Bọn Rợ Rình Trước Cổng

Lượt đọc: 80 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 14

❊ ❊ ❊

Sáng thứ Hai, trong một phòng họp trên lầu ở công ty luật Skadden Arps, Peter Atkins đang hướng dẫn đường đi nước bước cho ủy ban đặc biệt. Cơ cấu đấu giá mà Atkins đã dựng lên vẫn hoạt động trơn tru. Ba nhóm đầu tư - Forstmann Little mãi đến hết hôm sau mới công bố bỏ cuộc - đang lặng lẽ tiến đến thời hạn chót vào thứ Sáu, và Atkins tin tưởng giá thầu họ đưa ra sẽ làm hài lòng cả hội đồng quản trị cũng như các cổ đông đang ngày càng sốt ruột. Thỏa thuận bảo mật thông tin đã có hiệu lực. Các cuộc thẩm định vẫn diễn ra suôn sẻ. Mọi thứ dường như vẫn trong tầm kiểm soát đúng theo ý của Atkins, cho đến khi một lá thư được mang vào phòng họp và đặt trước mặt anh.

Anh đọc lướt qua lá thư với vẻ dửng dưng. Rõ ràng, đề nghị này quá liều lĩnh, gần như chắc chắn là quá ít cơ hội và quá muộn. Nhưng hai từ “mơ hồ” và “phù du” bỗng nhiên nảy ra trong đầu anh.

Atkins vẫn hy vọng tránh được những điều thế này. Bức thư ngắn để tên của First Boston như một chiếc mỏ lết nhắm thẳng vào bánh răng của cỗ máy đang vận hành trơn tru của anh. Nếu may mắn hơn, Atkins nghĩ, anh đã có thể gạt nó sang một bên. Dĩ nhiên, anh không có cách nào biết được phải khó khăn thế nào nó mới đến được đây.

Đặt bức thư xuống, Atkins đối mặt với các giám đốc đang tụ họp trước mặt. “Còn một việc nữa chúng ta phải giải quyết ngay bây giờ,” anh tuyên bố.

-

Khi những cuộc “hôn phối cưỡng ép” diễn ra giữa các công ty lớn nhất nước Mỹ thúc đẩy sự phát triển của Phố Wall trong những năm 1980, có một công ty đã khởi xướng nhiều vụ tiếp quản lớn và có nhiều đổi mới về chiến thuật hơn so với các công ty khác. First Boston được thành lập vào năm 1934, và cho đến cuối những năm 1970, từ một công ty bảo lãnh hạng hai vốn trì trệ, nó đã vươn lên mạnh mẽ trở thành ngân hàng đầu tư hàng đầu, phần lớn là nhờ bộ não thiên tài cộng với sự liều lĩnh của Bruce Wasserstein và Joe Perella.

Xuất phát từ một văn phòng nằm ở vị trí kín đáo nhưng luôn ồn ào huyên náo, ở trụ sở công ty First Boston trong tòa nhà bao quanh toàn bằng kính trên đại lộ Park Avenue, Wasserstein bụng phệ, tóc tai rối bời, áo sơ mi thò ra khỏi quần, trông nhếch nhác, và Perella cao lớn, uyên bác đã trở thành những siêu sao đầu tiên trong thời đại tiếp quản. Hầu hết mọi trận chiến tiếp quản lớn của thập niên 1980 ở các công ty Getty, DuPont, Gulf, đều in đậm dấu chân của họ. Hai người đã giúp chuyển đổi một ngân hàng đầu tư với phong cách giao dịch của một quý ông trầm mặc trở thành một thế lực luôn hối hả vận động, có nguyên tắc nhưng cũng rất tàn bạo, phát triển rực rỡ trên Phố Wall.

Vào đúng Ngày Chuột chũi (Groundhog Day) năm 1988, trời lạnh thấu xương, sau nhiều tháng bí mật chuẩn bị, Wasserstein và Perella sải bước vào văn phòng giám đốc điều hành của First Boston, và đọc bản ghi chú do luật sư của họ chuẩn bị, tuyên bố từ chức. Khi hai người bước ra khỏi trụ sở công ty sáng hôm đó, cũng là lúc họ để lại bộ phận sáp nhập nổi tiếng nhất và lớn mạnh nhất của Phố Wall chìm trong tình trạng hỗn loạn. Hơn 20 nhà kiến tạo thỏa thuận giỏi nhất của First Boston, đội ngũ xuất sắc do chính Wasserstein tuyển chọn và đào tạo, đã sớm rủ nhau đồng loạt gia nhập công ty mà hai người bọn họ mới thành lập, lấy tên là Wasserstein Perella & Co. Rất nhiều khách hàng của First Boston cũng rứt áo ra đi.

Khi Henry Kravis đưa ra lời đề nghị đấu thầu chưa từng có với RJR Nabisco, Bruce Wasserstein đã vững vàng ở công ty mới. Đó cũng là lúc mọi ngân hàng đầu tư lớn ở Phố Wall và một loạt các công ty nhỏ khác đang vội vã tranh giành miếng mồi ngon RJR Nabisco. Mọi công ty đều đã tham gia, nhưng tất nhiên ngoại trừ First Boston. Không có Wasserstein, First Boston dù có vẻ đã trù liệu trước vẫn đang chìm sâu vào cảnh đìu hiu. Vua Arthur đã rời khỏi lâu đài Camelot, và Bàn Tròn cũng không còn nữa.[1]

Và chắc chắn đó là quãng thời gian tồi tệ để họ tham gia một cuộc chiến.

-

Khi Atkins đưa bản sao của bức thư gây tò mò cho các thành viên hội đồng quản trị, người đàn ông gây ra sự khó chịu đó đang ngồi trong văn phòng của mình cách đó năm tòa nhà, dáng vẻ đầy lo lắng, ở tuổi 38, James Maher đang ở tháng thứ tám của thời kỳ giày vò nhất trong sự nghiệp. Từng là người đồng điều hành các bộ phận sáp nhập và ngân hàng đầu tư của First Boston, giờ quyền điều hành rơi vào tay một mình Maher (phát âm là Mah-her) và anh đang phải vật lộn để vực nó lên sau khi Wasserstein bỏ đi.

Các đối thủ cạnh tranh nhỏ lấy làm ngạc nhiên về sự bổ nhiệm này và họ ví Maher như thuyền trưởng của tàu Titanic. Nhưng với Maher, đấu tranh để cứu First Boston còn quan trọng hơn được ngồi vào vị trí này. Ngoài việc là sếp trong hơn 10 năm qua, Wasserstein và Perella còn là bạn thân của anh. Cuộc chia tay của họ khiến anh tức giận và bối rối; sự cạnh tranh khốc liệt ngay lập tức nảy sinh giữa hai công ty chỉ làm tổn thương thêm vết thương lòng của Maher. Giờ đây, sự tồn vong với họ có nghĩa là phải giao tranh hằng ngày với những người từng là bạn tâm tình trong suốt 10 năm. Đánh bại cấp trên cũ đã trở thành khẩu hiệu giúp các nhà kiến tạo thỏa thuận vẫn trung thành ở lại cùng First Boston tập trung tinh thần.

Giờ đây, tám tháng sau khi họ từ chức, Maher đang cảm thấy tuyệt vọng. Thời gian tại nhiệm ngắn ngủi của anh được ghi dấu bằng những cực cao phấn khích và cực thấp lụi tàn — chủ yếu là cực thấp, và tất cả điều này dẫn đến một thực tế hiển hiện: First Boston là ngân hàng đầu tư lớn duy nhất không tham gia thỏa thuận RJR Nabisco. Điều đó còn tệ hơn sự nhục nhã. Chỉ biết đứng nhìn trong khi cuộc tiếp quản lớn nhất lịch sử đang diễn ra đầy kịch tính chính là một thông điệp khủng khiếp gửi đến mọi đối thủ và khách hàng của First Boston. Maher không hề bị ảo giác: Tương lai của bộ phận do anh phụ trách đang bị đe dọa.

Chỉ còn bốn ngày nữa là đến hạn chót nộp hồ sơ dự thầu, đề xuất của Maher được coi là không có cơ hội thành công. Vào thứ Sáu, ủy ban đặc biệt dự kiến sẽ nhận được đầy đủ các đề nghị được cấp vốn, việc này Kravis và Cohen đã thực hiện trong vài tuần, còn First Boston chưa liên hệ với bất cứ ngân hàng nào. Nhưng Maher biết nếu bằng cách nào đó họ có được một phần của thỏa thuận, bộ phận này sẽ có thể tránh được suy vong. Nếu anh thất bại, không còn nghi ngờ gì nữa, Maher sẽ là trò cười cho thiên hạ.

Maher là người vùng New England, nghiện thuốc lá, và nhiều ngưỡi vẫn nghĩ Maher là một lựa chọn kỳ quặc để lãnh đạo bộ phận sáp nhập có tới hơn 170 chuyên gia của First Boston. Anh không phải là một nhà lãnh đạo thiên bẩm cũng không phải là người được số đông bầu chọn. Phẩm chất cơ bản của anh là sự kiên định, và điều đó thật khác thường so với các đồng nghiệp khác. Một số người coi Maher là người có khả năng chịu được nghịch cảnh, mặc dù anh có khiếu hài hước nhẹ nhàng, tự ti, và hiếm khi nhưng vẫn có khuynh hướng nóng nảy đến mất hết lý trí. Những người bạn thân biết điều đó, và họ sẽ tránh đi khi thấy tĩnh mạch dưới quai hàm anh bắt đầu giật giật. Anh hoàn toàn không thích khoe khoang - điều này thật hiếm thấy ở phố Wall - và để kiểu tóc chải ngược ra phía sau với những vết cắt thẳng tay trông có vẻ không được phù hợp lắm.

Maher lớn lên là một đứa trẻ cao lớn và khỏe mạnh thuộc gia đình tầng lớp trung lưu ở trung tâm bang Massachusetts, cha anh là tổng giám đốc của một nhà máy sản xuất công cụ ở địa phương. Anh theo học trường Kinh doanh Columbia năm 1975, khi nhà máy sản xuất phụ tùng xe đạp nơi anh là giám đốc bán hàng bắt đầu suy sụp, xuất phát từ đợt thu hồi số lượng lớn bộ phận đỡ ghi đông xe đạp do bị nứt. Sau đó, anh gia nhập First Boston, đảm nhận một vị trí trong bộ phận sáp nhập mới thành lập, sau khi một đồng nghiệp nhiều tham vọng từ chối làm công việc này vì cho rằng nó không có cơ hội thăng tiến. Anh đến sau Wasserstein một tuần. Con người Wasserstein mang đậm chất văn hóa công ty First Boston, với nước hoa Gray flannel và dây kéo quần màu sẫm, tóc không chải, liên tục vận động, đã mê hoặc Maher. “Tôi không biết nhân vật này là ai, tôi nghĩ ông ấy đến từ một hành tinh khác,” Maher nhớ lại. “Bruce trông nhếch nhác hơn những người khác.”

Khi tiếng tăm của họ tăng lên, Wasserstein cũng thường xuyên nhờ đến Maher, xin lời khuyên về nhân sự, những thắc mắc về xung đột lợi ích, và ông bắt đầu gọi anh là “ngài thẩm phán”. Về phần mình, Maher là một trong số ít người ở First Boston có thể bỏ đi sau khi hét vào mặt Wasserstein. Các đồng nghiệp vẫn nhớ cảnh Maher dậm chân trong văn phòng của Wasserstein, hét lên với âm thanh to nhất có thể: “Đồ khốn.” Không ai có thể khiến Jim Maher nổi điên hơn Bruce Wasserstein.

Dù Maher có tính tình điềm đạm, nhưng Wasserstein chưa bao giờ coi anh là một nhà kiến tạo thỏa thuận giỏi. Theo Wasserstein, chiến thuật tiếp quản của Maher thiếu tính quyết đoán. Với mọi vụ tiếp quản lớn, thời gian là vô cùng quý giá, nhưng ông cảm thấy Maher quá cẩn thận. Anh xem xét chi tiết chiến lược trong nhiều giờ, thậm chí nhiều ngày, trước khi có hành động. Đôi khi Maher cũng thiếu quyết đoán, sau lưng anh, Wasserstein và những người khác gọi anh là “Hamlet”.

