Bọn Rợ Rình Trước Cổng

Lượt đọc: 80 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 10

❊ ❊ ❊

Sáng thứ Hai, sự hỗn loạn bao trùm ở Shearson. Trong văn phòng của các giám đốc điều hành, giữa những bản tranh in của Audubon, các cây cảnh xanh mướt, những tấm thảm phương Đông tinh tế, ở tầng 19, các thành viên vẫn còn rất choáng váng của nhóm quản lý đang họp. Đáng ra phải đối mặt với động thái rõ ràng là rất điên rồ so với sự chuẩn bị trước đó của họ, thì Cohen, Hill và những người khác lại hướng sự tức giận về phía Kravis. Mỗi người đều có giả thiết về việc tại sao Kravis lại hành động hấp tấp như vậy.

Johnson lặng lẽ đi vào ngồi ở chiếc bàn dài trong phòng họp của Shearson. Hoảng hốt thật sự, lão yêu cầu một lời giải thích cho cuộc tấn công phục kích của Kravis. Không phải Cohen định gặp anh ta sao? Điều gì đã khiến Kravis hành động như vậy?

“Đã có điều gì đó không đúng, Peter,” Johnson nói, ám chỉ cuộc gặp đầu tiên của Cohen với Kravis. “Có người đã chọc giận ai đó. Anh đã thất bại ngay từ cuộc gặp đó với việc có đặc quyền hay không có đặc quyền, đến cuộc gặp dự định vào thứ Hai, trừ khi có ai đó đã chọc giận anh ta. Ý tôi là, phải có điều gì đó đã xảy ra trong cuộc họp diễn ra hôm thứ Sáu khiến anh ta có hành động hôm nay.”

Đây quả là một Ross Johnson khác hẳn so những gì người của Shearson đã thấy về lão. Cú sốc về việc công bố đấu giá của Kravis thể hiện rõ trên khuôn mặt và giọng nói của lão. Đó cũng là lần đầu tiên Steve Goldstone nhìn thấy những nét rạn nứt ở vẻ ngoài luôn tươi cười của vị khách hàng đáng kính. Hill thì nghĩ Johnson như thể vừa bị một đống gạch rơi vào người.

“Tôi đã nghĩ mọi thứ đều ổn,” lão nhắc lại. “Tôi nghĩ anh sẽ gặp anh ta. Nhưng chuyện gì đã xảy vậy?”

Sau khi nói chuyện với Hill và Jack Nusbaum, Cohen cho rằng anh biết câu trả lời: Đó là Bruce Wasserstein và các cố vấn khác của Phố Wall. Họ chắc chắn đã đẩy Kravis vào một cuộc đấu thầu sớm với những câu chuyện hậu trường về việc Shearson đã chặn các khoản vay ngân hàng.

Cohen giải thích với nhóm, mỗi cố vấn của Kravis ở Drexel, Morgan Stanley và Wasserstein Perella đều có những lý do riêng, và họ muốn thỏa thuận lớn này của Shearson sụp đổ. Việc chào bán trái phiếu rác sau vụ mua lại RJR chắc chắn sẽ là vụ chào bán lớn nhất lịch sử, nó có thể ngay lập tức biến Shearson trở thành kẻ thách đấu lớn nhất với thành trì vững chắc của Drexel trên thị trường trái phiếu rác.

Không còn nghi ngờ gì nữa, Morgan Stanley cũng vậy, họ coi vụ đấu thầu của Shearson là một thách thức đối với sức mạnh ngày càng tăng của mình trên thị trường LBO. Cohen sẵn sàng đánh cược rằng, Steve Waters, người vẫn cay cú về việc buộc phải rời khỏi Shearson, đã gây rối để làm khó đối tác cũ Tom Hill. Và Hill nổi lên như một nhà kiến tạo thỏa thuận có vai trò quan trọng sẽ đe dọa trực tiếp đến danh tiếng của Wasserstein. “Đó là thực tế cuộc sống.” Cohen tiếp tục, “tất cả là do những người đã cố vấn cho Henry, và xúi giục anh ta hành động. Những kẻ này đều có lợi nếu chúng tôi thất bại. Những con cá răng đao (piranha)[1] đó chắc chắn đã thục giục anh ta suốt cuối tuần vừa rồi.”

Johnson chẳng thèm quan tâm đến những rắc rối trong các cuộc ganh đua của Shearson trên Phố Wall. Khi Cohen và Hill bắt đầu mưu tính phản công, lão đã run đến nỗi không tiếp thu nổi nữa. “Chà,” Johnson nói, “theo tôi, vụ này kết thúc rồi. Chấm hết rồi. Làm sao chúng ta có thể cạnh tranh với giá thầu đó đây?”

Steve Goldstone nghĩ đã đến lúc phải giải thích một số điều với khách hàng của mình. Lợi ích của Johnson rất khác lợi ích của Shearson. Nếu Johnson hành động khôn khéo, lão vẫn có thể mua lại công ty tuy rằng sẽ có đôi chút khó khăn. Lão có một số lựa chọn, bao gồm cả việc gia nhập phe của Kravis, đây là một thực tế, và Goldstone chắc chắn Cohen hiểu rõ điều này. Có một lý do khác để Johnson từ bỏ phe Shearson: Lão và Cohen dường như đang cùng đâm đầu vào một rắc rối lớn. Goldstone chậm rãi đứng lên, đi đến bên Johnson và đưa tay kéo lão đứng dậy.

“Ross, nghe này, về Davis Polk đi,” vị luật sư nói. “Chúng ta có chuyện cần bàn.”

-

Có một điều gì đó siêu thực, như trong giấc mơ của cô bé Alice trong truyện Alice in Wonderland (Alice ở xứ sở thần tiên), trên quãng đường Goldstone hộ tống Johnson đi qua ba tòa nhà tới trụ sở của Davis Polk tại tòa Chase Manhattan Plaza.

Đối với Johnson, cục diện hiện nay đã trở thành một giấc mơ tồi tệ. Lão không thể rũ bỏ cảm giác họ đã bỏ lại thế giới thực ở phía sau, tại Atlanta. Họ đã bước qua tấm gương bằng thủy tinh đến một nơi mà thực tế mọi thứ đang treo ngược cành cây, nơi các con số cũ, quy tắc cũ, lý luận tài chính cũ đơn giản là không thể áp dụng. Tiền là giấy, và giấy là tiền, và ai đó được trả 25 triệu đô-la để lừa dối bạn.

Về đến Davis Polk, Goldstone để Johnson, John Martin và Harold Henderson dừng ở phòng họp ở tầng 38, và đi lên văn phòng của anh ở tầng trên để lấy thứ gì đó. Đám đông đồng nghiệp tò mò ngay lập tức vây quanh anh. Chúa, ơi, chuyện gì đã xảy ra? Họ kêu lên. Steve, anh ổn chứ? Anh sẽ làm gì bây giờ?

Goldstone nhìn đăm đăm ra ngoài cửa sổ, về hướng bắc, nơi có ngọn tháp mang phong cách art deco[2] của tòa Chrysler Building. “Triển vọng không tốt,” anh nói chậm rãi. “Mọi thứ đã thay đổi… Hoặc là chúng tôi sẽ đạt được thỏa thuận với Henry, hoặc…” Hoặc cái gì, anh cũng không biết. Kravis khiến tất cả bọn họ choáng váng. Đấu với anh, điều đó có nghĩa là vứt bỏ hoàn toàn mọi giả định tài chính và bắt đầu lại từ con số 0. Anh không chắc Johnson sẵn sàng làm điều đó.

Khi trở lại, Goldstone thấy Johnson đang đi tới đi lui trong hoảng loạn. Đám người đi cùng lão như mất hồn, trông thật đáng sợ. Sự tàn bạo của những gì đã xảy ra đang ngấm sâu vào tâm tưởng họ. Viễn cảnh về sự giàu có tức thời biến mất, thay vào đó là cảnh tượng bốn tiếng chuông từ máy điện toán ở Phố Wall đồng thời rung lên, thông báo sự xuất hiện của Kravis.

“Đến nước này rồi, tất cả đã kết thúc,” Johnson nói. “Ý tôi là, nếu điều này trở thành sự thực, thì thật nực cười. Nếu họ đã kiếm đủ tiền, chúng ta sẽ tiêu đời.” Lão cứ mãi loay hoay với câu hỏi Cohen có thể làm gì để đánh bại Kravis.

Goldstone cố gắng xoay chuyển Johnson, để lão quên đi quá khứ và tập trung vào tương lai. Cuộc tập kích của Kravis sẽ khiến giá thầu cổ phiếu tăng mạnh: Nếu quyết tâm chiến đấu, họ sẽ phải trả giá cao hơn mức giá 90 đô-la/cổ phiếu. Goldstone cho biết việc điều hành một công ty hậu LBO với giá 90 đô-la/cổ phiếu sẽ hoàn toàn khác so với điều hành một công ty được mua ở mức 75 đô-la. Các khoản nợ tăng lên sẽ dẫn đến những yêu cầu cắt giảm sâu rộng, điều mà Johnson vẫn lo sợ. Lực lượng hàng không, trụ sở ở Atlanta, thậm chí Premier sẽ phải được định giá lại.

Goldstone nói: “Ross, ông phải quyết định có sẵn sàng điều hành công ty này với giá mua trên 90 đô-la không. Nếu ông sẵn sàng, thì quyết định tiếp theo là của Shearson. Chính Shearson sẽ quyết định vụ này. Họ có tiền, không phải ông.”

Johnson nói, trước tiên, lão muốn biết nhiều hơn về giá thầu mà Henry Kravis đưa ra. Kravis thực sự muốn gì? Liệu có cách nào để họ thoát khỏi anh ta không? Làm thế nào Kravis có thể mua với giá 90 đô-la, trong khi Shearson chỉ mua với giá 75 đô-la? Không, lão sẽ không có bất kỳ quyết định nào cho đến khi hiểu rõ hành động của Kravis. Cohen sẽ phải gặp anh ta và tìm hiểu chuyện gì đã xảy ra. Và chỉ sau cuộc gặp đó, họ mới quyết định bước tiếp theo.

Goldstone ra khỏi phòng họp đúng lúc Tom Hill đang lảng vảng bên ngoài. Vị luật sư cười thầm. Rõ ràng Hill đến để theo dõi Johnson, để chắc chắn lão không làm bất cứ điều gì quá quyết liệt.

Như là nói chuyện với Henry Kravis.

-

Phe Kravis họp vào chiều thứ Hai để đánh giá tổn thất từ thông báo buổi sáng.

Trong những ngày tới, Dick Beattie sẽ là nguồn thông tin tình báo hiệu quả nhất của Kravis. Trong những năm qua, vị luật sư ăn nói nhỏ nhẹ này đã vun đắp tình bạn với một nhóm bạn trung thành ở Phố Wall. Mối quan hệ làm ăn với Shearson giúp ông có những mối liên hệ đặc biệt tốt với người bên phe Cohen.

Thân thiết với ông nhất là Bob Millard, trưởng bộ phận kinh doanh chênh lệch giá có rủi ro của Shearson. Hai người là bạn cũ và chiều hôm đó, Millard đã gọi điện cho Beattie, điều mà Beattie vẫn thầm mong. Cuộc gọi này là vô giá đối với Kravis. Millard, cũng là bạn thân của Cohen, sẽ là cầu nối không chính thức với thủ lĩnh Shearson truyền đạt những suy nghĩ và mối đe dọa từ Cohen, trong một bầu không khí thân mật của tình bạn, không có nguy cơ đối đầu. Trong những lần tranh luận ý kiến với Kravis, Beattie thường có nhận định tốt về chiến lược của phe Shearson. Vì lý do bảo mật, vị luật sư không bao giờ nói với Kravis về danh tính của Millard.

Ngày hôm đó, hai người nói chuyện bằng giọng điệu mà bạn bè đôi khi sử dụng khi cố gắng hòa giải giữa bạn bè với nhau. “Peter nói anh ấy sẽ thắng vì được Ross Johnson ủng hộ,” Millard nói.

“Anh cũng biết mà, điều này không đúng,” Beattie vặn lại. “Bob, anh phải giải thích với Peter về cách tốt nhất để giành chiến thắng trong vụ này. Đó không phải là người có được Ross Johnson. Bộ anh ta không thấy Henry sẵn sàng thực hiện thỏa thuận mà không cần Johnson sao?”

Millard phải đồng ý. Ông cũng đã nói với Cohen điều tương tự vào thứ Năm tuần trước, nhưng đến giờ Cohen vẫn không chịu nghe. Cả Beattie cũng như Millard đều nhận ra giải pháp rõ ràng là Kravis và Cohen nên kết hợp và chia nhau công ty của Johnson. Một trận chiến đấu thầu có thể lấy đi của người chiến thắng hàng tỷ đô-la, và tạo ra hình ảnh xấu xí trước công chúng. Nhưng liệu bản tính tự cao tự đại có cho phép họ hợp lực hay không lại là một vấn đề khác.

Bob Millard khuyên Beattie nên gọi cho Peter Cohen.

-

Kravis dự thầu là cơn ác mộng trở thành sự thật với Cohen. Nhưng không giống như Ross Johnson, Cohen không hề nghĩ đến chuyện đầu hàng. Đơn giản vì đó không phải là bản chất của anh.

