Úm ba la - Hang thuồng luồng

Lượt đọc: 43 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Ma Thiên Lãnh

❊ ❊ ❊

Icon

Nhà vua gặp bão

Xưa, một vị vua nhà Trần vốn tính thích đi săn. Tài cung tên của vua ít người bì kịp, ấy là kể trong hàng tướng tá có tài. Vua mê mải theo vết hươu nai hơn là nghĩ đến việc triều chính nên nhiều khi vua ở trong rừng núi ba bốn ngày đêm liền mà không biết mỏi mệt.

Bọn quân lính được theo vua đều lấy làm vui sướng, bởi tính ngài dễ dãi, mỗi khi hài lòng một cuộc săn vất vả có kết quả ngài lại cho quân uống rượu, vui đùa thỏa thích. Rượu nồng do dân các bản làng đem vào rừng dâng nộp, đồ nhắm thì dê béo hươu non do nhà vua tự mình khó nhọc qua bụi này suối khác mà hạ thủ với chiếc cung thần, vì vậy vua tôi đều hoan hỉ ăn uống no say, không kẻ nào muốn trở lại hoàng thành để phải bó mình trong khuôn phép.

ma thien lanh 1 - mau

Vào những đêm trăng sáng, giữa tiếng suối chảy róc rách trong khe núi âm u và tiếng gió reo xào xạc, lá cây rừng loáng bóng dưới ánh trăng xanh, bọn quân lính được vua cho phép đàn hát vang cả một khoảng lâm tuyền hoang tịch. Nếu là những đêm không có trăng sao, chúng ngả cây khô đốt lửa sưởi, nướng thịt và đàn hát thâu canh.

Cũng khi ấy thì vua đang say trong trướng với một vài viên quan văn võ thân tín. Cái tính ưa phóng đãng của vua do vậy mà bị các quan trong triều không phục và lòng dân oán giận.

Nhà vua không vì thế mà bận tâm, ngài ngồi trên ngai vàng mà chỉ mơ nghĩ đến hươu nai, rừng núi. Lạ một điều là những ngày không đi săn vua bị ốm liền, nếu không ốm thì cũng chẳng thiết gì việc triều chính, hoặc cảnh oan khổ đói kém của muôn dân. Nguyên chỉ vì Hồ Quý Ly ngang ngạnh, lộng quyền mà ngài sinh ra lo buồn, chán nản.

Hồ Quý Ly làm quan đến chức Tư không, vốn là kẻ gian hùng độc ác. Hồ có ý nhòm ngó ngôi vương mà chưa tiện dịp mưu việc phản, cho nên muốn che mắt người ngoài, Hồ giả trung thành nịnh hót chiều theo ý muốn của vua, tuy Hồ vẫn biết vua chẳng ưa gì mình.

Một sớm ngày mùa thu, ba hồi trống đằng cửa bắc vừa gióng hết thì một đoàn người ngựa tự trong thành phi ra, cát bụi vẩn mù lên trong nắng hanh vàng lạnh lẽo. Đó là một cuộc đi săn của nhà vua, mà lần này có Hồ Quý Ly đích thân đi phò giá.

Mặt trời vừa đứng bóng thì đoàn săn đến trước một khu rừng bao la, núi và cây cao ngút từng mây. Ngoài cửa rừng, một con sông rộng nước trong veo, hai bên bờ lau sậy um tùm, chảy hút đến tận chân trời. Muốn vào rừng phải qua con sông đó, vậy mà tuyệt nhiên không có một chiếc thuyền nào.

Hồ Quý Ly ngồi trên yên ngựa cầm roi trỏ con sông, hỏi lính:

- Sông này là sông gì?

- Bẩm, là sông Đà Giang.

Nhà vua còn đang phân vân, Hồ đã xuống ngựa hạ lệnh cho quân lính đi đẵn cây làm mảng để qua sông vào rừng. Lệnh vừa truyền thì một lúc sau đã có mấy cái mảng lớn thả xuống sông. Vua tôi lênh đênh trên dòng nước bạc. Mấy chiếc mảng đè ngang ngọn sóng, ngựa hí vang lừng, vọng vào lòng rừng sâu.

