Úm ba la - Hang thuồng luồng

Lượt đọc: 41 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hang thuồng luồng

❊ ❊ ❊

Icon

Gà rừng ấp rắn

Ở khu rừng Bản Lạng có một lão thầy mo người Thổ, chuyên nghề đi cúng cấp hay chữa bệnh cho những kẻ bị ma hành.

Tên lão là Trô Ún. Lão thấp, gầy, da mặt nát nhàu như miếng da trâu cũ, được cái đôi mắt lão sắc lạ lùng, lão đi trong đêm, nhìn mọi vật gần rõ như ban ngày vậy. Có kẻ gọi lão là “lão mắt mèo”. Đôi chân khẳng kheo của lão bước rất nhanh, trai khỏe mạnh không sao theo kịp. Cũng vì vậy, có kẻ lại gọi lão là “lão thỏ”. Hai cái tên lạ cũng đủ khiến lão thành một tay quan trọng trong rừng Bản Lạng, huống chi lão lại có sức khỏe khác thường, những đêm bão rừng, một mình xách chiếc nỏ rất lớn và đeo một túi tên, lão lủi vào các hốc cây, dòng suối để bắn hươu, nai, hoẵng; nếu cần thì lão rất bình tĩnh chơi cả với hổ, lợn lòi, trăn gió... Đôi cánh tay khô như cành củi, vậy mà mỗi khi trâu nhà ai sổng thừng hành hung, nhờ lão đuổi, lão chỉ việc ấn đầu trâu xuống bẻ gẫy hai sừng. Còn hổ báo, lão đã trải lắm phen cầm cự hàng giờ, rút cục phần thắng phải về phần lão. Nhưng cũng vì vậy mà mặt mũi và khắp mình lão đầy vết sẹo, có chỗ mất hẳn miếng thịt gần hở cả xương do móng vuốt loài ác thú.

Phải nói đến tài dùng nỏ, dùng tên của lão già Trô Ún. Chiếc nỏ cứng nặng vô cùng, lão đã thách các tay có tiếng là khỏe mạnh, gan góc thử giương, nhưng chưa một kẻ nào giương nổi. Đến lượt lão, lão giương nhẹ nhàng như giương một cái cung dâu. Thứ tên lão dùng là một vật giết ác thú trong chớp mắt, dù mũi tên chỉ mới xước qua trên da thịt.

Một buổi trời sầu đất thảm kia, lão thầy mo đã tìm ra một thứ cây độc nhất trong các thứ cây độc ở khu rừng Ma Chạo. Cái cây đó ở một tảng đá nhô lên, thân gầy mà cành lá vươn lên ngạo nghễ bốn mùa, mây che khuất ngọn. Có một giống chim “cô hời, cô hỡi” sớm và chiều bay đến cây này đậu, kêu thảm thiết như là ma quỷ. Khám phá được cây đó, lão Trô Ún suýt mất mạng. Chính vào cái buổi trời sầu đất thảm ấy, đang đuổi một con hươu qua chân núi bỗng lão dừng chân. Lão vô tình vịn tay vào một thân cây. Bàn tay lão vừa bị một cành gai cứa phải. Một chút nhựa cây dính vào vết gai đâm, khiến lão lao đao gục xuống. Vốn gan góc, và tinh nhanh, lão biết mình đã mó vào một cây nhựa độc, lão cố gượng dậy đi tìm lá nhịt. Phúc cho lão, lão tìm được ngay lá giải độc gần chỗ đó. Đắp lá rồi, lão già tỉnh hẳn.

Một ý nghĩ thoáng qua đôi mắt mèo lấp lánh, lão bèn rút dao lưng khía vỏ cây. Một thứ nhựa đỏ như máu rỉ ra. Lão quệt nhựa vào đầu chiếc tên, lắp vào nỏ, giương lên bắn thử một con trâu không biết của nhà ai đang ăn cỏ. Mũi tên cắm ngập đùi, con vật chỉ kịp chạy đủ ba bước thì nhựa độc ngấm rất nhanh, nó lăn ra chết. Lão thầy mo đắc chí cười rú lên mấy tiếng, lấy đầy nhựa vào ống tre rồi đi về.

