Ngày xưa, nước Việt ta có một vị vua vô cùng nhân hậu, nhân dân được tự do buôn bán, cấy cầy, khắp bốn phương thái bình, vui vẻ. Một đêm, hoàng hậu nằm mơ thấy một vì sao rơi xuống mái cung, rồi sinh ra một nàng công chúa. Công chúa ra đời đẹp như tiên giáng thế; đức vua và hoàng hậu yêu mến cô con gái vô cùng. Công chúa lớn mau như hoa nở, trăng lên. Vua cha thấy mình có tuổi, đã già yếu lắm, bèn có ý kén tìm phò mã. Công chúa tâu rằng:
- Việc nhân duyên của con, mẹ cha đừng lo vội. Bao giờ duyên trời đưa đến, con sẽ gặp người tài.
Nhưng hoàng hậu nóng lòng mong có cháu bế bồng, bèn tâu với vua lập đài để kén chồng cho con gái. Vua nghe lời hoàng hậu. Thế là ngay ngày hôm đó, ba trăm thợ khéo cùng ba trăm tên lính được lệnh dựng “lầu tuyển phu”. Mấy chục cỗ voi vào rừng kéo gỗ về thành, bụi trắng cả một góc trời. Mấy ngàn con bồ câu của công chúa cũng vào rừng tha hoa về rắc xuống lầu, công chúa ngồi dạo đàn và xem hạc múa dưới ao sen. Dân chúng, trẻ già nô nức bàn tán về việc đức vua lập đài kén rể hiền trong thiên hạ.
Mươi ngày đài đã dựng xong. Lụa trăm màu kết thành hình phượng, hình rồng. Một cái đỉnh lớn, khói trầm bay lên nghi ngút để giả làm mây. Ba chữ “Lầu tuyển phu” (tức lầu kén chồng) thiếp vàng rực rỡ treo lên cao. Các chàng trai trẻ từ các châu, quận, tỉnh, thành, đến thôn quê, rừng biển đều biết tin công chúa kén chồng. Thôi thì các chàng mặc sức sửa sang cho đẹp đẽ. Thôi thì đủ mặt, nào là các cậu học trò đã đậu tú tài, bảng nhãn hay đã dăm bảy lần thi trượt; nào là các chàng đã góa hay muộn vợ cho đến những kẻ bình dân đi cày đi cuốc, đi buôn bán cũng xun xoe quần áo, cạo râu búi tóc, mơ ước trời xe duyên, run rủi lọt được vào mắt xanh công chúa.
Trên con đường lớn tới Tràng An, suốt bảy tám ngày xuân ròng rã, ngựa xe tung bụi, sĩ tử văn nhân kẻ phô cách điệu, người so quần áo, cậu nào cũng mong được lên lầu cầm tay người ngọc. Những bác lái buôn thì nhẫn ngọc đầy tay, cũng xe cũng ngựa học cách phong lưu, lắm bác tỏ vẻ nghênh ngang tự đắc làm như ta đây mới đáng mặt phò mã. Còn lũ nông phu, điền tốt, người miền biển, miền rừng, đến đây thấy người ta sang trọng quá mới xấu hổ bấm nhau về gần hết.
Đầy thành san sát những người
Kéo về xe ngựa rợp trời đã đông
Dân đua đến hội kén chồng
Sông không chài lưới, nông không cấy cầy
Thuyền buôn sào ván bỏ đầy
Vườn cây tiêu vắng, trâu cầy thả rong...
Tả cái cảnh kén chồng của công chúa mà tả đến như vậy, thực đã là đầy đủ vậy.
*
Vào thủa ấy, bên nước Chiêm Thành, vua Chiêm cũng là một vị vua nhân từ, nhân dân khắp bốn phương được hưởng thái bình, yên ổn. Trong triều có trung thần, ngoài biên thì có quân mạnh giữ yên bờ cõi; việc chiến tranh với nước Nam Việt vừa xong, vua hai nước muốn gây hòa hiếu lâu dài.