Vào ngày thông tin về giá thầu của Kravis truyền đi, Cohen và Hill nhận ra nó cũng chẳng ghê gớm như họ từng lo sợ. Chỉ có điều, giá thầu đó sẽ không trả hoàn toàn bằng tiền mặt. Kravis sẽ chỉ trả 79 đô-la/cổ phiếu bằng tiền mặt, phần còn lại sẽ đến từ chứng khoán, và Kravis định giá giá 11 đô-la/cổ phiếu. Cohen và Hill tập trung phân tích cơ cấu giá thầu như một cứu cánh cho họ. Hãy nhìn xem, họ nói, Kravis chỉ trả hơn chúng ta 4 đô-la/cổ phiếu, bằng tiền mặt. Cohen hình dung Shearson có thể đáp trả, cũng tăng giá, trả bằng cổ phiếu. Dĩ nhiên, Johnson sẽ phản đối việc trả bằng cổ phiếu, điều này có thể vượt qua, nhưng sẽ là vấn đề nếu đó là nguồn tiền duy nhất của họ.

Giữa cơn hỗn loạn, một thực tế khác đã trở nên rõ ràng. Shearson không thể đơn độc đánh trả Kravis. Giá thầu cao hơn 90 đô-la sẽ yêu cầu một khoản đầu tư tương đương — bằng tiền mặt — khoảng 2,5 tỷ đô-la. Ngay cả khi có tiền từ American Express, Cohen biết rằng trên thực tế, Shearson sẽ khó có thể gánh vác một khoản đầu tư lớn như vậy.

Chiều hôm đó, Cohen nhận được cuộc gọi từ một trong những người bạn thân nhất của anh, Thomas Strauss, Chủ tịch của Salomon Brothers. Strauss là Tổng Giám đốc Điều hành số hai của ngân hàng đầu tư này, đứng sau John Gutfreund; văn phòng của ông trông thẳng sang sàn giao dịch. Strauss và Cohen thường đi nghỉ cùng nhau, một lần cùng nhau đi săn ở châu Phi, và thường xuyên đến thăm nhà nhau. Strauss hỏi liệu Salomon có thể có một chân trong thỏa thuận của Shearson. Nhiều cuộc gọi tương tự đến với Cohen cả ngày hôm đó, nhưng Strauss là một trong số ít những đối tác anh chấp nhận. Họ hẹn nhau đi ăn trưa vào ngày hôm sau.

Hill khuyên Cohen rằng số đối tác họ có thể bắt tay rất ít, và đang nhanh chóng ít đi. Kravis đã chiếm ưu thế hiển nhiên với các đối tác: Merrill Lynch, Drexel và Morgan. Chúng ta sẽ phải lựa chọn: Sally hoặc First Boston, Hill nói. Sally có nhiều vốn hơn, nhưng họ không phải là một nhân tố trong thị trường LBO. Trên thực tế, họ còn là một thảm họa. Họ cũng không có hiểu biết sâu sắc về hoạt động sáp nhập của chính họ. Hill nói First Boston có hoạt động về trái phiếu rác tốt hơn và hiểu biết sâu hơn về sáp nhập, ngay cả với sự ra đi gần đây của Wasserstein và Perella. Hill thích First Boston hơn, nhưng ông biết họ sẽ chỉ tốn công vô ích. Tình bạn dù sao cũng có giá trị trên Phố Wall, và Cohen không thể bỏ qua cơ hội làm việc với ông bạn thân Tom Strauss.

-

Dick Beattie gọi cho Peter Cohen vào khoảng 4 giờ chiều hôm đó.

Vị luật sư đang ở trong tình huống khó xử. Công ty của ông, Simpson Thacher & Bartlett, đã đại diện cho Lehman 40 năm nay, cùng với công ty của Jack Nusbaum, một trong hai công ty luật quan trọng của Shearson. Mặc dù Nusbaum là người bạn thân nhất, Cohen cũng coi Beattie là một cố vấn có giá trị. Cohen điên tiết khi nghe tin Beattie đang làm việc với Kravis trong trận chiến RJR Nabisco, và nghĩ rằng Beattie ít nhất cũng nợ anh một lời xin phép theo phép lịch sự.

Khi Cohen bắt máy, Beattie muốn tránh đối đầu về vấn đề này nên chính thức thông báo cho thủ lĩnh Shearson rằng hiện ông đang đại diện cho Kravis nhưng không nói đến việc xin ý kiến của Cohen. “Peter, tôi gọi điện thoại vì chúng tôi muốn cố gắng duy trì kênh liên lạc mở với bên anh, nếu có thể,” Beattie nói. “Việc chúng tôi tham gia đấu thầu này không có nghĩa là chúng ta không thể tiếp tục làm việc cùng nhau.”

“Nếu Henry Kravis muốn nói chuyện, liệu anh ta có khởi động cuộc đấu thầu không? Anh ta không cần phải làm điều đó. Tại sao anh ta không gọi cho tôi? Tôi đã định gọi cho anh ta. Điều này thật lố bịch.”

Beattie cố gắng trấn tĩnh Cohen. “Peter, vì một số lý do chiến lược, làm vậy có vẻ là cách tốt nhất. Nhưng chúng ta vẫn nên nói chuyện. Không có lý do gì để từ chối lựa chọn hợp tác. Anh nên nói chuyện với Henry.”

Có thể, Cohen nói. Trước khi nhận lời, anh cần hỏi ý kiến Johnson. Lão bận cả buổi chiều ở số 9 khu Tây, trả lời các cuộc gọi điện thoại, trả lời thư và nhận tin tức mới trên máy tính.

“Nghe này, Peter,” Johnson nói, “đây không phải là cuộc đấu gà chọi. Đây là trận chiến nguy hiểm, và Henry là một tay đáng lo ngại. Anh gặp đi, và kiểm tra xem anh ta nguy hiểm đến mức nào.”

Cuộc gặp giữa Cohen và Kravis được ấn định vào sáng thứ Ba.

-

Sự lo sợ của Jim Robinson tăng lên khi lần đầu tiên ông đọc bản sao thỏa thuận quản lý của Johnson vào chiều thứ Hai. Nó còn tệ hơn điều ông đã lo: quyền phủ quyết, di chuyển miễn phí, tất cả những điều không thể tin được đó làm ông khó chịu. Nhưng điều khiến Chủ tịch của American Express lo lắng nhất là cái mà người của Phố Wall gọi là “làm đẹp” cho thỏa thuận: Từ quan điểm công chúng mà nói — và Robinson chắc rằng tài liệu này cuối cùng sẽ được công bố — thỏa thuận này có vẻ khác thường. Nếu rơi vào tay các phóng viên, nó sẽ biến thành hiện thân của sự tham lam. Đối với Robinson, viễn cảnh bảy người chia nhau số tiền lên tới 2 tỷ đô-la là một thảm họa về quan hệ công chúng, và điều này đang chờ đến ngày bùng phát.

Ông nhận thấy cần phải có những thay đổi, và không chỉ để làm đẹp. Thỏa thuận này đơn giản là quá béo bở; và một lượng lớn trong số tiền đã hứa với Johnson bây giờ sẽ phải được dùng làm nguồn tiền để tăng giá thầu, đủ cao để đánh bại Kravis. Là người bạn thân nhất của lão ở Phố Wall, tất nhiên, Jim Robinson được chọn để làm công việc khó khăn: thông báo tin này cho Johnson.

Tối thứ Hai, Robinson ngồi ở văn phòng của Johnson, và cố gắng thông báo tin này cho lão theo cách tế nhị nhất có thể. “Rawss,” ông nói bằng giọng Atlanta du dương, “chúng tôi phải định giá lại mọi thứ theo cách phù hợp hơn, theo diễn biến tình hình hiện tại.”

Anh muốn nói gì? Johnson hỏi, có chút ngần ngừ. Lão nhớ Steve Goldstone đã cảnh báo lão về thỏa thuận quản lý: Những gã đó sẽ thăm dò và cắt giảm thỏa thuận với ông, giảm mãi… Điều đáng nói là Johnson tin ở Jim Robinson.

“Tôi hy vọng anh không ở đây với tư cách là người bênh vực cho Peter Cohen,” Johnson nói, “vì họ sẽ không thể cắt giảm phúc lợi của chúng tôi để mang về hết cho Shearson.”

“Không, Rawss, đây là tôi cảm thấy thế. Tôi ở đây với tư cách một người bạn.”

“Hoàn toàn khác rồi. Hoàn toàn không phải vậy,” Johnson nói. “Anh muốn làm gì?”

“Có bao nhiêu người sẽ chia nhau thỏa thuận quản lý này?” Robinson hỏi.

“Có thể là tám, có thể là 20.” Lão nói đã không nghĩ nhiều về vấn đề đó.

“Tôi nghĩ có lẽ anh nên xác định rõ hơn về thỏa thuận này,” Robinson gợi ý.

“Tôi không thể nói chính xác bao nhiêu. Tôi đã luôn nghĩ rằng rất nhiều nhân viên sẽ chia sẻ nó. Tôi muốn chia sẻ nó cho càng nhiều người càng tốt.”

Robinson giải thích rằng nên thực hiện luôn việc này. Có lẽ tốt nhất là gọi cho Davis Polk và công ty luật của Champ Mitchell để bàn về kế hoạch sở hữu cổ phiếu của các nhân viên.

Johnson đồng ý. Sau đó, lão nói mình đã có ý định này ngay từ đầu.

Tất nhiên, việc các nhân viên có thực sự được chia phần trong thỏa thuận béo bở này của Johnson hay không không quan trọng. Vấn đề là làm đẹp cho bản thỏa thuận. Jim Robinson không thể xóa bỏ thỏa thuận quản lý. Nhưng ông muốn chắc chắn rằng: Một khi công bố nó với các giám đốc và công chúng đang hoài nghi, nó sẽ trở nên dễ chấp nhận hơn.

Ông hy vọng thế.

-

“ĐẤU THẦU RJR - CUỘC CHIẾN CỦA KKR VÀ SHEARSON ĐỂ GIÀNH CHỦ QUYỀN” là tiêu đề trên trang nhất tờ Wall Street Journal vào sáng thứ Ba.

Kravis đọc bài báo với sự ghê tởm. Cả hai tờ báo lớn, Wall Street JournalThe New York Times, đều miêu tả chi tiết cuộc họp hôm thứ Sáu giữa anh và Cohen. Kravis nghĩ cả hai tờ báo đều khắc họa anh như kẻ gây bão đang thống trị thị trường LBO, cố gắng đánh vỗ mặt một đối thủ cạnh tranh mới nổi. Anh đặc biệt khó chịu với những trích dẫn cho rằng anh đang bảo vệ đặc quyền của mình, một từ mà Kravis sau đó đã phủ nhận nói ra. Dù sự thật là gì, đối với Kravis mọi việc đã rõ ràng, Shearson đã sử dụng báo chí để tấn công vào gót chân Achines của anh: hình ảnh của anh trước công chúng.

Mặc dù vậy, Kravis phải cười lớn khi đọc bài phát biểu của Cohen trên tờ Wall Street Journal. Vào vai người vô tội bị tổn thương, Cohen phàn nàn rằng Kravis đã chen chân một cách thô bạo vào thỏa thuận, sau khi hứa sẽ gặp Shearson. “Chúng tôi cùng nhau trượt tuyết và giao lưu,” Cohen nói về Kravis, “và tôi cho rằng ở đây cần đề cao hơn nữa đạo đức giữa người với người.”

Kravis không thể tin điều đó. Anh không coi Cohen là bạn. Anh nói với bạn bè anh hầu như không biết anh ta. Họ mới chỉ cùng nhau trượt tuyết một lần — trong một chuyến trượt tuyết vô bổ do Shearson tổ chức ở Vail - và hầu như không có quan hệ xã giao bên ngoài, chỉ đôi khi chạm mặt nhau khi có công việc ở Phố Wall. Thần kinh của anh ta…

-

Không khí bữa sáng hôm thứ Ba giữa Cohen và Kravis không tệ hơn so với không khí bên trong kho thịt đông lạnh.

Cohen đến trước và tìm bàn. Họ đã chọn một địa điểm trung lập: phòng ăn tại khách sạn Plaza. Cohen yêu cầu trưởng bộ phận phục vụ cho một chiếc bàn tách riêng, nơi anh và Kravis có thể nói chuyện kín đáo, và họ dẫn anh vào một góc khuất trong khu vực ăn uống. Vài phút sau, Kravis bước vào và ngồi xuống, đối diện với Cohen. Sau khi gọi cà phê, hai người đi thẳng vào công việc.

“Henry, tôi đã nói sẽ gọi cho anh, và tôi sẽ làm đúng như vậy,” Cohen nói. “Tôi tin mình là một người biết giữ lời. Giờ anh đã đưa sự việc leo thang đến mức này.”

Cohen là kẻ hiếu chiến, nhưng cũng là một người thực tế. Trong một trận chiến kéo dài với Kravis, có thể Shearson sẽ thua. Anh quyết định thỏa hiệp. “Henry, chúng ta hãy cởi mở với nhau. Chúng tôi không bao giờ có ý định giữ toàn bộ phần vốn cổ phần của thỏa thuận này. Đơn giản là vì nó quá lớn. Chúng tôi đang tìm kiếm một sự chuyển giao hợp lý. Nếu chúng ta có thể tiến tới điều đó, mọi người đều sẽ đạt được mục tiêu, chúng tôi sẽ thử. Tại sao chúng ta không cùng thử hợp tác với nhau?”