Từ đấy, lão già Trô Ún không cần đấu sức cùng hổ, lợn lòi, trăn gió nữa. Chỉ một mũi tên là hạ xong địch thủ. Ác thú không bao giờ chạy được quá ba bước trước khi lăn cổ chết. Mà tài nỏ của “lão mắt mèo”, đêm cũng như ngày, chẳng bao giờ làm phí một mũi tên bôi nhựa độc.

Thứ nhựa ấy rồi cũng có kẻ tìm ra sau lão nhưng ít kẻ có gan dùng, vì lúc chặt vỏ cây, không khéo tay, nhựa bắn sang thịt da một chút, ắt chết liền. Đến nỗi người ta đâm sợ nó và đặt tên cho nó là “đoạn trường thảo”. Về sau, muốn phòng cho những tiều phu vô phúc chạm vào cái cây ma quái ấy, người ta bàn đốt nó đi. Họ đã chất củi, chất nhựa thông quanh gốc cây và châm lửa vào một chiều gió lộng. Gió mang lửa lên ngùn ngụt, nhưng cái cây nọ vẫn không sao cháy được. Hết lớp củi này đến lớp củi khác, bọn sơn thôn reo hò vang động cả núi rừng vậy mà “đoạn trường thảo” vẫn cứ đứng trơ trơ như cột đá giữa trời. Bọn dân sợ hãi, đã có kẻ bỏ chạy ra về. Chúng yên trí là cây ma quái linh thiêng nên chỉ nhìn nhau không dám reo hò nữa.

Bỗng mây kéo đen kịt một gầm trời. Gió đã mạnh càng mạnh hơn. Cây rừng rú lên gớm ghiếc. Nhất là cái cây ma quái, theo sức gió rú lên từng hồi, nghe như tiếng gió từ cửa địa ngục lùa lên. Từng chiếc lá đỏ rụng lả tả như những giọt máu, lá rơi xuống chỗ nào, cỏ úa đi chỗ ấy. Rồi thì trời đổ mưa. Sấm chớp ầm ầm. Một tiếng sét chuyển núi rừng đánh đúng vào cái cây. Một tiếng reo vang động, cả một tảng đá tung lên, thân cây ngã xuống, cháy xém đi một nửa. Hôm sau, bọn dân lại kéo nhau ra, giết bò làm lễ ở gốc cây, rồi vòng tay nhau nhảy múa. Nhảy múa xong, chúng lại chất củi và tẩm nhựa thông để đốt. Lần này thì lửa bén ngay vào thân cây. Lửa càng cháy, một mùi tanh tởm càng bốc lên. Bọn dân kẻ thì lao đao ngã xuống ngất đi, kẻ thì mau chân chạy thoát. Lửa cháy âm ỉ ba đêm ngày liền. Dân vùng ấy bồng bế nhau chạy về các nẻo rừng xa để tạm lánh hơi nhựa giết người. Đến ngày thứ tư lửa tắt, có kẻ mò về, thấy muông thú chết ngổn ngang ở nơi đốt lửa. Thì ra thú rừng đã ra và đã giẫm hay liếm phải đống tro kia.

Cây ma quái đã bị sét đánh rồi, nhưng lão thầy mo Trô Ún vẫn còn một ống tre đầy nhựa “đoạn trường thảo” cất giấu ở trong buồng. Lão không dùng nhựa ấy để giết người. Tuy lão có sức khỏe phi thường và mặt mũi hung ác, song lão rất hiền với người, chỉ ác cùng mãnh thú. Bởi thế mà một bọn trai đã đến xin làm đồ đệ lão. Lão ngần ngại mãi rồi mới chịu thu học trò. Trong sân nhà lão, bọn học trò khi việc làm nương, đốn củi đã xong, thường tụ họp để tập bắn cung nỏ và đánh võ. Lão Trô Ún rất giỏi võ, cũng do một người Tàu ngày xưa đã vượt qua cửa ải Nam Quan vùng Lạng Sơn sang đây tìm đất chôn vàng hay để mả gì đó, rồi gặp ngay Trô Ún. Người Tàu nọ đã tận tình truyền bảo võ nghệ cho Trô Ún, rồi lại đi giang hồ.