Vua Chiêm có một công chúa và một hoàng tử. Con gái đầu lòng là chúa Huy đã góa chồng, ở riêng một lâu đài, mới chỉ sinh hạ một con gái. Hoàng tử tên gọi Hoàng Trừu, tuổi vừa mười tám, mặt ngọc da ngà, văn võ tinh thông, lại là người bản tính cương trực, hiếu thảo, ai ai cũng đều kính mến. Vua cha và hoàng hậu tuổi cũng đã già, muốn kén dâu hiền, bèn ngỏ ý cùng hoàng tử. Hoàng Trừu tâu rằng bao giờ tìm được người thục nữ sẽ hay. Vua đã để ý trong đám con gái các quan văn võ hai ban, kể cũng có lắm cô xinh đẹp và hiền thục, muốn dạm hỏi cho con trai, nhưng hoàng tử đều không bằng lòng.
Mùa xuân năm sau, Hoàng Trừu bèn xin vua cha đi du lịch để kén vợ nước ngoài. Vua và hoàng hậu ưng chuẩn, truyền sửa soạn trăm cân vàng đỏ, ngàn bao bạc, năm bao châu ngọc, và còn cấp cho một đội tàu mười chiếc cùng ba ngàn quân theo hộ tống dọc đường. Hoàng Trừu lạy tạ vua cha rồi vào cung lạy từ hoàng hậu. Hoàng hậu thương nhớ trăm bề, tiễn con xuống tàu, nước mắt rơi lã chã. Mười phát súng bắn vang bờ biển, Hoàng Trừu bước xuống tàu, truyền lệnh nhổ neo.
Giang khê mọi chốn, mọi màu
Non cao trăm trượng, bể sâu nghìn trùng
Buồm rộng, chèo mau, tiếng hò reo của hơn ngàn thủy thủ vang trời nước. Một sáng kia, đội tàu của hoàng tử đã hạ buồm, cặp bến gần kinh đô Nam Việt. Hoàng Trừu bèn ăn mặc giả lối một trang công tử nhà giàu, cho mười tên lính ăn mặc lối tiểu đồng, theo hầu sau gót. Hoàng lên bộ, vào thành.
Đến cửa thành, bỗng thấy ngựa xe như nước, văn nhân sĩ tử nước Việt đang chen chúc vào ra. Hoàng vào một quán, gọi rượu uống, rồi lân la hỏi sự tình. Biết tin công chúa kén chồng, Hoàng cho là lạ, vì ở nước mình từ thuở bé chửa đi đâu xa, Hoàng giờ mới được mắt thấy tai nghe chuyện đó. Hoàng sai một tên lính vào thành xem cho thật tỏ tường, dặn nhỏ rằng phải tìm đến một người hầu tâm phúc của công chúa, đưa biếu ít vàng rồi mời xuống tàu ngay. Hoàng về tàu ngồi đợi. Một lát sau, mụ hầu theo tên lính xuống.
Hoàng bèn sai bày tiệc đãi. Thôi thì đũa ngọc, chén vàng, mâm ngà, thảm vóc, mụ hầu tuy hầu hạ trong cung đã bao năm mà chưa hề thấy bữa tiệc nào sang hơn bữa tiệc ông hoàng này đãi mụ. Mụ hoảng hốt không hiểu ra sao, khép nép thưa:
- Tôi có phúc gì mà được ông tiếp đãi thế này?
Hoàng đáp:
- Ta là hoàng tử Chiêm Thành, đang kén vợ. Nay chu du qua đây, nghe nói công chúa cũng đang mở hội kén chồng, ta sai mời mụ tới, tìm cách cho ta được gặp mặt công chúa, xong việc sẽ xin tạ đủ đồ châu báu.
Mụ hầu nghe Hoàng Trừu nói dứt lời bèn sụp lạy. Mụ đâu ngờ người con trai tuấn tú trước mặt mụ kia là hoàng tử một nước; lại nghe được đền công châu ngọc thì mụ híp ngay mắt lại, thưa rằng:

- Việc ấy thực là muôn phần khó, vì rằng canh gác thì nghiêm cẩn, thành trì thì vững cao. Nhưng hoàng tử đã muốn, tôi xin nghĩ cách.
Hoàng Trừu nghe xuôi tai, bèn sai lấy ra một mâm vàng ngọc. Mụ hầu thích quá, bày ngay kế:
- Bây giờ, hoàng tử hãy ăn vận giả cô con gái nhà quê. Tôi nhận là cháu ở quê, nghe có hội lên xem, rồi lân la tìm kế đưa hoàng tử vào cung, may được ở bên cạnh công chúa.
