Dịch giả: Hoàng Phương

Phải Sống

Lượt đọc: 438 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Lời Cuối
MỤC ĐÍCH CỦA CUỘC ĐỜI

❊ ❊ ❊

Tất nhiên cuộc sống vẫn tiếp diễn, và tôi cũng tiếp tục sống. Một người con tốt, một người mẹ tốt cũng giống như một người lính tốt không bao giờ rời bỏ vị trí.

* * *

Đó là tháng Giêng năm 1987, và tôi có hai đứa con nhỏ, bốn và hai tuổi, đã sớm mồ côi cha. Theo bà ngoại tôi kể lại thì Ba tôi mồ côi từ hồi Ba mười bốn tuổi. Tôi mồ côi Ba Mẹ mình từ lúc bốn tuổi. Tôi không phải là người theo đạo Phật nhưng ở bên mộ của Ronnie, tôi đã thề rằng con tôi sẽ không lặp lại cái vòng luân hồi này.

Với sự ra đi của Ronnie, tất cả mọi quyết định trước đây thường do anh quyết hoặc dượng Al hoặc bà ngoại – về việc phải làm gì, đi đâu hay sống thế nào – giờ là của tôi. Vì các con mình, tôi đã thề sẽ có những quyết định sáng suốt và khôn ngoan.

Chẳng bao lâu sau ngày Ronnie mất, dượng Al đưa cho tôi một tờ hóa đơn liệt kê rõ chi phí 3.100 đô mà dượng nói đã chi ra để xây một cầu thang cho Ronnie dùng khi ngồi xe lăn, với chi phí chi tiết đến từng con ốc. Toàn bộ những cái đó không thể lên tới vài trăm đô-la, nhưng dượng đòi tôi trả lại. Trong khi chủ đề này được đưa ra bàn tán, thì dượng còn yêu cầu tôi sau khi dượng chết, tất cả đám chúng tôi – tôi, anh Quang và Thủy phải đền đáp dì Thu bằng một khoản chi tiêu mỗi tháng, trả công cho việc đã nuôi chúng tôi và đưa chúng tôi đến Mỹ. Được thôi, tôi nghĩ, nhưng ngay lúc đó tôi không có tiền. Tôi nói dượng Al tôi sẽ trả tiền cầu thang xe lăn khi nào quân đội trả bảo hiểm sinh mạng cho Ronnie, nhưng một năm trời liền tôi không nhận được khoản tiền này. Vì những lý do nào đó không thể lý giải được, Ủy ban Cựu chiến binh ban đầu không tin rằng tôi là vợ của Ronnie. Phải mất nhiều tháng liền với các thủ tục qua lại, cùng với sự hỗ trợ tận tình của một luật sư trẻ của JAG[25], rồi họ mới chấp nhận. Tôi trả lại tiền làm cầu thang cho dượng Al – không thiếu một xu. Giống như mọi thứ khác trong mối quan hệ đầy rắc rối của chúng tôi, dượng không bao giờ có thể quyết định nên là ma quỷ hay là một vị thánh.

Dượng Al qua đời năm 2002 tại khu cựu chiến binh ở Wilburton, Oklahoma, và dì Thu vẫn còn sống ở đó. Giờ này, dượng đang được những đấng tối cao hơn tôi phán xét, và tôi chỉ có thể cầu nguyện linh hồn dượng tìm thấy bình an.

Năm 1990, tôi xin được việc làm và là nhân viên lập trình ở Ủy ban Cựu chiến binh (VA) (ít nhất tôi cũng biết ít nhiều những thủ tục hành chính) ở Atlanta, Georgia. Tôi và hai con rời khỏi Durant, Oklahoma (nơi tôi đã tiếp tục theo học chương trình Cử nhân tại Đại học Southeastern Oklahoma State) để dọn đến miền Nam và ở đó, năm 1991, tôi hoàn tất chương trình đại học của mình, nhận bằng cử nhân Kinh doanh ở trường Đại học Saint Leo. Tôi sẽ luôn luôn biết ơn những giáo sư ở đó (có lẽ họ chính là những thiên thần) vì đã cho phép hai đứa nhỏ được theo tôi đến các lớp học ban đêm khi tôi không tìm được người trông trẻ. Những thiên thần hộ mệnh của hai thằng bé hẳn đã giữ chúng im lặng ở cuối lớp, vì chúng rất ngoan, không bao giờ đòi đi vệ sinh cho đến giờ giải lao. Tôi thật may mắn!

Thủy – em gái tôi, người đã rất nhút nhát và sợ trường lớp – đã có bằng Cử nhân tại Đại học Southeastern Oklahoma State. Thủy và hai cô con gái (Vi Vi và Ngọc) dọn về Atlanta cùng với chúng tôi, và ở đó, em cũng xin vào làm việc cho VA, chi nhánh IT. Em gặp chồng mình, ông Horace ở VA và họ vẫn còn ở Duluth, Georgia đến tận hôm nay.

Anh Quang đã có một sự nghiệp lâu dài và thành đạt với hãng xe General Motors (GM). Anh hiện đang sống và làm việc tại Arlington, Texas. Anh có ba người con trưởng thành: Minh, Michael và Tú Anh.