Trô Ún ngay từ ngày còn trẻ đã nổi danh ở vùng chợ Chu (Thái Nguyên - Bắc Kạn). Trô Ún nổi danh hào hiệp, có hắn nên hồi đó giặc cỏ không dám nổi lên.

*

Trên đây là chuyện ngót năm mươi năm về trước. Ngày nay người anh hùng có tài tên nỏ ấy đã già rồi. Tuy già mà đôi mắt mèo của lão vẫn rọi sáng được bóng đêm, đôi tay lão vẫn bẻ gãy sừng trâu, vẫn bóp ngạt hổ báo.

Bây giờ ta hãy kể đến truyện gà rừng ấp rắn.

Lão Trô Ún một hôm đi cúng cho một cô ả bị ma làm ở một làng kia xa lắm. Mọi bận mỗi khi đi xa thì lão thường cưỡi ngựa, lần này lão đi bộ. Lão vẫn bảo đi ngựa xuyên núi rừng rất chậm, đôi chân lão còn khỏe hơn ngựa nhiều.

Lão đã chữa thuốc và cúng cấp xong, cô ả bị ma làm đã ngồi dậy được, và lúc này lão đang say rượu chếnh choáng ra về, có lẽ cô ả đã vào suối bóc vỏ măng rồi. Lão say tợn, có bao giờ lão lại say đến thế này đâu! À, tại chủ nhà đãi lão cái thứ rượu tăm ngon quá, lại nhắm với thịt lợn bao tử ướp men rượu nếp, thành ra lão mềm môi không biết say là gì nữa.

Mặt trời sắp lặn. Một mình lão đi giữa rừng hoang. Lão lắng nghe chim hót và nhìn mây trùm trên ngọn cây đỉnh núi, bước cao bước thấp. Say quá, thấy buồn ngủ, lão kềnh bên bờ suối ngáy khì.

Mặt trời lặn hẳn. Bóng tối trùm xuống bao la như tấm lưới không cùng. Tới khi lão mở mắt ra thì nhận thấy ánh trăng rọi mơn man trên bàn tay khô của lão. Vừa toan nhấc bàn tay lên, bỗng lão thấy cái gì là lạ, tròn và trắng, lấp lánh trong lòng bàn tay. Lão giơ lên mắt: đó là hai quả trứng, to như trứng vịt.

Lão kinh ngạc ngồi nhỏm dậy, chú ý nhìn quanh và nhận ra một vạch dài in lõm xuống đất, như hình một con trăn, con rắn, hay con vật gì mình dài lắm vừa từ chỗ bàn tay lão bò xuống suối. Nỗi kinh ngạc diễn ra không lâu vì chẳng có gì khiến lão phải để tâm lo lắng, trái lại lão cho là một việc vui thích nữa. Lão mỉm cười bỏ hai quả trứng vào túi, rồi đứng lên đi. Tỉnh hẳn rượu, lão đi vun vút, không mấy lúc đã tới nhà.

Lão có một người vợ già, không con cái. Chẳng thèm lên tiếng cho vợ biết, lão lẳng lặng vào chuồng gà, bỏ hai quả trứng vào trong ổ mà con gà mái rừng mới bắt đầu nằm ấp.

Ấp được gần hai mươi hôm thì trứng gà nở hết. Hai quả trứng nọ nở sau cùng. Nhưng trứng không nở ra gà, mà nở ra hai sợi chỉ đỏ thoạt đầu cuộn tròn lại, sau đó một lúc thì ngọ nguậy rồi duỗi dài ra ước chừng một tấc. Lão Trô Ún cho là cái quái quỷ gì, nên cứ mặc nó ở ổ cỏ khô, chẳng buồn để tâm đến. Hai sợi chỉ đỏ lớn lên từng phút, từng giờ. Mới có ba đêm ngày mà chúng đã to bằng chiếc đũa. Con gà mái rừng sợ không dám vào trong ổ, phải nấp vào một xó chuồng. Chúng đuổi theo, quấn chặt lấy con gà. Con gà lăn ra giẫy đành đạch rồi chết cứng. Đàn gà con mới nở cũng chết luôn trong đêm ấy. Rồi cứ thế, đàn gà của mụ vợ lão thầy mo mấy ngày sau, không thấy con nào ra khỏi chuồng ăn thóc nữa.

