Trong lịch sử nghiệp vụ đầu tư ngân hàng, ngoại trừ vụ RJR Nabisco, tôi là người ngoại đạo.
— PETER A. COHEN
Khi chiếc máy bay phản lực Gulfstream sang trọng bay xuyên qua những đám mây trên bầu trời Atlanta vào tối thứ Sáu năm đó, Peter Cohen đang suy ngẫm về kỳ nghỉ cuối tuần sắp đến. Sáng mai, ngày 8 tháng Mười, Cohen sẽ gặp Ross Johnson lần đầu tiên sau gần một tháng. Nhóm Tom Hill đã mất nhiều tuần xâu chuỗi mớ dữ liệu. Mặc dù Johnson vẫn chưa phát tín hiệu có thực hiện LBO hay không, Cohen hy vọng anh sẽ có câu trả lời vào sáng mai.
Đó là một chuyến bay dài từ Zurich. Cohen vừa kết thúc hai tuần kết hợp công việc kinh doanh và vui chơi ở châu Âu, anh thấy mệt mỏi. Cohen có dáng người thấp bé. Anh đội chiếc mũ lông màu nâu, trông như cái hộp bao kín quanh hộp sọ. Anh thích trêu đùa với bản mô tả viết về mình: luôn là nhỏ bé, tóc đen, và điều này thật sự mới làm anh thích: mạnh mẽ. Tờ Institutional Investor từng so sánh vẻ ngoài của anh với Al Pacino, người đóng vai Michael Corleone trong phần II của phim The Godfather (Bố già). Cohen trông giống một người khó tính, và anh từng gần như đúng là người như vậy. Trong nhiều năm, anh làm trợ lý cho Sandy Weill, một trong những người sáng lập Shearson, và nổi tiếng là người hung hăng. Nếu đầu thai là một loài vật, Cohen sẽ là một con chồn gulô.
Nắm quyền điều hành Shearson khi mới bước sang tuổi 40 làm anh thấy chếnh choáng, hoặc có vẻ như vậy. Bạn bè bàn tán nhiều về việc Cohen đã “trưởng thành” lên nhiều trong những năm gần đây, nghĩa là anh không còn gọi đối thủ cạnh tranh nhỏ như Dillon Read là “đậu phộng”, như anh từng gọi họ trong một cuộc phỏng vấn công khai. Anh cũng không gọi họ là đồ ngốc như trước kia. Do bị Robinson, ông chủ của anh ở American Express thúc giục, Cohen đã cố gắng đạt được những bước tiến đáng kể để trở nên giống chính khách hơn. Anh thăm thú Washington, nói năng một cách trịch thượng về việc toàn cầu hóa ngành chứng khoán, và làm thân với những kẻ tai to mặt lớn như nhà công nghiệp châu Âu Carlo De Benedetti.
Anh đã cố gắng rất nhiều để rèn giũa bản thân. Trong phòng làm việc, anh bỏ đi chiếc cưa xích dùng để trạm khắc, và bức tượng hai chân thẳng như kẻ chỉ bị cắt ở bắp chân. Thay vào vị trí đó là ảnh gia đình và những bức tranh mà các con anh vẽ. Từ vài năm trước, anh trở nên gàn dở, nỗ lực thể hiện một hình ảnh tử tế, dịu dàng hơn.
Là con trai của một nhà sản xuất quần áo, Cohen lớn lên ở Long Island, theo học các trường công lập và Đại học bang Ohio. Khi còn nhỏ, cậu bé Cohen rất thích đọc các tạp chí Fortunes và Dun Hay do cha cậu đặt mua. Ông già Cohen đã mua cho con trai chứng chỉ quỹ tương hỗ T. Rowe Price, và ngay từ lúc đó Cohen đã bị mê hoặc bởi thị trường chứng khoán. Cậu làm việc vặt khi còn học trung học, và đã tích lũy được một khối tài sản nhỏ ở bang Ohio, bằng cách môi giới bán bia Colt 45 cho bạn bè trong hội nam sinh viên.
Đam mê kiếm tiền đến với Cohen một cách tự nhiên, nhưng việc học hành thì không như vậy. Khi theo học chuyên ngành tài chính, anh chỉ là sinh viên hạng C. Khi học ở trường Kinh doanh Columbia, Cohen thường có mặt ở các công ty môi giới trong thành phố, theo dõi thị trường và đầu tư bắt đầu từ số tiền kiếm được khi làm môi giới bia. Anh từ bỏ dự định tham gia vào công việc kinh doanh của gia đình, khi cha không cho Cohen những gì anh nghĩ mình có quyền được hưởng. Thay vào đó, anh đến Phố Wall.
Cohen kết hôn khi mới 22 tuổi và đến khi gần 30 tuổi, anh đã có hai đứa con. Là trợ lý của Weil, anh luôn ở lại muộn, đèn trong văn phòng anh sáng thâu đêm. Anh là một quản trị viên, và chưa bao giờ là một nhân viên giao dịch hay nhân viên ngân hàng đầu tư. Trong các cuộc đàm phán khó khăn, Cohen luôn đóng vai người xấu. Anh rất giỏi xử lý các mối đe dọa. Anh không có thời gian để tìm hiểu về rượu vang, nghệ thuật, du lịch và những thứ khác mà các giám đốc Phố Wall dường như luôn cố gắng trau dồi. Trong nhiều năm, anh đi khắp thế giới, đến rất nhiều thành phố lớn, nhưng không biết gì về chúng ngoài sân bay. Bây giờ, khi đến Rome hoặc Madrid, Cohen đã cố gắng dành nửa ngày để ghi nhớ những điều anh đã bỏ qua. Ở tuổi 40, anh phát hiện có các bảo tàng Louvre, Musée d’Orsay ở Pháp, bảo tàng Quốc gia ở Đài Bắc. Anh cải thiện trình độ đánh tennis và golf. Bạn bè cho rằng Cohen đã làm việc rất chăm chỉ để rút ra được bài học: làm thế nào để thư giãn.
Đầu những năm 1980, kế thừa một danh sách dài các ngân hàng nhỏ hơn, Shearson phát triển nhanh nhưng rời rạc, họ là một công ty môi giới bằng điện tín, điều đó đồng nghĩa với việc thực hiện các giao bằng tiền của mình với những nhà đầu tư cá nhân bằng điện tín. Họ không có một hệ thống ngân hàng đầu tư để khoe khoang. Nhưng chỉ một năm sau khi lên nắm quyền từ tay Weill vào năm 1983, Cohen đã làm Phố Wall choáng váng bằng cách mua lại đối tác lâu đời nhất của mình, Lehman Brothers Kuhn Loeb, một ngân hàng đầu tư hàng đầu có truyền thống hoàng gia nhưng đã tan rã sau cuộc nội chiến đẫm máu giữa các đối tác hay gây gổ.
Đó là một cuộc hôn nhân kỳ lạ. Ở Lehman, người ta luôn tiêu tiền vào những thứ như hộp thuốc lá bằng bạc, hoa tươi, các bức tranh thuộc trường phái ấn tượng, những chai Petrus và Haut-Brion bám đầy bụi trong hắm rượu. Ở Shearson luôn thấy những hộp pizza trống rỗng, thùng mì Trung Quốc đã vơi một nửa, và cà phê đựng trong cốc nhựa xốp giữ nhiệt. “Shearson tiếp quản Lehman”, một người từ lâu vẫn ủng hộ Lehman nhận xét chua chát, “giống như McDonald’s tiếp quản ‘21’”. Y chang hai chủ tịch của hai công ty, sự kết hợp của Shearson Lehman nổi bật ở việc pha trộn đặc biệt giữa sự thanh lịch và trơ tráo: những ngón tay bằng đồng lồng trong một chiếc găng tay nhung. Giữa một nền văn hóa công ty với sự yên tĩnh của các văn phòng giám đốc điều hành ở tầng 19 được trang trí trang nhã với những bức tranh in của Audubon và các tấm thảm phương Đông, khách đến đây được chào đón bởi một quý ông có tên Gus, người vừa lơ đễnh lật tờ New York Daily News vừa đưa ra chỉ dẫn với giọng New York đặc sệt: “Hãy đi qua hai cánh cửa lớn.”
Được hỗ trợ bởi thế lực hùng hậu của American Express, công ty này giành được phần lớn quyền kiểm soát Shearson vào năm 1981, Cohen đã tìm mọi cách để vốn đầu tư của công ty sinh lời trong nhiều năm. Đến giữa những năm 1980, các đối thủ cạnh tranh như Morgan Stanley và Merrill Lynch đã tăng cường tham gia LBO, và trong nỗ lực cạnh tranh với thế mạnh về trái phiếu rác của Drexel, cũng như bắt đầu cho vay ngắn hạn để cấp vốn cho tiếp quản gọi là “các khoản vay bắc cầu”. Các khoản vay này thường là để tái cấp vốn, hoặc để bù đắp thiếu hụt vốn, sau đó là bán trái phiếu rác. Xu hướng này được gọi chung là “nghiệp vụ ngân hàng đầu tư”, một thuật ngữ có tính khoa trương nhưng về cơ bản, nó có nghĩa là các ngân hàng đầu tư sẽ đổ tiền của họ vào nơi mà họ sẽ thu lại nhiêu năm sau đó.
Sự tham gia của Shearson vào các nghiệp vụ ngân hàng đầu tư vừa muộn màng vừa mờ nhạt. Hoạt động tiếp quản tích cực ở Lehman đã giúp Cohen lần đầu tiên tiếp cận với vô số cơ hội đầu tư. Với tất cả sự háo hức, Shearson tiến vào lĩnh vực LBO. Sau khi sáp nhập với Lehman, một số đối tác cấp cao của Lehman đã nhảy sang các công ty khác, và Cohen quyết tâm không để mất thêm đối tác nào nữa. Cuối năm 1984, anh bay đến Anh với một đề nghị cho người đứng đầu văn phòng của Lehman ở London, Stephen w. Bershad. Ý tưởng của anh rất hấp dẫn: Bershad có muốn quay về New York và nghĩ cách để túi tiền của các giám đốc điều hành cấp cao dày thêm không. “Ý tưởng của ông ấy là hãy để những gã đó giàu có hơn,” Bershad nhớ lại. “Hãy kiếm tiền bằng bất cứ cách nào có thể.”
Bershad đưa ra câu trả lời là LBO. Nhưng sau vài lần khởi đầu thất bại, anh chỉ có được một vụ thu mua nhỏ, và đó thật sự là một cơn ác mộng. Sáu tháng sau khi mua lại Sheller-Globe, một nhà sản xuất phụ tùng ô tô có trụ sở tại Toledo, với giá 48 triệu đô-la, các báo đồng loạt thông báo rằng Cohen và 14 giám đốc điều hành của Shearson đã bị một cú tát nhẹ bằng trát đòi hầu tòa, như một phần điều tra các giao dịch nội gián của Ủy ban Chứng khoán và Thị trường Giao dịch. Cohen phủ nhận mọi hành vi sai trái, và cuộc điều tra không phát hiện được bất cứ điều gì, nhưng đó là một kinh nghiệm đáng xấu hổ. “Thương vụ đó đã đưa Shearson vào tầm ngắm,” tờ Business Week viết.
Một sự khởi đầu đầy khó khăn với LBO. “Cohen chưa bao giờ thực sự hiểu về tài chính của công ty,” Bershad nhớ lại. Ông này đã từ chức sau khi xích mích với Cohen trong vụ Sheller-Globe. “Peter hiểu hết những gì anh ta đọc được trên các tạp chí, và kinh nghiệm của anh ta với ngân hàng đầu tư cũng chỉ ngang cha tôi”, chính cha ông đã khuyên Bershad nên tránh xa Phố Wall.
Bắt đầu từ tháng Sáu năm 1986, người thay thế Bershad là một nhân vật gây tranh cãi tên là Daniel Good. Với tư cách là trưởng bộ phận sáp nhập của E. E Hutton, ông này đã xây dựng một công ty thịnh vượng việc thông qua ủng hộ những kẻ tập kích công ty. Good là người chẳng bao giờ hết lạc quan, đôi khi người ta gọi ông là “Dan Quixote”. Ông không ủng hộ các nhà đầu tư bốn sao như Carl Icahn hoặc Boone Pickens. Các khách hàng ít được biết đến của ông là những tay đột kích, những kẻ thâu tóm cổ phiếu hạng ba như Asher Edelman, một kẻ mạo hiểm buôn bán kiếm lời nhờ chênh lệch giá ở đại lộ số 5 và Herbert Haft, người có mái tóc hất ngược, chuyên gây tai họa cho ngành bán lẻ.
Thay vì thực hiện các vụ LBO, Cohen chọn cách chuyển tiền của Shearson vào các khoản vay bắc cầu cho những tay đột kích của Good. Chỉ bằng một cái nháy mắt và nhún vai, họ có thể gọi đó là các nghiệp vụ ngân hàng đầu tư, nhưng phần lớn các khách hàng của Good chỉ quan tâm đến việc tìm ra điểm yếu của những công ty Mỹ đã ốm yếu, và làm cho họ bầm dập thêm cho đến khi họ buộc phải mua lại cổ phiếu của mình hoặc tìm cách sáp nhập với công ty khác. Cả hai cách đều mang lại lợi nhuận cho Shearson.
Một số giám đốc điều hành của Shearson đã phản đối dữ dội việc thuê Good, đặc biệt là nhóm sáp nhập M&A, Hill và Waters, những người vẫn coi Good là một nghệ sĩ tống tiền lừng danh. Hill lập luận rằng các khách hàng là những kẻ đột kích công ty của Good sẽ làm mất danh tiếng của Shearson, và ngăn cản công ty thiết lập mối liên hệ cần có với những công ty lớn để có thể xây dựng công ty thành công ty tư vấn sáp nhập kiểu truyền thống. Hill vận động việc phản đối Good không biết mệt mỏi. Chiến dịch thậm chí vẫn không dừng lại ngay cả khi ông ta đã gia nhập công ty; ông và Waters ghi nhật ký các lỗi của Good. Một đồng nghiệp nói: “Ngay từ đầu Hill đã muốn ngăn cản công việc của Dan.”