Hoàng Trừu vui mừng theo kế, mặc giả ngay cô gái đẹp mơn mởn khiến bọn lính tâm phúc trông thấy phải khen thầm. Tiệc xong, Hoàng truyền sai lính giữ tàu rồi cùng mụ hầu lên bến, thẳng lầu tây mà tới.
Lát sau, hai người vào thành, và may mắn thay lọt được vào lầu công chúa. Công chúa thấy cô gái nhà quê lưng ong, mắt phượng, mày ngài, cổ cao ba ngấn đang thập thò ngoài vườn hoa thì cho gọi ngay vào, hỏi:
- Con bé kia ở đâu dám vào đây?
Mụ hầu vội thưa:
- Cháu nó gọi tôi là dì, ở quê ra xem hội, rồi mai mốt cháu lại về cầy cấy.
Công chúa mỉm cười:
- Con bé trông đã kháu lại có duyên, để nó ở đây hầu hạ ta, ta cho quần áo đẹp.
Được lời, mụ hầu mừng rỡ bèn lạy tạ. Hoàng cũng làm ra e lệ, khép nép tiến đến gần mà vái lạy.
Thế là từ đó Hoàng ở lầu tây, mang tên là ả Xuân Hoàn, sớm tối gần gũi con vua, khi vào dâng đàn dâng quạt, khi ra lấy hán, lấy hài. Hoàng không lấy thế làm tủi nhục mà chàng rất vui sướng, vì lúc này Hoàng mới biết rõ rằng cô con gái vua Nam Việt rất thùy mị, đoan trang. Một đêm kia, trăng trong gió mát, hương sen dưới ao đưa lên ngào ngạt, công chúa tựa lan can mà thiu thiu nhắm mắt. Hoàng bèn thay quần áo hoàng tử, đeo gươm, mặc giáp ngồi bên công chúa. Chợt mở mắt ra, công chúa giật bắn người, toan gọi lính. Hoàng giơ tay bịt miệng công chúa mà kể hết đầu đuôi việc từ nước Chiêm Thành dong buồm thả lái đi tìm người thục nữ. Bây giờ duyên đã gặp duyên, Hoàng xin công chúa nhận lời cho kết nghĩa vợ chồng.
Công chúa ngắm nhìn Hoàng, thấy đường đường là bậc anh hùng, lại là con vua nước láng giềng, âu là thuận lấy chàng để hai vua giao hiếu với nhau cho qua khỏi nạn binh đao. Nhưng đắn đo một lát, công chúa cúi đầu, thưa lại rằng:
Bây giờ kỳ ngộ cùng chàng
Đã đành phận ngọc duyên vàng vậy nay
Khi chàng ăn ở bên này
Đào lan quế huệ sum vầy tốt tươi
Lửa hương đầm ấm đẹp đôi
Đèn rồng gác phượng chơi bời vào ra
Sợ khi chàng lại quê nhà
Một mình, mình thiếp biết là làm sao!
Đôi nơi, đông liễu tây đào
Thành sầu biển thảm bụng nào đa mang!
Nghe nói xong, chàng thề thốt rồi cầm tay công chúa, hẹn rằng ngày mai sẽ xuống tàu sửa soạn việc cưới xin lập tức. Về đến tàu, Hoàng một mặt sai làm tiệc ăn mừng, một mặt viết điệp dâng lên vua Nam Việt xin lấy công chúa.
Lính canh thành được tin ngoài bờ biển, tàu bè san sát, tướng lính hò reo, lại thấy Hoàng Trừu đòi vào dâng thư, vội vàng báo vua tin ấy. Vua nghe kinh sợ, truyền văn võ hai ban sửa soạn binh khí cùng quân sĩ đề phòng giặc Chiêm lại quen lệ kéo vào khiêu chiến.
Bức điệp của Hoàng Trừu đã đến ngai vàng. Vua xem xong, mặt bỗng tươi ra, rồi đưa cho một viên quan đọc to cho cả triều thần cùng rõ. Nhà vua bèn mời hoàng tử tới triều kiến, hỏi duyên cớ sao mà lại kén vợ tận nước Việt. Hoàng thực tình tâu, nhà vua nghe xong lấy làm đẹp ý, hẹn hoàng tử cứ về tàu đợi, ngài còn hỏi qua ý kiến triều thần và con gái.