Vợ chồng lão Trô Ún bấy giờ mới thấy làm lạ, cùng mở cửa chuồng xem. Trong đó ngổn ngang những xác gà. Mà hai cái quái quỷ kia thì đã lớn bằng ngón tay, đỏ như máu, cuộn mình nằm một xó. Lão Trô lấy một con gà chết ra coi, thấy cổ có một vết cắn thủng rất sâu. Lão xem những con khác, thì con nào cũng có vết thương ở cổ. Bấy giờ lão mới biết đó là hai con thuồng luồng, vì cái giống này hay ăn máu súc vật.

Vợ lão có ý sợ, bảo giết đi. Nhưng lão Trô, như ta đã rõ, có biết sợ là gì. Lão lại cho là thú vị, cười khà khà, rồi thò cái gậy đầu bịt sắt - cái gậy lão vẫn dùng làm khí giới đi rừng - vào trong chuồng. Miệng lão chúm lại, lão gọi líu díu thế nào mà hai con thuồng luồng cùng bò ra, quấn vào chiếc gậy. Ấy, lão vẫn có cái tài gọi chim, gọi rắn bằng cách đó, mỗi khi lão chán hươu nai, thấy thèm đánh chén thịt rắn, thịt chim.

Hai con thuồng luồng đã quấn chặt vào đầu gậy. Chúng ngóc đầu lên, miệng há rộng ra nhìn lão. Lão lại cười khà khà, cần nhớ rằng lúc ấy lão đã say chếnh choáng.

- Chúng mày ơi, ta hiếm hoi thì lấy chúng mày làm con vậy. Ồ, ta đang nằm ngủ, sao tỉnh dậy lại thấy hai quả trứng ở bàn tay. Có lẽ ta có duyên nợ gì với mẹ chúng mày. Hay là kiếp trước, ta là thuồng luồng đó? Nếu quả thế thì hai con ở lại đây với ta. Ta là cha hai con, ta nuôi nấng, phải kính trọng ta. Mẹ các con kia, con cũng phải kính trọng mẹ như ta vậy.

Thuồng luồng có lẽ thuộc về giống linh vật, ngóc đầu lên rồi cúi xuống, làm như vậy ba lần. Lão thầy mo lấy làm thích lắm, cứ mân mê chúng cả ngày.

*

Cuộc phiêu lưu của thuồng luồng và Trô Ún

Từ khi có đôi thuồng luồng làm bạn, lão thầy mo lại sinh tính thích đi đây đi đó. Được cái bệnh nhân mỗi ngày một lắm, người ta mời lão đi luôn. Với một cái ống trúc đựng rượu đeo vai, một con dao nhọn giắt ở bên sườn, một chiếc gậy bịt sắt, trên đầu gậy đôi thuồng luồng quấn tròn như sợi dây thừng lớn, lão đi qua rừng này, núi nọ, qua động này, bản khác. Đói thì ăn quả rừng, khát thì tu rượu ở ống trúc. Hết rượu, lão lại tìm vào làng mua, bảo là mua, nhưng có ai dám lấy tiền của lão. Ai cũng biết danh lão, cho nên thấy bóng lão là người ta đã giết gà đãi. Hễ nghe thấy tiếng gà kêu là lão đã oang oang dặn chủ nhân phải để cho lão tiết tươi. Chủ nhân vừa đưa bát tiết, lão gõ vào đầu gậy, đôi thuồng luồng nghe hiệu liền bò xuống ăn. Chủ nhân tỏ ý sợ thì lão vội an ủi ngay. Thuồng luồng ăn xong, tức thì chia nhau bò lên mái nhà thò đầu xuống để chầu bố nuôi chúng ngồi đánh chén với chủ nhân, khi bố nuôi chúng say lăn ra ngủ thì chúng làm như thể canh giấc ngủ cho bố chúng.