Có một điều không thể tránh khỏi là sự thành công của Wasserstein và Perella sẽ khiến họ đi đến chỗ xung đột với ban giám đốc của First Boston. First Boston do Peter Buchanan lãnh đạo. Buchanan là một cựu giao dịch viên luôn nghiêm túc và dứt khoát, ông lái một chiếc xe bán tải, và vẫn sống tại một ngôi nhà ở New Jersey trong 20 năm. Nhiều người cảm thấy Buchanan đã có một khoảng thời gian khó khăn để hiểu thế giới luôn vận động và thẳng tiến với những chiếc xe Porsches cùng những ngôi biệt thự ở Hamptons của Wasserstein và Perella. Đến mùa hè năm 1987, Wasserstein nắm trong tay một số bằng chứng khiến ông tin rằng ông và Perella là tài sản quan trọng nhất của First Boston. Khi Wasserstein cố gắng thuyết phục First Boston chuyển hướng kinh doanh từ giao dịch sang lĩnh vực ngân hàng đầu tư, ông đã kích hoạt một thùng thuốc nổ. Sau cơn phẫn nộ dẫu tiên với Buchanan và các nhà quản lý cấp cao khác, vào mùa thu năm 1987, Wasserstein và Perella đã suy nghĩ tới khả năng ra đi. Đã có dự đoán, các nhân sự hàng đầu cũng sẽ ra đi theo họ.

Perella hăng hái ủng hộ ý tưởng đó và Wasserstein đã ở thế chân trong chân ngoài, Maher trở thành người có ảnh hưởng với việc phản đối sự ra đi của họ. Cả mùa đông, anh lập luận rằng Wasserstein nợ anh và các nhân viên ngân hàng đầu tư mà ông đã tuyển dụng, vì thế ông nên ở lại. Trong thâm tâm, anh sợ Wasserstein chưa có đủ thời gian chuẩn bị để quản lý tốt một công ty mới. Maher cũng nghi ngờ rằng các thành viên khác của Nhóm, những người không cho rằng lợi ích lớn nhất của họ gắn chặt với First Boston như Tom Hill và Eric Gleacher, đã khuyến khích Wasserstein phá bĩnh. Maher biết việc First Boston suy yếu sẽ mang đến những cơ hội to lớn cho các đối thủ cạnh tranh.

Về phía Wasserstein, cọng rơm cuối cùng xuất hiện vào tháng Một năm 1988, khi Buchanan, sau khi công bố kết quả đánh giá chính sách trong dài hạn, tuyên bố sẽ không có sự thay đổi trong hướng đi của công ty. Chán ghét quyết định đó, Wasserstein và Perella quyết định ra đi. Đối với Maher, mọi việc đã kết thúc tại một nhà hàng Nhật Bản, khi Wasserstein và các cố vấn thân cận nhất của ông đã ngồi hàng giờ để tranh luận về những ưu và nhược điểm của việc thành lập công ty riêng. Chính Wasserstein đã vạch ra ranh giới. “Chúng ta phải quyết định thôi,” ông nói. “Ai tham gia?”

Từng người một, Perella, một nhà kiến tạo thỏa thuận có ria mép tên là Bill Lambert, và nhân vật ưu tú số năm, Chuck Ward, đồng ý trở thành cộng sự với Wasserstein trong công ty mới.

Maher không chút ngập ngừng: “Tôi không tham gia.” Anh hy vọng sự phản đối của mình sẽ làm giảm bớt sự nhiệt tình của Wasserstein với ý tưởng này. Nhưng sự việc không như anh nghĩ.

Họ thảo luận thêm một lúc, sau đó Wasserstein nói: “Được rồi, chúng ta đi đâu đó uống một chầu rồi bàn về chuyện này.” Không ai nói gì, nhưng rõ ràng Maher không được mời.

“Vâng,” Maher nói, “có gì hãy thông báo cho tôi.”

“Ồ, anh không liên quan,” Wasserstein đáp lại. Những lời đó như tát vào mặt anh. Cứ như thể ông ấy đã quên 11 năm giao hữu giữa họ. Đó chính xác là điều mà Maher đã cho là sẽ đến từ phía Wasserstein, một lời giải thích đau đớn cho việc tại sao anh không theo hai ngôi sao hàng đầu đó sang một công ty nhỏ. Maher sẽ còn nghiền ngẫm câu nói thô bạo đó trong nhiều tháng tới. Sau này, anh đặt tên cho nó là “Một động thái điển hình của Bruce”.

Chuck Ward đã cố tranh luận lần cuối để thuyết phục Maher. “Anh phải đi với chúng tôi,” ông ta lập luận, nhưng một nửa là đùa giỡn. “Anh là người duy nhất ở đây có thể kiềm chế được Bruce.”

Khi Wasserstein và Perella trình đơn từ chức vào buổi sáng tháng Hai đó, Maher ngồi trong văn phòng ở tầng 43 dọn dẹp bàn làm việc. Nếu Maher không muốn bắt đầu nối lại tình bạn, anh cũng không có hứng thú với việc khôi phục những gì họ bỏ lại phía sau. Nỗ lực để First Boston tham gia thị trường sáp nhập là của Wasserstein và Perella. Không có gì trước khi họ đến. Và khi họ rời đi, Maher lo cũng sẽ không còn gì nữa. Maher không biết mình sẽ làm gì. Nhưng anh không thể cứ tiếp tục quanh quẩn trong văn phòng như thế này.

Khi Maher đang cân nhắc một lá thư từ chức thì Pete Buchanan gọi. Người đứng đầu First Boston đi thẳng vào vấn đề: Ông muốn Maher thay thế vị trí của Wasserstein lãnh đạo mảng ngân hàng đầu tư của công ty, bao gồm cả bộ phận sáp nhập. Buchanan đã hành động kịp thời, vô cùng chính xác, lôi kéo lòng trung thành của Maher, và khơi gợi trong anh cảm giác tội lỗi ngay khi anh có ý định bỏ lại phía sau những đồng nghiệp chưa biết đi đâu về đâu. Maher đã dành vài giờ để suy nghĩ về đề nghị đó. Xung quanh anh, sự hỗn loạn ngự trị khi tin tức về sự ra đi của Wasserstein và Perella lan rộng; anh phải hành động thật nhanh để tránh những thiệt hại về lâu dài. Anh gọi cho vợ. Sau đó, hít một hơi thật sâu, anh chấp nhận lời đề nghị của Buchanan.

Diễn biến tình hình còn tệ hơn những gì Maher lo sợ. Ngay lập tức, hơn 10 nhà kiến tạo thỏa thuận hàng đầu của First Boston đã theo chân nhau đến công ty mới. Trong nhiều tuần, dường như ngày nào cũng có một người bạn khác của Maher bước vào văn phòng của anh, tay cầm lá đơn xin thôi việc. Việc này như một cuộc tấn công toàn diện vào bộ phận mà họ đã xây dựng hơn 10 năm qua. Maher chống trả bằng các biện pháp nâng cao tinh thần thường áp dụng cho các nhân viên văn phòng: tiệc bia và bánh quy vào chiều thứ Sáu, thỉnh thoảng có các buổi nói chuyện làm cho mọi người phấn chấn, phát áo phông (có in dòng chữ “Nói không với Wasserstein Perella & Co.”)- Trong nhiều tuần, anh làm việc 18 giờ một ngày, khẩn khoản yêu cầu các nhân viên ngân hàng kỳ cựu và các ngôi sao trẻ không rời bỏ con tàu này.

Thậm chí, khi Maher vẫn còn đang chiến đấu trên mặt trận nhân sự, Wasserstein đã tổ chức vây hãm danh sách khách hàng béo bở của First Boston. Nhiều người chuyển sang thuê công ty mới, bao gồm cả Time Inc, một tập đoàn truyền thông đại chúng toàn cầu, và nhà đầu tư Ronald Perelman. Gleacher và Hill gửi lời chia buồn ngay cả khi các trợ lý bên họ gọi điện cho những nhân viên ngân hàng của Maher với lời mời làm việc, và săn đón những khách hàng lớn nhất của anh với dự đoán về sự suy giảm sắp xảy ra với First Boston.

Tình trạng hỗn loạn ở First Boston là không thể tránh khỏi, và điều này sẽ gây thiệt hại cho hoạt động của công ty trong mùa sáp nhập bận rộn. Nhưng thật kỳ lạ, ban đầu mọi việc diễn ra theo hướng có lợi cho Maher. Anh đã chịu tổn thương đủ rồi, các đối thủ cạnh tranh lý luận, nếu làm điều gì đó khiến anh tuyệt vọng, rất có khả năng họ sẽ phải lao vào một cuộc đối đầu với một khách hàng của First Boston. Tom Hill biết điều đó. Giám đốc bộ phận sáp nhập của Shearson, đại diện cho Black & Decker trong một đề nghị đấu thầu thù địch với American Standard vào mùa xuân năm đó, đã rất ngạc nhiên khi Maher đứng đầu sứ mệnh giải cứu vào phút chót. Một khách hàng của First Boston, Kelso & Co., đã trả giá cao hơn Black & Decker và đồng ý mua American Standard. Đến nước này, khách hàng của Hill phải quyết định nên đánh hay rút lui. “Biết được những vấn đề của Jimmy, nên tôi biết rõ họ sẽ tiếp tục chiến đấu,” Hill nói. “Thỏa thuận này có ý nghĩa rất lớn với First Boston.” Sau khi hiểu được quyết tâm của Maher, Hill đã khuyên khách hàng của mình từ bỏ. Đối với đội quân đang bị sốc mạnh của Maher, đó là dấu hiệu hữu hình đầu tiên cho thấy có thể vẫn còn sự sống sau khi Wasserstein ra đi.

Các trận chiến sau đó của First Boston không được thuận lợi như vậy. Văn phòng của Maher ở Chicago phải từ bỏ việc bảo vệ một công ty ngũ cốc lớn ở Illinois, Staley Continental, họ chỉ biết đứng nhìn công ty đó nhanh chóng bị đánh bại trong một cuộc đấu thầu thù địch do một công ty của Anh phát động. Tiếp theo là một cuộc khủng hoảng: Vào tháng Sáu, toàn bộ nhóm LBO của Maher đã ra đi để thành lập công ty riêng.

Điều tồi tệ nhất xảy ra vào mùa xuân năm đó, khi First Boston bảo vệ một trong những khách hàng lâu đời nhất của mình, Koppers. Maher đối mặt lời đề nghị đấu thầu của Beazer, theo sự dàn dựng của Tom Hill, với tinh thần hăng hái bảo vệ. Brian Finn, chuyên gia tái cấu trúc 27 tuổi của công ty, thiết lập một kế hoạch phòng thủ phức tạp liên quan đến hệ thống bán hàng cho ba công ty riêng biệt của Koppers. Nhưng hội đồng quản trị của Koppers đã từ chối kế hoạch vì thấy nó chẳng có gì đáng tin cậy và chịu thua về tay phe kia.

Hằng đêm, Maher lê bước về căn hộ ở đại lộ Riverside trong tình trạng kiệt sức. Rất ít khi vợ và bốn đứa con thấy dấu hiệu căng thẳng của anh. Nếu chỉ nhìn bề ngoài, họ sẽ không biết những căng thẳng diễn ra trong anh. Cho dù có chuyện gì xảy ra, trông anh vẫn rất bình tĩnh. Ở bộ phận của mình, anh vẫn là bề cha xưng tội được mọi người tìm đến nhiều nhất, được yêu mến nhất, và vẫn là “bến tàu nơi mọi con thuyền đều muốn neo đậu” như một người bạn đã nói.

Bị các đối thủ cạnh tranh mới âm thầm tấn công bằng những phát ngôn, tình hình càng tồi tệ hơn. Khi nhận xét về chuỗi thất bại trong hoạt động tiếp quản của First Boston, một trợ lý giấu tên của Wasserstein đã nói với tờ Wall Street Journal vào mùa hè năm đó: “Khi chúng tôi còn ở đó, bạn sẽ không bao giờ thấy những điều như thế… nhưng dường như không ai ở First Boston quan tâm chừng nào các khoản phí cứ tiếp tục tăng lên.” Maher rất tức giận. Những người bạn thân nhất lại buộc tội anh chỉ quan tâm đến tiền. Một phụ tá cấp cao của Maher tên là Kim Fennebresque đã phản pháo: “Mặc dù Wasserstein Perella & Co. là một công ty bề thế, nhưng công ty đó chỉ có một sản phẩm.” Anh nói với tập san Investment Dealers Digest ngụ ý rằng 30 nhân viên ngân hàng của họ đã làm việc chỉ để tạo ấn tượng rằng Bruce thực sự vẫn có ảnh hưởng đến các thỏa thuận của tất cả khách hàng. (Fennebresque biết thuật ngữ “công ty bề thế” sẽ khiến nhóm của Wasserstein đau khổ. “Trong hoạt động ngân hàng đầu tư,” anh giải thích, “điều đó có nghĩa là họ chẳng có nhiều việc để làm.”) Nhận xét đó đã khiến các đồng nghiệp ở First Boston dành lời khen ngợi cho Fennebresque, khi anh đã thực hiện một cú chạm bóng vào phút cuối.