Mảng cách bờ chưa được bao xa thì mây đen ngùn ngụt kéo kín cả bầu trời. Gió mạnh nổi lên đùng đùng và chỉ trong chớp mắt đã thành giông tố. Gió rú bên kia rừng. Mây sa xuống trùm ngọn núi. Tiếng chim kêu xáo xác. Văng vẳng như có tiếng hổ báo rống lên. Mưa trút xuống. Vua và Hồ bàn cho quay mảng trở lại bờ. Khi mấy chiếc mảng vừa cặp vào bờ rồi, Hồ sai căng trướng căng màn lên trên các mảng và sai đốt lửa để vua hong áo đợi ngớt cơn mưa gió. Một dãy mảng nối liền nhau trên sông nước trông như một đoàn quân hạ trại trên mặt đất chờ ra trận vậy.

Cho mãi đến chiều tối, gió mưa vẫn không ngớt chút nào. Mưa gió dằng dai sang tới hôm sau, và xem chừng còn có thể tiếp nhiều ngày nữa. Quân lính phải lặn lội vào các thôn xóm rất xa để lấy gạo, bắt lợn đem về mảng làm cơm. Mặc dầu vậy vua vẫn chưa muốn bỏ cuộc săn mà trở lại hoàng thành. Tới ngày thứ hai thấy vua buồn quá, Hồ sai quân làm tiệc rượu. Hồ với vua cùng say sưa. Mười tên lính đứng hầu hai bên. Những ngọn đuốc nhựa thông ở tay chúng bốc cháy ngùn ngụt, thắp sáng cả một khúc sông.

Bên bìa rừng, trong đêm khuya, tiếng chim khắc khoải kêu lẫn vào tiếng gió mưa và tiếng sóng vỗ trên sông Đà.

*

Những loài tinh trong tháp Ma Thiên Lãnh

Về phía bắc khu rừng bên kia sông, ngọn tháp Ma Thiên Lãnh đứng sừng sững từ hàng mấy trăm năm nay như bóng hình một con ác quỷ. Ngọn tháp đã hơi nghiêng vì dãi dầu nắng gió; những hòn gạch xanh rêu sụt xuống dần, nằm ngổn ngang trên đống cành lá mục.

Xưa kia, có một lão phù thủy già bị một lũ âm binh đuổi lạc đến rừng này, tới chân ngọn tháp thì vừa vặn tối. Lão xuống ngựa, vào ngồi nghỉ trong tháp. Chẳng may mệt mỏi ngủ chợp đi, rời tay bắt quyết, lão bị bọn âm binh vật chết tươi liền. Hồn lão phù thủy linh thiêng thường hiện lên tác quái. Bộ xương con ngựa và bộ xương lão dù đã lâu năm nhưng vẫn còn nguyên trong tháp. Nước mưa trên mái dột xuống đọng thành vũng lớn. Rắn rết độc bò lúc nhúc. Nhưng bên trong tháp không chỉ có bộ xương lão phù thủy và con ngựa mà còn bộ xương của một bà hoàng hậu.

Tục truyền có một bà hoàng hậu đời nhà Lý phạm tội tư thông với một viên quan. Để hành hình, nhà vua sai xây cái tháp ấy chôn sống hoàng hậu. Một toán lính canh giữ ngoài tháp đủ trăm ngày, chờ khi không còn nghe thấy tiếng hoàng hậu than khóc nữa chúng mới về tâu với vua rằng hoàng hậu đã tắt thở. Toán quân nhà vua vừa ra khỏi rừng sâu thì trong tháp đưa ra tiếng khóc vô cùng ai oán. Nhưng đó chỉ là tiếng khóc của một oan hồn. Tháp Ma Thiên Lãnh, những đêm trăng, có bóng một người đàn bà xõa tóc mặc xiêm y trắng ngồi quay về phía cung thành nhà vua, vái hai vái rồi ri rỉ khóc. Cái bóng ấy tan đi kể từ buổi tối lão phù thủy bị âm binh đánh chết. Hồn lão chỉ tác quái được ít lâu, cho tới một đêm giông tố, một tiếng sét đánh bật nóc ngôi tháp cổ. Oan hồn của người không còn nữa, tháp Ma Thiên Lãnh lại trở thành nơi tụ họp của những loài vật hóa thành tinh.