“Hợp tác thế nào?” Kravis hỏi.

“Chia đôi. 50-50.”

“Không được,” Kravis nói. “Kohlberg Kravis không bao giờ thực hiện các thỏa thuận 50-50. “Như thế là nhiều quá.”

“Tôi nghĩ không thể khác được, nên là 50-50.” Cohen nói.

“Không, không thể được,” Kravis không nói tiếp nữa.

Kravis đề cập đến thỏa thuận quản lý. Anh đã suy nghĩ về những gì Jeff Beck nói một tháng trước. Họ muốn kiểm soát hội đồng quản trị. Nếu Johnson không muốn bị mua lại theo kiểu của Kohlberg Kravis, vậy lão muốn gì?

“Vẫn sẽ là một thỏa thuận bình thường,” Cohen nói. Không có gì đặc biệt.

“Nghĩa là sao? 5, 10, 15, 30%, bao nhiêu?”

“Vâng, trong khoảng đó…”

Cohen cố ý không đề cập đến quyền phủ quyết của Johnson hay thỏa thuận quản lý trị giá 2 tỷ đô-la mà lão đã yêu cầu và sẽ nhận được. “Nếu chúng ta hợp tác,” Cohen nói, “hiển nhiên bên anh sẽ được biết về thỏa thuận quản lý.”

Trong khi nói chuyện, Kravis cố gắng dò xét Cohen. Anh kết luận: Người này đang buồn bã. Kravis biết Cohen đã làm không quá một hoặc hai vụ mua lại trong sự nghiệp của mình; Eric Gleacher đã gọi anh ta là “Peter Cohen, cậu nhóc nhân viên ngân hàng đầu tư”. Cho đến lúc này, Cohen dường như vẫn nghĩ mình đang làm vụ này nhờ thực lực. Anh ta đang cảm thấy khá tốt, Kravis nghĩ. Anh ta nghĩ mình đang có lợi thế vì đã nắm trong tay nhóm quản lý. Anh ta nghĩ rằng sự hiện diện của Ross Johnson sẽ ngăn cản chúng ta.

Kravis tự nhủ, chà, cậu nhóc nhân viên ngân hàng đầu tư sẽ có một sự ngạc nhiên dành cho cậu. Nhiều tháng sau đó Kravis nhớ lại: “Cohen đã không biết rằng chúng tôi đang gấp rút chuẩn bị tấn công, chúng tôi sẽ không dừng lại vì bất cứ lý do gì và sẽ đánh bại đối thủ.”

-

Trong khi Cohen và Kravis gầm ghè nhau bên cốc cà phê sáng, Johnson quyết định tự mình tìm hiểu sự việc. Lão đơn giản là phải biết liệu giá thầu của Kravis có thật không, và nếu có thì nhóm quản lý sẽ ra sao. Johnson cho rằng sự việc rất dễ hiểu. Lão nghĩ Cohen đã kém nhiệt tình với việc chia sẻ thỏa thuận cả đời mới có của anh ta với Kravis. Trong cả hai lần Cohen và Kravis nói chuyện, họ đều đi đến chỗ khơi mào cuộc chiến. Có lẽ sẽ hợp lý hơn khi bắt tay hợp tác với Kravis. Lão cho rằng cách duy nhất để chắc chắn về điều này là gặp chính Kravis.

Tìm trong tin nhắn điện thoại của mình, Johnson thấy tên Steve Waters. Có lẽ cựu nhân viên ngân hàng đầu tư Shearson, hiện đang làm việc cho Kravis sẽ là một cầu nối tốt. Vài phút sau, Waters nhấc điện thoại, ông đang ở văn phòng của mình tại Morgan Stanley và rất ngạc nhiên khi nghe tiếng Johnson cười. “Tôi nghĩ nên gọi cho anh,” Johnson nói và cười khúc khích. “Ross,” Waters nói đùa, “ông cũng biết tôi luôn có chuyện để nói với ông mà.”

Johnson nói rằng lão đang muốn nói chuyện với Kravis. “Ông thực sự nên gặp Henry,” Waters nói. “Anh ấy không phải là người xấu. Rõ ràng là sẽ tốt hơn khi hai người nói chuyện với nhau.”

Johnson đồng ý. Tiếp theo, lão gọi cho Jim Robinson ở American Express. Lão muốn nói qua với ông trước khi tự mình đến gặp Kravis.

“Nghe này, Jim, tôi nghĩ tôi sẽ gặp Henry, chỉ để nghe xem anh ta nói gì. Anh nghĩ sao?”

Robinson lắng nghe khi Johnson trình bày.

“Tôi nghĩ càng nghe ý kiến của nhiều người sẽ càng tốt hơn. Có thể đúng, có thể sai, nhưng tôi muốn tự mình nghe quan điểm của họ. Jim, anh là người đại diện, tôi cũng vậy. Tôi nghĩ cần những cuộc trò chuyện giữa những người đại diện.” Lão không muốn nói một điều hiển nhiên: Các cuộc tranh luận không phải với tư cách người đại diện của Cohen và Kravis sẽ không đi đến đâu. “Jimmy,” lão kết luận, “tôi muốn ra mặt với tư cách đại diện, không thông qua cấp dưới nữa.”

Khi Robinson đồng ý, Johnson gọi lại cho Steve Waters. Cuộc gặp với Kravis được ấn định vào 4 giờ chiều hôm đó.

-

Sau khi ăn sáng với Cohen, Kravis về văn phòng ở tầng 42 trong tòa nhà phía bên kia đường, từ đó có thể nhìn ra công viên Trung tâm và họp kín với Beattie và Roberts, người mới bay đến đêm hôm trước. Họ nhất trí rằng Peter Cohen là người duy nhất cản trở họ sở hữu RJR Nabisco. Chẳng có lý do gì để Shearson có mặt trong thỏa thuận này. Ross Johnson có chuyên môn quản lý. Kohlberg Kravis có chuyên môn mua lại. Cohen tham lam những khoản phí lớn, chỉ mong thu lợi nhiều hơn từ các vụ LBO lớn và có thái độ không tốt.

“Họ chẳng có tác dụng gì trong vụ này,” Roberts nói.

“Đúng vậy,” Kravis đồng ý.

Phải có cách nào đó để loại bỏ Shearson. Giải pháp rõ ràng là giảm vai trò của họ trong thỏa thuận này. Kravis ủng hộ ý tưởng phí tư vấn, và có thể là cơ hội để mua một phần của thương vụ này. Nhưng anh chưa sẵn sàng từ bỏ phần lớn cổ phiếu, như vậy chắc chắn anh sẽ không được quyền kiểm soát 50-50. Anh đề nghị có lẽ là 10%.

Beattie không chắc chắn lắm. 10% nghe có vẻ ti tiện quá. Xét cho cùng, Shearson đã kiến tạo thỏa thuận này. Vị luật sư không nói nhiều, nhưng ông cảm thấy chắc chắn Cohen sẽ xem lời đề nghị đó là một sự xúc phạm. Và ông cũng cảm thấy chắc chắn Henry Kravis sẽ chẳng mảy may để ý đến điều đó.

-

Trong khi Cohen ăn trưa với Tom Strauss cùng John Gutfreund của Salomon Brothers và tham dự một cuộc họp hội đồng quản trị của Shearson, thì ở số 9 khu Tây, Johnson gặp một nhóm các nhân viên ngân hàng thương mại chẳng mấy tiếng tăm để gây quỹ mua lại Nabisco. Trước những câu hỏi vặt vãnh về cắt giảm chi phí, Johnson thấy các nhân viên ngân hàng này thật phiền hà, và đã cố gắng đẩy họ sang Jim Stern của Shearson. Đến lượt các nhân viên ngân hàng, dẫn đầu là Bob O’Brien của Bankers Trust, cảm thấy Johnson đã không hiểu tầm quan trọng của họ. Với 13 tỷ đô-la, họ nghĩ lão nên ngồi yên nghe họ tra hỏi.

Nhưng Johnson có nhiều thứ quan trọng phải suy tính, đặc biệt là cuộc gặp với Kravis. 4 giờ kém vài phút, Johnson một mình bước vào thang máy, đi xuống sáu tầng đến văn phòng của Kohlberg Kravis. Khi cánh cửa thang máy đóng lại phía sau lưng, lão nhận ra mình đã quên mất Kravis ở tầng bao nhiêu. Lão bấm số 44 và bỏ số đó khi nhận ra mình đã nhầm. Lão thử số 42, và loay hoay vài phút mới phát hiện công ty ở góc phía sau.

Vào bên trong, lão được dẫn đến văn phòng góc của Kravis, và lần đầu tiên lão gặp George Roberts. Bầu không khí rất thân mật: Johnson chưa thể hiện chính kiến, và Kravis rất muốn kỹ năng quản lý của Johnson. Sau khi nói một hồi về Premier, Johnson nhanh chóng chuyển sang phác thảo cách lão sẽ điều hành RJR Nabisco hậu LBO. Cuộc trò chuyện rất chung chung: Cả ba người đều muốn thăm dò lẫn nhau. Khi Kravis và Roberts nói về triết lý hoạt động của họ, Johnson đã rất ấn tượng. Họ có vẻ hiểu biết nhiều hơn phía Cohen về cấu trúc tài chính và việc huy động vốn. Đổi lại, Johnson nói ra quan điểm của mình về công ty, và hai anh em đang khao khát thông tin về con mồi đã lắng nghe rất chăm chú.

Johnson muốn tìm hiểu thêm, thẳng thắn dò hỏi về khả năng hợp tác với Kohlberg Kravis. Johnson nói: “Giờ đây, Henry, nếu có được công ty này, liệu anh có bận tâm đến những thứ vớ vẩn về máy bay và sân golf không?”

“Chuyện đó với chúng tôi không quan trọng,” Kravis nói. “Nếu ông muốn có chi phí thêm cho máy bay, thì tùy thôi. Hãy nói chuyện với Don Kelly,” Kravis nói. “Ồ, vậy thì tốt,” Johnson nói và gật đầu.

Tuy nhiên, Roberts không phải là người xuồng xã. Đôi khi anh vẫn được mô tả là một người lạnh lùng, và George Roberts bắt đầu không thích Johnson, không thích cách sống chỉ biết đến thú vui, đến sân golf của lão. “Chúng tôi không muốn ông phải sống khổ hạnh,” anh nói. “Nhưng chúng tôi muốn mọi thứ phải hợp lý. Chúng tôi không có ý định để mọi người sử dụng máy bay riêng để đến đâu đó nếu không có lý do chính đáng. Điều quan trọng là một giám đốc điều hành phải đồng lòng trong bất kỳ thỏa thuận nào với chúng tôi. Ông cứ hỏi Peter Magowan mà xem.” Magowan là giám đốc của chuỗi cửa hàng bách hóa Safeway Stores do KKR kiểm soát và là bạn của Johnson.

“Phải, tôi đã hỏi rồi,” Johnson nói. “Tôi cho rằng thỏa thuận của chúng ta có khác một chút.” Johnson giải thích rằng lão đang tìm kiếm một cấu trúc, trong đó lão sẽ giữ quyền kiểm soát phần lớn công ty của mình.

“Không,” Roberts lắc đầu nói, Kohlberg Kravis không vận hành theo cách đó. “Chúng tôi sẽ không thực hiện bất kỳ thỏa thuận nào với việc nhóm quản lý kiểm soát công ty.” Roberts tuyên bố. “Chúng tôi hợp tác với ông. Nhưng chúng tôi sẽ không để mất quyền kiểm soát.”

Sao lại thế nhỉ, Johnson tự hỏi.

“Chúng tôi có tiền và nhà đầu tư, đó là lý do tại sao chúng tôi phải kiểm soát thỏa thuận này.” Nhìn vào mắt Johnson, Roberts nhận ra anh đã nói ra thông điệp mà lão không muốn nghe.

“Chà, nghe cũng có lý. Nhưng thật lòng mà nói, hiện nay tôi cũng có nhiều lựa chọn.”

Câu chuyện chuyển sang chủ đề cắt giảm chi phí, một trong những điểm mấu chốt cho sự thành công của một vụ LBO. Trước sự ngạc nhiên của Roberts, Johnson cho biết lão không quan tâm nhiều đến việc phải cắt giảm ngân sách. Lão giải thích dù sao thì cắt giảm chi phí là một thủ tục rất cần được coi trọng. “Bất cứ người nào, từ thời tiền cổ như người Neanderthal, cũng có thể đến đây, chia chác và cắt giảm chi phí,” lão nói. “Hãy giới thiệu cho tôi một người biết tiêu tiền.”

Lão tiếp tục: “Tôi sẽ vận hành công ty một cách khổ hạnh như bất kỳ ai khác. Nhưng chúng tôi có nhóm quản lý hạng nhất ở đây. Chúng tôi không phải là những người hoang phí. Tôi không muốn những kẻ tầm thường cho phép chúng tôi có được sử dụng xe limo hay không. Tất cả đều là những chuyện vặt vãnh. Điều các anh cần lo lắng là giá thuốc lá hay giá trị của các tài sản mà chúng tôi sẽ bán. Tôi chỉ muốn bàn đến những vấn đề lớn.”