Ngay sau khi phản ứng và lời nhận xét của Fennebresque truyền đi, Maher nhận được một cuộc gọi giận dữ từ Chuck Ward, trợ lý của Wasserstein. “Anh có kiểm soát được người của mình không vậy?” Ward gặng hỏi.

Và mọi việc cứ thế tiếp diễn. Một bản ghi nhớ mạo danh Ward của Wasserstein Perella gửi cho các nhân viên ngân hàng đầu tư cấp cao của First Boston. Bên cạnh lời lẽ châm chọc, ý định rõ ràng của nó là thuyết phục các nhân viên ngân hàng đầu tư ở First Boston không đào tẩu sang công ty mới. “Có rất nhiều kẻ có tầm ảnh hưởng đã ra đi và những kẻ dụ dỗ thấy như vậy vẫn chưa đủ,” bản ghi nhớ nói thêm rằng các ứng viên nên mang theo nước súc miệng, miếng đệm đầu gối và kem Vaseline. “Nếu các vị cần một lời giải thích,” nó tiếp tục, “tức là các vị vẫn chưa hiểu được cách thức ứng phó với mọi vấn đề ở đây.”

Đến mùa thu, trong khi First Boston vẫn có thể tiếp tục giữ vững thứ hạng cao trong số những cố vấn sáp nhập Phố Wall, thì nhuệ khí của họ lại đang xuống thấp. Đối với những kẻ theo thuyết định mệnh, First Boston vẫn là đám người cay đắng bị Wasserstein vứt bỏ, một nhóm hạng hai được tiên đoán sẽ sớm rớt hạng ở Phố Wall. Bảy tháng sau khi người sáng lập ra đi, nguồn khách hàng đều đặn của bộ phận cùng các thỏa thuận đang tiến hành đã cạn kiệt, cạnh tranh để giành được công việc mới có nghĩa là phải chiến đấu hằng ngày với đội quân mới nổi của Wasserstein Perella.

Fennebresque, nhân viên ngân hàng 37 tuổi chịu trách nhiệm thu hút các khách hàng mới, trở thành một trong những người bạn tâm tình thân thiết nhất của Maher. Anh là một luật sư có tài ăn nói, hay châm chọc người khác, trái ngược với sự nghiêm khắc của Maher. Đến mùa thu, Fennebresque cảm thấy bộ phận này đã trở thành một con tàu không có bánh lái. “Đã đến lúc chúng tôi phải làm điều gì đó thật ấn tượng,” Fennebresque nhớ lại. “Thuyền trưởng của chúng tôi chưa từng phải đối phó với sóng to gió lớn. Đã có những lo ngại rằng liệu chúng tôi đã đủ năng lực cần thiết hay chưa.”

Sau đó, vào ngày 17 tháng Mười, cú đánh mạnh nhất vào nỗ lực tham gia thị trường sáp nhập của First Boston kể từ khi Wasserstein thông báo sẽ ra đi xuất hiện. Lời đề nghị trị giá 11 tỷ đô-la của Philip Morris cho Kraft là đề nghị có giá trị lớn nhất trong lịch sử, và điều đó không chỉ khiến giới doanh nghiệp giật mình. Khi chọn Wasserstein Perella làm cố vấn duy nhất cho mình, Philip Morris cũng đã giáng một cú mạnh vào quai hàm của các nhân viên ngân hàng cũ của mình ở First Boston.

Chiều hôm đó, vào khoảng 6 giờ kém vài phút, khi Jim Maher đang ở trong phòng phỏng vấn một ứng viên đến xin việc, thì nhìn thấy dòng tiêu đề chạy trên màn hình máy tính để trên bàn cạnh bàn làm việc của anh “PHILIP MORRIS ĐƯA RA ĐỀ NGHỊ ĐẤU THẦU ĐỂ MUA…” Dòng tiêu đề của Bản tin Down Jones tạm dừng.

“Ôi không,” Maher tự nói với mình. “Ồ không… không…” Sau một khoảnh khắc gần như tê liệt hoàn toàn, đôi mắt anh dán chặt vào màn hình, Maher cầu nguyện tiêu đề chỉ thông báo một vụ mua lại nhỏ.

Sau đó tiêu đề hiện ra đầy đủ: “PHILIP MORRIS ĐƯA RA ĐỀ NGHỊ ĐẤU THẦU ĐỂ MUA KRAFT.”

“Ôi, chết tiệt.”

Nỗi đau mà Maher cảm thấy còn lớn hơn nhiều nỗi đau khi biết First Boston đã bị loại khỏi thỏa thuận không thân thiện lớn nhất lịch sử. Nó còn đau đớn hơn việc bị Wasserstein vượt lên không biết bao nhiêu lần. Đối với Maher, việc First Boston bị Philip Morris từ chối là một sự xúc phạm nghiêm trọng đến cá nhân anh: Người khổng lồ trong ngành thuốc lá là khách hàng của anh. Maher đã đích thân giám sát việc mua lại General Food năm 1985 của Philip Morris. Đến khi anh hiểu ra Wasserstein đã cướp đi một trong những khách hàng lớn nhất của mình, Maher chỉ biết tự trách bản thân mình. Anh đã làm việc rất chăm chỉ để duy trì bộ phận này mà bỏ bê các trách nhiệm khác của mình. Đó là một cú đánh mạnh vào toàn bộ phận này, một lời nhắc nhở rằng First Boston không còn có thể tin tưởng vào những khách hàng tốt nhất của mình nữa.

Maher gọi cho Ehud Houminer, một giám đốc điều hành hàng đầu của Philip Morris, người mà anh quen thân. Anh cố gắng hết sức để giữ bình tĩnh. “Ehud, anh biết đấy, tôi thực sự rất thất vọng về điều này.” Houminer cố gắng làm dịu những ồn ào, nhưng không có bất cứ hứa hẹn gì về côhg việc trong tương lai. Cũng trong tuần đó, khi anh gọi cho các giám đốc điều hành của Philip Morris, sự việc vẫn diễn ra tương tự.

-

Khi tin tức về đề xuất trị giá 75 đô-la/cổ phiếu của Ross Johnson chạy từ từ trên màn hình máy tính, Fennebresque nghĩ rằng đó là lỗi đánh máy. Trong đầu anh chợt nghĩ đến thiên tài máy tính trẻ tuổi trong bộ phim War Games (Trò chơi chiến tranh). Một hacker điên cuồng đã xâm nhập Quotron của tôi. Điều này không thể có thật.

Ngay lập tức Maher triệu tập một cuộc họp để vạch ra kế hoạch tấn công. Giống như mọi ngân hàng đầu tư khác ở Phố Wall, mục đích của First Boston là có được một phần của thỏa thuận này, nó có thể là trở thành đại diện cho ủy ban đặc biệt, hoặc đại diện cho người mua cho một dòng sản phẩm chính. Dù là công việc gì, tóm lại, họ sẽ có một khoản phí.

Trong vài ngày sau đó, có hàng trăm cuộc gọi đến đăng ký trở thành người mua tiềm năng của RJR Nabisco. Lúc đầu, Maher không hề lo đến việc First Boston bị loại khỏi thỏa thuận ngày càng kịch tính này. Phải có một sự chia sẻ. RJR lớn đến mức sẽ có hàng chục công ty thuê các ngân hàng đầu tư để phân tích chiến lược mua lại. Xắn tay áo và hút một điếu Marlboro, Maher vớ lấy điện thoại.

Anh kiểm tra xem liệu First Boston có thể đại diện cho hội đồng quản trị của RJR hay không, nhưng họ đã thuê Lazard và Dillon. Anh gọi hỏi Tom Hill xem Shearson có cần thêm vốn cho việc mua lại không? Hill nói không. Maher gọi cho Ted Forstmann và Geoff Boisi. Chẳng một ai tỏ ra mặn mà với anh. Từng cánh cửa đóng sầm trước mặt Maher.

Một ngày sau thông báo của Johnson, một số cao thủ trong nghề của Maher đã bắt đầu càu nhàu. Cuối chiều thứ Sáu, Gary Swenson bước vào văn phòng của Fennebresque. Swenson là một cựu binh đã ở First Boston 20 năm, trong ông có sự tỉnh táo của người miền Trung Tây khiến Fennebresque, một người ở Long Island, thấy ông rất lôi cuốn.

“Anh biết đấy, chúng ta đã không kịp lên tàu trong thỏa thuận này,” Swenson nói.

“Ông có ý gì?” Fennebresque hỏi.

“Mọi người trên phố Wall đều đã lên ngựa, trừ chúng ta. Chúng ta là người duy nhất không tham gia. Tôi nói để anh biết, chúng ta đã bị bỏ lại phía sau. Tôi biết chúng ta cần phải làm gì. Hãy tập hợp một nhóm lại và tự làm đi. Mua lại toàn bộ. Chúng ta phải làm vụ này. Nó thực sự có thể giúp ta xoay chuyển tình thế.”

Đầu tiên, Fennebresque bác bỏ ý tưởng này. Thỏa thuận này quá lớn, quá điên rồ. Nhưng khi nghe Swenson nói, Fennebresque thấy mình cũng bị ảnh hưởng từ sự nhiệt tình của ông. Anh liền gọi cho một số nhân viên ngân hàng, bao gồm cả David Batten, một giám đốc điều hành kỳ cựu của First Boston, người vừa kết thúc tuần đầu tiên ở vị trí mới trong bộ phận sáp nhập.

Batten có cùng mối quan ngại với Swenson. Vừa đến nhận nhiệm vụ bốn ngày trước đó từ văn phòng công ty ở London, ông nhớ lại đã nhận ra “sự thiếu thốn có thể sờ tận tay của bầu không khí nơi đây”. Batten nói với các đồng nghiệp: “Nơi này thực sự cần một liều thuốc cực mạnh để có thể tái sinh.” Chết tiệt, chúng ta vẫn đang đứng cao hơn những người khác. Và chúng ta vẫn có thể hoàn thành nhiều việc như mọi công ty khác.

Cả nhóm cùng nhau vắt óc suy nghĩ trong văn phòng của Fennebresque. Họ lập luận: First Boston có thể gọi cho chi nhánh của công ty ở Thụy sĩ là Credit Suisse, và hai công ty liên doanh ở London. Cả ba công ty này có thể tạo điều kiện để họ tìm kiếm nguồn tiền trên toàn cầu và tập hợp thành một nhóm đấu thầu. Họ sẽ vì công ty này mà cố gắng.

Fennebresque thấy phấn khích. Anh gọi điện cho Maher, rồi Maher đi xuống văn phòng của anh. Fennebresque trình bày kế hoạch của họ, và hỏi Maher xem kế hoạch có thể thực hiện được không?

Maher suy nghĩ về ý tưởng một lúc. Anh nói: “Tôi sẽ không phản đối điều này.”

Fennebresque đã có câu trả lời, theo kiểu rất điển hình của Maher, khiến anh như muốn phát điên. Tôi sẽ không phản đối điều này? Kiểu phản ứng gì vậy? Đây là một ý tưởng hay mà! Đó chính xác là tính cách của ông bạn Maher khiến anh thấy bực mình. Đã bao lần Fennebresque nài nỉ Maher quan sát màn hình máy tính, và ngay sau đó anh có một bài phát biểu rất kích động? Nhưng Maher chẳng thể hiện chút nhiệt tình nào.

Fennebresque tập hợp một nhóm, và bắt đầu gọi điện cho những người mua LBO xem có ai quan tâm đến việc thành lập một liên minh đấu thầu mua RJR Nabisco không.

-

Maher đang rất cần những tin tức tốt lành, và cuối cùng, anh đã có chúng vài tuần sau đó. Trước sự ngạc nhiên của anh, quyết tâm theo đuổi Philip Morris đã được đền đáp. Công ty này, dù vẫn đang tập trung cho trận chiến Kraft, đã thuê First Boston để phân tích giá thầu tiềm năng cho RJR Nabisco. Maher biết khả năng Philip Morris mua được RJR là rất thấp. Nhưng Maher nghĩ họ có thể bỏ vụ thầu với Kraft nếu đạt được thỏa thuận với Ross Johnson. Nếu vậy, First Boston có thể sử dụng Philip Morris làm trung tâm của liên minh mua lại RJR Nasbico.[2]

Đối với các cố vấn thân cận nhất của Maher, đề nghị của Philip Morris đặc biệt hấp dẫn. Nó mang đến viễn cảnh làm thất bại cuộc đảo chính của Wasserstein trong vụ đấu thầu Kraft, trong khi giành được một phần trong trận chiến RJR Nabisco. “Thật tuyệt vời!” Fennebresque phấn khích nói. “Ta sẽ loại được Bruce trong vụ Kraft. Ta sẽ loại được Bruce trong vụ RJR. Ta sẽ bảo tồn được mối quan hệ với Philip Morris. Và chúng ta sẽ có cơ hội tham gia thỏa thuận RJR. Tuyệt vời!”