Giữa đêm vua và Hồ Quý Ly uống rượu trên sông Đà thì ở tháp Ma Thiên Lãnh, những loài tinh kia tụ tập để bàn về sống chết. Trong bọn, có con Cáo và con Vượn là hai con tinh già ghê gớm, phép thuật cao cường có thể biến hóa ra người hoặc vật gì cũng được. Cáo và Vượn cho gọi các bạn tinh khác ở rải rác khắp núi rừng quanh đó. Một lát, bọn tinh đều đủ mặt.

Trên một tầng cao ngọn tháp Ma, các con tinh vừa đập đá lấy lửa đốt cháy những cành nhựa thông sáng rực, khiến bóng những con Gấu tinh lông cổ trắng như bông, con Trăn tinh cuộn tròn nom rất hiền từ nhưng hai con mắt nhìn ranh mãnh và ở miệng nó lúc nào cũng tia ra một dòng lửa xanh lè in chập chờn lên bức tường rêu.

Vượn tinh và Cáo tinh ngồi trên hòn đá cao, trên cả những con Hổ tinh, Báo tinh lông đỏ như nhuộm máu và mắt quắc lên như bó đuốc, bởi vì trong các loài vật hóa tinh ở khu rừng này, kể về tuổi thọ thì chỉ có Cáo và Vượn là bậc già và khôn ngoan nhất mà thôi.

Chúng nói được tiếng người rất sõi, nguyên là do một hôm có một chàng nho sĩ qua rừng vào kinh thi, theo sau có một tên đầy tớ gánh hai hòm sách lớn. Vượn, Cáo đón đầu, bắt được chàng nho sĩ. Chúng ép chàng ở lại rừng, dạy chúng nói tiếng người, rồi dạy học cả chữ thánh hiền.

ma thien lanh 2 - mau

Người học trò ấy vốn bạo gan nên vui lòng ở trong rừng dạy chúng. Hơn mười năm ròng rã, bọn học trò tinh của chàng đã thông sử sách lầu lầu. Bọn trò đối với thầy rất là kính cẩn. Ngày thì chúng vẫn là hình vật cho khỏi trái lẽ trời; đêm chúng biến ra người, đốt lửa xúm quanh thầy nghe giảng sách như một trường học vậy.

Mỗi kỳ thi, thể nào chúng cũng cắt một vài con tinh hóa thành học trò vác lều chõng đi dự thí. Kỳ thi đầu tiên, Vượn tinh đỗ tú tài, Cáo tinh thì giật bảng nhãn. Xem tên xong, Vượn và Cáo chờ đêm xuống tìm đến quán trọ của viên quan giám khảo, hiện thành học trò vái tạ ơn rồi biến đi ngay lúc đó. Viên quan trường thấy vậy sợ hết vía. Kỳ thi nào cũng vậy, không bao giờ không có cái trò ghê gớm ấy khiến cho các viên giám khảo ai nấy đều kinh hồn bạt vía.

Thấm thoát, chàng nho sĩ nọ đã phải ở rừng hai mươi năm có lẻ, râu mọc xồm xoàm, áo quần thì may bằng da ác thú. Ông chết vì bệnh mà cũng vì nhớ nhà. Chúng chôn cất cho thầy tử tế, và ấp mộ thầy, giữ lễ đủ một năm.

Giờ hãy kể tiếp cuộc họp hội đồng của loài tinh ở tháp Ma đêm ấy. Cáo tinh lên tiếng rằng:

- Vua tôi nhà Trần đem quân vào săn chỗ rừng này là chỉ chăm hại bọn ta, ví không có gió mưa thì chúng ta chẳng mắc đạn cũng bị tên rồi. Chúng ta phải tìm cách ra kêu với vua để vua đừng vào đây săn nữa. Chúng ta có thể hại nhà vua, nhưng thế là trái mệnh trời. Còn Hồ Quý Ly tuy bạo nghịch nhưng chưa tới ngày tận số.

Trăn tinh bàn:

- Mình ra, lỡ vua biết mình chăng?

Cáo tinh đáp:

- Ở đấy chỉ có Quý Ly là giỏi, nhưng sự học cũng chưa rộng, tất chưa thể nào biết được ta.

Vượn tinh chịu là phải, bèn hỏi ai dám đi chầu vua.