Bubba (Hoàng), là một nhân viên trung thành và kỳ cựu tại công ty giao hàng khắp thế giới United Parcel Service, Inc. (UPS). Bubba hiện đang sống ở McAlister, Oklahoma với vợ mình là Mary, cách nhà dì Thu khoảng 30 dặm. Họ có ba người con: Tyler, Miranda và April.

Năm 1995, tôi trở về thành phố Oklahoma, và một năm sau đó, bắt đầu sự nghiệp của một nhân viên dân sự của lực lượng Không quân, làm việc cho Trung tâm Không vận ở Tinker AFB. Ở đó, tôi đã có bằng Thạc sĩ Khoa học chuyên ngành Quản lý và đã đậu kỳ phỏng vấn để được nhận làm nhân viên hợp đồng, nghĩa là với chữ ký của mình – tôi đã luyện tập rất lâu ở những trường Việt lẫn trường Mỹ trong những năm khó khăn – tôi có thể làm những hợp đồng mua bán cho chính phủ Mỹ có hiệu lực. Không xoàng đối với một cô nhóc gầy tong yêu quý những cây bút của mình và màu mực tím! Chức vụ đầu tiên của tôi là nhân viên hợp đồng cho chương trình B-2 Stealth Bomber, nhưng những nhiệm vụ sau này đã mang tôi đến với những công việc về không gian thông qua nhiều chương trình vệ tinh khác nhau.

Sự nghiệp với lực lượng Không quân cuối cùng đã mang tôi tới Nam California vào năm 2005, và hiện nay tôi vẫn còn làm việc ở đây. Tôi đảm nhận một vị trí với USAF Space and Missile Systems Center (Trung tâm Không gian và Hệ thống tên lửa) tại căn cứ không quân Los Angeles Air Force Base (tọa lạc tại thành phố biển El Segundo, tên gọi của nó có nghĩa đen là “căn cứ không quân” duy nhất trong nước không có đường bay!). Tôi tiếp tục là phó Trưởng phòng ở nhiều phòng ban khác nhau.

Về mặt trận trong nhà, như những bậc cha mẹ đơn thân khác, một mình nuôi con cái là một việc khó khăn. Hai đứa trẻ là những cậu nhóc tuổi teen – thông minh nhưng có những suy nghĩ riêng về mọi việc, thường khác xa ý kiến của mẹ chúng. Tất cả chúng tôi đã sống sót và cả hai con đều tốt nghiệp đại học – đứa con út là kỹ sư điện tử, còn đứa lớn học về kỹ sư vi tính – cả hai đều làm việc tại Tinker AFB. Jon cưới một người vợ Việt, Tâm, và chúng đã cho tôi bốn đứa cháu – Jaimee, Justin, Tyson và Whitney, tất cả đều được ban cho những thiên thần hộ mệnh của chúng. Năm 2014, Eric và Hồng cưới nhau. Cả hai đứa con của tôi đều tiếp tục truyền thống của ba, đó là đoàn kết hai dân tộc bằng tình yêu, để cho quá khứ bất hòa có thể trở thành một tương lai tươi sáng hơn.

Dù cho các con tôi và gia đình chúng vẫn ở Oklahoma, chúng tôi gặp nhau mỗi năm vài lần và thường xuyên sum vầy với ông bà nội Choat, ông bà cố khỏe mạnh góp phần làm sống lại quá khứ của chúng tôi.

* * *

Năm 1991 là lần đầu tiên tôi và anh Quang trở lại Việt Nam sau chiến tranh. Tôi rất trông mong gặp lại bà và bác Chiêu, và có lẽ là để biết thêm điều gì đó chắn chắn hơn về số phận của Em Bé. Chúng tôi đến thăm chú Thành và chị cả của Ba – bác Thơi. Chúng tôi nhắc họ nhớ lại lời hứa của họ khi chúng tôi còn nhỏ, rằng họ sẽ cho chúng tôi biết sự thật về Em Bé khi chúng tôi lớn lên. Chú Thành chỉ nhìn tôi bằng vẻ mặt buồn, ngơ ngác. “Chú xin lỗi. Chú không thể kể chuyện đã xảy ra, nên xin đừng hỏi chú nữa.”

Tim tôi chùng xuống, và lúc đó tôi biết rằng, cuối cùng thì chúng tôi sẽ không bao giờ biết được sự thật. Anh Quang và tôi nhìn nhau.

“Tụi cháu đã đợi một thời gian dài, đây không phải là câu trả lời tụi cháu mong đợi,” anh Quang nói.

Chú Thành và bác Thơi vẫn im lặng…

Chuyến về nước năm 1991 là lần cuối cùng tôi gặp bà ngoại. Bà đã sống với bác Chiêu và các con trai của bác, anh Ngọc và anh Đức, và bà vẫn rất thích hút thuốc vào chiều tối. Bà nói rằng bà rất nhớ mấy đứa cháu mà bà đã nuôi và rất hài lòng vì anh Quang, Thủy, Bubba và tôi đã an toàn, sống thoải mái ở Mỹ, và rằng chúng tôi đã cho bà những đứa cháu cố.