Tuy nhiên, nhóm của Fennebresque đã không gặp may trong việc thành lập liên minh xoay quanh Philip Morris như Maher đã hình dung. Fennebresque đã nhiều lần gặp gỡ với các trợ lý của nhà đầu tư tỷ phú John Kluge, nhưng các cuộc đàm phán chẳng đi đến đâu: Tiết lộ về thỏa thuận quản lý của Johnson đã phủ bóng đen của lòng tham lên thỏa thuận khiến Kluge chùn bước.

Vài ngày sau, Maher biết rằng Philip Morris sắp ký một thỏa thuận thân thiện với Kraft, do đó sẽ không thể theo đuổi vụ RJR Nabisco nữa. Tin tức giáng xuống Maher như một cú đánh chí mạng. Nỗi sợ lớn nhất của anh giờ đây dường như không thể tránh khỏi: First Boston trở thành công ty lớn duy nhất trên Phố Wall không tham gia thỏa thuận thế kỷ.

Trong nhiều ngày, nhóm RJR của First Boston rơi vào tuyệt vọng. Greg Malcolm, trưởng nhóm trái phiếu rác, như hiểu được tâm trạng này nên đã đùa giỡn. “Chúng ta chỉ là một con chó đuổi theo xe buýt,” anh nói với đồng nghiệp. “Kết quả rất rõ ràng: First Boston không đủ năng lực tham gia trận chiến RJR.”

Khi tâm trí của các nhân viên ngân hàng nhàn rỗi, những nghi ngờ về hướng đi của First Boston lại trở về. Lo lắng về viễn cảnh tàn khốc, Fennebresque đã bay đến Minnesota để tìm một ứng cử viên mua lại nhỏ. Chúng ta có thể trở lại như cũ không? Anh cứ mãi băn khoăn với câu hỏi đó. Bruce khiến tất cả chúng ta cảm thấy bản thân rất đặc biệt. Bạn không thể cưỡng lại việc đắm mình trong ánh hào quang tỏa ra từ ông ấy. Có khi nào chúng ta sẽ lấy lại được cảm giác rằng mình là những người đặc biệt không?

Không giống như Fennebresque luôn bộc lộ mình, rất ít người nhìn thấu những con quỷ ẩn nấp trong con người Maher. Với người ngoài, anh vẫn bình thản, vững vàng như mọi khi. Nhưng bên trong, Maher thật sự sợ hãi. Anh đã thử mọi cách có thể để có được một phần thỏa thuận RJR Nabisco, và chẳng có kết quả gì. Anh biết những gì mọi người đang thì thầm sau lưng anh. First Boston bất lực rồi. Họ sẽ không bao giờ trở lại như xưa nếu không có Wasserstein. “Vị trí đặc quyền của chúng tôi đang đứng trước thách thức,” Maher nhớ lại. “Được tham gia vụ này rất quan trọng với chúng tôi.”

Không phải Maher hoàn toàn không còn lựa chọn nào. Có một ý tưởng đặc biệt hấp dẫn anh. Cuối buổi chiều thứ Sáu, Brian Finn xông vào phòng làm việc của anh với một kế hoạch khác. Trong tâm trạng phấn khích, Finn đã ra lệnh cho thư ký của Maher dừng tất cả các cuộc gọi.

“Chết tiệt, nếu anh nhấc điện thoại, tôi sẽ đá vào mông anh,” Finn mỉm cười nói với sếp của mình. “Bây giờ, hãy im lặng và chú ý nghe tôi nói.”

Maher nuôi trong lòng tình cảm đặc biệt với Finn, một trong những ngôi sao trẻ sáng giá của First Boston. Finn là phiên bản của một tin tặc máy tính ở Phố Wall, một bộ siêu xử lý các con số lộn xộn. Anh đã dành hàng giờ một mình để suy nghĩ về các chiến thuật tiếp quản. Là người hâm mộ cuồng nhiệt đội bóng chày New York Mets, anh hình thành tình yêu với những con số như đứa trẻ tính toán hệ số đánh bóng trung bình. Là chuyên gia của First Boston về tái cấu trúc chống mua lại, Finn khảo sát các khía cạnh bên ngoài của những chiến lược sáp nhập đã được chấp nhận, kết hợp và định hình lại bảng cân đối kế toán của công ty để gắn kết thành thế phòng thủ sáng tạo trước các cuộc tiếp quản thù địch. Khuôn mặt trẻ con, mái tóc nâu bồng bềnh và bộ đồ nhàu nhĩ, chưa kể đến đầu óc tính toán nhanh như chớp khiến người ta nhớ đến một Bruce Wasserstein thời trai trẻ. Trên thực tế, Wasserstei rất yêu quý Finn, và anh trở thành đối tượng của cuộc chiến căng thẳng giữa người thầy đang chuẩn bị ra đi và Maher. Maher đã thắng sau cuộc nói chuyện dài suốt đêm, đêm đó anh và Finn đã uống cạn một chai rượu gin. “Cuối cùng, tôi không thể đối xử thô bạo với Jimmy khi anh ấy đã ở vào thế đường cùng,” Finn nói.

Finn khiến Maher chú ý đến bản ghi nhớ hai trang chưa đọc nằm trên bàn. Finn đã gửi nó vào sáng hôm đó, sau khi một ý tưởng nảy ra đầu, trong chuyến đi kéo dài một giờ đến ngôi nhà mới của anh ở Long Island. Maher thấy chiến lược đưa ra trong bản ghi nhớ rất phức tạp, chưa hoàn thiện và đặc biệt là không thể thành công.

Nó hóa ra là một thủ thuật lách luật thuế không mấy ai biết sẽ hết hạn vào ngày 31 tháng Mười hai, tức là chỉ còn hai tháng nữa. Bước đầu tiên trong kế hoạch của Finn là công khai việc First Boston mua lại các công ty thực phẩm của RJR cho một gói chứng khoán được biết đến là có các ghi chú trả góp. Ít nhất về mặt lý thuyết, First Boston có thể mang những tờ ghi chú đó đến một ngân hàng lớn và nhận tiền về, một quá trình được gọi là “chuyển đổi thành tiền.” Sự hấp dẫn của ý tưởng này là sử dụng kẽ hở của luật, khoản thuế đánh vào các khoản ghi chú đó có thể trì hoãn trong 10 hoặc 20 năm, tạo ra một khoản tiết kiệm thuế lên tới 4 tỷ đô-la. Ở bước thứ hai của kế hoạch, First Boston sẽ bán đấu giá Nabisco, chuyển 80% số tiền lãi cho các cổ đông của RJR và giữ phần còn lại. Hội đồng quản trị RJR có thể tiết kiệm hàng tỷ đô-la và truyền lại món quà bất ngờ này cho các cổ đông trên cơ sở miễn thuế. First Boston sau đó sẽ mua lại các công ty thuốc lá còn lại của RJR trong khoản mua lại có đòn bẩy thông thường trị giá 15 tỷ đô-la.

Lỗ hổng ghi chú trả góp được các luật sư thuế ở Phố Wall phát hiện nhằm phản ứng với những hạn chế của luật thuế vào năm 1986 và 1987, và lần đầu tiên được sử dụng trong việc bán một số công ty sau khi Campeau Corporation tiếp quản chuỗi Federated Department Stores năm 1988. Khoản tiền thuế tiết kiệm được lớn đến mức Quốc hội phải ra quyết định loại bỏ nó vào tháng Chín năm 1987. Nhưng các nhà lập pháp đã quyết định động thái này sẽ có hiệu lực vào cuối năm, điều này mang đến cho First Boston và những người mua công ty khác một cơ hội trong khoảng thời gian ngắn. Finn đề nghị thực hiện vụ tiếp quản lớn nhất trong lịch sử thông qua cơ hội ngắn hạn này.

Maher cảm thấy hoài nghi. Anh tự hỏi phải chăng ý tưởng này có hơi quá điên rồ, quá kỳ quặc khi áp dụng cho một thỏa thuận đang được rất nhiều người để mắt tới. Ghi chú trả góp chưa bao giờ được thử nghiệm trên quy mô như vậy. Maher biết hàng trăm câu hỏi sẽ phải được trả lời trước khi kế hoạch sơ sài này có thể được coi là một sự lựa chọn khả thi.

“Có rất nhiều điều cần giải quyết,” Finn thừa nhận.

“Vậy thì,” Maher nói, “giải quyết đi.”

Cuộc tìm kiếm đối tác đấu thầu của First Boston đã bị trì hoãn sau khi các cuộc đàm phán với nhóm Kluge đổ bể. Sau đó, vào ngày 9 tháng Mười một, sau một tuần trì trệ, Leon Kalvaria bước vào văn phòng bao quanh bằng kính của Dave Batten. Kalvaria là người gốc Rhodesia, nghiện thuốc lá nhai, anh đã hỗ trợ First Boston tìm kiếm đối tác nhưng không thành công. “Chết tiệt,” Kalvaria cằn nhằn, “ta không thể từ bỏ.” Anh và Batten lôi ra danh sách các đối tác tiềm năng, và đánh giá họ một lần nữa. Liệu có ai mà họ đã quên chưa gọi không? Hai nhân viên ngân hàng kiểm tra kỹ danh sách cho đến khi họ nhìn thấy một cái tên mà Batten đã không nhận ra: Resource Holdings.

“Anh biết gì về họ không?” Kalvaria hỏi.

“Họ là ai?”

“Là Jay Pritzker.”

Batten chẳng thấy vui chút nào. Pritzker, nhà đầu tư đáng kính ở Chicago, người sở hữu chuỗi khách sạn Hyatt, có tiếng là không sẵn lòng trả giá cao hơn cho việc thu mua. First Boston thậm chí còn không liên lạc với người của ông ta. Nhưng thời gian đã hết. Hồ sơ dự thầu sẽ hết hạn trong chín ngày nữa. “Tại sao không?” Batten nói. “Gọi đi.”

Ngày hôm đó, Kalvaria đến gặp Jerry Seslowe, Giám đốc Điều hành của Resource Holdings. Seslowe, 42 tuổi, là một cựu kế toán có dáng dấp béo tròn, lùn với cặp lông mày giống diễn viên hài kịch Groucho Marx, chẳng có tiếng tăm gì trên Phố Wall. Sau 11 năm làm việc tại công ty kế toán thuộc nhóm tám công ty lớn nhất có tên Pwick, Marwick, Mitchell & Co., nơi anh được làm việc với Pritzker và các nhà đầu tư lớn khác. Seslowe bắt đầu thành lập một công ty đầu tư nhỏ. Resource Holdings dành phần lớn thời gian để xem xét các lựa chọn đầu tư cho Pritzker và tỷ phú ở quận Denver là Philip Anschutz, thời gian còn lại dành cho một số lượng ổn định các nhà đầu tư khác: ông vua trung tâm mua sắm của thành phố Indianapolis, Melvin Simon, nhà đầu tư ở thành phố Cincinnati, Carl Lindner, và một số người khác nữa. Ở Phố Wall, Seslowe được coi là thành viên nhỏ với danh sách khách hàng như vậy, tuy nhiên, điều đó cũng thỉnh thoảng cho phép anh rất thành công trong công việc.

Seslowe kiên nhẫn lắng nghe khi Kalvaria phát biểu. Anh thấy thích chàng trai trẻ người gốc Rhodesia này, và anh biết First Boston rất muốn bằng cách nào đó được tham gia thỏa thuận này. Nhưng với Seslowe, ý tưởng của Kalvaria có vẻ là một sự liều lĩnh đến tuyệt vọng.

“Anh điên rồi,” anh nói với Kalvaria. “Với chúng tôi, tham gia vào thời điểm quá muộn như thế này thật sự là không thể. Leon, về đi.”

Kalaria vẫn kiên trì, nhưng Seslowe sẽ không nghe anh nói thêm nữa. “Hãy quên nó đi, Leon. Về đi.”

Chỉ sau đó, Kalvaria mới nhớ đến chiến lược bất thường của Brian Finn, họ gọi nó là: “Chiến lược Thuế của Fin”. Ngày hôm sau, anh thử gọi cho Seslowe một lần nữa.