Một trong những điều quan trọng có thể kể đến là Premier. Johnson bắt đầu nói điểm mạnh và điểm yếu cũng như tình trạng thử nghiệm trên thị trường của thuốc lá không khói. Lão nói, bí quyết là ở chỗ nó chỉ ấm lên chứ, không cháy như thuốc lá thông thường. Đột nhiên, Johnson phủi điếu thuốc lá Premier xuống tấm thảm phương Đông cổ của Kravis. George Roberts hoảng hốt nhìn xuống điếu thuốc đang cháy dưới chân Johnson. “Thấy chưa, nó không gây cháy bất cứ thứ gì,” Johnson nói, nhặt nó lên và cười. Lão nghĩ Roberts sắp nhảy ra khỏi cửa sổ.

Họ nói chuyện khoảng một tiếng cho đến khi Johnson ra ngoài để nghe điện thoại. Một phút sau, lão trở lại xin lỗi. “Đó là Jimmy và Peter. Tôi đã trễ buổi hẹn gặp bạn của các anh, Ted Forstmann,” Johnson cười nói. Hai người chẳng bận lòng khi biết lão đang có nhiều lựa chọn. “Vâng, chúng tôi biết Teddy,” Kravis mỉm cười đáp lại. Vậy là Forstmann nghĩ rằng ông ấy sẽ tham gia thỏa thuận này.

Thông tin này khiến Roberts thất vọng. Nhưng rồi mọi thứ về Ross Johnson còn khiến Roberts thất vọng hơn. Người này dường như không có ý định nghiêm túc. Giờ lão sẽ gặp Ted Forstmann? George Roberts là người không thích bị bỡn cợt.

Khi rời đi, Johnson nói đến triển vọng đàm phán thêm với Shearson. “Tôi hy vọng các anh sẽ từ từ giải quyết vụ này êm xuôi,” lão nói. “Hãy công bằng. Thực hiện một thỏa thuận một cách công bằng. Không một bên nào nên tìm cách áp đặt bên kia. Hãy cùng nhau giải quyết mọi việc, anh biết đấy. Chúng ta có thể bắt đầu hợp tác với nhau trong thỏa thuận này.”

6 giờ kém vài phút, khi Johnson đã ra về, Kravis và Roberts nhất trí rằng đã đến lúc họ phải hành động.

-

Jim Robinson âm thầm nguyền rủa chiếc điện thoại di động.

Sau khi rời cuộc họp của Hiệp hội Đối tác thành phố New York, trong đó một nhóm các nhà điều hành công ty hàng đầu bàn về việc cải thiện tình hình thành phố, ông đã rất ngạc nhiên khi thấy trong xe limousine của mình có một tin nhắn điện thoại từ Henry Kravis.

Khi xe của ông đã rời lề đường, điều duy nhất tồi tệ hơn tình trạng giao thông lúc chiều muộn là phải tiếp nhận lời nhắn trên điện thoại di động. Khi Kravis cầm máy, lời nói của anh ngắt quãng. Nhưng thông điệp rất rõ ràng.

Tôi muốn có một đề nghị, Kravis nói.

Đề xuất là: Kohlberg Kravis sẽ mua lại RJR Nabisco. Đổi lại, Shearson sẽ nhận được khoản phí một lần là 125 triệu đô-la từ Kohlberg Kravis, và được quyền mua 10% cổ phần của công ty. Kravis nói anh muốn có câu trả lời trước lúc nửa đêm.

Jim Robinson không phải là người thích nhìn vào ví tiền của người khác. “Henry, nghe có vẻ hơi ít đấy,” Robinson nói vậy, nhưng hứa sẽ gọi lại. Vài phút sau, Cohen ra khỏi cuộc họp hội đồng quản trị của Shearson, và nghe được lời đề nghị tương tự. Cohen nói ít, nhưng từ giọng điệu của anh, Kravis biết anh không được chào đón với vòng tay rộng mở.

-

Ross Johnson đâu rồi?

Ted Forstmann đã đợi gần hai tiếng đồng hồ mà vẫn không thấy bóng dáng lão.

Sau một ngày cân nhắc, Forstmann đã sẵn sàng bắt đầu cuộc thập tự chinh chống lại Kravis và thảm họa trái phiếu rác. Các máy tính của Forstmann Little đã phân tích kỹ lưỡng mọi thông tin đã công bố về RJR Nabisco. Các nhóm phân tích từ Goldman Sachs đã đưa ra các bản in, và kết luận của họ chỉ làm vững chắc hơn những gì Forstmann đã biết: Ngay cả ở mức giá 90 đô-la/cổ phiếu, RJR Nabisco vẫn là một thỏa thuận tốt.

Chiến lược của Forstmann Little đã rõ ràng, ít nhất là bước đầu tiên. Lời đề nghị đấu thầu hấp tấp của Kravis đã mở ra cơ hội cho công ty chen chân vào và giải cứu RJR Nabisco. Kravis đã thua trên mặt báo với công bố về “chủ quyền”, và các cố vấn của Forstmann đã quyết tâm tận dụng lợi thế đó. “Chúng ta nên đóng vai những người tốt,” Geoff Boisi nói với Forstmann, và ông hoàn toàn đồng ý với kế hoạch này.

Bây giờ, tất cả những gì họ cần là Ross Johnson.

Johnson cuối cùng đã đến Forstmann Little lúc 6 giờ rưỡi, đi cùng có Tom Hill. Sau khi bắt tay, Forstmann nhận thấy một người đàn ông thứ ba đằng sau họ.

Forstmann kéo Hill sang một bên.

“Gã đó là ai?” Ông thì thầm, chỉ vào người đàn ông thứ ba. Hill trông có vẻ ngượng ngùng. “Ông không cần biết cụ thể đâu, anh ta đi cùng Johnson. Anh ta không liên quan đến việc này.”

Một vệ sĩ, Forstmann nghĩ. Vệ sĩ không phải là phong cách của Forstmann Little. Đó là một dấu hiệu không tốt.

Forstmann dẫn Hill và Johnson vào một phòng họp với đồ đạc không mấy trang trọng, nó có bầu không khí của một phòng khách gia đình hơn. 12 chiếc ghế da màu đen xếp quanh một chiếc bàn gỗ. Một chiếc tivi đặt ở góc. Các bức tường dán đầy những tấm áp phích thời kỳ khủng hoảng mà Forstmann rất thích.

Johnson với nụ cười phóng khoáng trên môi ngồi xuống chiếc ghế ở đầu bàn.

“Tôi vừa từ buổi tranh luận đến đây,” lão bắt đầu.

Ted Forstmann ngần ngại hỏi: “Ông nói gì?”

“Tôi vừa đến từ buổi nói chuyện với Kravis.”

Forstmann không thể che dấu sự tức giận: “Ông làm điều đó để làm gì?”

Tom Hill xen vào: “Đó là điều chúng tôi phải làm, Ted,” ông bảo đảm với Forstmann. “Không có gì đâu, thật đấy. Tôi thấy điều đó không quan trọng. Johnson chỉ muốn sắp xếp mọi việc ổn thỏa thôi,” Hill nói.

Việc đề cập đến tên Kravis khiến Forstmann bắt đầu nói về bài xã luận. Trong gần nửa giờ, ông ba hoa về tệ nạn của trái phiếu rác, tội lỗi của Henry Kravis và cách Forstmann Little có thể cứu Phố Wall. Ông liên tục đề cập đến bài báo của mình trên tờ Wall Street Journal sáng hôm đó. Johnson lắng nghe, thầm thích thú.

Gã này thực sự quá cứng rắn với bài báo trên tờ Wall Street Journal, lão kinh ngạc. Johnson nghĩ lão hiểu thế giới quan của Forstmann. Henry Kravis là quỷ dữ. Ted Forstmann là thiên thần. Khách hàng của ông ta là hoàn hảo. Ông ta không quan tâm đến các khoản phí. Gã này nghĩ mình đang làm công việc của một vị vua để giúp cho những ai muốn tư nhân hóa công ty…

Ồ, vậy là tôi hiểu rồi.

Khi Forstmann kết thúc bài phát biểu, Nick Forstmann và cộng sự Steve Klinsky bắt đầu hỏi Johnson về công ty của lão. Triển vọng của thuốc lá là gì? Những công ty nào có thể bán? Trong những câu trả lời lan man của mình, Johnson dường như có vẻ thái quá. Rõ ràng là áp lực của thỏa thuận đang đè nặng lên tâm trí lão, Forstmann nghĩ.

-

Tom Hill rời phòng để nghe điện thoại. Đó là Cohen, anh truyền đạt lại đề nghị trị giá 125 triệu đô-la của Kravis. “Có vẻ không giống như ý tưởng của tôi về quan hệ đối tác,” Hill nói.

“Tôi cũng nghĩ vậy,” Cohen đồng ý.

Tuy nhiên, Hill thấy đó là một đề nghị hấp dẫn. Một khoản phí lớn gần bằng một nửa tổng doanh thu tư vấn sáp nhập của Shearson trong cả năm 1987. Thu nhập quý IV của Shearson có thể giảm, và Hill biết Cohen đang chịu áp lực rất lớn khi phải cứu vãn tình thế. Một đề nghị trị giá 125 triệu đô-la sẽ rất hấp dẫn.

“Không cần phải nói cũng biết,” Hill nói, “nếu chúng ta chấp nhận, việc đó sẽ đặt dấu chấm hết cho mảng hoạt động ngân hàng đầu tư của chúng ta. Chúng ta phải thừa nhận có một mức giá có thể buộc chúng ta phải đầu hàng. Ngay cả khi chúng ta cố gắng bao biện thế nào, thì điều đó cũng đã rõ ràng. Không thể chấp nhận đề nghị này.”

-

“Lại là bọn họ,” Hill thông báo khi anh trở lại phòng họp “Chúng tôi vừa nhận được lời đề nghị xúc phạm nhất.”

Forstmann thấy bối rối. Rõ ràng Hill vừa nhắc đến Kravis. Liệu Hill có đang thương lượng với Kravis trên điện thoại không? Điều gì đang xảy ra ở đây? Đắm chìm trong suy nghĩ, Forstmann không thể hiểu được sự trớ trêu của tấm áp phích trên vai phải của ông, trong đó viết: “Đừng phí thời gian vô ích, nói chuyện phiếm chẳng mang lại lợi lộc gì.”

“Chúng ta phải bàn về chuyện này,” Hill nói với Johnson, “bởi lời đề nghị này là sự xúc phạm đến ông cũng như chúng tôi.”

Johnson và Hill nhanh chóng rời đi, để lại anh em nhà Forstmann ngơ ngác chẳng hiểu chuyện gì. Liệu Johnson có đang thương lượng với Kravis không? Nếu vậy, tại sao lão còn đến nói chuyện với Forstmann Little? Có lẽ họ sẽ tìm ra câu trả lời sau đó: Tối hôm đó, Hill đã mời nhóm của Forstmann đến số 9 khu Tây để bàn về việc hợp tác.

Khi họ xem qua chi tiết về cuộc họp, Steve Klinsky hỏi Ted Forstmann: “Anh có có chắc gã này tỉnh táo không?”

Forstmann xem hành vi kỳ lạ của Johnson là sự phấn khích. Ông đã thấy hiện tượng này nhiều lần: một giám đốc điều hành luôn an toàn trong môi trường công ty lại hoang mang trước những nước cờ bí hiểm ở Phố Wall. “Ông ấy đang chịu rất nhiều áp lực,” Forstmann giải thích. “Anh biết đấy, ông ấy đang ở trong thế khó. Tôi thông cảm với các giám đốc điều hành trong thế giới này.” Klinsky thì không chắc chắn lắm: “Tôi nghĩ lão này điên thật rồi.”

-

Một giờ sau khi Kravis công bố đề nghị trị giá 125 triệu đô-la, Dick Beattie gọi điện cho Bob Millard ở Shearson.

“Anh đã nghe về lời đề nghị của chúng tôi chưa?” Beattie băn khoăn hỏi.

Millard truyền đạt thông tin mà Beattie mong đợi. Nhân viên giao dịch cho biết Cohen đang rất kích động với lời đề nghị của Kravis: Anh ấy thấy bị xúc phạm; bị tổn thương, tôi chưa bao giờ thấy bất cứ điều gì như thế.

“Anh ấy gọi đó là một vụ hối lộ,” Millard nói.

“Tôi biết điều đó,” Beattie nói và thở dài.

-

Johnson quay trở lại tầng 48, lão thấy Cohen đang chìm trong cơn thịnh nộ trước lời đề nghị của Kravis. Hill ngay lập tức đến nhập hội. Khi dậm chân nguyền rủa Kravis, khuôn mặt Tom Hill đỏ bừng đến nỗi Johnson nghĩ rằng ông ta sẽ bị đau tim. Jim Robinson cũng ở đó.

Giữa những lời lẽ giận dữ đao to búa lớn, đề nghị của Kravis đã khiến sự rạn nứt chưa được thừa nhận giữa Shearson và Johnson hiện hữu rõ ràng, sự rạn nứt này đã kéo dài gần hai ngày, kể từ khi Kravis có thông báo vào sáng hôm trước. Johnson vẫn chưa công khai tái khẳng định cam kết sẽ tiếp tục với vụ đấu thầu của Shearson. Tuy không thúc bách, Robinson và Cohen rõ ràng rất lo lắng khi Johnson đến gặp Kravis vào chiều hôm đó. Johnson sẽ ở lại với Shearson hay nhảy sang nhóm của Kravis?