Tôi nhớ những câu chuyện bà kể cho chúng tôi nghe về thời bà sống ở miền Bắc với tuổi thơ và thời tuổi trẻ no đủ, sung sướng, về cuộc hôn nhân hạnh phúc với ông ngoại Phan và cuộc sống hạnh phúc của họ ở đồn điền với mười một người con. Sau khi họ mất tất cả – gồm sáu người con thân yêu – và phải trốn vào miền Nam, bà sống cuộc đời của một nông dân nghèo khổ. Nhưng nỗi buồn mất con, mất nhà quá sớm sau khi ổn định tại miền Nam, chồng bà và một đứa con nữa cùng con rể bà cũng qua đời (để lại bốn đứa con) không làm bà ngã quỵ bởi sự thương thân trách phận. Bà rất khôn khéo, quyết tâm và có bản năng sinh tồn dưới bất cứ tình huống nào, dù kinh khủng như thế nào nữa. Bà đã một tay nuôi nấng chăm sóc cho bảy đứa cháu, không có đứa nào trên tám tuổi từ đầu cho đến xuyên suốt cuộc chiến Việt Nam những năm 1960 và đầu những năm 1970. Nếu không có tình thương, sự can đảm và tận tụy của bà dành cho tất cả chúng tôi, không đứa nào có thể sống qua chiến tranh, và chúng tôi cũng không thể là một gia đình nguyên vẹn. Bằng cách nào đó, dù trong cái khốn cùng nhất của nghèo đói, bà vẫn kiếm cho chúng tôi cái ăn, cái mặc và một mái nhà trên đầu trong khi trận chiến đang khốc liệt bên ngoài cửa. Và tôi chưa bao giờ nghe thấy một lời phàn nàn nào của bà, không một cái than vắn thở dài, không một chút giận dữ ca thán trong giọng nói vào những lúc hiếm hoi bà kể về cuộc sống sung sướng mà bà đã mất – chỉ có nỗi buồn thăm thẳm cho những đứa con đã qua đời vẫn còn ở lại với bà trong suốt cuộc đời.

Tôi không thể tưởng tượng ra thế giới như thế nào nếu không có bà, và đến năm 1995, cuối cùng tôi cũng đã biết được nỗi mất mát đó. Bác Chiêu vấp té khi rời một quán rượu vào một buổi tối và đập đầu vào một tảng đá. Bác qua đời ít lâu sau đó. Việc này là quá sức chịu đựng đối với bà ngoại. Chín trong mười một người con của bà, ngoài dì Thu và cậu Hải – cả hai người đều sống ở Mỹ – đều chết trước bà. Bà không còn muốn sống nữa vì không có họ. Bà bỏ ăn và qua đời sau bốn mươi ngày và bốn mươi đêm. Điều đáng buồn là bà mất một tuần trước khi tôi trở lại Việt Nam với con trai mình, một chuyến đi tôi đã dự tính trước để chúng có thể gặp được bà cố chúng, và bà có thể gặp được cháu cố. Bà đã sống 106 năm. Khi bà mất, một nguồn sáng đã rời khỏi thế gian.

Vào tháng 12 năm 2011, anh Quang và tôi đáp xuống sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất sau một chuyến bay dài băng qua Thái Bình Dương. Đối với tôi, đó là chuyến thứ tư đến Thành phố Hồ Chí Minh, trước đây là Sài Gòn, kể từ khi vội vã rời đi vào năm 1975. Đối với anh Quang, đó chỉ là lần gần nhất trong nhiều lần trước đó. Đối với cả hai chúng tôi, mỗi lần trở về đều mang lại những mong đợi đầy lạc quan rằng mọi việc bằng cách nào đó sẽ khác, rằng chúng tôi sẽ có thể xâu chuỗi lại những mảnh ghép cũ và sẽ phát hiện lại những gương mặt thất lạc. Chúng tôi hy vọng về những điều tốt đẹp nhất trong khi vẫn chuẩn bị tinh thần cho những điều tồi tệ, bởi vì những tin tức tồi tệ nhất cũng sẽ được chúng tôi đón nhận nếu nó có thể giúp chúng tôi tìm được câu trả lời cho những câu hỏi cũ đã ám ảnh chúng tôi.

Không giống như khu phức hợp hậu thuộc địa cũ nát chúng tôi bỏ lại năm 1975, Tân Sơn Nhất chào đón chúng tôi với cấu trúc sáng choang kính và thép, biểu tượng cho sức mạnh của một Việt Nam mới hơn. […] Mỗi chuyến về nước là mỗi lần tôi thích thú khi thấy ngày càng nhiều học sinh với những lá cờ Mỹ được thêu trên những chiếc ba lô thời thượng của chúng như là cách để trông “ngầu,” “chất” – cũng giống như những cửa hàng thức ăn nhanh ở những khu trung tâm thương mại hào nhoáng có treo biển hiệu với những lá cờ Mỹ kèm dòng chữ “Bò Mỹ 100%.” Và tôi cũng có chút tự hào rằng quần áo tôi mặc hôm nay thường có mác “Made in Vietnam.” Như thường lệ, Việt Nam là một nơi tuyệt vời để ghé thăm – và thậm chí là để uống một ly Starbuck – miễn là bạn nên để mắt trước những cú bom về văn hóa.

