Bọn Rợ Rình Trước Cổng

Lượt đọc: 80 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 12

❊ ❊ ❊

Theo một cách nào đó, LBO rất giống với việc mua một chiếc xe đã qua sử dụng.

Báo cáo thường niên và các tài liệu công khai của công ty mục tiêu có thể được so sánh với quảng cáo trong mục rao vặt. Giống như một bài quảng cáo, chúng chứa thông tin hữu ích, mặc dù một người mua thông thái biết các con số đó có thể truyền đạt bất cứ điều gì mà một kế toán thông minh cần chúng thực hiện.

Người mua xe muốn biết nhiều hơn những gì ghi trong quảng cáo. Anh ta muốn nói chuyện với chủ xe, kiểm tra dưới mui xe, đi thử một vòng quanh khu phố. Đối với người mua LBO, việc kiểm tra kỹ lưỡng cũng không kém phần quan trọng. Giống như bất kỳ nghệ sĩ tiếp quản nào, người mua LBO phải biết rõ con mồi của mình. Thành công của anh ta phụ thuộc vào việc xác định chính xác số nợ mà công ty mục tiêu có thể chi trả, và đảm bảo chính xác những khoản ngân sách có thể cắt giảm, và những công ty nào có thể bán để nhanh chóng trả các khoản nợ đó. Tiếp tục so sánh với xe đã qua sử dụng, ta thấy người mua LBO phải ước tính chính xác đến từng chi tiết, xe đã đi được bao nhiêu dặm, cần bao nhiêu phụ tùng thay thế, và yêu cầu bảo trì ra sao.

Biên độ sai số cho phép của anh ta quá nhỏ đến nỗi một trục khuỷu bị mòn hoặc một miếng đệm bị rò có thể khiến ngân hàng gọi đòi nợ. Tương tự, trong một vụ LBO, một tính toán sai hoặc dự đoán không chính xác có thể khiến cả người mua và người bán rơi vào tình trạng nợ nần chồng chất.

Nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu bạn là Henry Kravis, và những người bán xe thậm chí không cho phép bạn đá vào lốp xe chứ chưa nói đến kiểm tra tình trạng xe?

Đây là vấn đề nan giải mà Kravis phải đối mặt. Trong cuộc đua đấu thầu này, Johnson và Cohen hoàn toàn kiểm soát tình hình. Họ không chỉ có quyền truy cập vào tất cả các thông tin tuyệt mật, mà còn có nhóm quản lý để phân tích nó. Họ biết mỗi đồng đô-la vừa thu về được cất giữ ở đâu, khoản ngân sách nào có thể cắt giảm mà không làm công ty bị tổn thương, bộ phận nào có thể cắt bỏ mà không làm chậm quá trình sản xuất. Thông tin là chìa khóa thành công, và Kravis chỉ có thể đứng từ bên ngoài nhòm vào.

Một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của ủy ban đặc biệt là giúp Kravis tìm hiểu về RJR Nabisco. Các nhân viên ngân hàng của Lazard và Dillon là những trọng tài có nhiệm vụ tạo ra một sân chơi bình đẳng mà ở đó Kravis, có thể cạnh tranh bình đẳng với Johnson ít nhất là về mặt lý thuyết. Trên thực tế, điều này có vẻ là một nhiệm vụ rất khó khăn.

Quá trình người mua LBO kiểm tra công ty mục tiêu được gọi là thẩm định. Khi Kravis có sự hợp tác của nhóm quản lý, thẩm định là chuyện nhỏ. Các tài liệu mật được cung cấp ngay lập tức, và những giám đốc điều hành luôn sẵn sàng vắt óc để tìm ra cách tốt nhất tăng lượng tiền mặt và giảm nợ. Kravis có đội ngũ kế toán viên, luật sư và nhân viên ngân hàng đầu tư kiểm tra kỹ công ty mục tiêu cho đến khi anh hài lòng, họ biết mọi ngóc ngách của công ty, và đánh dấu riêng mọi tài sản, chỗ nào để loại bỏ, cắt giảm hoặc giữ lại. Đó toàn là những công việc nhàm chán, yêu cầu tính tỉ mỉ cẩn thận, nhưng xét trên nhiều phương diện, đó là chìa khóa cho thành công của Kohlberg Kravis trong kinh doanh LBO.