Hoàng đi rồi, nhà vua hỏi ý các quan. Triều thần đều nhao nhao bàn tán. Văn quan thì cho là việc tốt, để hai nước bang giao hòa hiếu. Võ quan thì phản đối, tâu rằng công chúa là cành vàng lá ngọc, sao lại gả cho kẻ Ngô, Lào khác giống. Nếu Chiêm Thành có muốn đao binh thì ta cũng sẵn sàng nghênh chiến. Vua nghe nói, lòng phân vân không quyết, bèn cho triều thần giải tán, rồi vào hậu cung hỏi ý riêng con. Công chúa khép nép quỳ thưa:
Làm chi chút phận hồng nhan
Nhọc lòng tướng sĩ, lại tàn thường dân
Cha mẹ cứ cho con đi làm dâu nước người cũng được.
Vua lấy làm hài lòng, bèn truyền quan nội giám khâm sai, đưa ngay long điệp xuống tàu, nhận gả công chúa cho Hoàng. Hoàng mừng rỡ, sai sửa soạn kim ngân châu báu ba nghìn, và sáu trăm dê lợn cho rước vào thành làm đồ sính lễ.
Trong cung, nhà vua cho mở tiệc linh đình đãi các quan văn võ. Dưới tàu, Hoàng cũng mở tiệc, đàn sáo du dương, đãi ba ngàn quân. Rồi thì đến ngày Hoàng Trừu và công chúa gặp nhau ở lầu tây.
Hai vợ chồng đang vui duyên mới, Hoàng bỗng nhớ nước, nhớ vua cha, hoàng hậu. Một sớm, Hoàng cầm tay công chúa xin từ biệt về thăm cha mẹ. Công chúa khóc mãi mà không dám giữ. Hoàng vào lạy biệt vua Nam Việt, hẹn về nước ba tháng rồi xin trở lại. Nhà vua không tiện giữ, gửi lời Hoàng hỏi thăm vua Chiêm một cách ân cần và gửi cả ngà voi, vóc nhiễu làm quà nữa.
Hoàng lên ngựa ra ngoài bến thì thấy tàu bè và binh lính đợi sẵn. Công chúa tiễn đưa một quãng, nước mắt rơi lã chã.
Người nhìn kẻ lại trông theo,
Ngựa Hồ, chim Việt nhớ lời tình duyên
Buồm xuôi, gió mạnh, sóng biển mênh mông, chẳng mấy ngày Hoàng Trừu đã về đến nước.
Hoàng vào chầu vua cha, hoàng hậu, tâu việc lương duyên. Vua và hoàng hậu rất hài lòng, sai văn quan viết thư và mở kho lấy trân châu gấm vóc để gửi biếu lại vua Nam Việt.
Thu qua, đông tới. Hoàng ngày đêm nhớ công chúa nước Việt, bỏ ăn bỏ ngủ, vào ra thờ thẫn, mặt võ, mình gầy. Hoàng hậu và vua cha biết ý con, gọi vào cung, ân cần bảo:
- Con về thăm cha mẹ đã lâu, vợ con nó nhớ. Nay cha mẹ lại cho con sang Nam Việt đón vợ về đây cho cha mẹ xem mặt.
Hoàng mừng khôn xiết, lạy tạ rồi lệnh cho sửa soạn tàu bè, binh lính và lương thực để sang Nam Việt chuyến nữa. Đầy lòng nhớ thương, Hoàng truyền thủy thủ dong buồm bẻ lái suốt đêm ngày không nghỉ cho mau trông thấy mặt vợ yêu.