Nhưng sau vụ đầu tiên của Good — vụ Paul Bilzerian tập kích Lutermill Paper năm 1986 — mang đến khoản phí béo bở 6 triệu đô-la, thì những nghi ngờ của Cohen đã biến mất. Đó là số tiền dễ kiếm nhất mà Shearson từng có. Phó Chủ tịch của Shearson, George Sheinberg, cũng tán dương: “Chúa ơi, thật tuyệt!” Trong 15 tháng, các khách hàng của Good liên tục rót tiền vào kho tiền của Cohen trong khi Shearson hỗ trợ các cuộc tập kích với nhiều công ty, trong đó có Burlington Industries và Telex.
Tuy nhiên theo thời gian, Cohen bắt đầu mất niềm tin vào Good. Bán trái phiếu có rủi ro cao thường là một trong những nghiệp vụ mang lại lợi nhuận nhiều nhất. Nhưng vì những kẻ tập kích của Good hiếm khi mua thứ gì, nên bộ phận trái phiếu rác của Shearson cứ ngồi không đến héo hon. Khi Asher Edelman cuối cùng cũng cố gắng chộp được một công ty - chuỗi nhà hàng Ponderosa chuyên về thịt và sườn nướng - cổ phiếu rủi ro cao mà Shearson chào bán là một thảm họa, và công ty phải chịu tổn thất nặng nề. Cohen nổi điên. Good nhận lỗi.
Cuộc đua cuối cùng của những kẻ tập kích cấp tốc ở Shearson bắt đầu vào thứ Hai đen tối, ngày 19 tháng Mười năm 1987. Khi thị trường sụp đổ, hàng loạt các vụ mua lại đang trong quá trình xử lý chưa xong, Cohen và Sheinberg thật sự hoảng loạn. Lần đầu tiên họ nhận ra công ty có thể mất hàng trăm triệu đô-la đang cho vay. Khi Dan Good nổi tiếng xuất hiện trước ủy ban đầu tư một tuần sau đó để đề xuất một cuộc tập kích của Bilzerian với Singer, nhà sản xuất máy cưa trước đây, ông ta bị sốc mạnh. Thay vì phải thanh toán 100 triệu đô-la tiền mặt như dự kiến, Cohen yêu cầu Bilzerian trả thêm 250 triệu đô-la. “Nếu ông ta không có số tiền đó, thì thôi đi,” Sheinberg nói. “Tôi không quan tâm ông ta sẽ làm thế nào. Luật chơi đã thay đổi rồi.”
Không ai bị sốc hơn Cohen khi Bilzerian kiếm được tiền, kéo theo Shearson đang bức bối và kêu ca vào cuộc đột kích lớn cuối cùng của công ty. Khi Singer nhanh chóng đầu hàng, Bilzerian lần đầu tiên bị buộc phải huy động tiền để mua một công ty. Đó không phải là một nhiệm vụ dễ dàng, ngay cả trước khi có các biến động trên Phố Wall mà là một cuộc chiến dài, cam go, và trước khi nó kết thúc, Sheinberg và Good gần như đã suýt đánh nhau. Có lúc, Good chạy trốn khỏi New York để đi nghỉ ở Caribbean, và Sheinberg đã phải nhờ đến kẻ thù không đội trời chung, Tom Hill, để thương lượng với Bilzerian. Hill bắt đầu cư xử cứng rắn với khách hàng tốt nhất của Good. “Khi thỏa thuận bắt đầu đổ bể,” Hill sau đó khoác lác, “tôi phải đến và bẻ gẫy chân Bilzerian.”[1]
Cuối cùng, Bilzerian mua được Singer, nhưng thương vụ đó có thể coi là trận Waterloo của Good. Mặc dù Singer mang về khoản phí hơn 30 triệu đô-la, nhưng Good đã mất tất cả uy tín trong công ty. Hill nhớ lại: “Good bị bắn hai phát súng vào đầu, và sau đó Peter Solomon nhồi thêm một phát vào miệng.”
Solomon, trước đây là người giám sát của Good, cùng chịu trách nhiệm cao nhất về các nghiệp vụ ngân hàng, là một người ưa náo nhiệt, đang bắt nạt các cựu binh Lehman. Ông ta luôn thèm muốn công việc của Good, như một cách để giành quyền kiểm soát diễn biến mới nhất trong định hướng nghiệp vụ ngân hàng đầu tư của Shearson: quỹ LBO. Quyết định quá chậm trễ của Cohen trong việc gây quỹ là một phản ứng trước thành công của các đối thủ cạnh tranh với các quỹ tương tự, và phản ứng với Ngày thứ Hai đen tối. Bất kỳ kẻ ngốc nào cũng có thể thấy rằng đầu tư bằng tiền của người khác an toàn hơn nhiều so với đầu tư bằng tiền của mình.
Tuy nhiên, Cohen và Solomon có tầm nhìn hoàn toàn khác nhau về quỹ LBO, lúc này đã huy động được hơn 1 tỷ đô-la. Ở các công ty khác, các quỹ LBO đều là bán tự trị, nhưng bạn bè nói rằng với một người có nhiều tham vọng như Solomon, quỹ này của Shearson như một cơ hội để thành lập vùng đất tự trị, đồng thời làm giàu cho cá nhân. Ông ta tìm cách đòi một khoản khá lớn từ lợi nhuận của quỹ, và Cohen kiên quyết phản đối. Cohen coi quỹ này chỉ như một bộ phận khác của Shearson, và không xem xét đến việc tại sao Solomon nên nhận được “một thỏa thuận đặc biệt”. Cả hai đều cứng đầu và nóng nảy, và đến mùa xuân năm 1988, họ hầu như không nói chuyện với nhau. Bob Millard, một người có tài ăn nói, đứng đầu bộ phận giao dịch dựa trên chênh lệch giá của Shearson, đã trở thành người giao tiếp trung gian bất đắc dĩ giữa họ. Đó khó có thể gọi là một khởi đầu tốt lành cho định hướng của Shearson vào LBO.[2]
Khi Solomon và Cohen bất hòa, Tom Hill đang tiến tới đỉnh vinh quang trong sự nghiệp. Bốn ngày trước khi Steve Waters từ chức vào tháng Ba năm đó, Hill tiết lộ kế hoạch tiếp quản hoành tráng nhất, một đề nghị mua thù địch trị giá 1,27 tỷ đô-la từ Beazer PLC, một công ty của Anh, mua công ty Koppers Co ở thành phố Pittsburgh, bang Pennsylvania. Nhưng thương vụ đặc biệt này có một điểm thay đổi: Shearson sẽ sở hữu 45% thương vụ, Beazer chỉ sở hữu chưa đến một nửa. Chưa bao giờ một ngân hàng đầu tư lớn có được vị thế gây chú ý như vậy trong một thương vụ tiếp quản thù địch. Shearson đang bước qua một ranh giới vô hình, và Hill thực sự rất choáng ngợp trước triển vọng về các thỏa thuận có tính đổi mới có thể mang đến danh tiếng cho công ty và có lẽ cho cả cá nhân ông ta. Ông đã bị thuyết phục rằng thỏa thuận này sẽ là một chiến thắng dễ dàng — “một trò lừa đảo chóng vánh” như cách người ta vẫn nói ở Phố Wall.
Tom Hill đã sai lầm. Sự phòng thủ của Koppers đã biến vụ thu mua trở thành thỏa thuận pháp lý đình đám ở Pittsburgh. Shearson và American Express bị tấn công công khai từ mọi phía, từ Thị trưởng Pittsburgh đến Bộ trưởng Tài chính bang Pennsylvania, người đã cắt đứt mọi liên hệ kinh tế giữa nhà nước với cả hai công ty. Các nhân viên của Koppers đăng ảnh chụp tấm danh thiếp bị cắt đôi của American Express, và gửi thư cho các công ty khác tố cáo việc American Express nhúng tay vào cuộc đấu thầu.
Jim Robinson vô cùng giận dữ, ông cảm thấy đã bị qua mặt trong thỏa thuận này. “Vụ việc khiến Jim Robinson rất giận, và sự giận dữ đó lan đi khá nhanh từ tầng 51 xuống tầng 19,” Cohen nói chân thành. “Đó là một kinh nghiệm đau đớn cho Peter.”
Mặc dù khách hàng của họ cuối cùng đã giành chiến thắng, nhưng thỏa thuận Koppers có ảnh hưởng sâu sắc đến nỗ lực của Shearson với các nghiệp vụ ngân hàng thương mại. Đột nhiên, họ không còn quan tâm đến các giao dịch thù địch, cơ sở chính cho những thành công gần đây của họ. Mùa hè năm đó, Cohen từ chối cơ hội hỗ trợ một số thương vụ tiếp quản thù địch: Anh em nhà Rales tập kích công ty Interco có trụ sở ở thành phố St. Louis, và ông trùm đồ lót Bill Farley, nhắm đến công ty West-Point Pepperell hoạt động trong ngành dệt may ở Georgia.
Doanh thu của Shearson bắt đầu giảm sút. Toàn bộ ngành công nghiệp chứng khoán bị thiệt hại sau cơn chấn động Ngày thứ Hai đen tối, nhưng Shearson bị tác động mạnh hơn so với các công ty khác. Công ty đã tăng đáng kể chi phí khi mua một công ty môi giới sắp phá sản E. F. Hutton. Mặc dù đang trong thời kỳ đình đốn - và Cohen dự tính nó sẽ kéo dài hơn nữa — anh rất cần một nguồn lợi nhuận mới. Nghiệp vụ ngân hàng thương mại đã trở thành hoạt động năng động nhất và mang lại nhiều lợi nhuận nhất ở Phố Wall; bây giờ, hơn bao giờ hết, điều quan trọng là Shearson phải nhanh chóng tham gia vào lĩnh vực này. Và khi tất cả các giao dịch thù địch hoàn toàn bị loại trừ, có nghĩa là chỉ còn một việc: LBO.
Khi Ross Johnson thay đổi đường lối và bắt đầu suy ngẫm về các kịch bản LBO, nó giống như câu trả lời cho những lời cầu nguyện của Cohen. Vụ mua lại trị giá 18 tỷ đô-la này có thể giải quyết rất nhiều vấn đề. Chỉ có một thực tế là nếu thực hiện thành công thỏa thuận LBO lớn nhất trong lịch sử, Shearson sẽ ngay lập tức đứng vào hàng ngũ những ngân hàng đầu tư hàng đầu. Sau đó, bất cứ ai khi xem xét các thỏa thuận LBO lớn, sẽ phải cân nhắc hợp tác với Shearson. Đó sẽ là một sự ra mắt tuyệt vời cho quỹ. Lợi ích chưa tính đến cho bộ phận sáp nhập của Hill sẽ rất lớn. Trái phiếu mà Shearson sẽ bán để cấp vốn, đồng thời làm hồi sinh bộ phận trái phiếu rác đang hấp hối của Cohen. Và ngay từ đầu, họ đã có thể thu phí.
Ôi trời, cơ man là phí. Chỉ riêng các khoản phí trả trước cho việc tư vấn cũng như cho vay tiền và một khoản phí giao dịch thành công có thể lên đến 200 triệu đô-la sẽ là một khoản thu khổng lồ khi lợi nhuận của Shearson đang sa sút. Và không chỉ dừng lại ở đó. Trong nhiều năm sau, tiền sẽ tiếp tục chảy vào túi Shearson. Sẽ có phí tái cấp vốn, phí tư vấn và phí cho việc đơn giản là điều hành công việc. Chỉ riêng bộ phận mua lại và sáp nhập có thể thu được hàng chục triệu đô-la tiền phí từ việc thoái vốn đã được RJR lên kế hoạch với các công ty mà họ không muốn duy trì, và sẽ bị bán đi để trả nợ. Thật không thể tin nổi, họ thậm chí đã nghĩ về việc thu hồi vốn đầu tư: Hill dự kiến thu hồi vốn hằng năm ít nhất đến 40%. Với khoản đầu tư trị giá 500 triệu đô-la, họ sẽ thu về 200 triệu đô-la một năm - trong vòng năm năm hoặc lâu hơn!
Chừng đó thôi đã đủ làm cho Cohen choáng ngợp. Dù đã lập kế hoạch thu mua cho Shearson, nhưng Cohen mới chỉ làm một vụ LBO trong toàn bộ sự nghiệp của mình với Sheller-Gthobe, và đó vẫn là thỏa thuận lớn nhất của Shearson cho đến khi RJR Nabisco xuất hiện. Nhưng mối quan hệ bạn bè giữa Johnson với Jim Robinson, kết hợp với tác động tiềm năng của thỏa thuận này với Shearson, buộc anh phải quan tâm tích cực đến các cuộc thương thảo đang diễn ra. Johnson như đang nhử mồi trước mắt anh, một thỏa thuận trong mơ, theo đúng nghĩa đen là cả đời mới có một. Và khi máy bay của anh hạ cánh xuống Atlanta vào đêm đó, thỏa thuận đó đã nằm trong tay của Peter Cohen.
-
Sáng thứ Bảy, Cohen dùng bữa sáng tại khách sạn Waverly với Tom Hill và Jack Nusbaum, luật sư trưởng của Shearson, một trong những cố vấn thân cận nhất của Cohen với khuôn mặt luôn có nét lo âu như chú chó chăn bò của Anh, đã biết về thương vụ này khi đi nghỉ ở Morocco. Anh đã đến Atlanta trước hai ngày để nghe Ed Horrigan và Harold Henderson trình bày về trách nhiệm pháp lý của thuốc lá, và họ đã thuyết phục được anh rằng tình trạng khó khăn về pháp lý không tệ đến mức ảnh hưởng đến LBO. Hill và nhân viên ngân hàng kỳ cựu của Shearson tên là Jim Stern đã đến trước một ngày để chuẩn bị cho cuộc họp vào thứ Bảy, và thông báo cho người của Johnson biết những gì sẽ xảy ra nếu họ theo đuổi vụ này. Cả hai nhất trí rằng, cho đến giờ, mọi việc đều diễn ra rất tốt. Johnson dường như đang làm đúng theo ý họ.