Đối với anh Quang và tôi, nhiệm vụ của chúng tôi không phải là chống phá thể chế mà chỉ để tìm kiếm những câu trả lời. Chúng tôi muốn trở lại Hồng Ngự để xem thử mộ của Mẹ có còn ở nơi mà chúng tôi đã chôn Mẹ vào năm 1964 ở Cù lao Mả trên sông Cửu Long hay không. Tôi biết rằng chúng tôi sẽ có rất ít cơ hội tìm ra chỗ quen thuộc, nhưng trái tim tôi mách bảo chúng tôi cố gắng. Chúng tôi còn hy vọng để tìm, có lẽ, một người cựu binh già nào đó còn sống ở khu vực này, một người có thế sẽ biết về Ba tôi, về số phận của Ba, và tìm ra bất cứ ai – dù bên nội hay bên ngoại – có thể nhớ Em Bé và có một chút tin tức nào đó về chuyện đã xảy ra với em. Dù chắc chắn “sẽ không bao giờ biết được” sau cuộc nói chuyện trước với chú Thành và bác Thơi, chúng tôi vẫn mong giải đáp được câu đố về sự biến mất của em. Chúng tôi vẫn còn thầm cầu mong rằng em còn sống, đang sống tốt và có một gia đình thương yêu em, dù cho gia đình đó không phải là gia đình em.

Bên ngoài sân bay, chúng tôi gặp một người phụ nữ dễ thương, thấp người, độ ba mươi tuổi với trang phục phương Tây thời thượng. Em luồn lách trong đám đông để vẫy một tờ giấy lên quá đầu, gọi tên anh Quang với cái giọng thân thiện.

“Đó là Nhung,” anh Quang nói.

“Hướng dẫn viên của anh à?”

“Người hỗ trợ cho chúng ta. Nhiều người làm ăn và phóng viên nước ngoài cần đến họ. Bất cứ thứ gì em cần – khách sạn hoặc đặt chỗ cho bữa tối, phương tiện đi lại, đến nơi nào đó, hay hẹn gặp những nhân vật chủ chốt – cô ấy là người của em.”

“Là cò sao?” Cò là một phần không thể thiếu trong cuộc sống ở châu Á. Họ có thể tiếp cận được bất cứ ai, bất cứ ở đâu, và bất cứ cái gì – với một mức giá. Họ là người có thể giúp bạn có được một cuộc phỏng vấn với Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp hoặc một tay anh chị, một chiếc Aston Martin bằng vàng hay một chai Glenlivet 21 tuổi, tìm ra tất cả sau một tiếng và giữa một mớ hỗn độn. Vài tay cò mồi chuyên làm những chuyện phạm pháp có thể gặp rắc rối với pháp luật, nhưng những người cán bộ thường sẽ nhắm mắt làm ngơ với họ khi có sự ăn thông giữa hai bên.

“Cò?” anh Quang nhún vai. “Giống “người dàn xếp mọi chuyện” hơn. Thường ngày, cô này làm cho một công ty nhập khẩu Hà Lan. Đây là việc làm thêm. Nhung chỉ muốn giúp mọi người.”

Họ bắt tay nhau, rồi anh Quang nhét vào tay cô một cuộn tiền lớn. Đây không phải là tiền công, chỉ là khoản ứng trước cho những chi phí cô sẽ trả để đưa chúng tôi ra vào một số chỗ, ăn tối sang trọng ở nhà hàng và trả tiền taxi. Anh giới thiệu chúng tôi với nhau và Nhung chào tôi như một người chị em. “Chào chị!” cô nói rồi đưa điện thoại di động lên tai, nói nhanh và một chiếc Mercedes đời mới ngay lập tức đỗ lại ở đầu hàng. Người tài xế nhảy ra, mở cửa, và đặt hành lý của chúng tôi vào cốp.

“Nhanh thật!” tôi nói, hoàn toàn ấn tượng. Đây là một sự thay đổi lớn so với những chuyến trước của chúng tôi, khi tôi phải chờ nửa tiếng để đón một chiếc taxi và thời gian còn lại giải thích cho họ làm sao để đến nơi tôi muốn đến.

“Tụi em phục vụ tốt nhất cho khách VIP,” Nhung trả lời với một nụ cười. “Chúng ta sẽ thuê xe và tài xế riêng để đến Hồng Ngự vào ngày mai. Lần này thì chị không phải đi xe đò đâu.”