“Nếu ông muốn gia nhập nhóm của họ, Ross, ông hoàn toàn có thể tự do làm điều đó.” Giờ đây, Robinson nói thẳng với Johnson. “Chúng tôi sẽ không ngăn cản,” Cohen hưởng ứng quan điểm của Robinson.

“Chết tiệt,” Johnson nói. “Các anh bình tĩnh đi. Tôi phải nói điều này với người của tôi trước. Sau đó, chúng ta sẽ quyết định sẽ làm gì.”

Đến chập tối, tầng 48 đã chật kín người: các nhóm từ Shearson, Davis Polk, công ty luật của Jack Nusbaum, và RJR bận rộn tính toán lại các phân tích từ nhiều tuần qua, chuẩn bị đặt giá cao hơn giá thầu của Kravis. Johnson tập hợp các giám đốc điều hành trong văn phòng lão. Horrigan, Henderson, John Martin và những người khác nằm ngồi ngổn ngang trên bộ bàn ghế màu kem dọc theo tường.

Johnson giải thích về lời đề nghị của Kravis: “Đây là tình huống mà tôi không thể đơn phương đưa ra quyết định. Chúng ta sẽ bỏ phiếu. Tôi sẽ làm theo ý kiến của các vị. Tôi muốn mỗi người cho tôi biết các vị cảm thấy thế nào. Các vị có thể đi theo bất cứ cách nào các vị muốn. Nhưng nhớ là các vị đang bỏ phiếu cho sự nghiệp của chính mình. Chúng ta có thể bắt tay với Henry, hoặc với Jim.”

Johnson hướng ánh nhìn quanh căn phòng tới những người lão đã chọn đồng hành trong Cuộc phiêu lưu vĩ đại. Lão giải thích: Tất cả các vị đều biết điều gì sẽ đến nếu làm việc cùng Henry Kravis. Tất thảy bọn họ đều gật đầu. Họ biết. Johnson cảnh báo: Nhưng lợi thế chiến thắng nghiêng về Shearson hầu như không lớn hơn là mấy.

“Các vị có thể nhận ra nếu tiếp tục với Shearson,” lão nói, “có lẽ tất cả các vị sẽ phải ra đi.” Cơ hội Shearson đánh bại Kravis dường như rất xa vời; thậm chí không ai dám chắc phe Cohen có thể huy động đủ số tiền cần thiết cho cuộc chiến không. Nếu đi với Shearson và thua cuộc, họ sẽ mất việc làm.

Lắng nghe bài phát biểu, Ed Horrigan biết Johnson rất nghiêm túc khi khuyến khích họ nhìn nhận lại lòng trung thành với lão. Trước đó, hai người đã nói chuyện riêng, và khi Horrigan hỏi về cuộc gặp gỡ của Johnson với Kravis, ông giật mình vì rõ ràng Johnson rất mâu thuẫn trong quan điểm. Johnson nói về Kravis và Roberts: “Này, những gã này được đấy.”

“Họ ư?” Horrigan hỏi, thấy khó tin.

Horrigan đã hỏi kỹ Johnson về những gì đã xảy ra ở dưới đó, cách đây sáu tầng, ở mức độ nào đó, người đứng đầu ngành thuốc lá vốn hăng hái nay lại nghi ngờ không biết thỏa thuận của Johnson thuộc loại nào, khi được tự do lựa chọn, ông sẽ chọn điều có lợi cho chính mình. Mặt khác, ông lại thấy khó chịu: Làm thế nào mà họ có thể đột nhiên đi từ chỗ sợ hãi và ghê tởm Kravis chuyển sang theo chân con người khó chịu đó? Có lẽ chỉ những người có tư tưởng dễ dãi như Ross Johnson mới có thể lật kèo như vậy. Nhưng với người kiên định như Ed Horrigan, sẽ không có chuyện đó.

“Tôi không biết anh đang nói gì,” Horrigan nói, “nhưng tôi không thích ý nghĩ đó.”

“Tôi không hiểu anh,” Johoson đáp lại. “Tôi sẽ thực hiện một thỏa thuận lớn nhất thế giới, và anh lại không mấy ấn tượng.”

Horrigan cố gắng giải thích chuyện này đơn giản với lão. Có một vấn đề cần xem xét, ông nói, hãy nghĩ xem hội đồng quản trị sẽ nhìn nhận việc này thế nào? Làm sao để nhóm quản lý chứng tỏ họ đang bảo vệ giá trị cho cổ đông nếu họ về phe với Kravis, khi điều này chắc chắn sẽ kéo giá bán công ty đi xuống? “Làm sao hội đồng quản trị ủng hộ chúng ta đến cùng đây?” Horrigan tuyên bố.

Johnson không đồng ý. Với giá sàn 90 đô-la mà Kravis đưa ra, ta đã hoàn thành sứ mệnh phục vụ cổ đông. Lão nói, giờ điều quan trọng là phải đảm bảo cuộc cạnh tranh đấu thầu này nằm trong tầm kiểm soát, không thể để các khoản nợ chồng chất đến mức không thể điều hành công ty.

Horrigan không muốn nghe thêm về việc bắt tay với Kravis. “Họ là kẻ thù,” ông nói. “Tôi không biết chúng ta sẽ làm việc với họ thế nào.”

Bây giờ, khi đã có đủ cả nhóm trong phòng, Horrigan lại công khai chỉ trích Kravis và phương pháp của lão. Ở lại với Shearson là điều nên làm, bất kể có cơ hội chiến thắng hay không. “Ta sẽ về phe với người ta thấy thân thiết,” Horrigan nói. “Chúng ta giành chiến thẳng với Shearson hoặc ra đi cùng Shearson.”

Những người khác, Henderson, Ed Robinson, Sage đồng ý với Horrigan. “Nghe này, chúng tôi cùng phe với ông. Chúng tôi sát cánh bên ông. Chúng ta đã chọn họ là đối tác, và chúng ta sẽ ở lại với họ.”

Cuộc khủng hoảng đã qua. Khi nhóm quản lý rời đi, Johnson triệu tập Cohen. “Tôi biết anh có một số nghi ngờ về chúng tôi,” lão nói. “Anh đã có một đề nghị rất hào phóng để chúng tôi ra đi. Tôi trân trọng điều đó. Tôi chỉ muốn khẳng định lại là chúng tôi sẽ sát cánh cùng anh.”

Cohen rõ ràng rất hài lòng. “Tôi rất cảm kích các ông đã bỏ phiếu tin tưởng chúng tôi. Để tôi nói ông biết, chúng tôi sẽ sát cánh bên ông đến cùng.”

-

Ở đỉnh điểm của sự hỗn loạn tối hôm đó, Ted Forstmann đã đến tầng 48. Khi bước ra từ thang máy, Forstmann có cảm giác tồi tệ. Nơi này đầy những người. Hình như, hầu hết bọn họ là luật sư. Forstmann rên rỉ. Lắm thầy nhiều ma…

Forstmann mang theo em trai Nick, luật sư Steve Fearin và Geoff Boisi của Goldman Sachs. Bọn họ cũng nhận thấy sự hỗn loạn. Boisi dù đã quen giao dịch với các nhân viên ngân hàng đầu tư nhưng vẫn thấy bối rối khi thấy các giám đốc điều hành cấp cao như Cohen và Robinson cũng đang lượn như đèn cù. Ai phụ trách ở đây vậy? ông tự hỏi.

Nhóm Forstmann được hộ tống vào một phòng họp không có cửa sổ, chỉ có độc một chiếc bàn bằng gỗ anh đào, và hơn chục luật sư cùng nhân viên ngân hàng đầu tư đang ngồi quanh. Johnson và Cohen cũng ở đó. Ngay lập tức, nhóm của Shearson bắt đầu đặt câu hỏi dồn dập cho nhóm của Forstmann, hầu hết đều tập trung vào một chủ đề duy nhất: Làm thế nào để đánh bại Henry Kravis? Forstmann gạt những câu hỏi đó sang một bên. Không có ý nghĩa gì khi nói về điều đó, ông giải thích, cho đến khi họ chắc chắn có tiếng nói chung. Vào ngày hôm đó, có ít nhất hai lần, Forstmann bắt đầu bài phát biểu với bài xã luận.

Đầu tiên là lăng mạ Kravis. Không trái phiếu rác. Không vay bắc cầu. Forstmann càng nói hăng hơn khi thấy Johnson lặng lẽ rời đi. Không đấu thầu thù địch, ông tiếp tục. Không có những thứ rác rưởi điên rồ đó. Cứ thế ông nói liền một mạch. Sau một hồi, Cohen theo Johnson ra ngoài. “Tôi sẽ không làm mất thời giờ của quý vị.” Forstman kết luận: “Chúng tôi không thể hứa quá nhiều. Nhưng chúng tôi ở đây cùng các vị. Các vị có nghĩ vậy không?”

Forstmann nhìn xung quanh. Đột nhiên, ông nhận ra phòng họp đã trống trơn. Chỉ có ba người trong nhóm ban đầu vẫn còn ở lại. Forstmann gãi đầu, một nhân viên ngân hàng cấp thấp của Shearson bắt đầu gợi ý những cách khả thi để kết hợp trái phiếu rác với các mục tiêu của Forstmann Little mà không làm xáo trộn quan điểm đạo đức của công ty.

Forstmann bực mình. Anh chàng này có nghe bất cứ điều gì ông nói không? Anh ta có thấy khó chịu khi đọc bài báo trên tờ Wall Street Journal sáng nay không? Anh ta có biết mình đang nói chuyện với ai không?

“Nào chờ đã, chờ đã,” Forstmann nói một cách bực tức. “Các vị không hiểu rồi. Tôi không làm được điều đó.”

Sau đó, cáu quá, ông dừng lại. “Mọi người đi đâu rồi?” ông hỏi.

Không ai biết. Khi các nhân viên ngân hàng còn lại của Shearson rời đi, Forstmann không biết phải làm gì. Ông đợi trong hơn một giờ không thấy bóng dáng của Johnson, Cohen, Jim Robinson hoặc Tom Hill. Geoff Boisi bắt đầu nổi điên. “Có điều gì đó như trò đùa đang diễn ra ở đây,” ông cảnh báo.

-

Cả buổi tối, Cohen đã cố gắng gọi cho Kravis. Có một việc quan trọng, anh và Johnson đã đồng ý với nhau, họ sẽ gửi lại tin nhắn cho anh ta rằng khoản “hối lộ” 125 triệu đô-la hoàn toàn không thỏa đáng. John Martin gợi ý rằng không phản ứng gì là cách tốt để anh ta hiểu vấn đề. Cohen để lại tin nhắn ở căn hộ của Kravis. Anh gọi cho Dick Beattie, hỏi Beattie có biết Kravis ở đâu không? Vị luật sư biết, nhưng không nói với Cohen.

Khi Cohen hỏi về anh, Kravis thật ra đang thưởng thức bữa tối xa hoa ở một nhà hàng gần đó có tên La Grenouille, do người đại diện Swifty Lazar dành tặng cho Henry Kissinger, ở đó, anh trò chuyện với Felix Rohatyn, nhân viên ngân hàng Lazard hiện đang làm việc với Charlie Hugel ở Ủy ban đặc biệt, và với John Gutfreund của Salomon. Tất nhiên, căn phòng đầy những lời bàn tán, đồn đại về thỏa thuận RJR Nabisco. Gutfreund ngồi cùng bàn với Kravis, cười thầm khi những người bạn cùng bàn cứ vặn hỏi nhà tài phiệt có dáng người nhỏ bé. Chưa khi nào Gutfreund để lộ rằng Salomon đang ráo riết chuẩn bị tham chiến chống lại Kravis. Cuộc trò chuyện trong bữa tối của ông với Kravis chỉ giới hạn trong một nhận xét về lần xuất hiện mới đây của Kravis trên báo chí.

“Tôi nghĩ rằng,” Gutfreund nói, “đây là lần đầu tiên tôi nhớ có một gã trong ngành tài chính được đăng trên trang nhất của tờ Wall Street JournalThe New York Times trong cùng một ngày.”

Henry Kravis chỉ cười. Anh không thích John Gutfreund lắm.

-

Sau bữa tối, Kravis trở về căn hộ của mình và chờ đợi cuộc gọi của Cohen. Từ cửa sổ thư viện ở nhà, anh có thể nhìn thấy tầng 48 ở số 9 khu Tây, đèn vẫn sáng trưng. Họ vẫn còn ở đó, anh nghĩ.

12 giờ 15 phút, điện thoại reo. Đó là Johnson.

Không khí sôi nổi bình thường giữa họ biến mất. “Henry, tôi thất vọng về anh,” lão nói. “Đề nghị của anh với họ thật tệ. Tôi nghĩ anh sẽ công bằng. Nhưng điều đó chẳng công bằng chút nào. Làm vậy không phải chút nào.”

Vẫn còn cơ hội để đối thoại, Johnson nói, nhưng không phải với những điều khoản như vậy. Nếu Kravis có đề xuất gì tốt hơn, anh vẫn được hoan nghênh như thường. Kravis không thấy ngạc nhiên. Như mọi khi, tin tình báo của Beattie rất chính xác. “Được thôi,” Kravis nói. Anh không có tâm trạng cho một cuộc tranh luận. “Nếu ông nghĩ như vậy…”

-

Johnson đặt điện thoại xuống và nhìn Goldstone. Có hai người đang ngồi trong phòng chờ ngay bên ngoài văn phòng của Johnson. Cohen lượn lờ bên ngoài cửa.