Trên mặt biển có một loài chim thiêng, biết hoàng tử sang nước Việt với công chúa, nó bay trước về lầu công chúa, đậu cành lê ngoài cửa sổ, hót véo von để báo tin mừng. Công chúa đang âu sầu, suốt ngày ngồi may áo rét chờ chồng, nghe chim hót công chúa càng chua xót, tưởng chim kia mai mỉa cảnh cô đơn bóng chiếc. Ba ngày liền chim thiêng hót mãi, hót mãi. Tiếng chim như gợi lòng tủi hổ, công chúa bèn buông kim, cầm lấy thước ngà, quăng nhẹ ra ngoài lầu toan đuổi chim đi. Nhưng kỳ lạ làm sao, thước vừa quăng thì chim thiêng lăn ra chết, hóa ngay ra một chàng trẻ tuổi quần áo nai nịt sẵn sàng, nằm lăn ra mặt đất. Công chúa sợ hãi, gọi các con hầu ra xem. Chúng thấy nhân lúc không có ai biết, liền xúm lại khiêng xác chàng trẻ tuổi quái lạ kia đem chôn dưới một gốc đào. Chôn vừa xong thì nghe ngoài lầu trống dong, cờ mở, loa hét vang lừng báo tin hoàng tử Chiêm Thành đã tới. Công chúa xiết bao mừng tủi, vội sửa soạn phấn son bước xuống lầu, ra cửa đón.
Hoàng tử bước vào, mừng rỡ cầm tay công chúa. Chưa kịp thở than thì đàn chó ngao theo sau hoàng tử chạy xộc tới đánh hơi ở gốc đào, bỗng chúng sủa rú lên. Lính đuổi chúng cũng không chịu chạy, cứ ngửa cổ lên trời mà rú, nghe vang cả kinh thành, không khác gì tiếng ma kêu quỷ khóc. Hoàng Trừu thấy sự lạ lùng, truyền quân lấy mai cuốc cứ gốc đào mà bới lên xem. Đào mãi thì thấy ngay thi thể người trẻ tuổi. Binh lính sợ hãi, lùi cả lại. Hoàng liếc thấy mặt công chúa tái xanh, chàng sinh ngay lòng ngờ vực vợ đã lỗi đạo cương thường làm điều xằng bậy, chôn trai dưới gốc cây. Tức thì đùng đùng nổi giận, Hoàng thét binh lính theo ngay xuống tàu, không thèm nói năng gì với công chúa.
Buồm lại kéo lên, mũi tàu quay ra biển rộng. Hoàng hầm hầm ngồi trong khoang. Chàng đâu biết rằng công chúa, lúc bấy giờ, vì oan khổ mà lăn ra chết ngất. Thị tỳ xúm lại vực công chúa vào giường, lúc lâu mới tỉnh. Hỏi ra mới hay chồng nổi giận, dong buồm về nước rồi.
Nước mắt như mưa, công chúa vào tâu vua cha cùng hoàng hậu xin một chiếc thuyền đuổi theo chồng. Vua và hoàng hậu nghe con nói thì vô cùng đau lòng, đành sai dọn thuyền cho công chúa đuổi theo chồng.
Thuyền công chúa ra đến giữa khơi, bỗng đâu mây đen kéo đến đen kịt, sóng to gió lớn. Nàng quỳ khấn kêu trời, nhưng sóng càng thêm mạnh, gió càng thêm dữ, phút chốc con thuyền va vào khe đá vỡ tan, một trăm tên lính theo hầu chết hết, nàng may mắn bám được vào một mảnh ván, mặc cho sóng gió cuốn lôi đi. Cứ thế cho đến khi nàng mở mắt ra thì thấy mình nằm dưới một chân núi không ai qua lại, chỉ có tiếng chim kêu vượn hót véo von. Nàng cố leo lên gốc thông trên núi, từ đây nhìn ra chỉ thấy chân trời mặt biển mênh mông, quê hương không biết ngả nào.
Mấy ngày đêm, công chúa đói thì hái quả ăn, khát thì uống nước mặn mà cầm hơi. Một buổi chiều, mấy dân chài ngoài khơi xa về, thấy nàng lang thang trên bãi cát bèn đi đến hỏi han. Thấy họ người Chiêm Thành, nàng đáp:
- Tôi người Nam Việt, đi buôn bán, không may giữa khơi gặp sóng bão, thuyền tan, người chết. May tôi xô dạt vào đây, mong nhờ các bác cứu giúp.
Bọn chài nghe nói động lòng, nhân có cơm khô cá nướng, giở ra mời công chúa cùng ăn. Ăn xong, họ dắt nàng về. Đến chợ một kinh đô gần đấy, họ ngồi bán cá, nàng cũng ngồi với họ, chờ họ bán xong cá thì theo về nhà.