Trên đường đến khách sạn, tôi mượn điện thoại của anh Quang để gọi người bạn cũ của tôi – Thơm, bạn Thơm Ròm đã bảo vệ tôi khỏi những kẻ bắt nạt lớp năm suốt thời gian ở Trại Cá. Tôi đều ghé thăm bạn mỗi lần về nước, và lần này cũng không ngoại lệ. Nhờ bạn, tôi biết được rất nhiều về cuộc sống hậu chiến ở Việt Nam. Đa Minh, nơi bạn vẫn sinh sống, đã thoát khỏi những đối xử khắc nghiệt mà những người miền Nam phải chịu đựng. Giờ bạn đã có chồng, Bằng, người làm tôi nhớ đến Ronnie, và hai đứa con giỏi giang. “Chúng mình xoay xở được” là những gì bạn nói trừ phi tôi hỏi những câu cụ thể hơn. Vì “tai vách mạch rừng” nên không nên nói quá nhiều. Lần này, Thơm sẽ đi với người chị lớn của mình đến Hồng Ngự – không phải là một chuyến đi dễ chịu nhưng cần thiết.

Sài Gòn hiện tại – Thành phố Hồ Chí Minh – là và đã luôn là một nơi hòa trộn thú vị giữa cũ và mới. Chính quyền hậu chiến đã đổ vào rất nhiều tiền để làm thành phố đẹp hơn, giữ lại những con đường rộng có hai hàng cây đã giúp cho Sài Gòn được mệnh danh là “Paris của Phương Đông,” trong khi vẫn xây dựng những tòa nhà văn phòng và chung cư cao tầng với tường kính. Những chiếc Mercedes và BMW đời mới, Ford và Toyota đẹp đẽ dường nào cũng có như những thành phố lớn khác. Chỉ trong một vài năm tôi trở lại, sự phát triển mới vẫn thể hiện ở sân bay và trong chuyến xe từ sân bay đến trung tâm thành phố, tôi thấy ngày càng nhiều những cửa hàng thức ăn nhanh (hầu hết của Mỹ), những logo của các tập đoàn lớn, những tấm bảng quảng cáo, những bảng hiệu kinh doanh nhỏ, thường là tiếng Anh – ngôn ngữ phổ biến trong kinh doanh. Hai bên vỉa hè, những thầy tu đạo Phật mặc áo choàng màu cam, cầm chén ngồi xếp bằng với điện thoại di động nghe bên tai. Noi theo gương của Thượng Hải hay Tokyo, Đô thành xưa giờ mọc lên hàng tỷ ánh đèn, trong khi nhiều ngôi làng ở những vùng nông thôn vẫn còn đọc sách bằng đèn dầu. Nhà thờ Công giáo và chùa không chỉ được chấp nhận, mà còn được khuyến khích, bởi những ngày lễ liên quan đến tôn giáo cũng giúp tiền tệ được lưu thông. Có vẻ như mỗi ngôi nhà đều có tượng Phật hoặc hình Đức Mẹ Đồng Trinh ở bệ thờ trên tầng thượng. […]

Người quản lý khách sạn Hà Hiền đón tiếp chúng tôi từ bên ngoài cùng với toàn bộ nhân viên. Khách sạn này là nơi cư trú thường xuyên của anh Quang nên họ đón tiếp anh và Nhung như những người hoàng gia. Những căn phòng nhỏ được trang trí theo phong cách Mỹ hiện đại, từ khóa cửa điện tử, ti-vi màn hình phẳng đến sàn đá cẩm thạch bóng lộn. Không thiếu sự tiện nghi nào cả, và nếu có đi nữa thì cũng sẽ nhanh chóng được Nhung và những nhân viên tận tụy của khách sạn thu xếp. Tôi đã sống sót ở những nơi tồi tệ hơn như thế này ở Việt Nam, và chấp nhận những cái gật đầu nhẹ với sự hiện đại là dấu hiệu cho thấy Chính phủ đã đi kịp với thế kỷ 21.

Đúng 6 giờ 30 phút sáng hôm sau, nhân viên tiếp tân gọi và nói rằng Thơm đã tới gặp tôi. Tôi bảo anh ta cho bạn lên.

Thơm Ròm thay đổi không nhiều kể từ những ngày cùng nhau ở Đa Minh. Bạn dễ thương, nhỏ nhắn và tràn đầy năng lượng. Tôi ôm bạn một cái ôm của tình chị em, như là ôm lấy quá khứ của tôi. Thơm và gia đình đã may mắn sống sót. Khi đất nước bắt đầu tự do vào những năm 90, bạn và tôi bắt đầu thư từ qua lại. Khi những cuộc gọi đường dài được mở ra cho công dân, chúng tôi một lần nữa được nghe giọng của nhau. Giờ thì giọng của bạn đang nói không ngừng khi tôi mặc đồ, đánh răng, chải đầu, và chuẩn bị cho một cuộc hành trình đào sâu hơn vào quá khứ.

Chúng tôi gặp anh Quang và Nhung ở sảnh và sau khi ăn sáng, chúng tôi gặp người tài xế và chiếc Mercedes mà Nhung thuê – không giới hạn cây số và bao luôn tiền xăng – trong năm ngày. Đây là sự xa xỉ đối với những người tự mình lái xe như chúng tôi nhưng đó là luật đối với những người nước ngoài tìm kiếm những phương tiện riêng. Hiểu theo cách nào đó thì đây là một chiêu chính trị khôn ngoan. Những du khách đến để xem những cảnh tượng mới hoặc để nhớ lại những nơi cũ, nhưng không ai có thể lái xe trên những con đường chật hẹp ở Việt Nam. Và với người tài xế địa phương lịch sự, rành rẽ đường sá và những “cò” am tường về đủ thứ chuyện như Nhung, chúng tôi có thể thoải mái tập trung vào những việc quan trọng nhất: tìm kiếm quá khứ. Trước 11 giờ, chúng tôi lên đường để đến đồng bằng sông Cửu Long và đến Hồng Ngự, khoảng 5 – 6 giờ ngồi xe.