“Jerry, chúng tôi có một lợi thế. Chúng tôi có một cấu trúc thuế có thể mang lại cho các cổ đông 8-10 đô-la tiền mặt bổ sung mà KKR hoặc Shearson không thể thực hiện được. Chúng tôi có thể đến và trình bày kế hoạch không?” Seslowe mủi lòng: “Đến đi.”

Sáng hôm sau, Fennebresque và Kalvaria dành một giờ để xem xét ý tưởng của họ cùng Seslowe. Các nhân viên ngân hàng ở First Boston gợi ý rằng họ có những khách hàng lớn khác, ví dụ như Pepsi, cũng có thể tham gia. Seslowe ấn tượng với kế hoạch đó, và nói ông sẽ nghiên cứu thêm. “Giá mà các anh gọi cho chúng tôi từ hai tuần trước,” ông nói.

-

Jay Pritzker chăm chú lắng nghe khi giọng nói của Seslowe vang lên từ New York.

Pritzker, 66 tuổi, đứng đầu một gia đình được công nhận là những nhà đầu tư nhạy bén nhất nước Mỹ. Ông có dáng người nhỏ bé, gầy gò, và vẫn tràn đầy sức sống sau ba lần bốn lượt phẫu thuật bắc cầu động mạch vành. Ông là cháu trai của một dược sĩ sinh ra ở Nga, từ Kiev di cư đến Chicago năm 1881. Pritzker đã mất bốn thập kỷ để xây dựng đế chế kinh doanh nổi tiếng với sự đa dạng trong khả năng tạo ra lợi nhuận. Đế chế đó tập trung vào hai công ty: chuỗi khách sạn Hyatt và tập đoàn Marmon, một tổ hợp kinh tế đầy bí hiểm có chân rết ở hơn 60 công ty với đủ mọi ngành nghề từ bê tông trộn sẵn đến hoạt động bán vé. Không mấy khi xuất hiện và xấu hổ khi trở thành chủ đề của công luận, Pritzkers chỉ có một lần gây chú ý hiếm hoi trong những năm 1980 với nỗ lực táo bạo để hồi sinh Braniff Airlines đang trên bờ vực phá sản, cuối cùng nỗ lực đó đã gây thất vọng.

Thứ Sáu tuần đó, Jay Pritzker lắng nghe một cách hoài nghi khi Jerry Seslowe mô tả chi tiết chiến lược thuế bất thường của First Boston. “Này, Jerry, đã quá muộn rồi,” Pritzker nói. Hồ sơ dự thầu chính thức sẽ hết hạn chỉ trong bảy ngày nữa. Nhưng Seslowe vẫn kiên trì. Khi hai người thảo luận về các đối thủ cạnh tranh tiềm năng của họ, Shearson và Kravis, Seslowe phát hiện ra sự quan tâm của Pritzker đã thay đổi. Pritzker từ lâu đã rất ngưỡng mộ Henry Kravis, và bị ấn tượng bởi sự quan tâm mãnh liệt của anh ta đối với RJR.[3]

“Nếu Henry cũng tham gia,” Jay Pritzker nói, “có lẽ phải có điều gì đó…”

-

Các tỷ phú có một cách để kết bạn.

Một trong những người bạn và là cố vấn thân thiết nhất của Jay Pritzker là Melvyn N. Klein, một nhà đầu tư tốt bụng ở thành phố Corpus Christi, bang Texas. Khi còn làm việc ở Phố Wall vào đầu những năm 1970, ông từng làm bạn với Henry Kravis. Đầu năm 1988, Klein cùng Harry Gray, cựu Chủ tịch của United Technologies, thành lập một quỹ đầu tư. Đối tác thứ ba của quỹ là một bên có quan hệ đối tác do Jay Pritzker đứng đầu. Mùa xuân năm đó, Gray Klein có trong tay 500 triệu đô-la vốn mới được huy động đã cố gắng đầu tư vào một số vụ mua lại rất được chú ý khi đó, trong đó có trận chiến tiếp quản chuỗi Federated Department Stores.

Đến tháng Hai, một đối tác hạn chế của Gray Klein tên là Daniel Lufkin đã đề nghị Pritzker và Gray Klein nghiên cứu kế hoạch LBO cho RJR Nabisco; kế hoạch có tên là Dự án Smokescreen. Klein và Pritzker đã dành nhiều tháng để phân tích đề xuất này. Cả hai người đều không biết Ross Johnson, vì vậy Klein đã đề nghị họ sẽ thăm dò Kravis về một phương án liên minh. Klein đem ý tưởng đó bàn với Kravis trong bữa sáng vào ngày 4 tháng Năm . “Không được đâu, ông ấy sẽ không làm việc này đâu” Kravis nói, rồi kể chi tiết về cuộc gặp trước đó của anh với Johnson. “Không được đâu.” Dự án Project Smokescreen kết thúc ở đó.

Sang tháng Mười, sau khi Johnson lần đầu tiên công bố đề nghị mua lại, Klein đã gọi lại cho Kravis và bày tỏ sự quan tâm đến việc mua một phần nhỏ cổ phần trong bất kỳ vụ mua lại nào của Kravis với công ty này. Kravis nói anh sẽ suy nghĩ về điều đó.

Chiều thứ Sáu, Pritzker gọi điện cho Klein khi đó đang ở Texas. “Mel, chúng ta có giao ước gì với Henry Kravis trong vụ RJR không?” Klein nói theo ông biết thì không, nhưng ông sẽ kiểm tra lại. Chiều hôm đó, khi Pritzker cân nhắc có nên gia nhập lực lượng với First Boston hay không, Klein đã liên lạc với Kravis. “Tôi chỉ muốn báo trước cho anh,” ông nói. “Có vẻ như Jay Pritzker sẽ hợp tác với First Boston để trở thành bên thứ ba đấu giá mua lại RJR Nabisco.”

“Cảm ơn, Mel,” Kravis nói. “Rất cảm ơn ông.”

-

Hy vọng đang giảm nhanh với First Boston khi Maher triệu tập một cuộc họp vào buổi chiều thứ Sáu. Cơ hội duy nhất của anh để tránh được nỗi nhục nhã bị cho ra rìa khỏi thỏa thuận của RJR Nabisco là đề xuất tái cơ cấu đáng kinh ngạc của Finn. Anh gọi Finn và một số ít người khác để bàn xem họ sẽ phải làm gì. Bên ngoài mặt trời đang lặn. Theo phép ẩn dụ thì dường như mọi thứ đều không thuận lợi.

Trong cuộc họp, Finn trình bày một bộ kế hoạch chi tiết hơn. Như anh dự đoán, việc sử dụng lỗ hổng ghi chú trả góp để mua lại RJR sẽ tiết kiệm tới 4 tỷ đô-la tiền thuế trả chậm đến sau năm 2000. Finn tính toán nếu mọi việc thành công chính xác đúng như kế hoạch, First Boston có thể kiếm được gần 300 triệu đô-la tiền phí, gấp bốn lần mức phí tư vấn sáp nhập lớn nhất từng có. Nhưng Finn biết mức phí đó không phải là điều Maher quan tâm nhất. “Lợi ích kèm theo,” anh ghi chú trong bản ghi nhớ, “bao gồm tác động mạnh mẽ đến thị phần sáp nhập M&A,” và “các lợi ích không thể đong đếm được về quan hệ công chúng, đặc quyền”. Nói tóm lại, nếu thành công với kế hoạch này, họ sẽ không bao giờ phải nghe về Bruce Wasserstein nữa.

Finn thừa nhận có một số vấn đề đặc biệt cần giải quyết. Một trong số đó là việc hoãn khoản thuế 3,5 tỷ đô-la, một kịch bản cần phải thận trọng vì chưa từng có tiền lệ. Theo tính toán của Finn, chỉ một giao dịch này thôi cũng sẽ làm thâm hụt ngân sách liên bang hằng năm tăng 2%. Nếu First Boston đưa ra đề xuất này, hội đồng quản trị của RJR Nabisco gần như chắc chắn sẽ phải tính đến tác động về mặt chính trị. “Nói rõ ra là,” Finn nói, “Washington sẽ rất tức giận.”

Nhưng nhân viên ngân hàng trẻ tuổi táo tợn cho rằng có khả năng Quốc hội sẽ không can thiệp. Các nhà lập pháp đã đặc biệt nới rộng việc sử dụng ghi chú trả góp đến cuối năm. Và Quốc hội sẽ có thời gian tạm dừng họp trong phần lớn thời gian của cuộc đấu giá sắp diễn ra. Có cơ hội nào cho phiên họp đặc biệt để xử lý một vụ LBO không? “Họ không thể làm bất cứ điều gì.” Finn tuyên bố.

Vẫn còn một câu hỏi bỏ ngỏ là liệu First Boston có cần các đối tác để thực hiện ý tưởng của Finn hay không. Một số người cho rằng họ nên làm một mình. Anh vẫn không chắc chắn lắm. Maher nhận thức sâu sắc rằng nhóm của mình có thể cần một đối tác có uy tín, như vậy sẽ làm tăng thêm tính hợp pháp.

Mong ước của Maher sắp trở thành sự thật. Khi bóng tối buông xuống bên ngoài cửa sổ, Leon Kalvaria bước ra để nhận một cuộc gọi. Jerry Seslowe gọi. Cựu kế toán viên của Jay Pritzker có vẻ phấn khích. “Leon, chúng tôi đã nói chuyện với Jay. Chúng tôi đồng ý. Tiến hành đi.”

-

Finn ngồi trong một phòng họp cáu bẩn nhìn ra Rockefeller Centre và cảm thấy giận dữ. Tại sao những gã này lại bắt chúng ta phải khổ như vậy? Họ nên vui khi chúng ta ở đây chứ.

Đó là sáng thứ Ba, chỉ ba ngày trước hạn chót đấu thầu vào thứ Sáu, Finn và ba đồng nghiệp của First Boston đến văn phòng của Lazard để trình bày chi tiết đề xuất của họ. Finn luôn ngạc nhiên về các phòng làm việc của của Lazard, chúng dường như rất sập sệ. Sàn nhà có lẽ không được trải thảm từ năm 1932, anh tự nhủ vậy.

First Boston đã đưa ra đề xuất của mình dưới dạng kế hoạch tái cấu trúc hơn là thu mua. Maher đặt cược rằng hội đồng quản trị có thể, theo bản năng, muốn giữ cho RJR Nabisco độc lập, và tái cấu trúc, dù là một phương án rất quyết liệt nhưng vẫn có thể dễ chấp nhận hơn so với các đề nghị mua lại từ Kravis hoặc Cohen. First Boston và Pritzker đề nghị hợp tác với hội đồng quản trị để bán các công ty thực phẩm, chuyển số tiền lãi thu được cho các cổ đông và giữ nguyên mảng kinh doanh thuốc lá.

Khi cuộc họp diễn ra, Finn quan sát hai nhân viên ngân hàng phía bàn đối diện. Finn biết Luis Rinaldini của Lazard là người sắc sảo, giỏi ăn nói, cũng giống như anh là một ngôi sao đang lên. John Mullin của Dillon Read gây ấn tượng với Finn như dư âm của Phố Wall từ những năm 1970, một nhân viên ngân hàng lạnh nhạt, bảo thủ, khác hẳn với cung cách làm việc những năm 1980 của anh, luôn có xu hướng vận động rất nhanh.

“Chúng tôi không hề thấy hội đồng quản trị bên đó tham gia vào kiểu thỏa thuận phức tạp này,” Rinaldini nói. “Rủi ro sẽ không chỉ đến từ Washington.” Nhân viên ngân hàng Lazard lắc đầu. “Quá rủi ro. Đó không phải là phong cách của họ. Tất nhiên, dù sao chăng nữa, chúng tôi cũng không muốn làm các vị nản lòng.”

Tầm bậy, Finn nghĩ. Anh nhận ra chuyện gì đang xảy ra. Những kẻ này cảm thấy bị xúc phạm. Họ nghĩ rằng chúng ta đang gây rắc rối cho quá trình của họ. Họ nghĩ rằng chúng ta đang nhạo báng những gì họ đang làm. Finn nghi ngờ liệu anh có biết vấn đề thực sự là gì không. Chúng tôi đang làm công việc của họ cho họ. Chính họ nên nghĩ về điều này. Họ nghĩ rằng chúng tôi đang cố gắng đánh cắp công việc của họ.

Chẳng hề chào đón sự quan tâm của First Boston, ủy ban đặc biệt dường như đang làm họ mất hứng. Finn rời khỏi cuộc họp với nỗi lo tình hình sẽ khó khăn hơn nhiều so với những gì anh dự tính.

-

Maher đọc thư của Peter Atkins mà thấy phẫn nộ.