Sau khi ăn sáng, bên Shearson chia thành nhóm hai, ba người đi qua bãi đậu xe đến trụ sở công ty để tránh nảy sinh nghi ngờ. Trên lầu, họ ngồi lì trong phòng làm việc của Johnson, từ đó họ có thể nhìn thấy vùng biển thuộc Sea Pines của Georgia. Johnson cùng Horrigan, Sage và Henderson mang đến thành viên mới nhất của nhóm, Steven Goldstone, đến từ công ty luật Davis, Polk & Wardwell ở Phố Wall.
Goldstone là một lựa chọn khiến người ta tò mò khi trở thành người tư vấn cho các giám đốc điều hành của RJR Nabisco. Với đáng người mảnh khảnh, đầu hói, lớn lên ở New York, anh ta là con trai của một thương nhân chuyên bán đồ lót phụ nữ. Anh là của hiếm trong số các luật sư ở Phố Wall. Hầu hết bọn họ chỉ chuyên về một việc, hoặc là tư vấn sáp nhập hoặc là tranh tụng tại tòa án, nhưng Goldstone làm cả hai. Hầu như chẳng ai biết đến tên tuổi của anh như một chiến lược gia. Hơn 10 năm, anh làm về bảo lãnh phát hành và các vụ mua lại ở quy mô tầm trung, đủ để trang trải cuộc sống. Các công việc đó cũng là nền tảng hình thành nên nền công nghiệp chứng khoán. Anh gặp Johnson khi Davis Polk lên kế hoạch giúp RJR Nabisco tránh một vụ thu mua thù địch.
Là luật sư tranh tụng, Goldstone có tiếng xấu khi làm nghề mà các Luật sư Mỹ gọi là “phán quyết của tòa án được nói đến nhiều nhất trong năm 1987”. Là người bảo vệ quyền lợi cho công ty Donaldson Lufkin & Jenrette ở Phố Wall trong một vụ kiện ở San Diego, Goldstone không hiểu vì lý do gì đã từ chối lệnh của tòa án yêu cầu đưa ra một nhân chứng quan trọng, khiến thẩm phán phải tuyên bố phán quyết do nhân chứng không có mặt tại tòa, gây bất lợi cho thân chủ của anh. Điều này khiến Donaldson Lufkin không được bảo vệ và bị tổn thất 100 triệu đô-la. Ngoài việc bị tổn thất, họ còn bị xúc phạm. Bốn tháng sau, ba bị đơn đâm đơn kiện họ. Thuê Goldstone là ý tưởng của Henderson.
Rõ ràng, ngay từ đầu, đây không phải là một vụ LBO thông thường. Buổi nói chuyện trong phòng làm việc của Johnson hôm đó rất thần mật, đề cập đến nhiều vấn đề khác nhau: giá cả, lợi nhuận, các kế hoạch tấn công, và nhiều vấn đề khác. Cho đến khi các cuộc thảo luận của họ chủ yếu là về lý thuyết và qua điện thoại: vẫn không có ai chắc chắn Johnson sẽ thực sự thực hiện vụ này.
“Theo anh, có dấu hiệu nào chứng tỏ ông ấy sẽ thực hiện vụ này không?” Nusbaum đã có lúc hỏi Goldstone. Goldstone suy ngẫm một lát rồi trả lời: “Chắc chắn, nhưng không được 50%.”
Cho dù họ không chắc chắn sẽ làm, nhưng Tom Hill đã rất ngạc nhiên khi thấy người của Johnson hiểu rõ về LBO. Trên thực tế, những học sinh này sắp sửa hướng dẫn cho giáo viên cách điều hành lớp học.
Vấn đề trọng tâm cho sự thành công của hầu hết các vụ LBO là thủ đoạn có tên chiến lược “giành được sự đồng lòng”. Trong đó, một nhóm các giám đốc điều hành cấp cao của công ty sẽ bí mật làm việc với một công ty ở Phố Wall như Shearson để sắp xếp việc cấp vốn. Sau khi sắp xếp ổn thỏa vấn đề tài chính và thỏa thuận xong giá chào bán, các giám đốc điều hành sẽ trình bày việc đấu thầu, đưa giá thầu ra trước hội đồng quản trị như một đề xuất mang tính quyết định của công ty: hoặc là chọn, hoặc là không. Hill thậm chí đã lên kế hoạch cho 10 tuần để nhóm Johnson-Shearson có thể làm theo các bước đó, nhằm tiến đến việc mua lại chính mình. Có thể gọi đó là “Mười bước để thực hiện LBO thành công.”
Tuần 1-3: nghiên cứu sơ bộ về giá trị công ty và thảo luận về giá cả.
Tuần 4: Gặp gỡ các ngân hàng để thảo luận về các khoản vay.
Tuần 5: Các ngân hàng làm việc để hoàn thiện cơ cấu cho vay.
Tuần 6: Nhóm quản lý quyết định có theo đuổi LBO hay không.
Tuần 7: Âm thầm thông báo cho các giám đốc, và bí mật hỏi ý kiến họ về việc thành lập một Ủy ban độc lập để phân tích các đề xuất LBO.
Tuần 8: Nhóm quản lý chuẩn bị thỏa thuận sáp nhập.
Tuần 9: Nhóm quản lý đưa ra đề xuất ban đầu trước hội đồng quản trị. Bắt đầu đàm phán với Ủy ban độc lập. Đưa ra thông cáo báo chí rằng hội đồng quản trị đang xem xét đề xuất mua lại.
Tuần 10: Thực thi thỏa thuận mua lại và công khai.
Ý tưởng là họ sẽ giữ bí mật toàn bộ quá trình này cho đến khi thỏa thuận được thực hiện, kết thúc quá trình đấu thầu trước khi nó có thể bắt đầu. Ép buộc hội đồng quản trị, theo cách nói của Phố Wall, với dự định là họ chỉ có thể hỏi nhóm quản lý một vài câu hỏi có tính lựa chọn. Việc tiết lộ tiến trình quá sớm sẽ có xu hướng đưa công ty vào một cuộc đấu giá công khai, có sự tham gia của những kẻ đột kích, điều này sẽ tạo ra các rủi ro về sự sợ hãi khi nhóm quản lý đưa ra trước một đề nghị nào đó. Nhiều năm qua, đã có nhiều hội đồng quản trị ký kết các thỏa thuận sáp nhập với một nhóm quản lý “đang bị phục kích”. Nhiều công ty vẫn sử dụng phương pháp này. Các chiến lược gia của Phố Wall như Hill coi việc đánh lén hội đồng quản trị bằng một đề nghị cấp vốn đầy đủ là điều quan trọng để chuẩn bị phát động thỏa thuận. Tuy nhiên, ông cho rằng Johnson cũng đã cảm nhận được điều này.
Johnson sẽ không để họ mặc sức tung hoành. Lão đã nhìn thấy chính xác cách hội đồng quản trị thể hiện cơn thịnh nộ với Tylee Wilson cho những lỗi lầm nhẹ hơn. Không ai có thể giận dữ hơn hội động quản trị này khi họ bị phản bội. Lão cũng không sẵn sàng để Shearson sắp xếp các khoản cấp vốn hoặc làm bất cứ điều gì khác. Nếu thông tin bị rò rỉ, điều này sẽ khiến các giám đốc tức giận. Johnson đã làm rất tốt ở Atlanta, và cho đến khi quyết tâm theo đuổi LBO, lão sẽ không mạo hiểm tất cả bằng cách để Shearson đi trước một bước. Mặt khác, Johnson có niềm tin tối cao vào khả năng có thể thuyết phục hội đồng quản trị của mình. Nếu LBO là cách làm tốt nhất, lão tin có thể thắng hội đồng quản trị. Nhưng lão sẽ chỉ thắng khi đó là một ý tưởng, không phải là một cuộc phục kích.
Việc làm sao để chiến lược LBO này được chấp nhận khiến Cohen và Hill đứng ngồi không yên, nhưng họ không có lựa chọn nào khác; không có Johnson thì sẽ không có thỏa thuận. Nếu hội đồng quản trị chọn công khai đề nghị mua lại, họ sẽ đánh mất lợi thế chiến thuật của mình. Trong kịch bản xấu nhất, họ sẽ phải cạnh tranh ngang hàng với bất kỳ bên mua nào có thể muốn đặt giá thầu cao hơn giá họ đưa ra. Nhưng không có ai trong bọn họ, Cohen, Hill hay Johnson, đặc biệt lo lắng rằng điều này sẽ xảy ra. RJR Nabisco đơn giản là quá lớn đối với tất thảy mọi người, và sẽ chỉ có một số rất ít công ty trên thế giới nghĩ đến việc đột kích nó. Hôm đó, Hill đã đọc nhanh một bản tổng kết các công ty có khả năng đột kích:
• Hanson Trust PLC, một tập đoàn của Anh đang rất thèm muốn các công ty Mỹ. Chủ tịch công ty này, Lord Hanson, đã xây dựng đế chế của mình bằng việc lấy kinh doanh thuốc lá làm cốt lõi.
• American Brand, công ty thuốc lá có trụ sở tại Connecticut, có các thương hiệu nổi tiếng như Pall Mall và Lucky Strike, đã thành công trong đợt phòng thủ táo bạo trước một cuộc đột kích tiếp quản thù địch vào đầu năm đó.
• Forstmann Little, công ty LBO lớn thứ hai trên Phố Wall, đã chứng minh họ sẵn sàng lao vào những trận chiến tiếp quản sôi động với những lời đề nghị trị giá hàng tỷ đô-la. Nhưng Hill gợi ý một vụ LBO trị giá 20 tỷ đô-la có lẽ sẽ nằm ngoài tầm với của Forstmann Little.
Tất cả bọn họ đều có khả năng hành động. Nhưng mọi người trong phòng này đều biết người duy nhất đủ mạnh để chiến đấu thực sự là Henry Kravis. Trong tất cả các tập đoàn và nhà đầu tư trên thế giới, chỉ có Kravis có sự kết hợp của sức mạnh, sự tự tin và tiền bạc để thắng trong một vụ đối đầu quan trọng. Phòng làm việc của Johnson tràn ngập các ý tưởng và suy tính đầy tham vọng. Một số người nói rằng Kravis đang đi săn ở châu Phi, và có lẽ anh ta sẽ không có đủ thời gian để phản ứng. Nhưng đó là khi Johnson nói rằng Shearson Lehman Hutton nghe thấy điều đó. Tất cả họ đều biết Kravis đã tiếp cận lão một năm trước.
“Henry sẽ không làm gì đâu,” Johnson nói một cách tự tin. “Tôi không nghĩ anh ta quan tâm đến thuốc lá.” Andy Sage hưởng ứng suy nghĩ của ông chủ.
Đó là một khẳng định quan trọng. Nhiều ngày sau, Johnson vẫn lặp lại câu nói đó. Lão đã biết về các cuộc tấn công của Kravis qua Beck và Waters, và lão không thấy có gì nghiêm trọng. Lão cố tình không nhắc đến họ với Shearson. Sau này, Johnson nói: “Không có lý do gì để nhắc đến họ. Họ cứ chạy quanh đầy lo lắng và nói: ‘Chúng tôi phải làm điều này, điều nọ.’ Họ cũng chẳng giỏi giang gì trong những vụ kiểu này. Tôi đã không muốn họ mất đi tính khách quan.”
Trên thực tế, Johnson đã bị ru ngủ bởi cùng một ảo tưởng cơ bản mà các giám đốc điều hành của Shearson đang cố tình tạo ra. Trong tất cả cuộc bàn thảo về các đối thủ cạnh tranh tiềm tàng, hầu hết bọn họ đều bị thuyết phục rằng họ sẽ không có đối thủ với giá thầu đưa ra. Họ chắc chắn không có ai, kể cả Kravis, sẽ cố gắng mua công ty với quy mô lớn như vậy. Họ không có sự trợ giúp của nhóm quản lý để giúp họ tìm ra cách tốt nhất nhằm cắt giảm chi phí. Ngay cả khi bị cám dỗ, họ vẫn tin rằng Kravis chắc chắn sẽ từ bỏ ý định bởi sự phức tạp dễ khiến con người ta nản chí với các vụ kiện tụng liên quan đến thuốc lá. Trên thực tế, Cohen và Hill coi Johnson là lá chắn trước mọi cuộc đấu thầu cạnh tranh. Là chiến lược gia chính của nhóm, Hill có nhiều cách để kiểm tra sự ham muốn của Kravis, nhưng sau đó ông nói rằng mình cảm thấy bị khóa chân khóa tay do Johnson cứ khăng khăng đòi giữ bí mật. Ông biết nếu đặt ra nhiều câu hỏi có thể gợi lên những quan tâm khác, làm lệch mục tiêu ban đầu.[3]
Một khi Shearson tin chắc rằng Johnson có thể thuyết phục hội đồng quản trị, thì Johnson cũng tin rằng Shearson có thể huy động đủ tiền để mua công ty. Cả hai đều không cần đến các bằng chứng thật sự thuyết phục. Trên thực tế, công ty này chưa bao giờ thử bất cứ điều gì giống như thế, và họ thậm chí đã thảo luận về khả năng nhờ đến sự giúp đỡ của các thế lực trái phiếu rác như Drexel hoặc Merrill Lynch. Ý tưởng này nhanh chóng bị bác bỏ: Tìm kiếm sự giúp đỡ sẽ là một sự thừa nhận rằng Shearson không thể tự mình thực hiện thỏa thuận này. Cohen tin tưởng có American Express hậu thuẫn, Shearson có thể thực hiện vụ này.