Goldstone không hài lòng với khách hàng của mình về cách diễn đạt vấn đề. Tính cách của Johnson đơn giản là không phù hợp với các cuộc đối đầu. Lão quá vui vẻ để có thể giúp chính mình.

“Ross, nghe này, nếu ông có ý định nói với Henry rằng mình sẽ không đổi bên, thì ông đã không thể hiện rõ điều đó,” vị luật sư nói. “Tôi nghĩ ông nên gọi lại cho anh ta và thông báo rõ ràng hơn.”

“Có lẽ tôi đã không nói đủ rõ.”

“Tôi cũng nghĩ vậy,” Goldstone nói. “Nghe có vẻ mơ hồ quá.”

“Có lẽ tôi phải gọi lại cho anh ta.”

“Tôi nghĩ ông nên gọi.”

Năm phút sau, Johnson lại gọi cho Kravis.

“Henry, có lẽ tôi vẫn chưa nói rõ với anh. Tôi muốn nói bên tôi sẽ ở lại với Shearson. Tôi không muốn anh có bất kỳ suy nghĩ nào về việc chúng tôi không phải là đối tác. Anh đừng mong tôi từ bỏ những ai là đối tác của mình.”

Kravis tự hỏi tại sao Johnson lại gọi lần thứ hai. Anh nhận định có ai đó đang giật dây lão. Anh tự hỏi ai là người thực sự phụ trách nhóm quản lý.

“Tôi cũng không mong ông sẽ làm vậy,” Kravis nói. “Ross, tôi muốn nói rõ. Không ai trong chúng tôi có suy nghĩ chia rẽ hai bên các ông. Đó không phải điều chúng tôi định làm.”

Dù ít hay nhiều, thì đó cũng là một lời nói dối. Nhưng giờ không phải lúc để xa lánh Ross Johnson. Kravis cúp máy, thấy lo lắng và rất nhanh chóng hội ý với George Roberts và Dick Beattie. Từ chối lời đề nghị của họ sẽ không tốt chút nào. Đề nghị đấu thầu 90 đô-la/cổ phiếu có vẻ ổn trên giấy tờ. Nhưng Kravis nhận thức sâu sắc rằng anh chưa bao giờ thực hiện một cuộc đấu thầu lớn nào mà không có sự giúp đỡ phân tích của nhóm quản lý, những người hoàn toàn hiểu rõ công ty của mình. Anh không muốn thừa nhận, nhưng có một thực tế rất rõ ràng: Anh cần Ross Johnson. Bên cạnh đó, một cuộc chiến đấu thầu ở quy mô này có thể khiến người chiến thắng tiêu tốn hàng tỷ đô-la. Kravis và Roberts đồng ý nên có cuộc tiếp xúc thứ hai.

Kravis quay số của Johnson ở số 9 khu Tây. Sau một phút, Cohen nghe máy.

“Peter, có lẽ sẽ tốt hơn nếu chúng ta nói chuyện,” Kravis nói. “Anh biết đấy, chúng tôi không cố gắng chia rẽ các anh. Tôi nghĩ chúng ta nên nói về điều này.”

“Được rồi, nói đi.” Cohen nói.

“Tại sao ta không gặp nhau vào sáng mai?”

“Nếu anh muốn nói chuyện, thì gặp ngay bây giờ đi.”

Cohen không nói đến việc Ted Forstmann đang chờ để thảo luận với họ ở phòng phía sau.

“Peter, 12 giờ rưỡi đêm rồi…”

“Không, nếu có gì muốn nói, hãy nói ngay bây giờ. Ngày mai có thể quá muộn rồi.”

Vài phút sau, Kravis gọi cho Dick Beattie.

“Họ muốn gặp.”

“Mấy giờ ngày mai?”

“Đêm nay.”

“Đêm nay à?”

-

Beattie mặc chiếc áo khoác mỏng, bước ra khỏi căn hộ ở đại lộ số 5 và gọi taxi. Trên đường đi, anh đón Roberts ở khách sạn Carlyle, rồi đón Kravis ở căn hộ trên đại lộ Park. Chiếc taxi phóng nhanh qua những con phố vắng người qua lại. Khi bộ ba đến bên ngoài số 9 khu Tây, họ ngạc nhiên khi thấy một dãy dài limousine đậu bên ngoài. Kravis lắc đầu.

“Chà,” anh nói, “trên lầu, cả thế giới như đang thức.”

-

George Sheinberg, Phó Chủ tịch của Shearson, thấy Kravis đi ra khỏi thang máy lúc hơn 1 giờ vài phút. Là một nhiếp ảnh gia có tài, Sheinberg luôn mang theo máy ảnh. Ông bắt đầu giơ máy lên chụp ảnh - đây đúng là khoảnh khắc lịch sử - nhưng dừng lại. Bình thường không phải là một người mê tín, nhưng Sheinberg cũng không muốn mang vận xui đến cho cuộc họp.

Jim Stern của Shearson vẫy tay khi Kravis, Roberts và Beattie ra khỏi thang máy. Stern đã dành phần lớn thời gian buổi tối để cập nhật thông tin với một nhóm nhân viên ngân hàng đầu tư Salomon trong một phòng họp chỉ cách phòng Forstmanns đang chờ khoảng 2,5m. Hai chiếc cửa vẫn khóa chặt để đảm bảo hai bên sẽ không đụng mặt nhau. Vội vàng quay trở lại với nhóm của Salomon, Stern không thể ngừng suy nghĩ xem liệu sự xuất hiện của bộ ba này có làm thay đổi điều gì không.

Không khí trong phòng của Johnson rất náo nhiệt khi nhóm Shearson chờ đợi Kravis đến.

Cohen và nửa tá người khác, gồm Jim Robinson và Tom Hill, đi lại trong phòng với dáng vẻ lo lắng. Có một vấn đề nữa, thủ lĩnh của Shearson rất lo Kravis bằng cách nào đó sẽ chạm mặt Ted Forstmann. Chúa mới biết điều gì sẽ xảy ra sau đó.

Văn phòng của Johnson, theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng, mù mịt khói thuốc. Miệng của Johnson và Cohen đang ngậm xì gà. Một lớp khói bay là là trong bầu không khí đã đặc quánh mùi khói thuốc, nhưng dường như không ai để tâm đến điều đó. Rốt cuộc, đây là một công ty thuốc lá và họ đang cố gắng mua nó. Trên kệ, phía sau bàn của Johnson, là một bản sao cuốn Binh pháp Tôn Tử, không có bằng chứng cho thấy Johnson đã từng đọc nó. Cửa sổ chạy dọc theo một bên tường: Bên ngoài khung cửa, nhìn về phía nam sẽ thấy tòa nhà RCA tối om, và các chữ cái Paine Webber sáng choang bởi ánh đèn neon màu đỏ, xa hơn là ánh đèn lấp lánh từ khu hạ Manhattan.

Kravis, Roberts và Beattie được hộ tống tới dãy phòng của các giám đốc điều hành, đi qua phòng của Andy Sage trống trơn, một dãy các tủ gắn tường vân mắt gỗ và vào phòng Johnson. Trong phòng rất đông đúc, mọi người mất vài phút để chào hỏi và trao đổi vài câu bông đùa xã giao. Jack Nusbaum trêu Beattie, ông chỉ mặc chiếc áo khoác choàng bên ngoài bộ đồ ngủ: Dick, trông như ông như vừa chui ở giường ra.

Khói thuốc ngay lập tức khiến George Roberts khó chịu. Theo bản năng, anh giơ tay xua khói thuốc bay vào mặt, mắt anh cay xè, Roberts cố gắng nói vui về sự khó chịu của anh. “Tôi sẽ rất vui nếu các ông không sản xuất xì gà,” anh nói khi chào Ed Horrigan. “Khói xì gà khiến tôi ngạt thở.”

Phải mất một lúc mọi người mới nhận ra cách nói hài hước của Roberts. Johnson và Horrigan nhìn nhau với ánh mắt ngạc nhiên. Có phải anh ta nói khói thuốc làm phiền anh ta? Có vẻ như đó là một sự thừa nhận đáng kinh ngạc từ một người đang tìm cách mua lại một trong những công ty thuốc lá lớn của Mỹ; câu nói hớ hênh của Roberts đã dẫn đến bầu không khí hoang mang đêm nay cho tất cả những ai có liên quan.

“Nếu điều đó thực sự làm phiền anh,” Cohen nói, cầm điếu xì gà đang cháy lên, “tôi sẽ tắt nó đi.”

“Vâng, phiền anh,” Roberts nói

“Kiểu lịch sự chết tiệt,” Horrigan lẩm bẩm.

Cohen rời khỏi phòng, trở lại vài giây sau với điếu xì gà đã tắt. Giữ nó trong tay, anh đi ra phía sau chiếc bàn trống của Johnson. Trước đó, Cohen và Jim Robinson đã đồng ý rằng tốt nhất người đứng đầu American Express sẽ ra ngoài khi Kravis đến. Cohen biết Robinson và Kravis là những người bạn cùng cưỡi ngựa, và anh không muốn lương tri của Robinson bị tổn thương khi phải đối đầu với bạn mình.

Giờ tới lượt Robinson và Johnson cùng đứng dậy xin phép ra ngoài. “Chúng tôi sẽ để các vị bên ngân hàng đàm phán với nhau,” Johnson nói với nhóm. “Tôi hy vọng các vị có thể thu xếp được với nhau. Điều đó sẽ tốt hơn cho tất cả mọi người. Chúng tôi sẽ xuống hội trường, phòng khi các vị cần đến chúng tôi.”

“Hãy nhớ rằng rất nhiều người đang theo dõi quá trình này, cả Quốc hội nữa,” Robinson nói.

“Chúng tôi đâu muốn làm tổn thương một công ty mà chúng tôi yêu quý và ngưỡng mộ,” George Roberts gượng gạo nói.

Khi Robinson và Johnson đã rời đi, Cohen theo bản năng biết được rằng anh và Hill sẽ phải đối phó với các đối thủ như thế nào. Cũng giống như mọi cuộc đàm phán ở Phố Wall, anh cảm thấy đối tác cấp cao có xu hướng đóng vai chính khách - “cảnh sát tốt”, trong khi đối tác cấp thấp chắc chắn đóng vai người thi hành án — “cảnh sát xấu”. Trong nhiều năm, anh đã diễn vai “cảnh sát xấu” Sandy Weill, một vai diễn mà anh đã thể hiện rất tốt, trở thành bản chất thứ hai trong con người anh. Đêm nay, Cohen sẽ thử vai trò mới là nhà ngoại giao.

Vẫn còn tức giận về vụ “hối lộ” của Kravis, anh mở đầu không được như ý. Đứng sau bàn làm việc của Johnson, Cohen nhấn mạnh rằng Shearson vẫn luôn cởi mở trong quan hệ hợp tác với Kohlberg Kravis. Dù nói với giọng đều đều, nhưng bản năng chiến đấu của Cohen đã sớm bộc lộ. “Đây là thỏa thuận của chúng tôi,” anh nói. “Chúng tôi sẽ không bỏ cuộc. Chúng tôi sẽ không nhận vai trò phụ tá cho bên anh hoặc bất kỳ ai khác. Chúng tôi có Ross đứng về phía mình, và điều đó mang lại lợi thế rõ ràng.”

Về lời đề nghị của Kohlberg Kravis, Cohen tiếp tục: “Chúng tôi không quan tâm đến bất kỳ khoản hối lộ nào. Các anh có thể trả cho chúng tôi gấp đôi những gì đã đề nghị. Đó là sự lăng mạ, và là hành động kiêu ngạo. (Sau đó, chính Cohen đã thừa nhận: “Chẳng có ai từng nhầm lẫn tôi với một chính khách.”)

George Roberts, ngồi trên chiếc ghế dài phía sau Beattie lạnh lùng nói, tay không rời hai vạt áo: “Peter, chúng tôi đến đây để nói về thái độ đối với vụ này. Tại sao anh không nói về cách chúng ta có thể làm việc cùng nhau? Chúng tôi muốn xem xét những khả năng này để xem chúng ta có thể hợp tác thế nào.”

Nhưng Shearson vẫn chưa bàn đến chuyện đó. Tom Hill — điềm tĩnh, chuẩn bị kỹ, không tỏ ra lo sợ — xen vào với vai cảnh sát xấu. “Nhóm quản lý hiện đã quyết định ở lại với Shearson Lehman,” ông bắt đầu nói. “Hiện tại, chúng ta đang cùng bước vào lãnh địa, nếu không đạt được thỏa thuận, chúng ta sẽ cạnh tranh.”

Hill muốn làm rõ những rủi ro mà Kravis phải đối mặt trong cuộc chiến tổng lực. “Henry, anh đã bước vào vùng lãnh thổ mà chưa hiểu rõ về nó. Điều này sẽ đặc biệt khó khăn. Nhóm quản lý không đứng về phía các anh. Điều đó đặt ra một loạt các câu hỏi, chủ yếu là về khả năng các anh có được những con số chính xác.”