Hội đồng quản trị sẽ không cho phép First Boston có cơ hội thẩm định. Sẽ không có hướng dẫn nếu muốn tham gia đấu thầu, First Boston sẽ phải phỏng đoán. Hướng dẫn họ nhận được chỉ có một một bản báo cáo hằng năm, và một ngăn xếp dữ liệu định dạng 10-Ks.

Điều này có vẻ không công bằng. “Tôi không biết chúng tôi sẽ làm gì,” Maher thất vọng nói với Atkins vào thứ Tư, hai ngày trước hạn chót đấu thầu. “Tôi hy vọng chúng tôi sẽ cung cấp cho bên anh điều gì đó đáng để cân nhắc vào thứ Sáu, và nó có thể khiến cho cuộc sống của anh dễ dàng hoặc khó khăn hơn.”

Atkins vẫn trả lời vô thưởng vô phạt: “Cứ làm những gì các vị muốn.”

-

Tin tức về đề xuất kỳ lạ của First Boston xuất hiện trên mặt báo vào sáng thứ Năm. Một vài chi tiết được nêu ra, nhưng hầu như không ai coi trọng nó. Bruce Wasserstein nói với bất cứ ai lắng nghe ông ta về điểm nực cười trong cách tiếp cận của First Boston. Vào thứ Sáu, một cố vấn giấu tên của hội đồng quản trị đã chỉ trích đề nghị đó trên tờ Wall Street Journal, và gọi nó là “Chuột Mickey”.

Ở Shearson, Tom Hill không tỏ thái độ gì khác ngoài sự khinh miệt đối với lời đề nghị của First Boston. Ông nghĩ: “Maher đã tuyệt vọng đến mức sẽ làm bất cứ điều gì.” Ông tin rằng kế hoạch ghi chú trả góp là một mánh lới quảng cáo, và nó sẽ không bao giờ làm nên chuyện trong một thỏa thuận tầm cỡ thế này. Hill coi Seslowe là một kẻ tầm thường, thực sự nghiệp dư. Tất cả mọi người đều đã tham gia thỏa thuận này, ngoại trừ Abbott và Costello, bộ đôi danh hài nổi tiếng. Hill nói vui: “Họ chết là cái chắc.”

Hill và Chuỗi Xúc xích của Salomon thấy có sự tư vấn của Ira Harris đằng sau sự quan tâm bất ngờ này của Jay Pritzker với RJR Nabisco. Harris hiện đang là cố vấn cho hội đồng quản trị, rất thân với Pritzker, đến mức Hill gọi họ là “anh em kết nghĩa”. Việc Pritzker tham gia vào cuộc chiến này không phải ngẫu nhiên. Hill quả quyết: ủy ban đặc biệt cần một ứng cử viên làm bình phong để thay thế Forstmann Little, nên Harris đã tìm đến Pritzker. Ở số 9 khu Tây, John Martin bắt đầu chửi rủa: Làm sao “Ira mập” lại quyết tâm phá hỏng thỏa thuận này? Trên thực tế, Harris đã nói chuyện với Pritzker hôm thứ Hai, và đã thuyết phục ủy ban đặc biệt thành công, khi thúc giục họ lắng nghe những gì First Boston và Pritzker nói. Nhưng ngay cả khi có sự ủng hộ của ông ta, Atkins cũng không thể bị thuyết phục để đồng ý cung cấp cho nhóm mới bất kỳ thông tin nào.

-

Chỉ còn lại hai ngày.

Khi hạn chót gần đến, nỗi phiền muộn của Johnson lại tăng lên một chút. Lão bắt đầu lo lắng tác động của những công kích dữ dội gây nhức nhối dư luận có thể có tác động tương tự đến hội đồng quản trị. Vào thứ Tư, lão gọi cho Hugel. “Charlie,” lão nói, “nếu anh phải lựa chọn, tôi muốn anh hứa với tôi: Nếu chúng tôi có hồ sơ thầu tốt nhất, anh không nên giấu diếm gì, và hãy cố gắng thương lượng với chúng tôi bất cứ lúc nào.”

“Tôi đã hứa với anh rồi mà.”

“Anh sẽ mở hồ sơ thầu đúng không? Tôi không muốn có chuyện nực cười nào xảy ra.”

“Tôi sẽ ở đó mà,” Hugel nói. “Tôi sẽ đích thân mở hồ sơ thầu.”

Nếu anh lo về dư luận, Hugel nói tiếp, tại sao anh không gọi cho các giám đốc và tự giải thích? Ngày hôm sau, Johnson bắt đầu gọi cho các giám đốc. Lão vẫn luôn nói chuyện với giọng điệu đó.

“Lương tâm của tôi trong sạch,” lão nói với từng giám đốc. “Ban đêm, tôi vẫn có thể ngủ, vì tôi không nghĩ mình đã làm gì sai… Cho dù có điều gì đã xảy ra, nhóm quản lý vẫn sẽ nhận được một khối lượng lớn cổ phiếu, và đó là điều quan trọng.” Với mỗi người, lão đều giảm nhẹ mức độ của thỏa thuận quản lý, nhấn mạnh ý định chia số tiền đó cho nhiều người của lão.

Trước thời hạn chót, Johnson dành nhiều thời gian buổi tối ở căn hộ của Jim và Linda Robinson để phân tích kỹ các chiến lược giá cả. Trong hầu hết các tối đó, Horrigan, có một căn hộ của công ty ở tầng dưới, đều tham gia cùng họ, và Linda loay hoay phục vụ đồ uống. Johnson thích uống rượu scotch, Jim Robinson thích một ly rượu vang. Horrigan lại đòi đồ uống chưng cất, thứ mà Linda gọi là đồ uống cho người lớn. Linda tự nhấm nháp nước khoáng có ga hương hoa quả.

Là một con cú đêm, Johnson thường giữ Robinson thức đến 2 hoặc 3 giờ sáng. Khi đã muộn, Linda sẽ nằm trên ghế phòng khách, nhấm nháp bỏng ngô hoặc vuốt ve một trong ba con chó của cô. Mỗi con được đặt theo tên của một nhân vật trong truyện Amos và Andy: con chó cảnh giống Spaniel Anh tên là Algonquin J. Calhoun, hai con khác tên là Ruby Begonia và Lacy.

Khi chồng cô và Johnson biến mất vào một căn phòng phía sau, Linda biết họ đang nói về thỏa thuận quản lý. Trái ngược hoàn toàn với sự ra đời nảy lửa của nó, thỏa thuận đã được đàm phán lại một cách nhẹ nhàng, chủ yếu vào lúc đêm muộn, khi chỉ có hai người: Robinson và Johnson. Jim Robinson không cần phải quá cố gắng để có được những sửa đổi mà ông mong muốn; sự công khai về lòng tham lam đã làm điều đó giúp ông.

Thứ Tư ngày 16 tháng Mười một, khi thỏa thuận sửa đổi được thông qua trong một cuộc họp tại văn phòng của Peter Cohen, Johnson đã đồng ý cắt giảm hai điểm với số cổ phần của nhóm mình, xuống còn 6,5%, và giảm mạnh các khoản thưởng khích lệ. Có một điều khoản chi tiết trong thỏa thuận mới ghi rõ sẽ chia số cổ phần đó cho 15.000 công nhân của RJR Nabisco. Sau đó, các thành viên của nhóm quản lý có thể tự bảo vệ mình trước dư luận về lòng tham của họ bằng cách chỉ ra thực tế đó, cho thấy Johnson đã đồng ý cắt giảm phần tiền thưởng của mình.

Trên thực tế, lão chẳng cắt giảm gì cả. “Lúc đó, Ross thực sự chỉ cho đi tiền của người khác,” Steve Goldstone nói. Johnson cùng Horrigan đã có kế hoạch mỗi người lấy cho mình khoảng một điểm, tức là 1 % vốn cổ phần. Goldstone định giá một điểm đó tương đương với số tiền từ 75-100 triệu đô-la trong vòng năm đến bảy năm. Và theo Goldstone, Johnson vẫn có kế hoạch lấy một điểm theo thỏa thuận đã sửa đổi.

Goldstone và Gar Bason luôn rầy la cũng như trêu chọc Johnson về các cuộc đàm phán với Robinson. “Mỗi khi ông đi chơi với Jim Robinson,” một lần, Goldstone nói với lão, “khi trở về, tôi lại thấy tiền của ông vơi đi 50 triệu đô-la.” Khi Johnson nói với các luật sư về dự định sẽ dành ngày cuối tuần, ngày 19 tháng Mười một, đến trang trại ở Connecticut của Robinson, Goldstone rên rỉ: “Đừng đi, lần này, ông sẽ quay về mà chẳng còn gì đấy.”

-

Sự phấn chấn của nhóm Kravis trước những tiết lộ của John Greeniaus chẳng kéo dài được bao lâu. Tối thứ Tư, Scott Stuart đã nhận được câu trả lời cho nhiều câu hỏi đến lúc đó mới có lời giải trong một cuộc gọi đến từ Dillon Read. Những gì nghe được làm anh giật mình. Mò mẫm tính toán, Stuart đã ước tính quá cao số tiền mặt có sẵn của RJR Nabisco, cao hơn khoảng 450 triệu đô-la. Các khoản thanh toán “dù vàng” lớn hơn 300 triệu đô-la so với dự đoán của anh. Và nỗi sợ hãi lớn nhất của anh ấy về tài khoản mang tên “Sử dụng tiền mặt khác” đã trở thành sự thật: Dòng tiền ra lớn hơn 550 triệu đô-la so với dự đoán. Stuart không cần đến máy tính để đánh giá mức độ thiệt hại trị giá 1,3 tỷ đô-la cần phải loại bỏ khỏi các dự báo của họ, tương đương khoảng 6 đô-la/cổ phiếu.

“Chuyện gì vậy?” Paul Raether kinh ngạc hỏi khi Stuart đưa thông tin này cho ông. Không ai biết. Stuart vô cùng xấu hổ.

Mất hết nhuệ khí từ những chỉ trích của báo chí, Kravis lại bị một phen chấn động khi biết về những sửa đổi của Stuart vào sáng thứ Năm. Vấn đề không chỉ là tác động của chúng đối với các dự báo. Kravis có thể chấp nhận được điều đó. Đòn nặng hơn là mức độ tin cậy của chúng. Kravis tự hỏi nếu chúng khác xa những con số thực tế, thì những dự báo còn lại đáng tin đến mức nào? Còn những gì mà họ không biết? Tất cả các phân tích của họ cho đến nay, sau gần một tháng làm việc, đột nhiên bị hoài nghi nghiêm trọng.

Họ bắt đầu nhận thức đầy đủ vấn đề vào hôm thứ Năm, khi chỉ còn chưa đầy 36 giờ trước khi đến hạn chót đấu thầu. Còn quá ít thời gian để sợ hãi.

-

“Chúa ơi,” George Roberts nói. “Chúng ta thực sự biết được bao nhiêu về công ty này vậy?”

Cả nhóm buồn bã tập trung theo yêu cầu của Kravis vào sáng thứ Sáu. Mọi người đều có chung một suy nghĩ. Cuộc đấu thầu này chắc chắn là cuộc đấu thầu lớn nhất trong lịch sử, và họ thực sự đã biết gì về RJR Nabisco? Họ không được đến thăm các nhà máy, cũng chỉ được nói chuyện với một số rất ít các giám đốc điều hành. Tất cả những gì họ có là một đống báo cáo hằng năm, các hồ sơ lưu trữ của chính phủ, và hàng đống dữ liệu vô hồn chạy trên máy tính, giờ họ chẳng còn tin vào chúng nữa.

Sự nghi ngờ làm dấy lên những lo ngại khác. Tình hình có còn an toàn không với một thỏa thuận tầm cỡ thế này? Các ngân hàng vẫn lo lắng về khoản vay cho LBO có thông qua không? Những người mua trái phiếu rác với tâm lý lo lắng bồn chồn có muốn mua trái phiếu rác của KKR không? Roberts bàn tới các vấn đề về lối sống. Họ vốn là những người có cuộc sống yên tĩnh, ngăn nắp. Mua RJR Nabisco đồng nghĩa với việc họ phải chấp nhận làn sóng dư luận, các phiên điều trần ở Washington, và một cam kết chưa từng có tiền lệ về việc điều hành công ty. “Công ty đã hoạt động một thời gian dài,” Roberts nói. “Chúng ta có thực sự cần phải chịu đựng những khó chịu này không?”

“Chúng ta có thực sự muốn làm điều này không?” Paul Raether nói thêm vào.