Dù không có lịch trình cá nhân, chuyến đi về miền Tây Bắc như là chuyến trở về quá khứ. Những khu ngoại ô chật chội của Sài Gòn từ từ nhường chỗ cho những ngôi chợ địa phương và những quầy trái cây, những đám học sinh mặc đồng phục đi từng nhóm nhỏ, đá tung bụi mùi và trêu chọc nhau trên đường đến lớp học chiều, những người phụ nữ lớn tuổi với những giỏ, những thùng, còn trai tráng thì những cuốc những xẻng. Như là làn gió tan đi, những thứ xô bồ, nhộn nhịp của kính, của thép nhường chỗ cho sự tĩnh lặng của miền quê, nơi mà nghề trồng lúa vẫn tiếp tục như hàng ngàn năm trước, được cấp nước từ hệ thống tưới tiêu, những cơn mưa theo gió mùa, cùng những giọt mồ hôi của hàng thế hệ người lao động.

Chúng tôi đến Hồng Ngự vào lúc 5 giờ 30 phút chiều. Không như ở Thành phố Hồ Chí Minh, hầu hết nhà hàng đều đóng cửa khi chiều xuống nên chúng tôi ăn bữa tối sớm. Thời gian còn lại chúng tôi ghé một quán cà phê kế bên khách sạn. Anh Quang muốn biết thêm thông tin về công ăn việc làm của người địa phương, và nếu chúng tôi may mắn, có thể biết được manh mối nào đó về những người lớn tuổi có thể còn nhớ về trận chiến ở Hồng Ngự. Hóa ra, chủ quán café, một người đàn ông gầy khoảng hơn năm mươi tên là Việt chính là một trong những người xưa đó. Anh Quang, luôn là một vị khách vui vẻ, đã trò chuyện thân mật và sau vài phút hỏi xem liệu Việt có biết gì về “đồn đóng quân cũ” đã canh gác cho thị trấn vào những năm 60 và trận chiến năm 1964 không.

Việt lặng im một lúc, rõ ràng là suy nghĩ về câu trả lời của mình. Sự tin tưởng phải đến từ hai phía, và người đàn ông tử tế này không biết được liệu anh Quang chỉ là một vị du khách tình cờ như anh nói, hay là một người của Chính phủ đang muốn tìm kiếm điều gì đó. Cuối cùng, gương mặt chân thật và sự cởi mở của anh Quang đã thắng.

“Tôi đến đây khoảng một năm sau cuộc chiến đó,” Việt nói một cách nghiêm trang. “Người ta vẫn còn nói về cuộc thảm sát. Tôi không biết họ gọi cái đồn đó là gì. Nó bị tấn công và xây lại ba lần. Một số cựu chiến binh chiến đấu ở đó vẫn còn sống và có thể sẽ kể cho anh chị vài chuyện. Anh hỏi làm gì thế?”

Anh Quang nói, “Ba Mẹ chúng tôi bị giết ở đó và chúng tôi còn nhiều điều chưa rõ.”

Việt nhún vai. “Tôi mất cha mẹ từ hồi mười bốn tuổi. Phân nửa người trẻ ở đất nước này được nuôi lớn bởi cha mẹ là người mồ côi.”

“Chúng tôi muốn thăm mộ của Mẹ và tìm hiểu xem chuyện gì đã xảy ra với Ba tôi,” tôi nói.

“Chị và những người khác,” Việt nói buồn bã. “Rất nhiều cái xác bị cuốn đi từ những ngôi mộ nông. Chị biết đấy, con sông cứ trôi. Nếu họ chôn Mẹ chị trên cù lao đó thì hẳn là xác bà ấy đã bị mất lâu rồi, bị cuốn về đồng bằng, cuốn tới biển Đông hoặc có thể đã được đào lên nhiều năm trước, để xây nhà và tái xây nhà, công ty dọc theo bờ con sông. Còn cha chị? Ai mà biết? Có thể ông đã bị giết trong chiến tranh và có thể bị chôn tập thể. Nhiều cái xác không thể xác định danh tính, không chỉ ở đây không đâu mà trên toàn đất nước. Nếu ông là chỉ huy của đồn thì ông hẳn đã bị bắt trước tiên. Nếu họ bắt được ông, họ sẽ thẩm vấn và giết chết ông ngay lập tức. Hồi đó, quân miền Bắc ở xa tít chỗ này không giữ tù binh lâu đâu. Nếu là vậy thì họ đã đẩy ông ta xuống sông, và ông ta sẽ trôi ra biển như mẹ của chị. Nếu ông sống sót và đi khỏi, tôi nghĩ là giờ chị đã hay tin từ ông rồi. Có vẻ như ông không phải là người dễ từ bỏ, đặc biệt là gia đình mình. Hãy tin tưởng vào trái tim mình. Hãy tin tưởng vào những thiên thần. Họ thường nói đúng đấy.”