Hùm và Báo tinh lên tiếng:

- Chúng tôi tuy mang tiếng là dũng mãnh, nhưng lý lẽ và khôn ngoan thì đâu bằng bác Cáo và bác Vượn. Vậy xin hai bác đi cho.

Cáo và Vượn tinh không từ chối, hóa ngay ra hai người nho sĩ khôi ngô tuấn tú. Con Vượn giả làm tú tài họ Viên, con Cáo giả làm sử sĩ họ Hồ. Hai người xúng xính trong bộ áo thư sinh ra khỏi tháp Ma Thiên Lãnh. Bọn tinh kia dập tắt lửa, tiễn Cáo, Vượn đến cửa rừng rồi chúng nấp vào các gốc cây chờ tin tức. Hồ sử sĩ và Viên tú tài đội mưa gió đi lướt trên sóng nước sông Đà, thoắt đã sang bên kia bờ, nhẹ như hai chiếc bóng.

Hai người đứng trên bờ, nghe ngóng. Bấy giờ quân lính đã ngủ yên, duy trong trướng lớn vua và Hồ Quý Ly còn đang dở tiệc. Viên tú tài nói với một tên lính trên bờ, bảo xuống mảng tâu với nhà vua có hai kẻ thư sinh muốn vào bái kiến. Vua cho gọi xuống mảng. Vào tới trướng, Hồ sử sĩ tâu:

- Chúng tôi là học trò cùng với một mẹ già trú ở túp lều bên kia núi, thấy nói nhà vua đi săn, vội bỏ đèn sách, đang đêm lặn lội đến đây để tâu với vua một vài câu. Trộm nghe, nhà vua có đức tốt thì những loài muông thú được thuận hòa. Bây giờ đương lúc thái bình, sao nhà vua chẳng kén kẻ hiền tài giúp nước trị dân, mà lại chăm việc săn bắn?

Vua đã quá say, muốn đi nghỉ, để Quý Ly ngồi tiếp.

Quý Ly mời hai người sang mảng của mình, nhưng đã bí mật dặn quân lính tuốt gươm phục sẵn bên ngoài trướng.

Quý Ly mời hai người ngồi, rồi nói rằng:

- Việc săn bắn cũng là phép đời xưa, rất chi thường, sao nên bỏ?

Viên tú tài đáp:

- Trình quan lớn, đời xưa vua đi săn là lúc dân làm ruộng xong rồi, trước là đuổi những con tê, con tượng khỏi làm hại dân, sau thì tập võ. Nay đương mùa dân có dịch hạch mà để dân thêm sợ sệt là không phải thì; giẫm nát lúa để bắt loài vật là không phải chốn; tát cạn đầm, đốt cháy núi là không phải lễ. Sao quan lớn chẳng can vua trở về, để người vật cùng được bình yên?

Quý Ly ngẫm nghĩ một lát, bèn rằng:

- Ta nghe nói trong rừng kia có một ngọn tháp cổ, trên nóc tháp đêm đêm có yêu khí bốc lên trời. Có kẻ đạo sĩ lại nói chắc rằng trong tháp ấy có con Cáo và con Vượn già thành tinh, cho nên muốn săn trừ nó đi, để nó khỏi quấy dân, chứ không cốt gì săn bắn.

Hồ sử sĩ và Viên tú vài nghe nói thì trông nhau mủm mỉm cười.

Quý Ly hỏi:

- Cớ sao mà cười vậy?

Hồ sử sĩ mới đáp bóng gió:

- Trình quan lớn, con sài, con lang đứng chắn đường, sao chẳng hỏi, mà lại đi hỏi con cáo, con vượn làm gì?

Quý Ly lại hỏi:

- Nhà ngươi nói thế là nghĩa làm sao?

Hồ sử sĩ đáp:

- Kìa! Quan lớn thử nhìn mà xem, giặc Bồng Nga như chó dại, cắn ở cõi đông nam; giặc Lý Anh bên Tàu đòi mượn đất ta để kéo quân diệt Chiêm Thành, như hổ đói kêu ở phương tây bắc, vậy mà nhà vua chẳng xét đến, cứ chăm chăm những việc săn bắn mãi ru. Dẫu được cầm thú chất cao bằng núi thì chúng tôi thực cũng không dám khen!

Giọng lưỡi của hai người rất hoạt bát, và lý thì rất thuận. Quý Ly cười, thét quân bày tiệc rượu mời. Lại hứa can vua bỏ cuộc săn.