Khi nói đến vấn đề này, họ vẫn tuân theo một khuôn mẫu quen thuộc. Cuộc thảo luận bắt đầu với hầu hết các nhân vật cấp thấp như Scott Stuart hoặc Cliff Robbins, và xoay quanh phòng cho đến khi dừng lại ở chỗ của Roberts. Khi tranh luận của họ đi hết một vòng, nhóm càng trở nên chán chường hơn. Ngay từ đầu, Kravis và Raether đã tăng giá mạnh nhất. Cả hai đều cảm thấy yên tâm với giá thầu trong khoảng từ 97-98 đô-la. Roberts có xu hướng ép giá xuống. Anh không yên tâm với các mức giá cao quá 93 đô-la. Tại sao chúng ta không trả 91 hoặc 92 đô-la? Tại sao lại mạo hiểm như vậy?

Khoảng 2 giờ 30 phút, Dick Beattie mới tham gia thảo luận. Ông nói với giọng rầu rĩ: Cuộc chơi đã đến hồi kết. Nếu không nhanh chóng đưa ra câu trả lời, ta sẽ bị loại khỏi cuộc đấu thầu. Tôi sẽ phải gọi tới đó, và nhận được lời chào đón hay ngược lại.”

“Được rồi,” mọi người nói. “Hãy cho chúng tôi thêm 10 phút.”

-

Lựa chọn luật sư để chuẩn bị hồ sơ dự thầu, vốn là công việc bình thường nhất, nay lại trở thành một vấn đề đối với First Boston. Các công ty lớn có vẻ đang vô cùng bận rộn với RJR Nabisco. Vì vậy, khi rất nhiều công ty luật từ chối họ đến mức các trợ lý của Maher đã nói đùa rằng họ nên gọi cho Jacoby & Meyers, công ty này đang giảm giá toàn quốc. Cuối cùng, Maher đã chọn một công ty ít tiếng tăm có tên Winthrop Stimson Putnam & Roberts. Nhiệm vụ đầu tiên của họ là soạn thảo thư chào giá chính thức để gửi đi vào chiều thứ Sáu. Cuộc tìm kiếm mất quá nhiều thời gian nên mãi đến tối thứ Năm, Finn mới tóm tắt được các điểm chính cho luật sư của họ.

Đội Winthrop đến First Boston với một bức thư nháp vào lúc 8 giờ sáng ngày thứ Sáu. Các luật sư hồi hộp chờ đợi trong khi Maher và các phó tướng của anh nghiên cứu nó. Chỉ sau vài phút, phán quyết của họ hoàn toàn giống nhau: Bức thư là một thảm họa.

“Chết tiệt!” Fennebresque thầm nguyền rủa. “Viết thế này tuyệt đối không được!” Finn đồng tình. “Rất khó hiểu,” anh lắc đầu nói.

Không hài lòng, Maher mời các luật sư và một đội của First Boston lên phòng họp trên lầu để viết lại bức thư rất ngắn gọn đó. Đó là một nhiệm vụ khó khăn, nhưng Maher không quá lo lắng. Họ có cả một ngày.

Trên lầu, cảnh tượng trông tiêu điều đến mức hỗn loạn. Nửa tá luật sư của Winthrop cố gắng viết lại bức thư. Đội của First Boston cũng cố gắng tự mình viết. Bản nháp được viết ra rồi lại xé đi, hết bản này đến bản khác. Một nhóm luật sư khác được điều đến. Người bên First Boston lượn như đèn cù. Đến trưa, Jerry Seslowe và các đối tác đến khiến tình thế lộn xộn càng thêm rối rắm. Bữa trưa được mang đến. Bao nhiêu bản nháp được viết ra thì bằng đó số bản bị loại bỏ. Các cuộc thảo luận nóng nảy nổ ra khi xuất hiện những mệnh để tối nghĩa. Thư ký của Finn, tốc ký với nét chữ nguệch ngoạc mọi thay đổi và gợi ý, là người duy nhất giữ được bĩnh tĩnh. Buổi trưa trôi qua, các luật sư và nhân viên ngân hàng vẫn đang tranh cãi. Quan điểm nêu ra rồi lại bị lãng quên ngay lập tức; cuộc tranh luận đã đi đến mức xoay vòng lần lượt từng người nói, và chẳng ai kịp hiểu ai. Một chiếc máy bay giấy bay lên xé toạc màn khói thuốc.

Seslowe chưa bao giờ chứng kiến cảnh tượng này, hay bất cứ điều gì tương tự. Người bên First Boston dường như không thể nhất trí về những điều đơn giản nhất. Họ sẽ đấu thầu toàn bộ công ty hay chỉ các công ty thực phẩm? Đây là LBO hay tái cấu trúc? Seslowe lui về một góc, anh cứ lắc đầu, và vô cùng hoang mang. Anh nghĩ đến Tom Pritzker và Hank Handelsman, luật sư cấp cao của Pritzker trong thỏa thuận này. Hank Handelsman hiện đang ở Chicago. “Tôi rất vui khi Hank và Tom không ở đây để chứng kiến cảnh tượng này,” Seslowe nhắc đi nhắc lại như đang niệm thần chú. Chẳng có ai cầm trịch. “Thật là thảm họa,” anh lẩm bẩm.

Có chút nghi ngại trong suy nghĩ của Seslowe rằng nếu Jay Pritzker bước vào phòng, sẽ rút lui khỏi thỏa thuận. “Họ sẽ đi thẳng,” Seslowe cam đoan với một trong những cộng sự của mình. Tuy nhiên, trong các cuộc trò chuyện điện thoại với Pritzker cả ngày hôm đó, Seslowe đã trấn an nhà đầu tư ở Chicago rằng mọi việc đều ổn. Seslowe nhận thức sâu sắc rằng chính anh đã kéo Pritzker vào thỏa thuận này; anh sẽ không lùi bước cho đến khi bắt buộc phải làm thế.

Sắp hết một ngày, Seslowe cảm thấy lo lắng không biết First Boston có muốn thực hiện vụ tiếp quản trị giá 20 tỷ đô-la này không. Anh nói với một đối tác mà mình tin tưởng: “Sẽ tốt hơn nếu có Wasserstein và Perella ở đây. Những người này chỉ còn là cái bóng của họ trước đây.”

Còn hai giờ trước hạn chót lúc 5 giờ chiều, một bản sao của bức thư sửa đổi được gửi đến văn phòng của Maher. Maher đọc nó trong im lặng. Bức thư có vẻ nhảy từ điểm này sang điểm khác mà không có điểm nhấn; nhìn qua các thông điệp rối rắm viết trong đó, không rõ chính xác First Boston muốn gì từ hội đồng quản trị, một hay ba giao dịch, sáp nhập hay tái cấu trúc.

Maher như nổ tung, anh đá vào chán bàn bằng gỗ gụ, và đấm rất mạnh vào màn hình máy tính. “Đây là thứ tồi tệ nhất mà tôi từng thấy!” anh nói. “Chúng ta không thể viết cho đúng, phải không? Thật tồi tệ.”

Maher nhặt lá thư, sải bước qua bàn thư ký, và đi lên ba tầng cầu thang đến phòng họp đông đúc. Finn, người biết rõ tính tình của Maher, nhận ra rõ ràng là sếp anh rất giận với hai hàm răng nghiến chặt vào nhau. Trong phút chốc, căn phòng lặng im như tờ.

“Các vị không nêu được điểm quan trọng,” Maher nói với cả nhóm. “Bây giờ, hãy lắng nghe tôi nói. Đây là những gì chúng ta sẽ làm.” Sau đó, trong 30 phút, Maher đọc từng từ một trong một lá thư mới để thư ký của Finn viết. Khi ai đó ngắt lời, anh sẽ cao giọng và lấn lướt anh ta. Seslowe không thể tin vào cảnh tượng đó. Nó giống như cảnh một giáo viên kỷ luật một nhóm học sinh lớp hai trước mặt cả lớp. Đến nước này, anh gần như đã muốn gọi cho Pritzker và khuyên ông từ bỏ cuộc đấu thầu.

Khi thời hạn gần đến, Maher và các luật sư vẫn đang tranh cãi về việc nên đấu thầu toàn bộ công ty hay chỉ với mảng thuốc lá. “Các cuộc tranh luận nổ ra không chỉ về lỗi chính tả và cú pháp,” Seslowe nhớ lại. “Chúng tôi vẫn còn tranh luận về hình thức đấu thầu, và đấu thầu cái gì.”

5 giờ kém vài phút, Maher gọi đến Skadden Arps, và nói với Atkins rằng bức thư có thể sẽ đến trễ vài phút.

“Hãy nhớ rằng,” Seslowe nói với Maher sau khi anh gác máy, “anh vẫn phải thông qua Pritzker.”

Như vậy là quá nhiều đối với Maher.

“Chicago ư! Tôi còn phải thông qua phía Chicago ư ? Chỉ là một lá thư thôi mà! Để tôi yên đi!”

-

Chúa ơi, khi nào chúng ta mới bàn được việc đây?

Ed Horrigan giận sùi bọt mép. Trong hai tiếng đồng hồ, Johnson và đoàn tùy tùng ngồi quanh phòng ăn có giấy dán tường họa tiết hoa cong của Shearson, trong khi những người phục vụ mặc áo khoác trắng nhận gọi món cho bữa trưa, và quanh quẩn bên họ với cà phê cùng những giỏ bánh cuộn. Họ đáng lẽ phải thảo luận về giá thầu, nhưng đến giờ này, tất cả những gì họ đã làm là xem qua thực đơn.

Johnson không thể tin vào cảnh tượng này. Như thường lệ, căn phòng chật cứng. Bên Shearson đã bổ sung khoảng 10 người, cộng thêm một đội chín người đến từ Salomon do John Gutfreund dẫn đầu, cùng Johnson và người của lão. Nhóm của Gutfreund đã ăn bánh sandwich và những cốc súp đầy trước khi đến nên ngồi ở một bàn riêng. “Chúng tôi đến đây để xem mọi người ăn,” Gutfreund nói với một chút hài hước hiếm có.

Johnson, Horrigan cùng Sage bước vào văn phòng của Cohen sáng hôm đó, và thấy ông chủ Shearson đang đứng sau bàn làm việc.

“Các vị, giá cả thế nào đây?”

“Khó đây,” Johnson nói và cười.

Cohen nói thư ký gọi cho ai đó qua điện thoại. Horrigan tự hỏi không biết người đứng đầu Shearson có điều gì bất ngờ chăng. Một vũ khí bí mật ư? Liền đó, Cohen nhấc điện thoại lên. “Xin chào?” Horrigan lắng nghe với vẻ dè chừng.

“Có, vợ tôi và tôi đã nói chuyện đó. Quên áo à. Chúng tôi sẽ mang áo sang.”

Ba giờ sau, họ vẫn chưa bắt đầu bàn về giá thầu. Bữa trưa cứ thế tiếp tục, cho đến 1 giờ 30 phút chiều, ngay cả Johnson cũng trở nên thiếu kiên nhẫn.

“Họp đi, Peter,” lão nói.

“Chúa ơi,” Sage buột miệng thốt ra, “chết tiệt, chúng ta cần một con số. Sắp muộn rồi.”

-

Hồ sơ thầu đầu?

Steve Goldstone có thể nghe thấy sự bực bội trong giọng nói của Gar Bason. Đã hơn 2 giờ và nhóm Shearson chưa đưa ra lời đề nghị cuối cùng.

Goldstone để Bason ở lại Davis Polk ngay sau buổi trưa, và đi kiểm tra xem các cuộc thảo luận ở Shearson đến đâu rồi. Anh ngạc nhiên khi thấy Cohen, Gutfreund và hơn 30 người khác đang nhàn nhã ăn trưa, tranh luận về cấu trúc hồ sơ thầu giữa khung cảnh sinh động gồm khăn trải bàn màu trắng, người phục vụ lượn quanh, và cốc chén leng keng. Cảnh tượng này giống như một bữa tiệc hơn là một phiên họp chiến lược.

“Gar, sắp có rồi.”

“Này, thôi nào,” Bason nài nỉ qua đường dây điện thoại, giọng có vẻ căng thẳng. “Chúng ta cần một con số. Sắp hết thời gian rồi. Steve, nếu họ không sớm quyết định, chúng ta sẽ không được đấu thầu.”

Goldstone biết cộng sự của mình không nói quá. Còn chưa đầy ba giờ đồng hồ nữa, Bason phải chuẩn bị hơn một chục tài liệu quan trọng: thư cam kết của ngân hàng, giấy tờ vay nợ và nhiều giấy tờ phức tạp khác. Tất cả sẽ không thể hoàn thành nếu không có con số đó. Bason đã có máy soạn thảo văn bản sẵn sàng ở ba công ty luật.