Chờ đêm khuya mọi người ngủ cả, thuồng luồng ta mới bò xuống mò vào chỗ nhốt gà. Chúng thịt từng con một; không con gà nào kêu nổi một tiếng, vì thuồng luồng khôn khéo quấn nghiến cổ gà, rồi rất nhanh chúng cắn ngay vào cổ mà hút máu. Thuồng luồng chỉ hút trong chớp mắt là con gà chết cứng khô. No nê, đôi thuồng luồng lại bò lên mái, canh giấc ngủ cho lão bố nuôi đang ngáy khò khò.

Sớm sau, thấy hai cậu con quý bụng căng tròn, lão thầy mo biết ngay đêm qua chúng đã đi sát hại vịt gà, lão lẳng lặng chống gậy xin đi tức khắc. Chủ nhân còn tiễn lão một ống rượu đầy. Và lão lại gõ chiếc gậy bịt sắt kêu lạch cạch trên đường đá dọc đường, nghếch cái mõm dài lên, vung vẩy tay áo rộng thùng thình, trông lão như gã Trư Bát Giới đi sang Tây Trúc thỉnh kinh vậy.

Lão lầm lì và vốn không hay hát, nhưng một khi lão say mà hát thì chỉ rặt những câu thần chú hô ma hô quỷ. Tiếng lão the thé vọng vào rừng sâu nghe rất là ghê sợ.

Một hôm, lão qua cái động của người Mán sơn đầu.

Chúa động là một thằng què. Đầu hắn sơn bóng như đầu bọn đồ đệ, hắn cởi trần trùng trục, da xám mốc như con trăn gió. Hôm ấy sắp đến ngày dân động làm lễ tế Thần Rừng. Họ tổ chức cuộc săn đêm bắt lấy vài con vật để hôm sau tế. Bấy giờ đã tối. Lão thầy mo đang say túy lúy, lúc nào mà lão chẳng say. Sương xuống mù trời, gió núi kêu vun vút. Mới vào tiết mùa đông, lão Trô Ún chỉ mặc chiếc áo phong phanh lại thêm men rượu làm mềm đầu gối, lão trèo lên một ngọn cây nhìn xem đâu có lửa thì lần tới.

Xa xa, có ánh lửa và tiếng hát văng vẳng. Tin là có chỗ nghỉ chân, lão lại nâng chiếc ống trúc tu một hớp rượu nữa rồi lao đao bước. Gió lạnh làm bạt hơi, lão thở phì phò như con rắn hổ mang phun nọc. Đuốc lửa lấp lóe chỗ này, chỗ khác. Tiếng reo hò của bọn dân địa phương đuổi thú vang dậy cả khu rừng già. Mặc chúng, lão Trô Ún vẫn đi ngược cơn gió lạnh, bước mà không cần nhìn, không cần nghe gì cả. Bỗng rắc một tiếng, cả người lão và cái gậy thuồng luồng rơi xuống hố. Thì ra là cái bẫy hổ. Mặc! Lão đang cần ngủ. Càng tốt, lão và hai con lão ngủ đêm nay dưới hố chơi, càng ấm áp chứ sao. Lão ngả lưng vào thành hố, duỗi dài chân ra, ngáp rồi nhắm mắt lại, miệng lầu nhầu:

- Quân nào đào hố bẫy hổ, ai ngờ hổ không thấy, lại chỉ thấy lão ngủ ngon lành, kể thì chúng cũng có lòng tử tế.

Đầu lão nghẹo một bên, những tiếng lầu nhầu nhỏ đi dần, tiếp đến là tiếng ngáy khò khò như tiếng ngáy của con hùm xám sau lúc no mồi. Đôi thuồng luồng nhoai cả lên miệng hố. Một tấm phên mây, sau khi lão thầy mo gieo mình xuống, đã từ một cành cây rơi theo đậy miệng hố lại, kín như một cái chuồng bằng sắt. Lũ thuồng luồng hình như biết rằng gặp nạn, chúng lại bò tới canh giấc ngủ cho lão cha nuôi.

hangthuongluu2

Bỗng nửa đêm, những bó đuốc sáng rực kéo đến miệng bẫy. Bọn người thiểu số reo lên mừng rỡ, chúng tưởng một con ác thú đang nằm gọn dưới đó rồi. Cùng lúc mấy chục bó đuốc soi xuống hố, một đám tàn lửa rơi vào đầu Trô Ún khiến lão bừng mở mắt. Ngẩng lên, thấy những khuôn mặt dữ tợn đang ngơ ngác nhìn mình, lão thầy mo bèn gọi đôi thuồng luồng bảo chúng quấn vào đầu gậy, đoạn lão vỗ đùi nhảy vọt lên miệng hố, nhẹ như một cánh chim bay.