Hai người uống, sau rồi từ tạ xin về.

Lúc đứng dậy, Quý Ly thoáng nhận thấy những nạm lông trắng ở cổ áo hai người thò ra, và ở dưới gấu áo có cái đuôi dài lê thê, ve vẩy, Quý Ly trước còn ngờ mình say rượu, sau thấy tình nghi bèn mật sai một tên lính lặn dưới nước đi thăm dò xem.

Tên lính lặn dưới nước nghe thấy tiếng chân hai người ấy bước trên đầu mình, đã lấy làm lạ. Lặn được sang bờ bên kia sông Đà, vừa ngoi đầu lên khỏi sóng, thấy hai người ấy hóa ra một con cáo, một con vượn, chạy vun vút vào rừng thì hắn kinh hồn thất đảm. Hắn tức tốc chạy về trình, Quý Ly nghe sợ lắm. Hôm sau họ Hồ tâu vua, xin đem quân về hoàng thành ngay.

Sau cuộc đi săn đó trở về, nhà vua càng thêm buồn rầu, chán nản. Thượng hoàng Nghệ Tôn thì u mê, mỗi ngày thêm tin dùng Quý Ly. Vua tính mưu giết kẻ gian nghịch. Hồ biết bèn tâu với Thượng hoàng truất bỏ và giết nhà vua đi, rồi lập Thuận Tôn lên. Hồ đem con gái là Thánh Bảo tiến làm hoàng hậu.

Nghệ Tôn lúc sắp chết, nghĩ đến việc giết vua con thì lấy làm hối hận và bấy giờ mới biết Hồ nguy hiểm, nhưng đã muộn, bèn khuyên Hồ nên hết lòng giúp nước.

Đợi sau khi Nghệ Tôn băng hà, Hồ bèn ép Thuận Tôn dời đô vào Thanh Hóa, bức phải truyền ngôi cho con nhỏ. Hồ tự xưng là Quốc tổ Chương Hoàng. Được hai năm, Hồ cướp ngôi vua. Ở ngôi một năm, lại truyền cho con đẻ là Hồ Hán Thương. Sau đó, bảy năm trời trong triều thì các quan sợ sệt, bên ngoài thì muôn dân nhao nhác lầm than.

Bấy giờ bên Tàu, nhà Minh thấy tình thế nước ta nát bét rối bời như vậy bèn cất quân sang cướp. Tướng nhà Minh là Trương Phụ, Liễu Thăng muốn cho lòng dân quy phục mới lập kế thảo một bài hịch dán khắp nơi. Lại viết lên những chiếc thẻ gỗ thả xuống các dòng sông cho trôi về tới kinh thành, trong hịch giả mượn danh nghĩa giúp nhà Trần, lấy lại ngôi báu. Bởi vậy, mọi người mới dần dần chán ghét họ Hồ, quay về hàng phục quân Minh cả.

Cha con Hồ yếu thế, chạy mãi vào đất Nghệ An. Tướng Minh theo đuổi riết. Tàn quân của Hồ chết dần chết mòn, sau cùng bỏ chơ vơ hai cha con Hồ, chúng kéo nhau đi trốn. Đằng sau thì giặc đuổi, cha con Hồ cùng quá, dắt nhau chui vào một bụi lau sậy um tùm trên một lạch nước bùn lầy. Lúc đó trời tối nhá nhem, quân Tàu chia nhau đi sục sạo tìm các bụi cây mà không thấy. Trương Phụ suỵt chó tìm. Chó chạy đến bờ lau sậy đánh hơi. Một toán quân xăm xăm ùa tới...

*

Chó vào, Cáo, Vượn hiện ra...

Trên từng cao tháp Ma Thiên Lãnh, những loài tinh vẫn mỗi ngày một đông hơn. Trùm chúa vẫn là Cáo và Vượn.

Một đêm, Cáo tinh mở tiệc ăn mừng sinh nhật. Loài Cáo mà mở tiệc hẳn không thiếu gì những vật phẩm ngon lành quý báu, bởi vì với đôi mắt sắc của Cáo ta thì có chỗ nào giấu được kín đáo một thức gì hiếm có. Giúp thêm vào việc mò mẫm ấy, còn Vượn tinh quái quỷ. Vượn tinh đã tung mình khắp các cành cao, bụi rậm để đốc suất lâu la đi tìm kỳ được những thức hiếm nhất và thích nhất cho Cáo tinh trại chúa.