“Hiện tại,” Hill tiếp tục. “Tất cả những điều này đặt ra câu hỏi: Bên các anh sẽ được nhìn nhận thế nào, thân thiện hay thù địch. Đây là một vụ đấu thầu thù địch, và những nhà đầu tư của các anh sẽ dè chừng. Nó cũng có ý nghĩa thực sự về cách nhóm quản lý trong tương lai sẽ làm việc thế nào với các anh. Ngoài ra, như các anh đã biết, RJR có những hoạt động tại miền Nam và ở các bang Carolina. Đây là những khu vực bầu cử, nơi có một số thành viên nghị viện uy tín, bao gồm cả Jesse Helms. Tôi chắc chắn Jesse Helms sẽ quan tâm tích cực đến tương lai của công ty này và cộng đồng ở đây.”

Rõ ràng đây là một sự đe dọa. Khi Hill dừng lại, mọi người ngay lập tức lên tiếng. Kravis tức giận. Anh nói: “Tom, nếu đó là một sự đe dọa, thì thật nực cười. Tôi sẽ không ngồi đây để nghe các anh đe dọa chúng tôi.”

“Tom, nếu ông muốn gọi cho Jesse Helms, thì gọi đi,” Roberts nói. “Đất nước này tự do mà.”

Dick Beattie xòe rộng hai lòng bàn tay, cố gắng hòa giải hai bên. “Tom, cứ như vậy sẽ chẳng đi đến đâu đâu.”

Cohen cắt ngang trước khi ai đó lên tiếng hòa giải. “Thôi nào. Thật nực cười,” anh nói. “Đây không phải là mục đích cuộc họp của chúng ta. Chúng ta ở đây để xem làm thế nào có thể hợp tác với nhau.”

Beattie vui mừng vì Cohen đã lên tiếng làm hòa, nhưng không hề bỏ qua sự thật là thủ lĩnh Shearson đã đợi cho đến khi Hill nói xong mới can thiệp.

-

Đã hai giờ đồng hồ trôi qua, cho đến khi một người đưa tin ló đầu vào phòng họp, nơi những người của Forstmann vẫn đang ngồi đợi. Ross Johnson muốn gặp họ. “Tôi có nên mang theo Fearin không?” ông hỏi, người kia nói: “Không, đừng mang theo luật sư.” Mệt mỏi, Ted Forstmann cùng Nick nhấc mình khỏi ghế và đi theo sự hướng dẫn, đi qua những căn phòng tối thui, đến văn phòng góc của Ed Horrigan. Bên trong có Johnson, Jim Robinson và Horrigan. Robinson mặc một bộ lễ phục màu nâu với cà vạt kéo thõng xuống.

“Có chuyện gì đang diễn ra vậy?” Forstmann hỏi.

Jim Robinson lên tiếng. “Ted, tôi muốn nói cho ông biết chuyện gì đang xảy ra. Không có cách nào khác là phải nói với ông sự thật.”

“Sự thật gì?”

“Bên tôi đang họp với Henry Kravis trong một phòng họp khác.”

Forstmann nhìn chằm chằm vào một điểm nào đó phía trên đầu Robinson, như thể ông vừa bị ai đó thúc vào dạ dày. Thật không thể tin được, Forstmann cố tìm từ để nói. Ông ngồi xuống chiếc ghế dài, bên cạnh em trai mình.

Thất vọng là từ chưa đủ mạnh để diễn tả cảm xúc của Forstmann lúc này. Điều này gần như là sự phản bội. Ông đã hy vọng những người này sẽ làm việc có nguyên tắc. Ông đã rất muốn tin họ có thể nhìn thấu Kravis, giống như ông. Bấy giờ, ông nhận ra mình đã sai.

Rồi chầm chậm, một chuỗi những từ ngữ thô tục, giống như bảng điện tín dài lê thê, bắt đầu cuộn qua tâm trí Forstmann. Đồ khốn, ông nghĩ. Đồ chết tiệt. Vậy tôi đến đây để làm gì? Đặc biệt là, họ lại đang nói chuyện với tên khốn Kravis đó.

Forstmann không nói gì.

Robinson tiếp tục. “Teddy, những gì chúng tôi đã làm là tốt nhất, mặc dù đó không phải là điều đúng đắn. Đó là một nước cờ thông minh cần phải thực hiện.”

Forstmann vẫn im lặng.

“Chúng tôi không nghĩ việc này sẽ đi đến đâu,” Robinson nói.

Johnson bất ngờ nói chen vào: “Không, chúng tôi không nghĩ việc này sẽ có tiến triển. Nó sẽ không đi đến đâu. Nhóm quản lý sẽ không bắt tay với những gã đó.”

Forstmann nghĩ, vậy tại sao các ông lại ở đây nói chuyện với họ? Ôi, sao mà ông ghét nghe những lời dối trá đến vậy. Ông muốn hét lên. Bọn khốn kiếp! Nhưng ông vẫn cố kìm nén. Ông luôn nói với các cộng sự rằng một khi mất bình tĩnh, ta sẽ mất luôn thỏa thuận.

Ông nhìn Jim Robinson. “Chà, đó không phải là việc của tôi,” Forstmann nói, “nhưng tôi thực sự không đồng ý với ông.”

Đến mức này, ông đã muốn rời đi. Nhưng ông biết mình không thể làm vậy. “Tôi cho rằng họ thật sự là loại người mạt hạng,” ông mạo muội nói. “Họ đã chứng minh hết lần này đến lần khác rằng họ là loại mạt hạng.”

Một lần nữa, Forstmann nhìn Jim Robinson với ánh mắt van nài. Đó là một khoảnh khắc khó xử. “Ngoài công việc, chúng ta là bạn, Ted,” Robinson nói. “Chúng tôi chỉ biết họ về mặt xã giao.” Ông dừng lại: “Dù sao đi nữa, thật sự ông không có gì phải lo lắng, vì sẽ không có việc chúng tôi hợp tác với họ.”

“Jim,” Forstmann nói, “cho dù các ông có hợp tác hay không, tại sao các ông lại làm việc này. Tôi chỉ không hiểu tại sao. Ý tôi là, làm sao ông có thể bắt tay với những người này khi đã có chúng tôi? Tiền của chúng tôi chi trả được đến 9%. Ông không cần dùng đến trái phiếu rác. Ông không cần đến Kravis. Tôi sẽ không bao giờ làm những điều họ đã thực hiện. Tôi sẽ không bao giờ nâng giá lên đến 90 đô-la. Nếu KKR không xuất hiện, chúng tôi sẽ ủng hộ các ông từ bên ngoài.”

Họ nói chuyện thêm một lúc, sau vài phút ngại ngùng, họ chuyển chủ đề sang quần vợt và golf. Cuối cùng, Forstmann nói: “Cảm ơn các ông vì ít nhất đã nói cho tôi biết.”

“Vâng,” Johnson nói, “các ông đã cho chúng tôi sự tin tưởng để nói ra điều này.”

Forstmann nói: “Cảm ơn nhiều!”

Forstmann trở lại chỗ Boisi và Fearin với tư cách người thua cuộc. “Các anh sẽ không bao giờ tin điều này,” ông bắt đầu nói.

“Đi thôi,” Fearin nói khi Forstmann kể lại sự việc. Không có lý gì để ở lại, và cố gắng làm việc với những người đối xử với ông như thế này, vị luật sư nói. Forstmann sẽ không bao giờ làm những việc xuẩn ngốc và nguy hiểm như vậy, Fearin nói thêm, và ông không nên làm việc với những kẻ đã làm vậy. “Tôi không muốn ông cứ quanh quẩn ở đây nữa,” vị luật sư nói.

Fearin có vẻ là một ông chú tốt bụng sau trận chiến trên sân chơi. Nhưng sau tám năm hợp tác, ông đã hình thành thái độ bảo vệ kỳ lạ đối với Teddy Forstmann. Xét về nhiều mặt, Fearin biết khách hàng của ông quá ngây thơ về Phố Wall. Ông vẫn không chấp nhận và thử đồng hành cùng những người như Cohen và Kravis, càng chỉ trích họ sâu sắc, ông càng thực sự không hiểu họ. Forstmann tin tưởng mọi người cũng ngay thẳng giống ông, và điều đó đôi khi dẫn đến những bất ngờ như tối nay, làm ông sửng sốt.

“Hãy đi khỏi nơi quái quỷ này,” Forstmann nói, sẵn sàng rời đi.

Geoff Boisi ngăn ông lại. “Bình tĩnh đi, Ted. Suy cho cùng, tất cả chúng ta đều muốn ra khỏi đây. Nhưng tình thế có thể thay đổi, chuyển sang hướng có lợi cho chúng ta. Có thể, nếu ông ở lại.”

Nhân viên ngân hàng Goldman đã để ý thấy bầu không khí hỗn loạn nơi đây, những khuôn mặt ngơ ngác, sự hiện diện khó hiểu của các giám đốc điều hành hàng đầu như Cohen và Robinson. Ông nhìn thấy một cơ hội cho mình, khi cảm thấy không khí tuyệt vọng bên nhóm của Shearson.

“Những người này đang rất hoang mang,” Boisi nói với Forstmann. “Nếu không thể đạt được thỏa thuận với KKR, họ sẽ thực sự cần chúng ta. Chúng ta sẽ tùy cơ ứng biến.”

Forstmann thấy khó xử. Ông rất muốn đánh bại Kravis, và cho thế giới thấy sự thật về trái phiếu rác. Nhưng Johnson dường như không thể phân biệt được phải trái, giữa Forstmann Little và Kohlberg Kravis, và điều đó khiến ông buồn.

Họ lại tiếp tục đợi.

-

Ở tầng 48, trong căn phòng đầy khói thuốc của Johnson, đàm phán không đi đến đâu. Về lý thuyết, cả hai bên đều muốn đàm phán về một số hình thức hợp tác. Mọi người đều sẽ mất mát lớn trong một cuộc chiến công khai kéo dài. Nhưng mỗi bên đều có quan điểm về quan hệ đối tác khác nhau. Cohen đã từ chối lời đề nghị của Kravis với số cổ phần 10%, và coi đó là một sự xúc phạm. Kravis không muốn chỉ được chia 50-50. “Trước đây, chúng tôi chưa từng làm vậy,” Kravis nói, “và bây giờ cũng sẽ không làm vậy.”

“Bao giờ cũng sẽ có lần đầu tiên,” Tom Hill nói. “Ý tôi là thỏa thuận trị giá 20 tỷ đô-la có làm các anh thay đổi ý định không? Nó quá lớn đối với tất cả chúng ta.”

Kravis vẫn đang sôi sục vì lời nói của Hill khi viện dẫn đến cả Jesse Helms, anh trừng mắt nhìn nhân viên ngân hàng. “Chúng tôi không thể thực hiện thỏa thuận để rồi phải từ bỏ quyền kiểm soát. Chúng tôi không thể làm điều đó. Đó là cách hoạt động của chúng tôi.”

Trong suốt một giờ đồng hồ, họ cứ chuyển từ vấn đề này sang vấn đề khác, không đi đến thỏa thuận, không hình thành thế đối đầu hoàn toàn.

“Được rồi,” Kravis nói với Cohen, “vậy anh nhìn nhận vai trò của bên anh là gì?”

“Chúng tôi sẽ cấp vốn vay. Chúng tôi sẽ làm toàn bộ vụ này.”

Kravis tròn mắt. “Tại sao không để chúng tôi làm? Các anh có thể tham gia với tư cách là đối tác vốn cổ phần. Các anh muốn gì nào? Các anh sẽ nhận được một phần phí và cổ phiếu tương xứng.”

Kravis và Roberts hỏi lại về thỏa thuận của Shearson với Johnson. “Không có lý do gì để nói về thỏa thuận quản lý cho đến khi chúng ta có thể hợp tác thực hiện vụ này,” Cohen nói.

“Làm sao chúng ta có thể hợp tác trong khi không biết các anh đã thỏa thuận những gì?” Cohen nói qua về thỏa thuận với các điều khoản khá mơ hồ.

Họ chẳng đi đến đâu.

George Roberts đã cố gắng thỏa hiệp theo cách khôn ngoan nhất. Anh đề nghị nhóm Shearson có thể mua lại toàn bộ RJR Nabisco, sau đó đồng ý bán cho Kohlberg Kravis các công ty thực phẩm. Đó là một đề xuất phức tạp liên quan đến mê cung lợi ích thuế, mà phải mất vài phút để giải thích. Roberts hỏi Tom Hill rằng Shearson muốn bán các công ty thực phẩm của RJR với giá bao nhiêu. Ông nói: “15 tỷ 500 triệu đô-la.”

“Thế này nhé,” Roberts nói, “chúng ta có vấn đề ở đây. Các công ty đó có giá dưới 14 tỷ đô-la.” Cohen và Hill rời khỏi phòng, họp kín với nhau vài phút trước khi từ chối thẳng thừng ý tưởng này.

Và cuộc họp cứ thế tiếp diễn. Rất nhiều vấn đề họ không thể nhất trí với nhau. Các câu hỏi xuất hiện, ví dụ như ngân hàng đầu tư nào sẽ giám sát việc chào bán trái phiếu hậu tiếp quản. Bên cạnh lợi nhuận từ khoản đầu tư LBO, “quản lý sổ ghi” hay điều hành việc chào bán trái phiếu là công việc béo bở với một ngân hàng đầu tư tham gia thỏa thuận RJR Nabisco. Kravis thấy Drexel, công ty từ lâu đã thống trị thị trường trái phiếu rác là sự lựa chọn tất nhiên.