Việt có giới thiệu chúng tôi với một người cựu binh già mà anh cho là ông từng tham chiến tại đồn của Ba tôi. Người đàn ông này là chủ của một cửa hàng tạp hóa gần đó, và ông được gọi là “Người lính một chân.” Việt mời ông ta café và mời ông ta tham gia cùng chúng tôi vào tối đó. Người cựu binh đến, và dù khá trầm lặng, ông cũng kể cho chúng tôi rằng ông biết ba tôi là ai, nhưng ông không thể biết chắc về số phận của ông. Ông cũng nói rằng ông biết người cảnh sát đã tìm thấy chúng tôi vào buổi sáng sau cuộc chiến, và rằng ông này chỉ vừa mới mất thôi. Anh Quang và tôi đều buồn vì không có cơ hội gặp lại ông ấy.

Khi người cựu binh đi khỏi, ông nói với tôi những lời như Việt đã nói. Ông khuyên chúng tôi nên tôn vinh Ba Mẹ mình, và hãy để những ký ức về họ sống lại bằng cách trở lại Hồng Ngự khi nào có thể, chấp nhận những mục đích của cuộc đời mình mà không ai biết được trừ Chúa.

Với những lời khuyên cuối cùng của Việt và người cựu binh già, cuối cùng chúng tôi rời khỏi nơi yên nghỉ của Mẹ và những hiểu biết về số phận của Ba – để họ sống trong lịch sử của quê hương tôi, và chúng tôi nhìn dòng Cửu Long từ từ chảy ra biển.

Vào tháng 12 năm 2013, tôi về Việt Nam lần cuối trước khi viết câu chuyện này. Anh Quang đi cùng tôi lần nữa, còn có cả Eric – đứa con đã trưởng thành của tôi, Hồng – vị hôn thê

 của nó, cùng với một người bạn cũ và cũng là người đồng nghiệp của tôi từ những ngày đầu tiên tôi làm tại Tinker AFB ở Oklahoma, một người đàn ông tử tế và hào hiệp tên John Gatlin. Kế hoạch của chúng tôi lần này là để thế hệ Choat tiếp theo thấy cách mà nửa số gia đình của chúng lớn lên, nơi Hiền đã trở thành Vân và Vân đã trở thành “Sissy,” và làm thế nào bác Quang, mặc dù thời thơ ấu sống sót khỏi những điều không thể nói của mình, trở thành người đàn ông tốt như ngày hôm nay. Nhưng vẫn còn những thứ khác. Anh Quang và tôi chưa bao giờ khép lại câu chuyện về Em Bé, và những người có thể viết nên chương cuối đều đã qua đời. Chú Thành mất năm 2003, còn thím Lan mất năm 1985. Do đó, câu chuyện của Em Bé không có kết thúc. Nó vẫn còn là một điều bí ẩn đối với chúng tôi, nhưng bí ẩn đó không bao giờ có thể bị cuốn trôi như thân xác của Ba Mẹ. Theo lý trí, chúng tôi đã nghĩ chúng tôi biết được sự thật, nhưng trái tim chúng tôi vẫn còn bám víu vào hy vọng rằng có lẽ, chỉ cõ lẽ, rằng sự thật vẫn còn ở ngoài kia mà chưa được khám phá: có lẽ là em đang ở đâu đó ở một ngôi làng yên tĩnh hoặc ở một thành phố nhộn nhịp, đang điều hành một công ty hoặc đang dạy học, đang làm gốm hoặc làm ruộng, có người thân bên cạnh hoặc đang ngắm hoàng hôn một mình – chỉ là chúng tôi không biết. Đây là cơ hội cuối cùng của chúng tôi.

Lần nữa, Nhung thu xếp một chiếc xe riêng và một tài xế riêng, và một lần nữa, Thơm đi cùng chúng tôi. Chúng tôi thăm lại Phú Nhuận, Gò Vấp (nơi Em Bé được sinh ra), Rạch Giá (nơi ông ngoại và bà ngoại định cư sau khi rời miền Bắc, và nơi chúng tôi được sinh ra), Thủ Đức, Đa Minh, Tân Mai và Biên Hòa, và thực hiện một chuyến đi cuối cùng đến Hồng Ngự để nói lời từ biệt Ba Mẹ ở bờ sông của Cù lao Mả (ngày nay là một vùng ngoại ô của Hồng Ngự nằm giữa sông Cửu Long) và hứa với Ba Mẹ rằng họ sẽ luôn luôn được con cháu nhớ tới. Chúng tôi còn đi lang thang giữa những tàn tích rậm cỏ của Trại Cá với những ngôi nhà hoang tàn và những cái hồ khô nước. Chỉ có căn nhà chính và chỗ chuồng heo là vẫn còn ở được. Căn nhà được dùng cho những lớp học đêm và những cái quầy được Chính phủ sửa sang lại thành những căn phòng một giường ngủ để làm chỗ ăn ở miễn phí của những giáo viên mới. Cái cổng trước mà dượng Al từng rất tự hào đã bị tháo bản lề và trông rất tồi tàn. Những ngôi nhà nhỏ và những doanh nghiệp hiện nay đã xếp hàng thẳng tắp trên con đường Thơm và tôi thường đi học. Tôi chắc rằng Eric và Hồng phải trợn mắt và thở dài rất nhiều khi mẹ nó và người bạn cũ của mẹ cứ khúc khích cười và nói về những kỷ niệm hay những địa danh đã bị lãng quên, nhưng ít nhất chúng hiểu sẽ phải làm gì khi đến lượt chúng cho thế hệ sau biết lịch sử và những con đường của người xưa.