Vọ tinh đem về mừng hai ả gà mái tơ, da hồng như son, thịt thơm như phấn.

Trăn mốc lại tỉ mỉ tha được cả một cái tổ công đầy những công con măng sữa vừa mới nở đâu chưa được một ngày.

Còn Hùm tinh, Báo tinh và tất cả những loài tinh khác, không cần kể rành mạch cũng thừa hiểu rằng chúng đã có những lễ mừng có lẽ xưa nay chưa có một Cáo già nào đủ đại phúc mà hưởng như vậy được.

Cáo ta quả là sung sướng lắm.

Cú tinh đã đốt cháy những mồi nhựa thông. Tháp Ma Thiên Lãnh sáng rực lên, giá dân các bản làng đêm ấy có biết, phải tưởng là một trận cháy lớn trong rừng thẳm chứ ngờ đâu chính là ma ăn cỗ. Mà ai biết đâu ma ăn cỗ. Cho nên bọn tinh trong cổ tháp cứ ung dung chén tạc, chén thù. Khi Cáo, Vượn tinh đã ngất ngưởng say, thì cửa tháp bỗng nhiên sịch động.

Hùm tinh vội thét:

- Đứa nào mà láo vậy? Không biết rằng đại vương đây đang giờ tiệc vui sao?

Nhưng đáp lại tiếng gầm, tiếng rống dữ dội của cụ Ba Mươi chỉ có tiếng cánh vỗ rất mạnh của một cái bóng gì gớm ghiếc, to lớn quều quào tựa như cái bóng ghê rợn của tử thần. Song có con vật nào lại dám trêu vào những con vật đã thành tinh. Cáo tinh ngoảnh nhìn kỹ xem thì ra là cái bóng một con chim lớn, là Đại bàng tinh. Đại bàng tinh là là nhào xuống, cụp cánh lại và nhả ở mỏ ra một mảnh gỗ nhỏ mà dài. Vượn tinh hỏi:

- Gì thế, hỡi chú mày! Chú mày qua bao biển rộng, núi cao, lại chỉ mang về được có mảnh gỗ mục kia ư?

Vọ tinh chẳng thèm hỏi, nhưng vẫy vẫy hai cánh, ra chiều coi thường món quà kia lắm. Đại bàng tinh nhìn lên bậc đá cao, cúi đầu xuống mà rằng:

- Trình trại chúa, tiểu tốt đi xa về chỉ có một vật lạ là mảnh gỗ bé nhỏ này thôi.

Đại bàng tinh không nói khoác. Đó là một tính tốt. Cho nên dù là Cáo gì đi nữa cũng phải bình tâm lại trước một kẻ thực thà. Chú ta thực thà nói chỉ có một mảnh gỗ thay cho lễ vật dâng trại chúa. Của ít lòng nhiều thôi thì Cáo tinh cứ nhận.

Mảnh gỗ ấy là gì? Nó không phải bạch đàn, không phải trầm hương, không phải thông thảo, không phải lão mai gì hết, nó chỉ là một miếng gỗ tạp.

Vượn tinh liếc qua, ranh mãnh hỏi:

- Ngươi nhặt nó ở xó xỉnh nào vậy?

Đại bàng thản nhiên đáp:

- Tôi bay qua một con sông gần đây, thấy nó trôi trên dòng nước lạnh. Tôi không muốn qua bể rộng, trời cao nào nữa, bèn đáp ngay xuống quắp lấy mảnh gỗ này. Lễ mọn nhưng mà lòng tôi thành, thưa bác!

Trăn tinh từ nãy cuộn tròn, bây giờ mới ngóc đầu lên, hai mắt giương thao láo.

- Ngươi nói dễ quá, dễ y như ta mổ một con kiến vậy.