Chợ đang họp đông bỗng có tiếng quát tháo khiến ai nấy giật mình. Một tên lính cầm roi đi dẹp người hai bên để một chiếc kiệu đi. Trên kiệu có một người đàn bà xiêm y rực rỡ, vàng ngọc đầy người, tuổi độ bốn mươi, mặt mày nanh ác. Bọn hàng cá thì thầm: “Chúa Huy! Chúa Huy đi coi chợ!”. Kiệu đến gần chỗ bọn hàng cá ngồi thì đỗ lại. Chúa Huy bước xuống, dạo qua các hàng, thấy nàng là người khác nước, bèn hỏi ở đâu mà đến.
Công chúa cũng nói như vừa rồi nói với bọn ngư chài. Chúa Huy gật đầu:
- Ta xem chị có vẻ lành hiền, sạch sẽ, vậy theo ta về dinh ở làm vú, chăm nom con ta! Đứng dậy, theo mau!
Lời nói như một lệnh truyền. Công chúa đang lúc quê người đất khách, bảo đi thì cũng đi, bắt làm nô lệ thì cũng cam chứ biết làm sao nữa. Kiệu chúa Huy nước Chiêm Thành đi trước, công chúa Nam Việt quần áo tả tơi, mặt mày nhợt nhạt thất thểu theo hầu. Từ đó nàng làm vú nuôi cô con gái nhỏ của chúa Huy, thôi thì thức khuya dậy sớm nâng giầy, dâng nước cho chúa Huy, trông nom cơm nước, tắm rửa, giặt giũ cho cô con chúa. Chúa Huy góa chồng, chỉ có một cô con gái, nên coi tựa châu báu.
Một ngày nọ, chúa Huy sai nàng đem cô quận chúa ra hồ sen tắm. Đến bờ hồ, nàng tháo chuỗi ngọc trai ở cổ cô quận chúa ra để bên đống áo quần trên bãi cỏ. Lạ gì tính nết trẻ thơ, cô quận chúa xuống nước là đòi vùng vẫy, nàng đang mải đỡ cô nên không biết rằng ngay lúc đó có một đàn ngỗng đi qua, con ngỗng đầu đàn thò mỏ nuốt ngay chuỗi hạt trai vào bụng rồi cả đàn đi mất. Tắm hồi lâu, cô quận chúa mới chịu lên bờ. Mặc quần áo xong, tìm đến hạt trai thì đã biến đi đằng nào mất. Nàng hãi hùng, run sợ, hốt hoảng tìm quanh khắp vườn, khắp bãi cỏ, gốc cây mà nào có thấy, trong lòng chỉ đành kêu oan khổ.
Về đến cung, chúa Huy không thấy con đeo chuỗi hột, hỏi ra rồi nổi lôi đình, sai tìm công chúa lôi ra nằm sấp dưới thềm đánh đủ năm mươi roi. Ngất đi từng lúc nàng vẫn chẳng kêu, cứ cắn răng chịu nhục, chịu đòn. Chúa Huy truyền nghỉ đánh, để dành hôm sau lại nhục hình như vậy. Thực là thịt nát, máu rơi, nỗi khổ của nàng kể làm sao cho xiết.
Chúa Huy chưa hả giận, chưa nguôi lòng tiếc của, lại nghĩ ra cách bắt công chúa tối tối trong lúc chúa Huy yến tiệc phải ra quỳ dưới thềm xõa tóc đội cây đèn. Thương thay, lửa cháy xèo xèo, dầu rơi sém tóc, nàng nghiến răng cầm nước mắt, âm thầm kêu gọi mẹ cha ở nước non nhà. Đội mãi đến khi tôi tớ ăn xong, nàng mới được đứng lên đi nhặt cơm thừa cơm vãi mà nuốt cho sống sót. Ăn xong, lại đến thềm quỳ đội đèn chầu, chờ lúc chúa Huy ngủ say rồi mới được nằm xuống ngay thềm ấy, dầm sương, dãi gió, muôn phần cực khổ.