“Chúng tôi sẽ không ủng hộ Drexel,” Cohen nói. “Điều này thậm chí không cần phải bàn nữa.” Đó là chưa kể đến việc Drexel sắp bị truy tố. “Ai biết điều gì sẽ xảy ra với họ sau đó?” anh nói.

Đến 3 giờ sáng, rõ ràng là sẽ không có thỏa thuận nào giữa họ. Khi Kravis và Roberts đứng dậy rời đi, Cohen kéo Dick Beattie sang một bên.

“Nghe này,” Cohen nói, “xét về mặt nào đó, ông cũng có chút ảnh hưởng ở đây, chúng ta nên hợp tác trước khi mọi việc đi quá xa. Mọi việc có thể sẽ đi đến chỗ không thể kiểm soát.”

-

Ở tầng dưới, Kravis và Roberts gọi một chiếc taxi.

Khi xe xuất phát, Henry Kravis chỉ nghĩ đến việc siết cổ Tom Hill. Lời nhắc nhở về Jesse Helms vẫn khiến anh tức giận, Dick Beattie cố gắng dùng lời lẽ nhẹ nhàng để làm Kravis bình tĩnh, nhưng không thể.

“Ông có tin được không, những gã đó dám đe dọa chúng ta?”

George Roberts nghĩ Hill đơn giản chỉ là một trong những kẻ tệ nhất trong đám người xấu chơi. “Anh biết rõ Tom Hill mà,” ông nói, “ông ta gần như đã viết sẵn kịch bản cho những gì sẽ nói.”

-

Ross Johnson mong rằng khi lão trở lại văn phòng của mình, tình hình với Kravis đã lắng dịu. Lão sốc khi thấy các cuộc đàm phán đã thất bại thảm hại. Cohen đang đi đi lại lại, không ngừng chửi rủa Kravis. “Thật không thể chịu nổi,” anh nói với Johnson. “Chúng tôi không thể hợp tác với họ.”

Johnson không thể tin. Đã bốn lần thảo luận riêng, cho đến giờ Cohen không thể đạt được thỏa hiệp nào với Kravis. Điều gì đã xảy ra? Là một người vốn tự hào về khả năng có thể hòa đồng với bất kỳ ai, Johnson không thể hiểu được tại sao Cohen không thể đạt được thỏa thuận, đặc biệt là vào thời điểm dường như rất quan trọng này. Kravis và Cohen giống như các chất trơ về hóa học, sẽ phát nổ khi trộn lẫn nhau. Khi gặp anh ta chiều hôm đó, Johnson biết Kravis không khó đối phó đến vậy.

Johnson lắng nghe khi Cohen lớn tiếng phàn nàn về việc Kravis đã vô lý như thế nào. Từ giọng điệu của anh ta, Johnson nghi ngờ Cohen gần như đã vui mừng vì cuộc đàm phán chẳng đi đến đâu; nó cho anh ta một cái cớ để gạt Kravis sang một bên và giữ lại thỏa thuận cho Shearson. Johnson, lo lắng về công ty của mình hơn là sự cạnh tranh trên Phố Wall, bắt đầu có những nghi ngờ nghiêm trọng về cái mác nam nhi đại trượng phu của Cohen. Chúa ơi, lão nghĩ, đã có gì đó sai thật rồi.

Luồng suy nghĩ mông lung của Johnson bị gián đoạn khi ai đó thò đầu vào trong phòng, và nói rằng Ted Forstmann chuẩn bị rời đi.

“Chúa ơi,” Jim Robinson nói. “Teddy vẫn còn ở đây.”

Khi Cohen và những người khác hối hả chạy đi ngăn Forstmann, Johnson và Robinson vẫn ở lại phía sau. “Tôi cảm thấy họ như những kẻ trông nom nhà thương điên vậy,” Johnson nói.

-

Geoff Boisi không thể chờ thêm một phút nào nữa. Nhân viên ngân hàng đầu tư hiếu chiến của Forstmann đứng dậy khỏi ghế, và rời khỏi phòng họp không có cửa sổ đó với vẻ rất quyết tâm. Bên ngoài, không thấy một ai. Ông kiểm tra một số phòng trống trơn, rồi tìm thấy điều ông đang tìm kiếm.

Bên trong một căn phòng, cặp giám đốc điều hành của Shearson, Jeff Lane và George Sheinberg đang ngồi trên bàn nói chuyện. Boisi thò đầu vào cửa.

“Tôi chỉ muốn nói với các anh một điều. Tôi đã làm trong ngành này 18 năm, và đây là cách cư xử tồi tệ nhất tôi từng thấy. Đơn giản là việc này đã khiến chúng tôi quá tổn thương. Chúng tôi không đáng bị đối xử như vậy. Tôi đơn giản là không thể chịu nổi nữa.”

Nói xong , Boisi xông ra ngoài.

-

Ted Forstmann thấy như vậy là quá đủ rồi. Ông và bộ ba cố vấn cầm áo khoác lên, và bắt đầu tìm ai đó để nói lời tạm biệt.

Đột nhiên, trên dãy hành lang dài, Forstmann nhìn thấy Cohen và nửa tá người đang vội vã chạy về phía ông. Hai nhóm gặp nhau bên ngoài phòng họp, nơi Forstmann đã chờ đợi suốt cả đêm. “Nào, đối tác,” Cohen nói, dang rộng vòng tay chào đón Forstmann. “Đi nào. Ta nói chuyện đi.”

Forstmann ngay lập tức nhận ra điều gì đã xảy ra: Cuộc đàm phán với Kravis đã thất bại, và Cohen giờ lại cần đến Forstmann Little.

Lần thứ hai trong buổi tối hôm đó, Forstmann muốn hét lên. Ông nhìn Cohen, và biết chính xác những gì ông muốn nói. Anh làm tôi phát ốm.

Nhưng Forstmann không thể rời đi. Sau này, ông thấy khoảnh khắc đó khá giống với những gì ông đã trải qua trong các chuyện tình thời trung học. Với mỗi cô gái, có một khoảnh khắc trước khi chia tay bạn mới biết — chỉ lúc đó mới biết — nếu khi đó bạn rời bỏ cô ấy, bạn sẽ không bao giờ làm hòa. Forstmann biết rằng nếu lúc đó rời khỏi văn phòng RJR Nabisco, ông sẽ không bao giờ quay trở lại. Kết quả là Henry Kravis sẽ giành được giải thưởng lớn nhất trong lịch sử. Và sẽ không ai biết đến sự thật. Không ai biết những sự dối trá của bọn lừa đảo. Hai nhóm lũ lượt kéo nhau trở lại phòng họp.

Vào bên trong, Forstmann cố giữ bình tĩnh, nhưng như thường lệ, ông vẫn không thể kiềm chế. Trước khi có thể tiến xa hơn, trước khi họ thậm chí có thể coi là đối tác của nhau, ông phải nói cho Cohen hiểu Forstmann Little là ai. Ông phải nói cho họ hiểu sự khác biệt cơ bản giữa Forstmann Little và Kohlberg Kravis.

“Anh không thể coi Forstmann Little giống như Kohlberg Kravis,” Forstmann nói. “Không thể so sánh hai chúng tôi. Khi bắt đầu công việc này 10 năm trước, tôi đã nói muốn trở thành người giỏi nhất. Tôi đã không quan tâm đến việc trở thành công ty lớn nhất. Nếu anh nghĩ rằng lớn nhất là tốt nhất, thì hãy đi đi. Anh thuộc về phe Kravis. Doanh thu của chúng tôi gấp ba, bốn lần số tiền họ nói dối rằng họ đã thu về.”

Jim Robinson cắt ngang trước khi ông quá xa đà vào bài xã luận. “Chúng tôi biết tất cả những điều đó, Ted. Chúng tôi biết điều đó là đúng. Đó là lý do tại sao tất cả chúng ta đều ở đây.”

Vài phút sau, Ross Johnson đến tham gia cuộc họp. Forstmann quay sang lão nói: “Tôi muốn nói là nếu ông vẫn còn có bất kỳ sự mơ hồ nào về KKR, ông không thể hợp tác với tôi. Không thể.” Có tất cả hoặc không có gì hết, Forstmann nói. Ông sẽ không là đối tác với bất kỳ ai thậm chí vẫn đang cân nhắc hợp tác với Kravis.

Geoff Boisi nghĩ rằng ông nên nói những điều cần thiết. “Chúng tôi cần nghe từ chính các ông nói rằng nếu tiếp tục với chúng tôi, các ông sẽ không qua lại với bên đó nữa.” Ông lặp lại thông điệp đó hai hoặc ba lần để mọi người kịp hiểu nó.

Boisi nhìn Johnson, lão ngồi phịch xuống ghế, đầu tựa trên cánh tay phải gần sát mặt bàn. Lão gần như kiệt sức. Thỉnh thoảng, Johnson nhấp một ngụm chất lỏng trong suốt đựng trong một cái cốc. Steve Fearin nhận thấy Johnson dường như đang líu nhíu nói điều gì đó, ông tự hỏi chất lỏng trong cốc đó là nước hay rượu vodka.

“Ross,” Boisi tiếp tục, “điều Teddy muốn nói là ông ấy muốn chắc chắn các ông đã kết thúc với Kravis. Tôi nghĩ ông ấy muốn các ông nói thẳng với ông ấy quyết định của mình, rằng các ông đã kết thúc với bên ấy. Nếu chưa, chúng tôi sẽ rời đi ngay bây giờ.”

Forstmann cắt ngang. “Đã kết thúc chưa? Vì nếu các ông chưa xong với họ, chúng tôi sẽ kết thúc ở đây.

Cuối cùng, Johnson lên tiếng: “Không có thỏa thuận nào giữa bọn họ và chúng tôi. Đó là điều chúng tôi phải làm. Giờ mọi việc đã xong, đã kết thúc rồi. Chúng tôi cần sự giúp đỡ của các ông. Chúng tôi muốn hợp tác với các ông.”

Họ bàn thêm một số vấn đề về chiến lược, chiến thuật và cách tốt nhất để đối phó với một Henry Kravis thù địch. Và rồi ai đó nói rằng đã 4 giờ sáng, và ngày mai ai cũng đều có rất nhiều việc phải làm. Họ liền đứng dậy, bắt tay và đi về phía thang máy. Khi đó, Ted Forstmann không thể ngừng suy nghĩ đến việc chẳng ai nói với ông một lời xin lỗi vì đã để ông ngồi trong phòng một mình, chờ đợi hơn ba giờ đồng hồ.

Cơn gió mát buổi sáng thổi mạnh như ùa vào mặt khi nhóm Forstmann ra khỏi tòa nhà số 9 khu Tây. Trong một khoảnh khắc, bốn người đứng im lặng trên phố 57, mỗi người đều chìm đắm trong suy nghĩ của riêng mình.

Boisi phá vỡ sự im lặng. “Anh có chắc chắn muốn hợp tác với những người này không?”

“Geoff,” Forstmann nói, “ở đó có nhóm quản lý. Đó là nơi chúng ta nên bắt đầu. Chúng ta ít nhất cứ cố gắng làm việc với họ. Ông có đồng ý không?”

“Trên quan điểm của một cố vấn, và bây giờ tôi chỉ là một cố vấn,” Boisi nói. “Tôi có một suy nghĩ. Tôi muốn ông nói với họ rằng ông đang khó chịu. Ý tôi thế này. Chúng ta cần phải nói với họ rằng chúng ta không thích những gì đã xảy ra ở đó.”

Lập trường của Boisi đã rõ. Ông không muốn hợp tác với Peter Cohen. Nhưng chính Boisi đã có kế hoạch của riêng mình. Một số khách hàng tốt nhất của Goldman, có cả Procter & Gamble, đang cố gắng hết sức để có được một phần của thỏa thuận này. “Teddy, ông có cảm thấy cần thay đổi gì không? Ý tôi là, tại sao ông không hợp tác với chúng tôi?”

“Geoff,” Forstmann nói. “Tôi có ba lựa chọn. Tôi có thể bắt tay với những người này. Tôi có thể ở cùng phe với các ông. Điều đó tôi chắc chắn làm được. Hoặc tôi có thể không làm gì.”

Fearin cười, như muốn nói rằng ý tưởng chẳng làm gì ở Phố Wall khi bầu không khí ở đây luôn bị chi phối bởi các khoản phí thì chỉ Ted Forstmann mới có thể tưởng tượng ra.

“Anh nghiêm túc đi được không?” Forstmann nói. “Không làm gì nghĩa là nếu không có gì, tôi sẽ chẳng làm gì.”

“Tôi nghĩ ông nên nói điều đó với Cohen,” Boisi nói.

“Đây là loại việc mà một cố vấn nên làm,” Forstmann trả lời. “Tôi muốn giao thiệp với tay Cohen này càng ít càng tốt.”

[1] Loài cá chuyên tấn công và ăn thịt các động vật sống. (ND)

[2] Trường phái nghệ thuật và trang trí mang tính chiết trung được bắt đầu tại thành phố Paris vào thập niên 1920. (BTV)

HoHoàng Thị Ngọc dịch • Barbarians at the gate •
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.