Giá thầu bay giờ là vấn đề tranh luận gay gắt. Cả Hill và Johnson đều nghĩ rằng giá thầu sẽ khoảng 75 đô-la/cổ phiếu là hợp lý. Giá đó cao hơn so với giá cổ phiếu từng đạt được khoảng 71 đô-la, cho dù không đáng kể. 75 đô-la/cổ phiếu nghĩa là tổng giá mua lên đến 17,6 tỷ đô-la, gấp gần ba lần so với vụ Beatrice. Khoản tiền 15 tỷ đô-la mà họ cần có từ các ngân hàng đầu tư lớn gấp hơn hai lần số tiền lớn nhất họ từng cho vay khi tiếp quản; Jim Stern bên Shearson dành hàng giờ để tính toán xem liệu có vụ tiếp quản nào trên thế giới cần đến số tiền lớn vậy không. “17 tỷ đô-la,” Johnson nói. “Mẹ kiếp, tôi sẽ đi loanh quanh với hai tay đặt trên hai đầu gối giống như một con khỉ với hộp đàn trong tay, và kiếm cho ra 17 tỷ đô-la.”
Hill cảnh báo rằng giá mua có thể tăng cao hơn. Hội đồng quản trị sẽ cố gắng thương lượng mức giá tốt hơn, có thể cao đến mức thấp nhất là 80 đô-la. Đó là tất cả phân đoạn của vở kịch đã được chuẩn bị công phu cho mọi tình huống LBO. Nhóm quản lý trả giá thấp là có mục đích, họ biết rằng hội đồng quản trị sẽ dỗ dành để tăng thêm vài đô-la. Thủ đoạn này cho phép nhóm quản lý tuyên bố họ đã đẩy giá đến mức tốt nhất. Điều đó khiến họ có quan hệ tốt với công chúng, nhưng nó thậm chí còn hữu ích hơn trong việc bảo vệ các giám đốc không bị các cổ đông khởi kiện.
Hiển nhiên, Johnson thấy khó chịu khi câu chuyện chuyển biến đến mức giá thầu có thể cao hơn 75 đô-la. Giá càng cao, nợ nần càng chồng chất. Nợ càng nhiều, chi tiêu của công ty sẽ càng phải thắt chặt. Johnson là người hoàn toàn không có lòng dạ nào muốn cắt giảm chi tiêu. Chắc chắn là không nếu điều đó đồng nghĩa với việc phải cắt giảm đặc quyền hàng không của RJR hoặc các đặc quyền khác. Lão cảm thấy Shearson, cũng giống như hầu hết những kẻ cho vay khác, bị ám ảnh bởi những thứ mà lão gọi là dè xẻn ngân sách theo kiểu “bần tiện và bủn xỉn”. Johnson nhấn mạnh nếu tiến hành LBO, việc chi tiêu cho cả Premier và trụ sở Atlanta là bất khả can thiệp và không thể cắt giảm.
“Tôi phải nói với các vị rằng chúng tôi sẽ không bắt đầu lại từ các xe bán hàng đâu nhé,” Johnson tuyên bố. “Tôi không muốn nhóm anh chạy quanh và nói những câu đại loại như chúng tôi chỉ nên có năm máy bay phản lực thay vì sáu chiếc. Tôi hiểu rằng nếu chúng tôi thực hiện vụ này, tôi sẽ phải làm việc cật lực. Tôi đâu có ngại ngần gì. Nhưng tôi không muốn các ông xới tung cuộc sống của tôi. Tôi có một công ty tuyệt vời, một cuộc sống tốt đẹp, và không muốn thay đổi lối sống đó.”
Một tay chơi LBO dày dạn kinh nghiệm hơn có thể đã cười nhạo ý tưởng LBO mà không chịu bất kỳ tổn thương nào của lão. Cohen và Hill gật đầu đồng ý với lão, mặc dù bản thân Hill cảm thấy chắc chắn rằng cả Premier và trụ sở công ty cuối cùng sẽ là vật hy sinh. Cả hai người đều cố gắng khẳng định sẽ có một thỏa thuận LBO dễ chịu nhất có thể cho Johnson; không được làm gì để con ngựa giống quý giá này giật mình khiến nó chạy ra khỏi cổng trong đêm 19 tháng Mười khi hội đồng quản trị họp. Họ sẵn sàng tán thành mọi “nhu cầu” của Johnson. Tương lai của những nỗ lực từ phía Shearson cho thỏa thuận LBO này phụ thuộc vào việc duy trì cảm giác hạnh phúc cho lão.
Steve Goldstone, người được thuê để bảo vệ lợi ích của Johnson, cảm thấy Shearson có thể đang vẽ một bức tranh màu hồng thái quá cho khách hàng của mình. Đến nước này, anh nói với Nusbaum: “Nghe này, các ông đã nói với Ross rằng ông ấy sẽ phải trả giá cao nhất, và đó sẽ phải là mức giá cạnh tranh nhất chưa?” Cả Nusbaum và Hill thề họ sẽ nói ngay lập tức. Điểm thảo luận cuối cùng và quan trọng nhất ngày hôm đó là một thỏa thuận cho nhóm quản lý. Khi tài liệu trọng tâm này xác định mối quan hệ giữa Johnson và Shearson, nó đồng thời thể hiện cách thức hoạt động của RJR Nabisco, ai sẽ kiểm soát công ty và cách thức phân chia lợi nhuận.
Trong giới LBO, các giám đốc điều hành quyết tâm theo đuổi thỏa thuận với những người như Henry Kravis phải hiểu rõ ràng vai trò của mình. Là lãnh đạo của các công ty đại chúng, họ sẽ luôn được các công ty LBO ve vãn tán tỉnh; một công ty như Kohlberg Kravis có thể đến gõ cửa, nhưng trong hầu hết các trường hợp, họ không thể tiến thêm nếu không được mời. Đổi lại, các công ty LBO thường cho phép họ đầu tư một khoản tiền của mình để mua 10-15% cổ phần trong các công ty trước đây họ từng là quản lý chuyên nghiệp. Nhưng trong khi giám đốc điều hành vẫn là người lãnh đạo công ty trên danh nghĩa, và thường họ vẫn được giữ quyền tự chủ trong các hoạt động, sẽ không sai nếu các công ty LBO là những người có quyền ra quyết định: Các công ty như Kohlberg Kravis và Forstmann Little sẽ kiểm soát hội đồng quản trị, phê duyệt ngân sách, và có quyền loại bỏ các giám đốc điều hành cấp cao theo ý thích của họ. LBO không có khái niệm dân chủ: Mỗi giám đốc điều hành trong các công ty thuộc sở hữu của Kohlberg Kravis đều phải trả lời các câu hỏi của Kravis và Roberts.
Johnson không để ý nhiều đến những lý lẽ thông thường đó. Những gì lão suy tính trong đầu không gì khác ngoài việc vai trò truyền thống của các giám đốc điều hành và công ty LBO sẽ đảo ngược hoàn toàn. Johnson tự hỏi tại sao Shearson phải kiểm soát hội đồng quản trị? Rốt cuộc, có phải lão đang mạo hiểm tương lai của chính mình không? Tại sao các giám đốc của công ty, những người hiểu rõ công ty này nhất, lại không có quyền đưa ra các quyết định? Trước sự kinh ngạc của Shearson, lão yêu cầu được giữ quyền kiểm soát hội đồng quản trị, và phủ quyết các quyết định chiến lược lớn, cả trong và sau thỏa thuận. Nghi ngờ của lão là chính xác, rằng Shearson muốn cắt giảm chi tiêu cho Premier, trụ sở chính và lực lượng hàng không RJR. Quyền phủ quyết là sự đảm bảo cho lão, RJR Nabisco sẽ được điều hành theo cách của lão chứ không phải theo cách của Shearson.
“Vì Chúa, tôi không muốn có một lô một lốc các nhân viên ngân hàng đầu tư khát máu trong hội đồng quản trị bảo chúng tôi phải làm điều này điều nọ,” lão nói với Cohen. “Anh phải có niềm tin rằng tôi biết phải làm gì. Tôi không cần một đám trẻ ranh cả ngày dán mắt vào màn hình cố gắng tìm cách giải quyết vấn đề của tôi. Đó là những thứ tôi cần để vượt qua tất cả những thứ chết tiệt này, tự mình chịu đựng nỗi đau thêm năm năm nữa thay vì về hưu sớm.”
Henry Kravis sẽ bảo Johnson tránh ra, vì những gì lão yêu cầu làm anh ta phát cáu. Nhưng Cohen và Hill đã hạ quyết tâm. Và bọn họ chấp nhận mọi yêu cầu của lão. Một lần nữa, họ cảm thấy không còn lựa chọn nào khác. Johnson nói rất rõ: Không có quyền phủ quyết thì sẽ không có thỏa thuận nào hết. Sau này, Hill thừa nhận: “Đó là cái giá phải trả để được chấp nhận,” Shearson rất muốn tham gia vụ này.
Nhưng Cohen đã phải chùn tay trước các yêu cầu thái quá của Johnson. Andy Sage khẳng định rằng Shearson đã hứa với các nhà đầu tư vào quỹ mới của anh ta khoản tiền lãi 40% cho số tiền của họ. Tốt thôi, Sage nói, Shearson có thể có 40%; ông ta đòi Johnson và người của lão sẽ nhận được số còn lại. Con số đó ứng với 20% hoặc hơn số cổ phiếu của RJR Nabisco hậu LBO. Chẳng bàn cãi nhiều, Hill cho Sage biết ông ta đã yêu cầu quá mức. Để làm bằng chứng, ông mang đến Atlanta một mớ thỏa thuận với các nhóm quản lý ở những vụ LBO khác; chẳng hạn trong vụ Beatrice, Kelly và người của ông ta đã mua 12,5% cổ phần.
Nhưng Johnson không chỉ muốn tỷ lệ lợi nhuận lớn hơn, lão còn muốn một thỏa thuận lớn hơn nữa. Hill tính toán lợi nhuận trên 20% cổ phần có thể mang lại 2,5 tỷ đô-la cho nhóm của Johnson trong năm năm. Trong bản ghi nhớ ngày 30 tháng Chín cho Cohen, Jim Stern lưu ý rằng Johnson gợi ý khoản cắt chuyển lợi nhuận hay còn gọi là khoản khuyến khích “có vẻ rất lớn, đặc biệt là khi xét đến quy mô của thỏa thuận này so với các thỏa thuận trước đó. Nếu tính theo giá trị tuyệt đối thì mức thưởng thêm cho nhóm quản lý ở các thỏa thuận trước so với lần này chẳng thấm tháp gì.”
Vấn đề được thảo luận lại vào thứ Bảy. Nhưng khi nhóm ngừng họp vào khoảng 3 giờ, đã có một chút tiến triển. Họ đã đạt được quá nhiều tiến bộ trên các mặt trận khác, dường như không cần thiết phải phá hỏng nó bằng một cuộc đàm phán kéo dài. Johnson đảm bảo với Cohen rằng việc phân chia lợi nhuận sẽ không còn là vấn đề, và Cohen khi đó đang vui mừng với tiến triển của sự việc cảm thấy chắc chắn rằng anh đã đúng. Sage đồng ý thảo luận với Hill về điều đó vào tuần sau.
Trước khi trở về New York, các nhân viên ngân hàng đầu tư của Shearson đã cố gắng một lần nữa thuyết phục Johnson ngồi lại với nhóm nhân viên ngân hàng đầu tư khác để thảo luận về việc cấp vốn. Johnson từ chối. Lão nói Shearson chỉ có thể tiếp cận hai ngân hàng, và chỉ thảo luận sơ bộ. Hãy tìm hiểu xem họ có đủ tiền để thực hiện thỏa thuận này không, Johnson nói với Cohen, và dừng lại ở đó. Họ sẽ có nhiều thời gian để đàm phán về các thỏa thuận với ngân hàng trong những tuần tới.
Thứ Hai là Ngày nghỉ lễ Columbus. Cohen gọi cho Charles Sanford, Chủ tịch ngân hàng Bankers Trust, đang ở nhà của ông. “Tôi phải nói chuyện với ông về một việc rất quan trọng với cả hai chúng ta. Chúng ta nên bàn về việc này càng sớm càng tốt. Một khi đã thảo luận về nó, ông sẽ hiểu tại sao tôi không thể bàn chuyện này trên điện thoại.” Vào ngày hôm sau, Cohen tiếp tục tiếp xúc với Chủ tịch của Citibank, John Reed: “John, tôi có một cơ hội lớn dành cho ông.”
Sáng hôm sau, thứ Tư, ngày 12 tháng Mười, một nhóm của Shearson do Jim Stern dẫn đầu có cuộc gặp riêng với đại diện cấp cao của Bankers Trust và Citibank. Để đảm bảo bí mật, Stern yêu cầu cả hai ngân hàng giới hạn các nhóm phân tích tín dụng của họ không quá bốn người. Trong vòng hai ngày, ông nhận được phản hồi rằng cả hai đã sẵn sàng cam kết giao dịch. Mọi việc diễn ra vô cùng dễ dàng so với mong đợi, Stern nghĩ.
Bob O’Brien, người phụ trách cho vay tiếp quản của Bankers Trust ở New York, nhận thấy đề xuất của Shearson là thỏa thuận hấp dẫn nhất trong sự nghiệp của ông. Không nghi ngờ gì nữa, bất kỳ ngân hàng nào cũng sẽ nhảy bổ vào cơ hội cho vay để thực hiện LBO với một công ty hàng đầu như RJR Nabisco. Vấn đề nan giải nhất là họ có đủ tiền để thực hiện thỏa thuận này như Jim Stern vẫn băn khoăn không.