Nào ngờ mắc phải oan gia
Nào chồng có biết, nào cha có tường
Nguồn cơn nghĩ đến trăm đường
Lại sa giọt ngọc hai hàng chan chan.
Đêm nào cũng vậy, công chúa nằm nhìn bầu trời đen thăm thẳm mà khấn vái, mong sao thoát khỏi cảnh này, để được về xứ sở thấy mẹ, thấy cha.
Lòng trời xui khiến làm sao, một hôm, hoàng tử đến chơi thăm chị. Chúa Huy nghe tin ngựa hoàng tử đến, vội ra thềm đón. Chị em đưa nhau lên lầu, yến tiệc đã bày sẵn, dàn nhạc cất lên du dương. Mặt trời đã xế, Hoàng kiếu ra về. Chúa Huy nhất định không nghe, cố lưu em nghỉ lại, vì lúc đó trời bỗng đổ cơn mưa lớn. Hoàng chiều ý chị, đành vâng lời. Chúa Huy bèn sai gọi cây thịt đội đèn lên, và sai kẻ hầu dâng rượu, đàn sáo. Công chúa bước ra, một tay che mặt, xấu hổ vì nghe có khách lạ đến chơi, một tay giữ đĩa đèn cho khỏi đổ, khép nép quỳ xuống thềm, mặt mày rầu rĩ. Hoàng Trừu thấy sự lạ lùng, bèn dừng chén ngọc nhìn ra, trong lòng thương kẻ nữ nhi, trăm chiều chua xót. Hoàng rỉ tai hỏi chị. Chúa Huy kể hết đầu đuôi. Hoàng bất bình, buông chén trách:
Chị ơi, nếu thực thế thì
Thiếu chi là tội, bắt chi tội này
Chị làm những sự lạ thay
Đầu người bắt đội đèn này, nỡ sao!
Nghe lời khách lạ thương mình, công chúa cực lòng, nước mắt rơi lã chã. Hoàng Trừu để ý nhìn mặt cho tường, chàng thấy ai sao giống vợ mình, trong lòng lấy làm bối rối.
Chạnh niềm một nghĩ mười ngờ
Nhẽ đâu có nhẽ nên cơ sự này!
Đền loan gác phượng sum vầy
Cớ sao mà bỗng sang đây việc gì?
Mặt Hoàng rầu hẳn lại, tay không buồn nâng chén nữa. Chúa Huy sai gọi thị tỳ ra múa hát để giải sầu cho em. Đàn sáo lại vang lên, bầy thị tỳ múa hát. Hoàng lắc đầu bảo chị:
- Những đứa này hát không hay. Cô gái đội đèn kia có biết hát, biết đàn thì chị bảo đàn, hát cho em nghe.
Chúa chị vui cười:
- Nó đàn hay, hát giỏi, thêu thùa rất khéo - Nói rồi chúa Huy truyền - Con kia, ta cho phép mày bỏ đèn xuống, tay đàn miệng hát cho ông hoàng đây nghe.
Công chúa cúi đầu vâng lệnh. Nàng so dây đồng rồi cất giọng ca. Giọng ca sầu não như tiếng chim đỗ quyên năm canh trường kêu ra máu; tiếng đàn tỳ nghe như gió thảm, mưa sầu. Hoàng Trừu nước mắt rơi thấm áo, cúi đầu nghĩ bụng: “Rõ ràng vợ ta kia rồi! Bài ca ấy ta thường nghe, bài đàn kia nàng thường dạo ta nghe hồi năm trước. Nàng ơi! Sao nàng lại lưu lạc đến xứ sở ta thế này?”. Hoàng chỉ âm thầm nghĩ thế thôi, chứ không dám nói. Tiếng đàn, tiếng ca càng như bào xé ruột, Hoàng giơ tay nói:
- Thôi, em say rượu rồi, cho người ta nghỉ.
Chúa Huy ra lệnh, công chúa lại lui xuống thềm mà quỳ như trước, cây đèn lại đội lên đầu, nước mắt nàng vẫn còn rơi thánh thót. Nàng chua xót nghĩ: “Trước kia ta vẫn thường đàn ca cho chồng ta nghe bài này. Bây giờ chàng ở đâu, có biết nỗi cơ cực của thiếp chăng?”.