Cáo tinh xem qua mảnh gỗ, nói át cả mọi tiếng bàn tán về Đại bàng tinh:

- Đại bàng quả đã làm được một việc hay! Đây là một cái thẻ gỗ, trên có khắc kín một bài hịch của tướng nhà Minh xui dân đánh lại họ Hồ. Hồ Quý Ly có tội với nhà Trần, nhưng mà có ơn với chúng ta. Người đã trọn một chữ “tín” khi biết rằng ta là tinh mà không theo đuổi. Không có lời của ông ấy can vua bỏ cuộc săn hồi năm xưa, có lẽ chúng ta không ở yên được trong ngôi cổ tháp này. Vậy dù sao ta cũng nên đi cứu người ấy một phen, để trả lại cái ơn đã cứu ta. Chúng ta may mắn được thầy dạy lễ nghĩa của Thánh hiền, chúng ta phải ở cho xứng là kẻ hiểu biết lễ nghĩa.

Vượn tinh sốt sắng nhẩy lên, đôi mắt tròn xoe ngời sáng.

- Phải đó! Ta cần phải ở cho hợp đạo kẻ đã chịu ân, anh em ạ.

Thế là dù chúng là tinh, chúng cũng vẫn biết đạo làm quân tử. Mọi tinh ca tụng nghĩa khí của Cáo và Vượn tinh rồi hò nhau uống rượu. Những loài chim đồng thanh múa, hót. Bọn thú không biết hót thì họa nhạc. Đó là bữa tiệc sinh nhật, lại cũng là bữa tiệc của kẻ sắp lên đường làm một việc hợp theo lễ nghĩa.

Ngày hôm sau, Cáo, Vượn tinh sai các giống chim đi do thám tung tích Hồ Quý Ly.

Lần đầu, Cú tinh bay về phi báo:

- Quân nhà Hồ yếu, hiện đã tháo lui nhiều lắm.

Lần thứ hai, Vọ tinh về phi báo:

- Quân nhà Hồ đã chạy vào miền trong, không hy vọng gì thắng được.

Cáo tinh bàn với Vượn tinh rằng:

- Ta sửa soạn đi, nhưng đợi một tin nữa hãy lên đường còn kịp.

Lần thứ ba, Đại bàng tinh bay về, hấp tấp:

- Quân nhà Hồ đã cùng đường, ta phải cứu ngay mới kịp.

Một làn khói đen, lẫn với sương mù tức thì tỏa ra cùng với hơi gió lạnh ghê gớm mang theo muôn tiếng quỷ khóc, ma hờn... Cáo và Vượn đã biến trong nháy mắt. Vạn dặm đường dài chỉ qua một bước. Đường vào miền trong những núi cùng rừng, nhưng có rừng núi nào ngăn trở được tấm lòng biết ơn của kẻ sốt sắng và tha thiết đền ơn. Đường vào miền trong những núi cùng rừng, nhưng có rừng núi nào hiểm trở hơn cái đất hiểm trở đã lụt máu gần hết đám tàn quân nhà Hồ?

Bấy giờ cha con Quý Ly chạy vào đất Nghệ An. Chó của Trương Phụ, Liễu Thăng cứ hướng mãi vào bụi lau sậy kia mà sủa... Quân Tàu đã ùa chạy tới gần... Cha con Hồ run sợ không còn hồn vía. Bỗng một cơn gió lốc từ phương xa xoáy đến, nhanh như chớp. Cha con Hồ cùng thốt rùng mình, bởi vừa chợt trông thấy rõ ràng hai con vật từ trong bụi cha con mình đang trốn chạy bổ ra trước con chó săn. Ấy là một con vượn và một con cáo già lông trắng nõn như bông. Cha con Hồ kinh ngạc. Nhưng đó là hai con tinh trong tháp Ma Thiên Lãnh. Con vượn và con cáo vờn dứ con chó ranh mãnh của quân Tàu, rồi băng mình chạy vút đi. Màu lông trắng của đôi tinh cùng màu lông trắng của con chó khôn ngoan mà dại dột ấy đều mất hút trong bóng mờ của buổi chiều u ám.

Tuy vậy, cũng đã tới lúc vận nhà Hồ thật hết. Như là một sự không may nhất trong cuộc đời kẻ gian hùng. Quý Ly bỗng tự nhiên ngứa trong cổ họng, bật ho một tiếng. Bọn quân Minh vừa sục tới nơi, hò nhau vây kín bụi, xỉa gươm giáo vào mà tìm cha con Hồ. Chúng lôi được hai người ra với một chút máu - một chút máu rỏ cho cái cơ nghiệp của hai cha con vừa trọn bảy năm trời tranh bá đồ vương. Cha con Hồ bị đóng gông, nằm cũi, giải sang Tàu.