Trong hầu hết những vụ tiếp quản lớn, các khoản vay được chia thành từng gói, hoặc chia theo nhóm cho các ngân hàng trên toàn cầu. Đội của O’Brien đề xuất mỗi bên chịu trách nhiệm 50%, rồi đến các bên cho vay trên toàn thế giới. Từng quốc gia, từng ngân hàng cộng lại cho được số tiền cần thiết cho vụ này. Họ đánh giá hoạt động cho vay của các ngân hàng ở Ireland, Bỉ, Đan Mạch và Hy Lạp. Ngân hàng Union Bank của Phần Lan sẽ phản ứng thế nào với việc mua lại một tập đoàn ở Atlanta? Các ngân hàng khó dự đoán của Nhật bản sẽ cảm thấy thế nào về ngành công nghiệp thuốc lá?
Cuối cùng, O’ Brien kết luận có tổng cộng 21 tỷ đô-la trên toàn thế giới có thể được cam kết huy động cho lần mua lại này. Từ đó, ông nghiên cứu và giảm số tiền có thể huy động. Tất nhiên, ta không thể có được hết số tiền đó. Một số ngân hàng sẽ không thích ngành thuốc lá, ông lý giải, vì trước đó, chủ tịch của họ có thể đã ném mẩu thuốc đang hút dở vào mặt họ. Trong số 21 tỷ đô-la đó, O’Brien dám cược ông có thể vay được 16 tỷ đô-la. Đó là một ước đoán táo bạo. Theo Shearson tính toán, họ sẽ phải cam kết vay 15,5 tỷ đô-la, gần bằng 75% số tiền dành cho LBO trên toàn thế giới.
-
Đối với người đàn ông mà cuộc sống là một bữa tiệc dài, có một điều kỳ lạ về Johnson khi lão chẳng mấy hứng khởi trong khoảng thời gian trước ngày 19 tháng Mười đáng nhớ đó. Andy Sage đã bị sốc bởi thực tế, ông ta chẳng thấy lão vui lên mấy, không có những cuộc gọi lúc nửa đêm từ Johnson, điều không thể thiếu trong những lần phiêu lưu trước. Điều kinh ngạc hơn là một vài nhà tâm lý học nghiệp dư cho rằng Johnson có thể đang làm tất cả những điều này chỉ để lấp đầy cảm giác mất mát do tai nạn của con trai lão. Bruce Johnson vẫn ở trong tình trạng hôn mê.
Gần đến ngày họp hội đồng quản trị, Johnson dường như trở nên do dự, nước đôi với toàn bộ ý tưởng LBO. Dĩ nhiên, một phần lý do là bởi rất nhiều người bạn lâu năm của Johnson sẽ không tiếp tục đồng hành cùng lão. Trong một bữa tối kéo dài đầy nước mắt, Johnson nói với Bob Carbonell rằng ông ấy sẽ không nằm trong nhóm bảy người thực hiện đấu thầu; và nếu họ thắng, Del Monte sẽ bị bán. Trong số những người được tham gia nhóm bảy người, Ed Horrigan là người nhiệt tình nhất. Theo Johnson và những người khác, Horrigan rất choáng ngợp với sự giàu có nhờ LBO. Ông ta hối hả nghiên cứu và lập lại danh sách những người được đưa vào nhóm trên một tờ giấy nhớ màu vàng.[4]
Nếu Johnson đang chảy nước miếng vì hàng triệu đô-la sắp được hưởng, thì không ai nhìn thấy điều đó. Lão cũng không có vẻ lo ngại về sự xung đột lợi ích vốn có mà các giám đốc điều hành phải đối mặt khi tham gia LBO. Đối với Johnson, việc mua công ty không phải là sự xung đột lợi ích lớn mà là sự hội tụ kỳ lạ của các lợi ích. Với LBO, lão tin rằng mọi người đều chiến thắng. Vấn đề giá chứng khoán sẽ được giải quyết. Các cổ đông sẽ được thanh toán 75 đô-la/cổ phiếu. “Chúng ta không thể đạt được mức đó trong bốn hoặc năm năm nữa nếu cứ điều hành công ty theo cách họ đang làm,” lão nói, như thể bốn hoặc bốn năm sẽ là mãi mãi. Shearson và người bạn Jim Robinson sẽ giành chiến thắng với niềm tự hào. Johnson và những người bạn của lão sẽ trở nên giàu có, vượt xa những giấc mơ điên rồ nhất của họ.
Những người chỉ trích sẽ cho rằng quyết định của Johnson là quá trình xuất phát từ lòng tham. Nhưng thực tế lại phức tạp hơn thế. Đầu tiên và quan trọng nhất là thỏa thuận LBO này dường như thỏa mãn cơn thèm khát hành động của Johnson. Lão sẽ không để công ty này tan rã. Nếu sự bào chữa cho lão - vì vấn đề cổ phiếu - là một sự thổi phồng, Johnson cho thấy lão đã không bỏ qua một vấn đề nan giải mà các CEO khác thường bỏ qua, như thể điều đó chẳng có gì quan trọng. Và trong khi Johnson thích viễn cảnh về một gia tài rơi vào tay ngay tức thì, giống như mong muốn của bất kỳ ai, thì lão cũng thích ban phát y như khi lão thích được nhận về. Đây sẽ là món quà cuối cùng cho tất cả mọi người, O.C Adams, một người bạn và là chuyên gia tâm lý của lão, nhận xét: “Ross đã tạo ra cơ hội (đấy là lão nghĩ thế) để mang đến sự giàu có cho tất cả mọi người.”
Thứ Năm ngày 13 tháng Mười, Johnson gọi điện cho Charlie Hugel lúc này đang ở một khách sạn tại Seoul, Hàn Quốc để rao bán các nhà máy hạt nhân. Ai đó sẽ tình cờ nghe được cuộc trò chuyện trên đường dây kết nối ở nước ngoài không đáng tin cậy, Johnson đã cố gắng nói chuyện dưới dạng mã hóa.
“Anh có nhớ dự án mà chúng ta đang xem xét không?
“Vâng” Hugel nói. Ông nhớ đã nói chuyện với Johnson về LBO một tháng trước đó.
“Charlie, sự việc bắt đầu đi theo chiều hướng khác. Có thể có nhiều rắc rối hơn so với khi ta nói chuyện trước đây. Ta phải trình bày vấn đề này trước hội đồng quản trị để họ xem xét.”
Hugel choáng váng. “Ta sẽ làm thật à?”
“Đúng vậy. Rất quan trọng đấy. Hãy quay về và có mặt ở cuộc họp.” Hugel lục lọi trong đầu xem có điều gì làm Johnson thay đổi hoàn toàn như vậy. Có lẽ nào là tai nạn của Bruce? Ông đã bắt đầu thử nói chuyện với Johnson, nói lão hãy tỉnh táo vượt qua khó khăn, chỉ thế thôi. Do ở quá xa cộng với giọng điệu của Johnson thể hiện sự quyết tâm làm ông cứng họng, chẳng nói được câu gì. Trước khi gác máy, Johnson hỏi liệu Hugel có thể đảm nhận vị trí đứng đầu ủy ban độc lập để đánh giá đề nghị của lão không. Hugel liền chấp thuận.
-
Johnson đảm bảo với Cohen rằng việc đàm phán một thỏa thuận cho nhóm quản lý sẽ không gặp khó khăn gì. Nhưng Andy Sage đã có ý tưởng riêng. Ông ta không ngốc: Nếu Shearson muốn thực hiện giao dịch này, họ sẽ phải thực hiện nó theo quy tắc của Johnson. Phiên họp hôm thứ Bảy đã chứng minh điều đó. Bây giờ, Sage đã chuẩn bị để truyền tải thông điệp đó bằng cách thực hiện đường lối cứng rắn với việc cắt chuyển lợi nhuận cho nhóm của Johnson. Đến nước này, Steve Goldstone nói: “Andy, Shearson sẽ không bao giờ đồng ý với những đề nghị vớ vẩn đó.”
Sage đáp lại: “Nghe đây, họ đã đồng ý trên nguyên tắc rồi.”
Goldstone cảnh báo: “Tôi đang nói với ông rằng họ sẽ không đồng ý. Họ đã nhượng bộ quá nhiều rồi.”
Sage vẫn kiên quyết. “Tôi cũng đang nói với anh đó. Đây là một thỏa thuận lớn. Họ sẽ đồng ý.”
Tom Hill và Jim Stern bước vào ổ phục kích của Sage tại văn phòng Manhattan của RJR Nabisco vào sáng thứ Năm. Ngay từ những lời đầu tiên, cuộc họp đã thể hiện sự khác biệt lớn về giọng điệu so với cuộc họp ở Atlanta. Đâu còn thái độ trìu mến, thân thiện, mềm mỏng như thảm cỏ trên sân golf của Ross Johnson. Thay vào đó là Andy Sage, mặt lạnh băng, trông như đang uy hiếp ai đó.
Không khí đầy kịch tính trong không gian phòng họp có tường kính bao quanh tại trụ sở của RJR Nabisco ở New York, các nhân viên ngân hàng phía Shearson lắng nghe Sage trịnh trọng công bố những vấn đề họ phải thực hiện. Nếu Shearson muốn Johnson thực hiện thỏa thuận này, họ sẽ chỉ có hai trong số bảy ghế trong hội đồng quản trị; phía Johnson sẽ có ba ghế, hai ghế còn lại sẽ thuộc về cặp giám đốc độc lập. Các giám đốc điều hành phía Johnson sẽ không bỏ tiền cho số cổ phần của họ trong công ty; Shearson sẽ cho họ vay tiền để mua cổ phiếu, và họ có thể hoàn trả bằng các khoản tiền thưởng thêm. Bên Shearson thậm chí sẽ trả thuế cho Johnson. Trên thực tế, nhóm quản lý sẽ nhận được phần của họ miễn thuế. Và Sage nhắc lại, nhóm quản lý sẽ không thỏa hiệp nếu lợi nhuận họ nhận được thấp hơn 20%.
Hill không nói được lời nào. Ông dự đoán các cuộc đàm phán sẽ khó khăn, nhưng không tưởng tượng được tình huống như thế này. Ông thậm chí còn không biết bắt đầu phản đối từ đâu. Khi Hill và Stern cố gắng cãi lý với Sage, ông ta nói thẳng là Johnson đã sẵn sàng từ bỏ toàn bộ dự án, hoặc tệ hơn là chuyển dự án cho một ngân hàng đầu tư khác.
Theo Hill hiểu thì Sage dường như không quan tâm đến những cách thức thường làm trong LBO. “Andy,” Hill cãi, “chúng tôi sẽ chi ra toàn bộ số tiền. Chúng tôi sẽ chấp nhận tất cả các rủi ro. Không thể được.” Đòi hỏi các nhà đầu tư của Shearson chấp nhận thu hồi vốn đúng 40% thật là lố bịch; các nhà quản lý tiền mặt đầu tư tiền cho Shearson để có mức thu hồi “mặt bằng” cao hơn 40%. Hill cảm thấy phần cho Johnson không thể lớn hơn 10%.
Nhưng Sage không lung lay. Trong hai ngày, Hill và Stern đã thảo luận kỹ với cựu nhân viên ngân hàng của Lehman. Các cuộc đàm phán đi đến mức bộc lộ cảm xúc, cho đến khi ba người đàn ông bắt đầu hét vào mặt nhau. Cả hai giám đốc ngân hàng phía Shearson về sau đều phát biểu rằng đó là cuộc đàm phán khó khăn nhất trong sự nghiệp của họ ở Phố Wall. Trong suốt thời gian đó, họ vẫn giữ liên lạc với Cohen. Tuần đó, anh đang ở Tucso tham dự một cuộc họp của các giám đốc điều hành American Express.
“Sage hoàn toàn vô lý,” Stern nói với Cohen vào cuối ngày thứ Năm. Khi các cuộc đàm phán tiếp tục, các đánh giá của ông ngày càng khó nghe. Stern nói: “Peter, thật là một cơn ác mộng. Chết tiệt.”
Hơn cả Hill, Jim Stern rất ngạc nhiên trước cách cư xử của Sage. Là một nhân viên ngân hàng đầu tư cấp tháp ở Lehman vào những năm 1970, ông đã làm việc với Sage về Standard Brands, và coi ông là một người bạn cũ. Nhưng bây giờ, trong một cuộc trao đổi gay gắt, Sage đã buộc tội Stern hành động không chuyên nghiệp, một lời buộc tội chạm đến lòng tự trọng. “Thế hả, tôi sẽ đi khỏi đây,” Stern nói, đứng dậy định bỏ đi, Sage liền xin lỗi ông.
Sage sau đó thừa nhận một phần của sự không nhượng bộ đó là sự hiểu biết có phần lỗi thời của ông về quan hệ của họ với ngân hàng. Trong những ngày Sage còn ở Phố Wall, khách hàng là các ông chủ, họ thuê các ngân hàng đầu tư để giúp đỡ họ. Nhưng Shearson, ngân hàng sẽ đầu tư hàng trăm triệu đô-la vào việc mua lại RJR Nabisco, không phải là người được thuê đến để giúp việc. Họ là một đối tác đúng nghĩa. Sage không nắm bắt được sự khác biệt. “Họ không đến để nài nỉ các công ty khác; họ cũng tham gia cuộc chơi,” sau này ông nhớ lại.
Sage cũng bị chi phối bởi sự tự cao, khinh miệt người khác. Ông cảm thấy Hill và Stern không đạt tới trình độ của Lehman trước đây, và ông dường như muốn dạy cho họ một bài học về đàm phán. Sau này, Johnson nói: “Andy cảm thấy họ là những kẻ ngốc. Ông ấy thấy họ chẳng sắc sảo chút nào.”
Mò mẫm tìm đồng minh chống lại Sage, Hill gọi cho Goldstone. Vị luật sư trẻ của Davis Polk vẫn hoài nghi về những yêu cầu của Sage, và lần đầu tiên anh nói với Hill: “Nghe này, nếu khách hàng của chúng tôi thuyết phục được ông rằng họ xứng đáng được hưởng những điều này, thì tốt rồi. Nhưng nếu tôi có thể giúp bằng cách nào đó, tôi sẽ cố thử xem.”