Bọn Mán sơn đầu kinh ngạc lùi cả lại, chúng rút phắt dao ra. Trô Ún cũng rút dao, điềm nhiên đứng đợi. Chợt có tiếng chiêng từ nẻo xa vọng tới gần. Nghe tiếng chiêng, bọn này dừng tay dạt sang hai bên, đầu cúi xuống. Một tên Mán cao lớn bước lại, tay cầm chiếc nỏ khá to. Đó là chúa động. Một tên trình cho chúa biết việc lão thầy mo ở dưới hố, và lão đã nhảy lên thế nào. Tên chúa động quắc mắt nhìn Trô Ún. Lão Trô Ún ưỡn ngực, vênh mặt lên nhìn lại. Đôi thuồng luồng ở đầu gậy cũng ngóc lên như khiêu khích.

Lão Trô xưng ngay tên, vì lão tin rằng nếu chúng biết lão tất chúng phải kính nể oai danh của lão. Quả nhiên từ chúa đến quân, nghe tên lão xong đều tỏ ra kinh ngạc, đứng yên lặng nhìn nhau. Một lát, viên chúa cất tiếng oang oang, thách rằng nếu đúng thật là Trô Ún thì thử giương cái nỏ của hắn xem có nổi không.

Lão thầy mo phì cười, đỡ chiếc nỏ, và không cần lấy sức, lão vừa duỗi thẳng cánh tay ra thì chiếc nỏ gẫy làm đôi.

Viên chúa Mán hoảng sợ, hắn vẫn khoe chỉ mình hắn mới dùng nổi chiếc nỏ lớn này, vậy mà không ngờ lão già lẻo khẻo kia lại bẻ nó như một cành cây mục. Hắn vội cúi chào tỏ ý bái phục lão Trô, rồi mời lão về chơi động. Lão không từ chối. Đến động, lão ngồi ngang với viên chúa Mán, uống rượu, và ăn thịt hươu nai nướng. Chúa Mán xin lão diễn võ Tàu, lão nể mà diễn chơi vài ngón. Chúng reo hò bái phục. Lão ở luôn trong động ba ngày, rồi từ biệt chúa Mán chống gậy ra đi.

*

Con xuống ao con ở, bố say rượu bố về

Thấm thoát nửa năm trôi qua. Lão thầy mo độ này không còn đi đây đi đó nhiều như trước nữa. Đôi thuồng luồng đã lớn bằng cây tre. Ban ngày chúng cứ cuộn vào hai cái cột, hễ màn đêm vừa buông là chúng bò xuống lẩn vào làng hút máu gà vịt nhà người ta. Dân các bản nhao nhao không hiểu sao gà vịt nhà nào cũng cứ ban đêm thì lăn ra chết, mà lạ một điều con nào cũng có vết thủng ở cổ, rất sâu và nhỏ. Lão Trô Ún tuy biết người ta kêu la, nhưng không thể ngăn ngừa hai “cậu con nuôi” được. Chẳng lẽ lão để cho chúng đói? Mà đói quá ắt chúng phải giết gà vịt của nhà.

Dân bản vẫn kêu la không ngớt vì số gà vịt chết nhiều quá. Người ta đã rình mò, nhưng sáng sớm chỉ thấy mặt đất trước cửa chuồng gà bị lõm thành vệt dài mà thôi. Sau đó, gà vịt trong làng vừa hết sạch thì đến lượt lợn lăn ra chết, mà cổ con nào cũng thủng. Hết lợn, tới lượt trâu bò. Riêng trâu bò thì thủng ở lưng. Dân bản đâm ra lo sợ, cho là tai ương do Trời giáng xuống. Đôi thuồng luồng hút mãi máu lợn, trâu, bò trở nên to lớn gớm ghê. Cái gậy bịt sắt của lão thầy mo trở nên vô dụng: chúng không thể quấn vào được nữa. Bây giờ bề to và bề dài của chúng quấn hết hai cái cột nhà, đầu chúng ở trên mái còn đuôi buông vừa chấm đất.