*

Đường sang ải Bắc, không về nữa!

Một mảnh trăng lạnh treo giữa những làn mây bạc bay lang thang như vong hồn kẻ đi đày xa lìa xứ sở, quê hương. Ngồi thu mình như con hổ mắc bẫy kiệt sức vẫy vùng trong chiếc xe tù, Quý Ly rên rỉ cho tấm thân già yếu mang cái khổ ốm đau dọc đường muôn vạn dặm. Từ trên ngai báu, oai trùm thiên hạ, cha con Hồ đã ngã xuống làm thân tù đồ. Đó là Trời hành phạt kẻ quân thần không ở cho trọn đạo thờ vua, phò nước, an dân.

Một hôm, cánh quân Tàu áp giải hai cỗ tù xa giam hai cha con Hồ xuống một chiếc thuyền to chờ sẵn, rồi buông neo, nghỉ đêm bên sông Đà. Chính khúc sông này, mới năm nào Quý Ly theo hầu vua đi săn đã nghỉ lại vì gặp bão.

Trời sang canh ba, ánh trăng vằng vặc. Nghĩ đến thân thế mình, Quý Ly gục đầu xuống thở dài. Bên kia sông hiện lên bóng một dải rừng hoang rậm. Giữa khu rừng hiểm ấy, trên ngọn tháp Ma Thiên Lãnh có ánh lửa xanh biếc lập lòe. Một cơn gió lạnh làm Quý Ly ngẩng trông lên. Qua những thanh gỗ lim đóng làm gióng cũi, ông thấy thoáng có bóng hai người ăn vận ra dáng thư sinh.

Tự nhiên Quý Ly vụt nhớ ra trước kia, lâu rồi, có lần ông đã gặp hai kẻ nho sĩ này ở đâu. Nhưng trong chớp mắt, hai kẻ nho sĩ ấy bỗng biến đi đâu mất, trước mặt Quý Ly chỉ là một con cáo và một con vượn dưới ánh trăng khuya. Quý Ly thất kinh, không dám hỏi.

Cáo rằng:

- Chúng tôi đã chịu ơn ông ngày xưa. Hẳn ông còn nhớ đã có lần ông vì nghe hai người nho sĩ trên mảng mà can vua nhà Trần bỏ việc săn ở cánh rừng này?

Quý Ly gật đầu.

Cáo rằng:

- Vì ơn ấy, mà chúng tôi phải cứu ông.

Quý Ly mừng rỡ:

- Nếu tôi thoát chết, thì không bao giờ quên ơn.

Vượn rằng:

- Tiếc thay, không sao cứu ông được nữa. Chúng tôi đã định làm lạc lối quân Tàu khi ông bị khốn trong bụi sậy, nhưng số ông bị Trời đoản mất rồi, nên ông vẫn không thoát nổi.

Quý Ly thở dài.

Cáo rằng:

- Trời đã định, ta không nên oán. Thời vận ông không còn. Chúng tôi chỉ là loài tinh, không có phép gì cưỡng lại với thiên cơ. Thôi thì nhân ông qua đây, nơi chúng ta đã uống rượu cùng nhau đêm nọ, chúng tôi gọi là một chút lòng thành ra tiễn biệt ông, chắc cũng là thỏa cái nghĩa và cái ơn không còn có ngày nào gặp nhau mà trả nữa.

Quý Ly trước sự biết ơn và cái nghĩa luyến mộ của hai con vật kia, ứa nước mắt nghĩ lại sự nghiệp gian hùng của mình đã làm nghiêng ngửa nhà Trần.

Cáo và Vượn tinh nghiêng mình chào, rồi biến mất.

Từ nãy, tên lính Tàu không hề hay biết câu chuyện giữa Hồ và bọn tinh, vẫn vác gươm đi đi lại lại. Bóng hắn cùng chiếc bóng cỗ tù xa in xuống mảnh ván đầu thuyền, lúc này đang chan hòa ánh trăng.

Quý Ly ngửa mặt lên trời mà than rằng:

- Trời không hại ta! Chính ta tự hại ta đó thôi!

Truyền Bá, số 18, năm 1942

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 30 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.