Goldstone hối hận về cuộc trò chuyện khi Hill, tại một thời điểm quan trọng của cuộc đàm phán, lại nói với Sage rằng ngay cả Davis Polk cũng ủng hộ quan điểm của Shearson. Sau đó, Goldstone phải chịu đựng một cuộc chửi mắng kéo dài từ một Sage đang tức giận. Anh đại diện cho ai? Sage chỉ tay vào luật sư và hỏi. Sau đó, Goldstone chọn cách đứng ngoài các cuộc xung đột.
Khi các cuộc đàm phán khiến tất cả đều mệt mỏi, với sự chấp thuận của Cohen, Hill bắt đầu nhượng bộ những điểm chính. Phải, Shearson sẽ chỉ có hai ghế trong hội đồng quản trị. Được, Shearson sẽ trả thuế cho Johnson. Nhưng cho không ban giám đốc 20% lợi nhuận của một trong những công ty lớn nhất cả nước thì sao? Không chỉ việc Sage yêu cầu được ăn cả phần lợi nhuận của Shearson, mà điều này thật khủng khiếp với công chúng, thật khó mà chấp nhận được.
“Andy, ông đang tự tạo nên một vấn đề quan hệ công chúng rất, rất bất lợi đấy,” Hill cảnh báo. “Hãy nhìn những đồng đô-la bất lương đó… Mọi người sẽ nói rằng nhóm quản lý đang xâu xé công ty.” Sage phản đối: Đến lúc đó chúng tôi sẽ tự lo liệu.
Không có điều gì Hill nói ra có tác dụng. Và mỗi khi không vừa ý, Sage lại đe dọa sẽ bỏ đi. Jim Stern nửa muốn thách thức Sage làm như vậy, nửa muốn bảo rằng ông ta hãy cút đi. Stern cuối cùng cũng có được một thỏa hiệp nhỏ khi Sage đồng ý với ý tưởng cấp thêm cổ phiếu cho nhóm quản lý để thưởng cho những hoạt động cụ thể còn gọi là “điểm thưởng”. Sẽ có điểm thưởng cho việc hoàn thành các chương trình thoái vốn, đạt được mục tiêu lợi nhuận hoạt động hay đạt mức doanh thu nào đó.
Nhưng các nhân viên ngân hàng Shearson không thể thuyết phục Sage từ bỏ yêu cầu chính của ông, rằng với số cổ phiếu thưởng đó, thì phần của Johnson sẽ không thể lên đến 20%. Đến nước này, trong khi cố gắng thuyết phục Sage rằng thỏa thuận thế này quá có lợi, Stern đã đề nghị thể hiện trên màn hình máy tính số lợi nhuận thu về cho vụ LBO này trên khoảng 80 đô-la/cổ phiếu. Sage chế giễu mức giá giả tưởng đó. “Ông điên à,” Sage nói. “Chẳng có ai trả mức giá đó đâu.”
Hai ngày sau, Hill và Stern tỏ ra bất lực và cầu cứu Cohen. “Peter, anh phải tự mình đối phó với Ross đấy”. Stern nói, không còn muốn liên quan đến Sage nữa, “Gã này điên thật rồi, đúng là hết chịu nổi.”
Sage cũng hết chịu nổi đám người của Shearson. Cuối tuần đó, Stern từ chối trả lời các cuộc gọi của ông ta. Vào Chủ nhật, Sage đã sẵn sàng bỏ rơi Shearson và gọi cho một công ty khác, có thể là Drexel. “Hãy từ bỏ những gã này đi và bắt đầu lại từ đầu,” ông ta phàn nàn với Johnson khi lão đang đi nghỉ cuối tuần ở Florida cùng Goldstone.
Johnson chẳng thấy lo lắm. Mỗi cuộc đàm phán là một trận chiến, lão biết, và sẽ có một số trận chiến cam go hơn những trận khác. Dù sao thì không thể dùng vũ lực để đối phó với Shearson. Ba ngày nữa, Johnson sẽ phải đứng trước hội đồng quản trị và cố gắng thuyết phục họ. Lão biết Cohen rất muốn có được thỏa thuận này, và ngờ rằng Shearson sẽ cố gắng hết sức để vượt qua cuộc đàm phán này.
“Không sao đâu, họ sẽ phải chấp nhận thôi,” Johnson đảm bảo với Sage. “Không nhượng bộ, thì không có thỏa thuận nào hết.”
-
Charlie Hugel đã có một chuyến bay dài trở về từ Hàn Quốc, đủ thời gian để ông suy nghĩ về cuộc gọi của Johnson. Khi đang bay trên Bắc Đại Tây Dương, ông lấy một mảnh giấy ghi chú, và bắt đầu viết ra những việc sẽ phải làm. Ông quyết định ủy ban đặc biệt nên có năm thành viên thay vì ba thành viên như thông thường. Nhưng Hugel đã có kế hoạch đi Moscow vào tháng tới, và ông không muốn khi ông đi sẽ chỉ còn lại hai giám đốc. Ông muốn thành viên hội đồng phải những người từng là giám đốc điều hành, những người hiểu rõ cách thức làm việc của các công ty. Ông cũng muốn những người có thể dành thời gian cho công việc, và không phàn nàn vì đã bỏ lỡ bữa tối mà họ đã cân nhắc rất lâu trước khi quyết định sẽ đến đó.
Trở về nhà ở Connecticut vào tối Chủ nhật, Hugel gọi cho Johnson. Lão đã về Atlanta. Họ bàn về danh sách những người sẽ có tên trong ủy ban đặc biệt. Trên thực tế, Hugel để cho Johnson nêu tên các thành viên của ủy ban. Họ nhất trí sẽ là Marty Davis của công ty Gulf Western. Ông này là bạn cũ của Johnson, được đề bạt làm giám đốc vào mùa xuân, hiểu biết rất nhiều về tái cấu trúc công ty hơn bất kỳ ai trong hội đồng quản trị. Ông ta đã giúp công ty của mình phát triển liên tục trong những năm qua. Họ cũng đồng ý chọn Bill Anderson, cựu Chủ tịch NCR, người Johnson rất ưu ái với một hợp đồng tư vấn trị giá 80.000 đô-la. Họ nhất trí rằng ít nhất nên có một giám đốc đến từ Winston-Salem. Họ quyết định người đó sẽ là John Medlin. Lựa chọn gây tò mò nhất là John Macomber. Sau những lần tranh cãi trước đó, Johnson không còn tin tưởng cựu Chủ tịch Celan nữa. Nhưng lão và Hugel nhất trí là nên đưa Macomber vào ủy ban, còn hơn là mạo hiểm để ông ta gây rắc rối trong đám giám đốc còn lại.
“Còn một việc nữa, Charlie,” Johnson nói, nhắc nhở ông ta về một điều mà Goldstone đã nói với lão. “Ông phải chắc chắn có một luật sư cho hội đồng quản trị đó. Chúng ta muốn mọi việc phải suôn sẻ đúng luật, giống như chất tẩy rửa Sani-Flush tẩy sạch sẽ mọi thứ.”
Hugel thực tế đã dự định có một luật sư trong danh sách. Việc lựa chọn vị luật sư của ủy ban sẽ rất quan trọng, vì người đó sẽ đảm bảo các giám đốc hành động trong giới hạn pháp lý phức tạp và các nhiệm vụ họ được ủy thác. Sáng thứ Hai, Hugel bắt đầu thực hiện các cuộc gọi cầu cứu đến một số công ty luật danh tiếng ở New York. Ông phát hoảng khi ba công ty đầu tiên ông gọi tới nói rằng họ đã có các khách hàng đối kháng, một dấu hiệu chắc chắn rằng các ngân hàng bên ngoài hoặc các nhân viên ngân hàng đầu tư đã có những động thái liên quan đến thỏa thuận này. Đột nhiên, Hugel nhận ra Johnson đã đi xa hơn những gì lão nói với ông.
-
Peter Atkins giận dữ, trừng mắt nhìn màn hình sân bay. Hãng hàng không American Airlines thông báo chuyến bay của anh bị trì hoãn vô thời hạn. Sân bay quốc tế O’Hare ở bang Chicago đang chìm trong sương mù.
Atkins nhặt chiếc cặp của mình, và sải bước qua đám đông ở sân bay La Guardia để gọi điện thoại. Anh cần đến New Mexico vào cuối buổi chiều để tham dự một cuộc họp quan trọng. Ở tuổi 40, Atkins phải di chuyển nhiều hơn anh mong muốn. Không phải vì múi giờ thay đổi. Các đồng nghiệp của anh ở công ty luật Skadden, Arps, Slate, Meagher & Flom ngạc nhiên trước tình trạng thể chất của anh. Khi các luật sư khác mệt mỏi với những phiên đàm phán đến tận sau nửa đêm, thì Atkins luôn trong trang phục bảnh bao. Một trong những đối tác của anh nói: ‘Anh ấy cứ như sắp lên trang bìa của GQ. Đa số chúng tôi sợ phải thức khuya, nhưng Peter thì không.” Anh là con trai của một kỹ sư, sinh ra ở khu vực Flatbush của Brooklyn, hiện là một trong những luật sư hàng đầu về chứng khoán của Phố Wall. Skadden Arps là công ty luật lớn thứ ba nước Mỹ cho đến nay, và là công ty tích cực nhất trong lĩnh vực xây dựng luật tiếp quản công ty.
Atkins nhấc điện thoại và gọi cho thư ký của mình để đặt chuyến bay khác. Cô thư ký nói có một tin nhắn từ một Hugel. Hugel duy nhất mà Atkins biết, và rất mơ hồ, là Chủ tịch của Combustion Engineering. Anh sẽ gọi cho ông ấy sau, Atkins tự nhủ.
Thư ký của Atkins đặt chỗ cho anh trên một chuyến bay của hãng United đến Albuquerque qua sân bay Stapleton ở Denver. Anh liền chạy ra cổng. Khi đến nơi, Atkins mới biết chuyến bay này cũng bị hoãn vô thời hạn. Denver cũng bị sương mù. Khi anh đang nguyền rủa vận may của mình, thì nghe thấy tên mình trên loa. Anh bước tới một chiếc điện thoại ở sân bay và gọi cho tổng đài.
Có một tin nhắn từ một quý ông tên là Hugel: “Hãy nói với anh ấy rằng anh sẽ bỏ lỡ thỏa thuận lớn nhất từ trước đến nay.”
Hoang đường, Atkins nghĩ, tâm trí của anh chỉ hướng đến việc làm sao đến được New Mexico. Thư ký của anh kiểm tra lần nữa để tìm cho anh một chuyến đi khác, chuyến bay của hãng hàng không Continental Airline, bay qua Dallas.
Lần này, Atkins chạy thật nhanh đến cổng cho chuyến bay của hãng Continental. Anh đến nơi, mệt đứt hơi nhưng đắc thắng, hành khách đang lên máy bay. Khi đang nhích từng bước lên phía trước, Atkins lấy điện thoại di động ra và gọi cho ngài Hugel dai như đỉa. 20 phút sau, Peter Atkins đã ở trên không trung, bay về phía tây, và Charlie Hugel có một luật sư giỏi.
-
Thứ Hai, chỉ hai ngày trước cuộc họp hội đồng quản trị, Johnson bắt đầu trở nên bồn chồn. Cứ mỗi giờ, lão lại kiểm tra giá cổ phiếu những mong sẽ thấy nó tăng. Lão ở tư thế chuẩn bị dừng toàn bộ thỏa thuận nếu giá cổ phiếu bật tăng. Lão đang rất lo lắng vì bài viết trên tờ Business Week, số mới nhất, trong mục Inside Wall Street (tạm dịch: Chuyện trong Phố Wall). “Có tín hiệu cảnh báo: Hãy mua RJR Nabisco”, một tiêu đề có ý khuyến nghị. Bài báo đề cập đến khoảng cách lớn giữa giá trị thanh lý và giá cổ phiếu của công ty, đồng thời dẫn lời một người quản lý quỹ cho biết RJR sắp có một cuộc tái cấu trúc hoặc mua lại lớn.” Tiếp theo, bài báo dự đoán “đã có tin đồn rằng để ngăn chặn việc bị tiếp quản, ban giám đốc công ty dự định tư nhân hóa sau đó bán công ty thuốc lá.” Có một nửa là sự thật, Johnson nghĩ.
Mảng thực phẩm sẽ bị bán. Lão và Benevento đã quyết định. Mảng thuốc lá, với lượng tiền mặt khổng lồ, sẽ được giữ lại. Lão cố gắng không nghĩ đến bài báo nữa.
Tuy nhiên, tin tức gây sốc thực sự đến vào chiều hôm đó, khoảng 6 giờ kém vài phút, khi bản tin Dow Jones đưa tin Philip Morris bất ngờ tham gia vụ đấu thầu trị giá 11 tỷ đô-la để mua Kraft. Trái ngược hoàn toàn với các kế hoạch của Johnson, Hamish Maxwell đã chọn mở rộng đế chế của mình thay vì co mình lại. Vẫn như thường lệ, ngay lập tức sau một thông báo như vậy, sẽ có một loạt các cuộc gọi từ những nhân viên ngân hàng đầu tư gọi đến hỏi Johnson xem lão có quan tâm đến việc trả giá cao hơn để mua Kraft hay không. Họ sẽ vẫn hát những bài ca quen thuộc. Nào là: Đây là cơ hội chỉ có một lần trong đời… Kraft là một công ty tuyệt vời… ông nên xem xét… ông nên nhanh chóng hành động.
Cuộc gọi duy nhất khiến Johnson chú ý đến từ Steve Waters của Morgan Stanley. Waters thông qua Jim Welch hỏi về Kraft. Trước khi cúp máy, ông ta nói lại vấn đề đã đề cập với Welch chỉ mới 12 ngày trước. “Nhân tiện, tôi muốn hỏi các ông định gặp KKR ở đâu?”
“Vâng chúng tôi đang suy nghĩ về điều đó,” Welch nói.
