bác ném cho chúng tôi ánh nhìn khinh bỉ mà không nói gì.
Bà ngoại nạt: “Chúa có thể tha thứ cho cô, nhưng tôi thì không. Như thế này là quá đủ! Quá đủ!.”
Bác Quế thò tay lấy cái ví từ trên kệ rồi quay ra cửa. “Bình tĩnh đi bà già,” bác nói khi đi ngang qua chúng tôi. “Tụi nó không chết được đâu.” Bác rời nhà và ngọt giọng gọi đám con của mình, “Chào các con nhé! Ngoan với bà nội nha các con!.”
Thủy nín khóc còn bà kiểm tra cổ tay và cổ chúng tôi. “Vì sao cô ta lại làm điều này chứ?” bà hỏi, không thể tin được cũng như chúng tôi vậy. “Các cháu làm cô ta giận à?”
“Chúng cháu không làm gì hết,” tôi nói. “Chỉ là bác không ưa chúng cháu.” Im lặng. Một sự quyết tâm mới mẻ dâng lên trong tôi và tôi bật thốt ra, “Và chúng cháu cũng không ưa gì bác ấy.”
“Các cháu không cần phải yêu thích cô ta,” bà ngoại nói, sự thấu hiểu của bà làm tôi kinh ngạc. Vậy mà tôi cứ nghĩ rằng mình sẽ bị rầy vì dám nói về người lớn một cách hỗn hào như vậy.
Nếu bác Quế không ưa chúng tôi – ghét chúng tôi đến nỗi tra tấn chúng tôi – hẳn bác có lý do của bác. Nếu bác muốn giết chúng tôi, bác sẽ có nhiều cách khác, nhanh hơn và chắc chắn hơn, như cách mà người lớn vẫn giết heo, giết gà. Nếu bác muốn chúng tôi cảm thấy tồi tệ, thì bác đã biết cách làm điều này rồi, bằng cách ưu ái con mình hơn, đến mức nhục mạ chúng tôi. Không. Bác đang nghĩ điều gì đó khác. Bác muốn chúng tôi biến đi. Bác muốn làm chúng tôi khiếp sợ đến mức phải bỏ đi hoặc làm bà sợ đến mức bà phải tìm cho chúng tôi ngôi nhà khác, hoặc cho chúng tôi vào trại trẻ mồ côi. Chỉ có cách lý giải này thôi.
Tôi nhìn em gái tôi và giúp bà xoa bóp đôi chân trắng bệch của nó. Em nấc lên từng tiếng trong mỗi hơi thở. Ngay lúc đó, tôi quyết tâm rằng dù cho bà ngoại luôn có thể bảo vệ tôi, nhưng người duy nhất tôi có thể dựa vào là chính bản thân mình.