Vợ lão Trô không biết tính sao, một hôm bàn với lão đành thả đôi thuồng luồng vào suối hay thả chúng xuống cái ao lớn phía sau nhà. Lão Trô suy nghĩ mãi. Thả vào suối thì không đành, sau cùng lão nghĩ chỉ còn cách nuôi chúng ở ao nhà, vì dù sao cũng là tình nghĩa “cha con”.

Buổi trưa hôm đó lão bắn được con lợn lòi, chọc tiết đãi đôi thuồng luồng. Còn thịt thì lão đốt lửa nướng để nhắm rượu. Đó là bữa tiệc tiễn hai cậu con xuống nước. Lão ngồi giữa, đôi thuồng luồng cuộn khúc nằm chầu hai bên. Lão ngà ngà say, khẽ gõ cái gậy vào đầu chúng, nói:

- Ta già rồi, không muốn đi nhiều nữa. Từ nay không đi cúng, tất ta nghèo lắm, chỉ còn trông cậy vào cái ao cá sau nhà kia thôi. Vậy hôm nay ta cho hai con ở dưới ao, giữ cá cho ta. Hễ kẻ nào gian tham xuống trộm cá thì ta cho phép hai con quấn chết mà hút máu. Khi nào ta muốn xuống bắt vài con cá làm đồ nhắm thì các con phải nhớ rằng ta sẽ lấy đầu gậy gõ ba cái vào tảng đá trên bờ để ra hiệu cho hai con biết.

Thuồng luồng nghe lão nói đều cúi đầu có vẻ buồn rầu. Xong bữa rượu, lão đứng lên đi trước. Đôi thuồng luồng theo sau. Đến bờ ao, chúng nhoài xuống nước. Mặt ao đang phẳng lặng bỗng nổi sóng lên dào dạt và bọt nước tung trắng xóa mỗi khi chúng uốn khúc vẫy vùng. Từ đấy, đôi thuồng luồng ở hẳn dưới nước. Cách một hai ngày, lão thầy mo lại xách nỏ vào rừng, và khi về lão lại ra bờ ao gõ ba cái vào hòn đá. Gõ vừa dứt thì sóng cuồn cuộn nổi, đôi thuồng luồng như vui mừng nhô nửa mình lên nhìn lão gật đầu ba cái. Lão vuốt râu cười vang rồi ném xuống cho hai “cậu con” một vật gì vừa bắn được.

Tình thân mật và sự sống của thuồng luồng và Trô Ún đều đều như vậy đã gần trọn một năm. Cho đến một ngày kia thì... lão chết. Than ôi, lão thầy mo đã hiến máu mình cho cặp thuồng luồng mà lão hai năm trời nuôi nấng như con đẻ. Nguyên do hôm đó được mời đi cúng ở trong làng, lão đã uống nhiều rượu hơn mọi khi, và lão say đến phát điên phát dại.

Từ biệt nhà chủ ra về, lão đi một mình giữa rừng, trèo qua ba đợt núi cheo leo, lão nhảy lò cò một chân mà hát. Lão đứng trên đỉnh ngọn núi cao chót vót, xòe bàn tay bắt mây mà nguyền rủa. Lão xõa tóc, đọc thần chú, bắt quyết làm đủ mọi phép để sai Thiên lôi đánh đổ ngọn núi lão đang đứng, nhưng Thiên lôi không chịu nghe lời lão, lão tức mình hét vang cả trời. Hét to quá, và gió thổi mạnh quá khiến thân mình gầy choắt của lão lảo đảo, lão ngã đâm cổ xuống... Ấy thế mà chẳng hề hấn gì, xương thịt lão cứng như sắt nên chỉ bị thương xoàng. Đứng được lên, lão càng nguyền rủa Thiên lôi và cười sằng sặc.