Hôm đó, Johnson gọi cho các giám đốc, hối thúc họ đến dự bữa tối. Khi các thành viên hội đồng quản trị hỏi tại sao, Johnson không nói thẳng. Lão chỉ nói một cầu “Rất quan trọng.” Với những người đã được chọn vào ủy ban đặc biệt, lão hỏi họ có thể sẵn sàng nhận nhiệm vụ trong nhóm nghiên cứu các phương án tái cấu trúc công ty không. Davis phát cáu khi bị hỏi, nhưng nói sẽ làm. Macomber đồng ý. Hugel đã thông báo trước với Anderson, ông này cũng chấp thuận. Chỉ có John Medlin phản đối. “Chết tiệt, tôi đã bận bù đầu rồi” ông ta nói với Hugel. Trong thâm tâm, ông thấy không thoải mái với những xung đột lợi ích khi ở trong một ủy ban tái cấu trúc, trong khi mình lại đứng đầu một trong những ngân hàng lớn của RJR. “Ông có thể chọn người khác được không?” Medlin hỏi. “Albert Butler chẳng hạn?”
Người dễ sai khiến Butler là lựa chọn duy nhất của Hugel. “Ross đã nói với ông về vấn đề này chưa?” Sau hôm đó ông hỏi Butler. “Chưa” Butler nói. “Nhưng vài tuần trước, ông ấy đã nói với tôi về việc nghiên cứu các lựa chọn về tái cấu trúc.”
Butler đồng ý tham gia ủy ban. Chỉ có điều, ông ta nói, một vài tuần trước đó, Johnson đã ân cần yêu cầu ông ta ở lại hội đồng quản trị thuốc lá Reynolds qua sinh nhật thứ 70 vào tháng Năm. “Điều đó có liên quan gì đến công việc này không?” Butler hỏi.
Hugel chợt cảnh giác. Ông hỏi: “Ông ấy đã nói chi tiết thế nào về vấn đề này?”
Chỉ là một đề nghị có thời hạn thôi, Butler nói.
“Vậy tôi sẽ gọi lại cho ông sau.”
Hugel cúp máy, cảm thấy mếch lòng. Ông biết thuốc lá sẽ là cốt lõi sống còn của công ty hậu LBO, và ông không thích ý tưởng của Johnson trong việc đề nghị một ghế trong hội đồng quản trị cho một giám đốc hiện tại. Các giám đốc sẽ phải trung lập trong quá trình này, và đề nghị đó có thể không ổn. Ông ta gọi cho Johnson và nói với lão như vậy. Johnson nói: “Albert đã hiểu nhầm rồi. Lúc tôi nói chuyện với ông ấy, tôi thậm chí còn chưa quyết định tiến tới thỏa thuận này. Điều tôi muốn nói là tôi muốn ông ấy tiếp tục ở lại trong hội đồng quản trị của công ty thuốc lá.” Chỉ vậy thôi.
Hugel không chắc chắn Butler có hiểu nhầm không. “Ross, anh biết rồi đấy, anh phải cẩn thận với điều này,” ông cảnh báo. “Việc này chẳng hay chút nào.”
Sau đó, Johnson đã nói một điều mà Hugel sẽ không bao giờ quên. Lão nhấn mạnh sẽ có một vài vị trí trong hội đồng quản trị hậu LBO cho các giám đốc độc lập. “Đó là điều tôi muốn anh cân nhắc, Charlie. Anh sẽ phải quyết định, trước tiên ta phải làm cho được vụ này. Nhưng chúng ta đã quen làm việc với nhau từ lâu, tôi muốn nói anh biết. Và với tư cách là giám đốc, anh có khả năng nhận được cổ phiếu.” Một phần của thỏa thuận.
“Anh sẽ xử lý cổ phiếu như thế nào?” Hugel hỏi, tỏ ý nghi ngờ.
Johnson giải thích. Hugel có thể nhận được phần cổ phiếu hậu hĩnh giống như nhóm quản lý sẽ nhận được. Johnson nói ông sẽ được vay tiền để mua cổ phiếu từ Shearson, sau đó nhìn nó lớn lên, giống như voi Topsy. Số cổ phiếu trị giá 5 triệu đô-la có thể sẽ mang về 20 triệu đô-la trong năm năm tới.
Hugel không biết phải nói gì. Johnson có biết lão đang nói gì không? Lão có nhận ra là lão vừa đề nghị điều gì không, về bản chất, đó là một khoản hối lộ? Lão đang có âm mưu gì hay chỉ đơn giản là lão quá ngây thơ? Không ai có thể hiểu hết về Johnson. “Tôi không thể làm vậy,” Hugel vội vàng nói. “Tôi sẽ là chủ tịch ủy ban đặc biệt.”
Đầu óc rối tung và có thêm chút lo lắng, Hugel kết thúc cuộc trò chuyện. Ông đề nghị Johnson gọi cho Butler, nói thẳng với ông ấy về vị trí trong hội đồng quản trị. Sau đó, chính ông cũng gọi cho Butter. “Tôi sẽ không nói lời nào về việc này,” Hugel nói, “với bất cứ ai.”
-
Tối thứ Hai, khi Andy Sage gọi, Johnson đang ở nhà. Sage cảm thấy bất lực. Ngày hôm đó, các luật sư đã cố gắng thỏa hiệp về bản thỏa thuận của nhóm quản lý. Shearson vừa fax cho ông ta một văn bản, và tất cả đều không đúng với yêu cầu. Như Sage thấy, phía Shearson đã không giữ lời với một số điểm chính. “Hãy đến ngay nhà tôi,” Johnson nói, “chúng ta sẽ gọi mọi người cùng tới.” Chỉ còn chưa đầy 48 giờ nữa là đến cuộc họp với hội đồng quản trị, thật ngớ ngẩn khi những vấn đề quan trọng như thế này vẫn chưa được giải quyết. Lão quyết định tập hợp nhóm và gọi cho phía Shearson để giải quyết một lần cho tất cả mọi vấn đề còn vướng mắc. Laurie Johnson bắt đầu gọi điện thoại mời mọi người đến. Goldstone đã quay trở lại New York vào đêm trước, nhưng cô chỉ gặp được trợ lý của anh, một người 34 tuổi có gương mặt trẻ con và được đào tạo tại Harvard, tên là George Bason, Jr (còn gọi là Gar). Anh ta vừa ăn tối với món bánh hamburger trong phòng khách sạn. Do Goldstone vắng mặt, nên anh ta sẽ là người thương thuyết. Cô gọi được cho Horrigan khi ông này đang ở Waverly, ăn tối với hai giám đốc điều hành thuốc lá. John Martin bị gọi khi đang ở trên phố. Benevento và Henderson nhận được cuộc gọi khi đang ăn tối cùng nhau.
Tất cả bọn họ tập hợp tại nhà của Johnson, lúc đó đã hơn 10 giờ đêm. Khi Laurie lấy coca không đường cho nhóm, Johnson ngồi ở bàn làm việc trong phòng đọc, và quay số gọi cho Peter Cohen, anh đang ở New York. Trong khi điện thoại reo, lão nhìn chằm chằm vào những bức tranh khảm nổi tiếng trên tường của phòng đọc. Trước sự ngạc nhiên của lão, Jim Robinson đã trả lời điện thoại. Robinson vừa mới trườn vào giường trong căn hộ ở Manhattan. Johnson nhận ra mình đã bấm nhầm số khi quay số nhanh. “Chết tiệt, Jimmy. Tôi đang cố gọi cho Peter.”
Robinson hỏi lão có chuyện gì.
Giọng nói của Johnson biểu lộ sự tức giận khác thường. “Những tên đần ở Shearson,” lão nói, “chúng đang cố gắng dồn chúng ta vào chân tường. Bọn chúng thật vô lý hết sức. Những gì chúng đã hứa nay lại lật mặt, bọn chúng chỉ là những thức rác rưởi. Tôi đã chán ngấy bọn chúng rồi.”
Robinson không theo dõi chi tiết tiến trình của nhóm đàm phán nên không hiểu tất cả những gì Johnson nói. Ông tắt cuộc gọi của Johnson và quay số của Cohen ở căn hộ trên đại lộ số 5. “Tôi không biết chuyện quái quỷ gì đang xảy ra,” ông nói với Cohen, “rõ ràng là Jim Stern và Tom Hill đã cố tình chọc giận Giáo hoàng. Anh có thể giải quyết mọi chuyện không?” Cohen kinh hãi. Ngay lập tức anh gọi cho Johnson. Cohen hy vọng Hill và Stern có thể tự xử lý thỏa thuận với nhóm quản lý của Johnson. Ngoài ra, anh đã có kế hoạch sẽ thức dậy vào sáng sớm cho một cuộc phỏng vấn trong chương trình “Good morning America” (Chào buổi sáng, nước Mỹ). Bất đắc dĩ, anh buộc phải nhấc điện thoại và gọi đến Atlanta. Chúng ta có thể bàn việc này vào lúc khác được không? Cohen băn khoăn. Đã muộn rồi.
“Không, phải giải quyết ngay bây giờ,” Johnson nói. “Nào, giải quyết cho xong mấy thứ việc cỏn con này đi, Peter. Với tôi ấy mà, anh biết rồi đấy, những điều này thật lố bịch. Một mớ rác rưởi. Peter, hoặc chúng ta giải quyết cho xong những thứ chết tiệt này trong đêm nay, hoặc là chúng ta kết thúc ở đây. Bây giờ đã rắc rối thế này, sau này sẽ thế nào đây?”
Cohen nhún nhường; Johnson quát tháo, cau có. Cohen nói bên anh sẽ giải quyết việc này. Cohen gác máy và triệu tập trợ lý riêng, Andrea Farace, đến căn hộ của anh. Farace sống cách căn hộ của anh ba dãy nhà về phía bắc, nên vài phút sau đã có mặt ở ở cửa nhà Cohen. Anh cũng gọi được cho Jack Nusbaum. Rất nhanh, ba người bọn họ đã nói chuyện điện thoại với Gar Bason. Anh này đang ngồi trong phòng đọc của Johnson. “Tôi yêu chiếc ghế này quá,” anh nói với Johnson.
“Nếu cậu đàm phán được vụ này, tôi sẽ mua cho cậu một chiếc” Johnson nói. Ở đầu dây bên kia, Cohen thấy mình đang ở trong một tình huống rất khó xử. Anh chẳng mấy dễ chịu với khoản lợi nhuận rất lớn mà bên anh phải cắt chuyển cho bên Johnson theo yêu cầu của họ. Anh biết Shearson đã thua thiệt nhiều cả về quyền kiểm soát và tiền bạc. Nhưng rõ ràng, anh phải nhanh chóng đạt được một sự thỏa hiệp nếu muốn cứu vãn thỏa thuận này. Bằng cách nào đó phải xoa dịu Johnson.
Đàm phán kết thúc trong vòng chưa đầy hai giờ. Cohen chấp nhận hầu hết mọi yêu cầu Bason đưa ra. Thư ký của Sage đánh máy văn bản, thỏa thuận của nhóm quản lý dành cho nhóm bảy người của Johnson ở mức 8,5% vốn cổ phần, cộng với khoản vay từ bên Shearson để bù đắp tiền thuế. Nếu Johnson thắng trận này, nhóm của lão sẽ có số tiền thưởng có thể lên tới 18,5%. Tổng giá trị của gói tiền thưởng có thể lên tới 2,5 tỷ đô-la trong năm năm tới. Johnson được tự do chọn phần cổ phiếu cho mình. Cá nhân lão sẽ nhận 1% cổ phiếu, Horrigan cũng được 1%, theo Steve Goldstone, năm năm nữa số cổ phiếu đó sẽ có trị giá lên tới 100 triệu đô-la. Johnson cũng có quyền phủ quyết và quyền kiểm soát hội đồng quản trị. Thỏa thuận này chẳng giống bất kỳ thỏa thuận LBO lớn nào từng được ký kết.
Cohen cho phép bản thân nghỉ ngơi một cách thoải mái. Bị Johnson làm cho giật mình, anh hiểu rằng có thể đàm phán lại thỏa thuận này nếu giá đấu thầu đạt cao nhất 75 đô-la/cổ phiếu, vì điều đó gần như chắc chắn sẽ xảy ra. Tuy nhiên, hiện tại, cả hai bên đều có thứ họ muốn. Johnson có thỏa thuận béo bở nhất trong lịch sử cho nhóm quản lý. Cohen cứu vãn được thỏa thuận và có thể nói với các đồng nghiệp rằng mọi việc chưa kết thúc ở đây.
Khi Jim Stern biết được sự thỏa hiệp của Cohen, ông ta đã nổi giận. “Chết tiệt,” ông hét lên, đập bàn thình thình. “Tôi chỉ có thể làm với giá 75 đô-la, nhưng không thêm một xu. 75 đô-la, thêm một cắc cũng lập tức chấm hết!”
-
Ở trụ sở của RJR Nabisco, các nhân viên bắt đầu nhận thấy bầu không khí đang có những thay đổi. Một ngày nọ, Ed Robinson yêu cầu gửi ngay lập tức 40 triệu đô-la vào các quỹ dù vàng “rabbi”, và việc này khiến những người làm việc trong lĩnh vực tài chính tò mò. Johnson và những người khác dường như luôn ở trong tâm trạng rối ren. Tin đồn bắt đầu lan đi. Một vài thư ký trong công ty thậm chí đã tham khảo ý kiến của các nhà tiên tri. “Công việc của cô có vẻ không được đảm bảo,” một nhà tiên tri đã nói với một người như vậy. “Tôi khuyên cô nên xin việc ở đâu đó ổn định hơn, như làm việc cho chính phủ hoặc chuyển sang IBM.”
Cô này nhờ đến nhà tiên tri thứ hai, tiên đoán thậm chí còn tệ hơn “Tôi không nghĩ đây là công việc cô có thể làm cho đến khi nghỉ hưu.”
“Bà đã nhìn thấy gì?” cô hỏi.
Nhà ngoại cảm nhắm mắt lại, và có vẻ tập trung một lúc lâu. Sau đó, bà ta nói: “Đại loại là nó sẽ… biến mất.”