Nhà ở Trại Cá (2013)

Chỗ dừng chân quan trọng nhất của chúng tôi là Biên Hòa, nơi người con trai duy nhất của chú Thành là Hiếu, người chưa bao giờ rời khỏi Việt Nam, sống cùng gia đình. Hiếu biết về việc tìm kiếm Em Bé của chúng tôi từ những chuyến đi trước và đã từng gọi cho anh Quang ở Mỹ. Hiếu nói với anh Quang là em “đã có tin tức” về Em Bé, nhưng không muốn nói chuyện qua điện thoại, chờ chuyến trở về tiếp theo của chúng tôi. Tất nhiên là anh Quang không chấp nhận chuyện này. Anh ép buộc Hiếu phải kể hết câu chuyện, anh đề nghị trả tiền cước điện thoại hoặc sẽ gọi lại nếu cần thiết. Hiếu ậm à ậm ừ rồi cuối cùng lại lôi ra cái chuyện cũ rích “cho trại trẻ mồ côi” mà anh Quang và nhiều người khác đã nói nhiều năm trước. Lần này, em cho biết trại trẻ mồ côi đó ở Phương Lâm, một thị trấn nhỏ ở đông bắc Sài Gòn. Với tin này, anh Quang gọi cho Nhung và Thơm, nhờ họ gặp Hiếu để tìm hiểu thêm, và kiểm tra các trại trẻ mồ côi trước khi chúng tôi về. Nhưng điều này không dẫn tới đâu hết.

Khi chúng tôi gặp Hiếu ở Biên Hòa, em thừa nhận thông tin em biết được là từ người chồng của người chị họ tên Nhiệm (con đầu của Bác Thơi). Hiếu cho rằng chị Nhiệm và chồng chị biết chuyện đã xảy ra với Em Bé. Nhưng thật không may, chị Nhiệm đã thề sẽ mang chuyện này xuống suối vàng, nên những bí ẩn lại càng bí ẩn hơn. Nếu những câu chuyện này là thật thì có gì bí ẩn và đáng xấu hổ trong việc đem cho một đứa bé cho trại trẻ mồ côi (việc này xảy ra thường xuyên mà) hoặc cho em cho một gia đình giàu có, thậm chí là để lấy tiền? Việc này thật không đáng tin.

Quang và tôi rời khỏi nhà Hiếu trong một tâm trạng nhiều hồi tưởng. Như sự biến mất của Ba, đã có nhiều suy đoán để trả lời cho câu hỏi lớn cuối cùng của gia đình mồ côi này, nhưng rất ít dữ kiện để đi đến kết luận. Như nhiều người khác từ những thời khắc và nơi chốn tối tăm, cuộc đời của Em Bé có lẽ đã chấm dứt một cách tàn bạo. Tất cả ngón tay đều chỉ vào thím Lan là người đã gây ra bi kịch này, nhưng không có ai có thể – hay sẽ – cho biết chắc chắn. Tất cả chúng tôi đều biết rằng mọi cuộc chiến, dù cho ở những vùng đất xưa cũ hay trong tâm hồn của một người, có thể tạo ra những thảm họa trong một khoảnh khắc. Một lần nữa, tôi sẽ phải tin vào trái tim mình và lắng nghe những thiên thần của mình.

* * *

Trở lại Mỹ trong một đêm khuya, tôi được Mẹ đến thăm lần cuối. Mẹ xuất hiện trong một giấc mơ và nói một cách dịu dàng: “Lan. Tên là Lan.”

Là tên kẻ sát nhân hay là nạn nhân? Cả hai? Tôi sẽ không bao giờ biết được. Những lời tiên tri đều chứa đầy những ẩn số, nhưng những lời nói và đôi cánh của thiên thần có ý nghĩa nâng chúng ta lên cao. Tôi thức dậy trong trạng thái hân hoan. Cuối cùng Em Bé đã có một cái tên, thứ gì đó để được khắc ghi bằng cây bút vô hình mà những người mồ côi chúng tôi mãi mãi mang theo trong trái tim và truyền lại cho con cháu của mình.

Phương Nam phát hành - NXB Phụ Nữ 7/2017
Nguồn: Việt Nam Thư Quan
Được bạn: Ct.Ly đưa lên
vào ngày: 17 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.