Lần mò mãi rồi lão cũng về được tới nhà, đã toan đi ngủ nhưng vì nóng bức quá, lão lừ lừ ra ao. Lão say mèm nên quên gõ ba cái như mọi khi để báo cho hai cậu con nuôi biết, lão cứ lừ lừ lội xuống. Nước mát rời rợi, lão xoài mình ra bơi. Bỗng sóng nổi lên ầm ầm. Lão chìm nghỉm, chỉ kêu được một tiếng rồi im lặng. Xác lão đã chìm nghỉm dưới lòng ao. Máu lão đã vào bụng đôi thuồng luồng đang đói, đợi bố mang mồi về như mọi bận thì có kẻ dám xuống ao trộm cá, chúng chờ gì mà không thịt bởi bố chúng đã cho phép làm thế.

Hút máu xong đôi thuồng luồng nới khúc thân ra cho cái xác nổi lên. Bấy giờ chúng mới biết rằng chúng vừa hút máu bố nuôi. Trời tối. Dưới ánh trăng mờ mờ, chúng cuộn mình nằm bên xác lão thầy mo, đầu rũ xuống như kẻ khóc.

Mụ vợ lão Trô Ún ít lâu nay bị đau mắt mà gần như bị mù. Mụ chỉ ngồi một xó trên nhà sàn, không đi đâu hết. Mụ già yếu lắm rồi, lại hỏng mắt, thành ra con người vô dụng, đành sống nhờ chồng lúc ốm đau.

Tối đó mụ đang rờ rẫm bốc nắm cơm thì nghe tiếng động, mụ lên tiếng hỏi. Đôi thuồng luồng đặt xác lão Trô vào lòng mụ. Như mọi lần thấy lão say ở đâu về, mụ lại cúi xuống ngửi xem chồng có thở không. Lần này nghe lâu lắm mà không thấy lão thở, mụ khóc nấc lên, bảo thuồng luồng:

- Bố chúng mày hẳn là say rượu bị gió cảm chết mất rồi. Ta mù lòa, yếu đuối, biết làm sao được, thôi thì các con chôn bố các con đi.

Nói rồi mụ già gục xuống ôm lấy xác chồng mà khóc.

Đêm hôm ấy, trăng sao bỗng bị mây che kín, mưa sầu gió thảm rất hãi hùng. Mưa to gió mạnh đến nỗi cây cối trong rừng đổ ầm ầm, và suối thác reo như ma kêu quỷ khóc. Một sự lạ là trong cơn giông bão ghê gớm đó, các nhà trong bản có cái cuốc cái thuổng nào đều bị biến đi đâu hết. Và trên căn nhà sàn của mụ già mù, cái xác chồng mụ được dân bản vừa khiêng xuống khỏi cầu thang thì nó bỗng đứng phắt dậy, đi vun vút trong bóng tối. Cái xác qua rừng, qua suối, qua núi, qua đồi, đi đến đâu cành khô lá mục kêu xao xác. Hươu, nai, hổ, báo đều tránh vết đi của cái xác. Chỉ duy nhất có một con cú bay theo xác chết kêu ai oán như để tiễn biệt. Giông bão vẫn không hề ngớt. Những tiếng sấm chuyển rừng, và những tiếng sét tưởng như xé núi.

Trong cơn giông bão, ở một rặng đồi cao có tiếng thuổng cuốc xoáy vào lòng đất. Lòng đất rung động dưới gió mưa sấm sét cho tới khi lũ gà rừng cất tiếng gáy rạng đông thì suốt rặng đồi kia đã thành ra một chiếc quan tài vĩ đại, trong đó chôn xác lão thầy mo.

Đôi thuồng luồng đã táng xác lão già Trô Ún để đền ơn nuôi dưỡng, và chúng ở luôn trong ấy để canh giấc ngủ ngàn năm của lão như khi lão còn sống vậy.

*

Đến ngày nay, ai đi qua con đường Bắc Kạn - Thái Nguyên nếu lưu ý dò xem, ắt thấy cái hang thuồng luồng nọ vẫn còn nguyên dấu vết. Nước từ trong lòng hang chảy xối mãi ra ngoài, làm thành một vũng khá sâu. Vũng nước trong văn vắt, sáng như một tấm gương thiên cổ.

Truyền Bá, số123, năm 1944

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 30 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.