Thứ Ba, Johnson bồn chồn chờ đợi. Cứ một tiếng, lão lại kiểm tra giá cổ phiếu. Sáng hôm sau, lão mời Goldstone đến nhà ăn sáng. Anh mới trở về từ New York. Vị luật sư trẻ thấy lo lắng. Anh vẫn không biết liệu Johnson sẽ đề xuất tiến hành LBO hay chỉ đơn giản là thảo luận về khả năng này. Johnson đọc qua bài phát biểu lão sẽ trình bày trước hội động quản trị, nói thêm rằng lão thực sự sẽ trình bày việc LBO. “Ông chỉ cần trình bày và giải thích cho họ hiểu,” Goldstone nói, “họ sẽ chọn làm hay không”.
Sau khi ăn sáng, Johnson đi đến văn phòng và lại kiểm tra giá cổ phiếu. Không nhúc nhích. Lão xem xét lại lần cuối nhóm chủ trương LBO, kiểm tra lại từng người, thái độ của họ với thương vụ này. Sage dù có gặp những rắc rối khi đàm phán với Tom Hill vẫn giữ thái độ nước đôi. Ông ta sẽ ủng hộ Johnson cho dù có chuyện gì xảy ra. Ed Robinson hoàn toàn ủng hộ dự án. Ông ta nói với Johnson: “Tiến hành đi”. John Martin cùng hội cùng thuyền. Anh ta tươi cười nói: “Tiến hành đi. Hãy nắm lấy cơ hội này.”
Horrigan rất háo hức tham chiến, ông ta một lần nữa nhắc nhở Johnson cảnh giác với hội đồng quản trị. Nếu chỉ vì Johnson giữ thái độ bất hòa cao độ với vị trí của Marty Davis ở Fig Newton, thì điều đó không có nghĩa là các đồng minh cũ của Paul Sticht sẽ trao công ty cho lão. “Những người như Bill Anderson luôn bám chặt vào các thể chế cũ,” ông ta cảnh báo. “Họ sẽ không thích LBO. Albert Butler sẽ là vị cận vệ già khi họ tiến hành thỏa thuận này. Macomber sẽ luôn kêu ca phàn nàn, cứ luôn đoán mò.”
Johnson nói rằng các nhân viên của Dillon Read, ngân hàng đầu tư lâu năm của Reynolds, và Lazard Freres, sẽ là những lựa chọn tuyệt vời cho hội đồng quản trị. Lão nghĩ sẽ tuyệt nếu cho Ira Harris tham gia một phần vào vụ này. Horrigan có thể không tin điều này. “Khi bắt tay làm thỏa thuận này với Shearson, ông đã dành cho Ira Harris sự lừa dối lớn nhất trong cuộc đời ông ấy.” Ông nói: “Lòng tự trọng của ông ta sẽ bị bầm dập. Ông ấy sẽ không còn là bạn ông nữa; ông ấy sẽ trở thành kẻ thù không đội trời chung với ông.” Trong con người Johnson có sự pha trộn kỳ lạ của sự ngây thơ và những mưu mô xảo quyệt, làm cho Horrigan cứ mãi cảm thấy kỳ lạ về lão.[5]
Sáng thứ Tư, Hugel và Atkins bay đến Atlanta trên một chiếc máy bay phản lực của Combustion Engineering. Sau khi check-in tại khách sạn Waverly, Hugel sang phòng bên cạnh để họp kín với Johnson, giống như họ vẫn làm trước hầu hết các cuộc họp hội đồng quản trị. Ông thấy lão có tâm trạng vui vẻ thường thấy, thậm chí còn có vẻ hoạt bát hơn bình thường. Rõ ràng Johnson đã thay đổi ý định; việc mua lại sẽ được thực hiện. Hugel muốn biết Johnson đã lên kế hoạch trình bày trước hội đồng quản trị như thế nào, và hai người bọn họ cùng duyệt qua bài phát biểu của Johnson.
Hugel nói Peter Atkins đã có kế hoạch tham dự cuộc họp hội đồng quản trị. Johnson tỏ vẻ ngạc nhiên. Ông nói một cách miễn cưỡng rằng có thể sẽ phải công khai vụ này nhưng không muốn ép. Sau đó, Hugel trở về phòng khách sạn của Atkins, chỉ đạo anh soạn một thông cáo báo chí sẽ được tuyên bố vào sáng hôm sau, nếu cần thiết.
-
“Ôi, Chúa ơi.”
Goldstone làu bàu khi nghe tin Hugel mang theo Atkins. Cho đến lúc đó, anh ta nuôi vẫn hy vọng rằng hội đồng quản trị sẽ không tiết lộ phần trình bày của Johnson vào buổi tối, để nhóm quản lý có cơ hội kết thúc các cuộc đàm phán trong bí mật. Bây giờ, anh ta đã biết chắc chắn sẽ phải có một thông cáo báo chí.
Khó nhất là ải của Atkins. Chỉ hai tháng trước đó, luật sư của Skadden Arps đã bị thẩm phán Delkn mắng nhiếc thậm tệ, vì anh ta đã tham gia vào vụ mua lại của Fort Howard, một công ty trong ngành giấy ở bang Wisconsin. Nhóm quản lý của công ty đã sử dụng chiến thuật ép buộc đúng như trong sách để hội đồng quản trị ký vào một thỏa thuận sáp nhập. Atkins, đại diện cho hội đồng quản trị, cho phép các đàm phán của nhóm mua lại được giữ bí mật cho đến phút cuối cùng, chỉ tiết lộ thông tin khi giá cổ phiếu của công ty bắt đầu tăng.
Atkins đã được tổng giám đốc điều hành của công ty chọn để tư vấn cho Fort Howard, người này sẽ đưa ra giá thầu. Điều này làm cho tòa án chú ý, và câu hỏi đặt ra là có đúng hành động của Atkins ủng hộ cho việc giữ bí mật. “Rõ ràng các luật sư có vai trò quan trọng hơn là phải bảo vệ lợi ích của cổ đông trong những trường hợp như thế này hơn là giữ vai trò luật sư tư vấn, để hướng dẫn các giám đốc thiếu kinh nghiệm tiến hành quá trình như vậy,” bên tòa án nói. “Một đầu óc khả nghi sẽ có thể luôn suy nghĩ về khả năng tại sao một vị giám đốc điều hành có liên quan về lợi ích lại rất tích cực trong việc lựa chọn cố vấn cho đối thủ của ông ta.” Thẩm phán nhấn mạnh việc Atkins chọn giữ bí mật là nguồn cơn cho những nghi ngờ về đầu óc khả nghi.”
Ý kiến đó gần như buộc tội Atkins không giữ thái độ trung lập với nhóm mua lại. Goldstone đoán anh ta vẫn còn nhức nhối vì bị quở trách. Jack Nusbaum đồng tình. “Rõ ràng, Atkins muốn mọi người quên đi vụ Fort Howard,” Nusbaum nhớ lại. “Chúng tôi tin rằng anh ấy sẽ trong sạch hơn vợ của Caesar.”
-
Sau khi Hugel rời đi, Johnson chào đón John Greeniaus, Tổng Giám đốc trẻ của Nabisco mới đến từ bang New Jersey. Mặc dù ít người biết điều này, nhưng có thể Greeniaus sẽ trở thành người kế nhiệm Johnson. Ba tháng trước, Johnson đã ngồi với anh, và vạch ra kế hoạch chi tiết cho tương lai. Greeniaus sẽ chuyển đến Atlanta từ New York vào đầu năm 1989, làm phó tổng giám đốc điều hành. Anh sẽ được bầu vào hội đồng quản trị tại cuộc họp thường niên vào mùa xuân. Sau đó, Greeniaus, chỉ mới 40 tuổi, sẽ trở thành giám đốc điều hành, khi Johnson nghỉ hưu năm 1990.
Greeniaus không làm được gì nhưng thăng tiến nhanh dưới thời Johnson. Mặc dù chưa bao giờ nằm trong số các nhân vật cấp cao thân cận, nhưng anh đã theo Johnson trong suốt sự nghiệp của mình. Từ một giám đốc tiếp thị rượu ở Standard Brands Canada, chỉ trong vòng 10 năm, anh đã trở thành giám đốc điều hành của Nabisco. Greeniaus nghiêm túc và hướng nội bao nhiêu thì Johnson thiếu cẩn trọng bấy nhiêu. Anh ta cũng không phải là người không có khiếu hài hước: Anh giữ một cái đe trong phòng làm việc của mình. Nhưng anh luôn mặc những bộ comlpe thể hiện rõ tính ôn hòa. Anh hoàn toàn không có khả năng kích thích những người bán hàng bằng những bài phát biểu khuấy động. Trong khi Johnson ra ngoài tiệc tùng vào ban đêm, Greeniaus sẽ chôn chân trong văn phòng giải quyết cho hết các công việc ùn ứ. Anh không chơi golf. Anh mang tấm nâng gót chân. Nhưng Greeniaus làm việc có kết quả và Johnson đã nhanh chóng cất nhắc anh. Các đối thủ đố kị thì thầm rằng Greeniaus được Johnson ưu ái vì anh là người Canada.
Khi anh bước vào phòng làm việc của Johnson lúc 4 giờ, Greeniaus không hề hay biết về cơn địa chấn sắp nhấn chìm RJR Nabisco. Anh không có chân trong nhóm mua lại vì lý do đơn giản là Nabisco, giống như Del Monte, sẽ bị bán để trang trải nợ hậu LBO. Greeniaus không hề hay biết điều đó, nhưng anh sắp trở thành kẻ thất nghiệp từ vị trí người kế nhiệm.
“Chào Johnny,” Johnson chào hỏi Greeniaus một cách hào hứng rồi nói “Tôi sẽ tiến hành LBO công ty của chúng ta.”
Greeniaus như lún sâu trong chiếc ghế vì sốc nặng. Anh cố gắng từ từ tiêu hóa cụm từ đó, rồi anh hiểu. Johnson đã làm việc với Shearson và một nhóm các giám đốc điều hành. Nhưng không phải mình, Greeniaus chợt nhận ra, không phải mình. Anh trân trân nhìn Johnson, trong khi lão, người từng là thầy anh, bô bô nói về những cơ hội tuyệt vời bày ra trước mắt mọi người trong một vụ LBO. Ông ấy sẽ vứt bỏ Nabisco. Mình thì bị ra rìa. Người của mình sẽ bị tổn thương.
Anh ngồi đó, im lặng, tê dại. Cuối cùng, anh cũng thử hỏi. “Tại sao không đưa người ở các bộ phận vào nhóm quản lý?”
Johnson giải thích bởi vì Nabisco sẽ bị bán. Greeniaus cố nói thêm là anh có thể giúp lão tìm đúng người mua. Johnson cứ nói mãi về cái gọi là một cơ hội tuyệt vời cho anh. “Sẽ là một bước ngoặt tuyệt vời trong cuộc đời anh, Johnny. Nếu anh thấy không thích tình hình mới này, thì nhiều người khác cũng đang muốn có anh. Anh còn trẻ, còn có rất nhiều cơ hội. Anh cứ lựa chọn đi.”
Johnson nói thẳng: Nếu vì bất kỳ lý do gì, nếu anh không thích chủ nhân mới của Nabisco, anh có thể từ chức, và nhận được ba năm tiền đền bù. Cộng với số cổ phiếu hạn chế nhượng quyền, Greeniaus có thể ra đi với 7 triệu đô-la trong túi.
“Này Johnny,” Johnson tuyên bố, “tôi sẽ khiến anh trở nên giàu có!”
Một giờ sau, Greeniaus đờ đẫn bước ra khỏi phòng của Johnson. Anh đi về khách sạn Waverly, tự hỏi liệu mình có đang mơ không. Rồi anh đi về phòng, ngồi xuống, lặng im trong vài phút. Anh nghĩ mình cần phải làm một điều gì đó. Phải làm thôi.
-
Greeniaus đi rồi, Johnson vẫn ngồi lại trong văn phòng một mình. Bên ngoài, nắng ấm chiều thu nhạt dần, bóng tối sắp bao trùm. Chỉ còn hơn hai tiếng nữa, lão sẽ có bài phát biểu quan trọng nhất trong đời. Lão ngồi ở bàn làm việc, chăm chú viết gì đó vào mảnh giấy ghi chú màu vàng từng câu nói. Giống như khi phát bóng vậy, lão nghĩ, phải rất tập trung, thực hiện các điều chỉnh cần thiết, và mọi thứ rồi sẽ ổn thôi.
[1] Tháng 9 năm 1989, Bilzerian bị kết án bốn năm tù vì những vi phạm luật chứng khoán. Shearson không bị cáo buộc bất kỳ tội danh nào. (TG)
[2] Cohen sau đó cô lập Peter Solomon ra khỏi vụ RJR Nabisco. Về sau, Cohen nói ông ta tự đưa ra quyết định sau khi nhận được yêu cầu từ Andy Sage. Quá tức giận, Solomon trốn đến trang trại bóng chày giả tưởng của người miền Bắc ở New York. Sage chối việc từng đưa ra một yêu cầu như vậy. (TG)
[3] Vài tháng sau, Hill biết về cuộc gọi của Waters, mặt ông ta biến sắc. “Ông đang đùa tôi à. Tôi không thể tin điều đó,” Hill nói. “Nếu biết Kravis đang cố gắng tiếp cận Ross, chúng tôi sẽ thay đổi hoàn toàn chiến lược. Điều đó rất quan trọng.” Trong số các chiến lược gia của Johnson, chỉ có một mình Peter Cohen khẳng định ông không bao giờ nghi ngờ Kravis sẽ tham gia đấu giá. (TG)
[4] Ngoài Johnson và Horrigan, nhóm còn có Sage, Henderson, Ed Robinson, John Martin và Phó Chủ tịch Jim Welch. (TG)
[5] Johnson không nhớ buổi nói chuyện này. (TG)