Mãi đến 3 giờ, Bason mới có được con số đó. Trên khắp Manhattan, ở nửa tá ngân hàng, các văn phòng luật và các công ty kế toán, những ngón tay như lướt trên máy tính, tính toán lãi suất, hạn thanh toán và các tỷ lệ quan trọng khác. Đến 4 giờ kém 15 phút, vị luật sư có thể thấy chi tiết các thư cam kết, thư của ngân hàng đã hoàn thành. Nhưng rõ ràng không hề dễ dàng để chuyển hồ sơ thầu dày đến 8cm đến Skadden Arps, ở điểm giao giữa phố 55 và đại lộ số 3.

Dịch vụ vận chuyển hàng ở trung tâm thành phố trong giờ nhạy cảm đã quá quen thuộc với tất cả các công ty ở Phố Wall. Tàu điện ngầm không phù hợp. Nếu có đường ray nào đó cháy, khói bốc mù mịt sẽ khiến người đưa thư chuyển phát nhanh mắc kẹt nhiều giờ trong các đường hầm mốc meo bên dưới đại lộ Lexington, còn điện thoại di động sẽ không có tín hiệu. Hơn nữa, Bason biết ga tàu điện ngầm gần nhất ở trên tuyến đường chính Lexington, cách Skadden Arps bốn tòa nhà dài. Anh thích dùng taxi đi ngược lên đường công viên đông đúc, dọc theo sông Đông.

Vào lúc 4 giờ 20 phút, vị luật sư trẻ đã lệnh cho luật sư trưởng của Salomon, Peter Darrow, một cộng sự 26 tuổi của Davis Polk tên là Richard Truesdell, và hai luật sư khác lên một chiếc taxi đi lên phía trên thành phố. Một số tài liệu quan trọng mà các luật sư mang theo vẫn chưa hoàn thành, vì vậy bốn luật sư khi ngồi trong xe taxi phải dùng bút chì điền vào các con số còn thiếu. Các luật sư từ Citibank và Bankers Trust sẽ gặp nhóm ở Skadden Arps với các bản sao tài liệu cho vay cuối cùng. Khi họ xuất phát, Bason đưa cho Truesdell một chiếc điện thoại cầm tay nhãn hiệu NEC.

15 phút sau, bốn vị luật sư ngồi trên ghế vẫn quay cuồng viết các con số nguệch ngoạc, chiếc xe chở họ hòa vào dòng xe cộ đông đúc ở phố 14. Tại Davis Polk, Bason bắt chéo ngón tay cầu mong họ đến nơi kịp thời gian, mắt dán vào đồng hồ. Goldstone, Johnson và Horrigan cũng cùng chờ đợi với anh. Johnson, người duy nhất có vẻ thư thái, nhìn thấy cảnh tượng đó và mỉm cười. “Ít nhất, chúng ta cũng sắp đón nhận niềm vui với thỏa thuận này.”

Cứ năm phút, Goldstone lại gọi cho Truesdell: “Anh đang ở đâu? Đến khu vực nào rồi?”

Mọi người ở Davis Polk bắt đầu tỏ vẻ lo lắng khi chiếc taxi tiến từng bước trên đường phố đông đúc ở phố 30 và 40. Mười phút sau, nó bò đến điểm dừng ở phố 50 và phố 1, rồi nằm bẹp dí ở đó trong một buổi chiều thứ Sáu giao thông tắc nghẽn.

Goldstone gần như phát điên. Horrigan đứng bên cạnh anh cũng vậy. “Sao lâu thế?”

Goldstone hoảng sợ, chộp lấy điện thoại. “Ra khỏi xe và chạy đi!” Anh hét lên với Truesdell. Bốn vị luật sư cuống cuồng ra khỏi xe, và bắt đầu chạy nước rút qua hai tòa nhà dài đến Skadden Arps. Đến lúc đó, Johnson không nhịn được nữa, lão cứ cười rũ ra. “Tôi hy vọng người của anh là vận động viên chạy việt dã,” lão nói với Goldstone, “vì anh ta sẽ không thể đến kịp trước 5 giờ.”

Goldstone dán mắt vào đồng hồ. Họ sẽ không đến kịp. Vài giây sau, anh bảo Bason gọi cho Mike Gizang, một trợ lý của Atkins. “Chúng tôi đang gửi fax thư chào giá,” Bason nói. “Anh sẽ nhận được ngay bây giờ.”

Khi các thư ký bắt đầu đưa từng trang thư dự thầu vào máy fax, Goldstone nghe thấy tiếng thở dốc của Truesdell qua điện thoại di động.

“Chúng tôi đang ở phố 55 và phố 2!”

Nhiều phút trôi qua. Johnson nhận được cuộc gọi đầy lo lắng từ Charlie Hugel. “Hồ sơ thầu đâu rồi, Ross? Hồ sơ đâu rồi?”

Dù thích thú, Johnson vẫn phải cố gắng tỏ ra nghiêm túc: “Chúng tôi vẫn đang suy nghĩ về nó, Charlie.”

Horrigan đang trong cơn thịnh nộ. “Các anh có tin được điều này không? Không thể tin được!” Andy Sage cũng xuất hiện, chết lặng trước cảnh tượng đó. “Không thể tin được những gã này.” Khi nhóm của Truesdell đến Skadden Arps, họ bị đám đông các nhiếp ảnh gia và máy quay truyền hình chặn đường. Cánh nhà báo phát hiện ra chiếc điện thoại di động liền chen chúc vây quanh, và bắt đầu la hét đặt câu hỏi. Các luật sư lao qua đám đông như các hậu vệ và vào được bên trong sảnh.

Bên trong không có dấu hiệu của nhóm ngân hàng. “Họ đang ở đâu?” Các luật sư hỏi, nghển cổ lên và xoay người tìm kiếm như những con quay. “Họ đang ở đâu?” Darrow, người duy nhất nhìn thấy các luật sư của ngân hàng, chạy nháo nhào trong sảnh như một đứa trẻ bị lạc ở sở thú.

Vài giây sau, Goldstone gọi cho Truesdell.

“Richard, anh đang ở đâu?”

“Trong thang máy.”

Ở tầng 34, một nhân viên lễ tân dẫn bốn vị luật sư lên tầng trên. “Đợi đã, đợi đã!” có tiếng lạo xạo của Bason líu lo qua điện thoại của Truesdell. Bason ra lệnh kiểm tra tỷ lệ cổ tức của cổ phiếu ưu đãi vào phút cuối. Từng giây quý giá trôi qua khi con số được kiểm tra lần hai.

Khi Truesdell và ba người đi cùng nhào ra khỏi thang máy ở tầng trên, họ bị chặn bởi một nhân viên bảo vệ to lớn. Một phút sau, Truesdell được hộ tống vào khu vực lễ tân, anh kiệt sức, đưa cho Peter Atkins hồ sơ thầu của nhóm. Thư đảm bảo của ngân hàng sẽ đến trong 40 phút nữa. Darrow nhìn đồng hồ, 5 giờ 1 phút. Hồ sơ thầu của vụ tiếp quản lớn nhất trong lịch sử công ty đã bị muộn. Anh cầu nguyện sẽ không ai để ý.

-

Cắp nách hồ sơ thầu của Kohlberg Kravis, Casey Cogut lướt qua đám nhiếp ảnh gia mà không bị phát hiện, và đi vào sảnh của Skadden Arps lúc 5 giờ kém 10 phút. Trên lầu, Cogut lách qua nhân viên bảo vệ, và gọi cho Atkins khi vẫn còn dư vài phút. Khi Atkins đến, Cogut đang ngồi trên sàn hành lang, nhét vội những tờ giấy vào túi hồ sơ thầu để thực hiện thay đổi vào phút chót. Cogut theo dõi nhân viên bảo vệ ngăn mọi người vào khu vực lễ tân. Một đối tác của Skadden Arps bị đuổi ra do nhầm lẫn đã hét vào người bảo vệ: “Chết tiệt! Tôi là đối tác đấy! Tôi là đối tác, chết tiệt! Cho tôi vào!”

Cogut đưa hồ sơ thầu cho Atkins và rời đi.

-

Đến 7 giờ tối, hai giờ sau hạn chót chào giá, First Boston vẫn chưa có hồ sơ thầu. Maher đã fax các bản sao của bức thư cho Jay Pritzker ở Chicago. Nhà đầu tư và luật sư của ông vẫn đang yêu cầu các sửa đổi nhỏ. Áp lực qua đi khi đã qua hạn chót, nhưng Maher đã hết kiên nhẫn. Thật là nghiệp dư, và anh muốn gửi bức thư đi.

Ở Chicago, chính Pritzker cũng đang nghi ngờ về năng lực của First Boston. Đến 7 giờ, ông băn khoăn hỏi Jerry Seslowe có nên từ bỏ toàn bộ công sức đã bỏ ra hay không. “Anh cảm thấy First Boston có làm được không?” Seslowe biết Pritzker đang lưỡng lự muốn rút lui. Cả buổi chiều, nhà đầu tư đã cảnh báo Seslowe rằng ông không muốn chuốc lấy sự xấu hổ vì cuộc đấu thầu này. Việc thời hạn đấu thầu đã qua, và chất lượng tồi tệ của bức thư dự thầu chỉ làm tăng nỗi lo ngại của ông.

“Jay, nghe này,” Seslowe nói. “Rõ ràng là họ không giỏi như trước kia. Nhưng họ vẫn giỏi. Họ có một kế hoạch cấu trúc tốt.”

“Theo anh, chúng ta có nhất thiết phải làm tiếp không?” Pritzker hỏi: “Có đáng xấu hổ không nếu bây giờ chúng ta từ bỏ? Chúng ta có nên làm không? Tại sao chúng ta không từ bỏ và trở về nhà.”

“Tôi vẫn nghĩ họ có thể thành công,” Seslowe nói. “Hãy cứ đi đến cùng xem sao,” Seslowe biết rằng anh đang mạo hiểm. Trên thực tế, anh cũng không hoàn toàn tự tin.

Đến 9 giờ, Maher thấy như vậy là đủ rồi. Sau khi nói với Pritzker rằng trong tương lai sẽ không có sự lộn xộn như thế này nếu các luật sư của ông đến New York cùng làm việc với họ, anh yêu cầu gửi bức thư đi.

Các luật sư vẫn đề nghị thay đổi khi các bản sao của bức thư được in ra. Họ tranh nhau hét lên. Họ đã quên hết lễ nghĩa ngoại giao với những tiếng la hét vang lên khắp các văn phòng trống của First Boston.

“Lấy ra đi! Lấy ra đi! Quên hết đi! Đi đi! Bỏ đi!”

-

Các máy quay truyền hình và phóng viên đã đi khỏi từ lâu khi hai nhân viên ngân hàng của First Boston, Brian Finn và Scott Lindsay, lê bước qua năm tòa nhà đến công ty luật Skadden Arps lúc 9 giờ 30 phút tối. Trên lầu, không còn ai chờ để nhận hồ sơ thầu của họ. Hành lang rộng lớn của công ty luật vắng vẻ khi Finn và Lindsay tìm được văn phòng góc của Atkins.

Vị luật sư không có ở đó. Khi Finn đề nghị được chờ, thư ký của Atkins nói rằng anh đang họp và không thể bị làm phiền. Finn đưa lá thư cho người phụ nữ. Sau khi để lại số điện thoại, hai người nhanh chóng rời đi.

[1] Lấy điển tích từ nhân vật huyền thoại không có thật: vua Arthur, người bảo hộ nước Anh chống lại sự xâm lăng của người Saxon đầu thế kỷ VI. Hội Bàn Tròn là tập hợp 28 nhân vật phò tá vua Arthur. (BTV)

[2] Trong những ngày đầu của thỏa thuận, Hamish Maxwell ít nhất đã có một cuộc trò chuyện với Ross Johnson về sự kết hợp của Philip Morris-RJR Nabisco. Johnson sau đó nói rằng lão không bao giờ mong Maxwell có bất kỳ sự nhiệt tình thực sự nào đối với cuộc đầu thầu RJR. Bất kỳ thỏa thuận sáp nhập nào giữa họ gần như chắc chắn sẽ bị ngăn chặn do luật chống độc quyền. (TG)

[3] Jerry Seslowe không phải là người đầu tiên khiến Jay Pritzker chú ý đến RJR Nabisco. Thông qua một số trung gian, Smith Bagley đã tiếp xúc được với một trợ lý của nhà đầu tư này nhưng không thu được kết quả. (TG)

HoHoàng Thị Ngọc dịch • Barbarians at the gate •
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.