Hoàng vờ say, xin về phòng nghỉ. Chúa Huy cũng say nằm xuống ngủ liền. Hoàng trằn trọc, không sao nhắm mắt. Nửa đêm, mưa tạnh, trời quang trăng sáng. Hoàng lững thững ra bao lơn nhìn trăng mà tự nhiên thương nhớ người xưa cũ. Bỗng một tên thị nữ đi qua, Hoàng khẽ rỉ tai nói:
- Mày đi gọi cô gái đội đèn lên lầu ca hát cho ta nghe, vì ta không ngủ được.
Một lát, công chúa bước lên. Hoàng khép chặt cửa buồng, cầm lấy tay công chúa. Nàng vội giật lùi quay lại, khắp mình run rẩy, nói rằng:
- Thiếp đã có chồng. Thân hèn mọn này đâu dám đứng bên rồng phượng. Xin ông tha cho thiếp để thiếp được giữ lòng trong sạch thờ chồng.
Hoàng nghe nói xiết nỗi cảm thương, mừng rằng vợ mình quả thực là lòng băng dạ sắt, không may đã mắc ngờ oan.
Hoàng hỏi:
- Làm sao nàng lại vào đây, làm thân tôi tớ?
Công chúa bấy giờ mới dám ngẩng đầu lên, mắt nhìn tận mặt, tai nghe rõ tiếng mà vẫn ngờ rằng người đó chẳng phải chồng mình. Nàng bèn kể lể chân tơ kẽ tóc, oan khốc làm sao, trôi dạt làm sao...
Nghe xong, Hoàng thốt rụng rời, nước mắt rơi đầm đìa:
Hai tay ôm lấy mình nàng
Anh đà lỗi đạo cương thường bấy lâu
Cho nên nắng dãi mưa dầu
Vì anh, nàng phải âu sầu đắng cay
Một mình chịu mấy oan này.
Công chúa cũng siết chặt tay chồng, nói không nên tiếng, tưởng là một giấc chiêm bao.
Sau đó, Hoàng chợt nghĩ đến việc mất ngọc trai, liền sai thị tỳ xuống thưa với chúa Huy rằng Hoàng muốn ăn cháo thịt ngỗng. Chúa chị sai bắt ngỗng, thế nào lại bắt ngay phải con ngỗng đầu đàn. Hoàng truyền đem ngỗng lên lầu mổ ngay trước mặt mình. Mổ ngỗng ra, tìm đến cái mề, quả nhiên có chuỗi hạt trai.
Tức giận hầm hầm, Hoàng sai gọi chúa chị lên mắng nhiếc:
Chị sao ăn ở sai ngoa muôn phần
U mê chẳng biết nhân luân
Chẳng thương đến kẻ gia thần bề tôi
Làm người chẳng biết thương người
Hạt trai của đáng mấy mươi quan tiền

Vợ tôi trung hiếu thảo hiền
Vì tôi nên phải truân chuyên bấy chầy
Cho nên nhỡ bước đến đây
Chẳng thương thì chớ lại giày vò chi
Gian tham thì đuổi nó đi
Tội nào là tội nữ nhi đội đèn.
Chúa Huy nghe nói muôn phần khiếp sợ, vội vàng khép nép mà xin lỗi. Hoàng không thèm nói nữa, sai đem kiệu đưa ngay công chúa vào cung, kể đầu đuôi với vua cha và hoàng hậu.
Vua và hoàng hậu thương xót, khen mãi công chúa là người con gái, người con dâu đức hạnh, thực là hiếm có trong đời. Rồi sau đó, vua truyền lính đi bắt chúa Huy dẫn đến, thét nằm sấp dưới thềm đánh đủ trăm roi. Nhưng công chúa nghĩ đến công ơn nuôi nấng mình bấy nay, bèn quỳ xin tha cho chị chồng. Vua và hoàng hậu tha cho nhưng đày ngay chúa Huy ra ngoài hoang đảo ở.
Ngay hôm đó, vua ra lệnh khắp muôn dân mở hội ăn mừng. Ít lâu sau vua truyền ngôi báu cho hoàng tử. Công chúa sinh hạ được ba con trai, hai vợ chồng nàng sống trọn đời hạnh phúc.
Truyền Bá, số 161, năm 1945