Thứ Năm ngày 27 tháng Mười, Kravis và Roberts gặp Charlie Hugel, ông ta đảm bảo họ có thể nhanh chóng bắt đầu quá trình thẩm định. Các giám đốc điều hành của RJR Nabisco, bao gồm cả những thành viên trong nhóm Johnson, sẽ tham gia buổi phỏng vấn. Giống như nhiều công ty đại chúng khác, RJR đăng ký thành lập ở bang Delaware, và theo luật của bang này, hội đồng quản trị buộc phải cử các giám đốc điều hành đến giúp Kravis nghiên cứu kỹ lưỡng tình hình công ty. Nhưng như Kravis đã tìm hiểu, không có luật nào nói rằng họ phải hợp tác với bên anh.

Ủy ban đặc biệt đã sắp xếp để Kravis bắt đầu phỏng vấn các giám đốc điều hành của RJR tại khách sạn Plaza, New York vào sáng thứ Hai ngày 31 tháng Mười. Các cuộc phỏng vấn sẽ diễn ra trong hai ngày. Johnson sẽ không được gọi - như vậy còn nói làm gì, Kravis nghĩ. Ed Horrigan từ chối phỏng vấn. Đội của Kravis dành tất cả cuối tuần để chuẩn bị.

Các giám đốc điều hành của Johnson sẽ trải qua quá trình hơi khác gồm hai lượt thẩm định. Kravis đã có kế hoạch chào hỏi từng người trong phòng khách, nói tóm tắt để người đó hiểu về triết lý hành động của anh, và khuyến khích người đó ở lại nếu Kravis giành chiến thắng. Sau đó, anh sẽ hộ tống từng người đến một phòng riêng, nơi Paul Raether và một số cộng sự của Kohlberg Kravis sẽ tra hỏi họ. Raether có tâm trạng cáu kỉnh ngay trước khi các cuộc phỏng vấn bắt đầu. Mãi đến sáng hôm đó, ủy ban đặc biệt mới gửi các hộp dữ liệu tài chính đầu tiên của RJR, khiến anh không có thời gian để chuẩn bị những câu hỏi mang tính điều tra.

9 giờ 30 phút, giám đốc điều hành đầu tiên, John Polychron, chủ tịch của Planters xuất hiện. Khi bắt tay Polychron, Kravis nhận thấy có người thứ hai đứng sau ông ta, một trong những luật sư của Harold Henderson. Kravis vốn cảnh giác với các dấu hiệu mua chuộc và dọa dẫm của Johnson nên ngay lập tức nghi ngờ. Có phải người đó là gián điệp không? Có phải anh ta được cử đến để đe dọa những người được phỏng vấn, và ngăn họ tiết lộ bí mật không? Kravis không biết nói sao. Sau một lúc, người đó rời đi, để lại một mình Polychron.

Hai người tiếp theo — John Greeniaus, đứng đầu Nabisco và Bill McKnight, trợ lý của ông, đến vào lúc 1 giờ. Kravis phát biểu nhanh, cố gắng khiến họ thấy thoải mái. Anh rất ngạc nhiên khi Greeniaus nói: “Nghe này, anh nên biết rằng tôi không thuộc nhóm của Ross Johnson. Tôi không nằm trong nhóm bảy người.”

“Hãy để ý gã này,” Kravis nói với Raether khi hộ tống Greeniaus vào phòng phỏng vấn. “Có vẻ đã có một kẻ chống đối ở đây để ta có thể sử dụng. Gã này có thể có ích đấy.”

Raether đã hy vọng khi Greeniaus ngồi vào bàn phỏng vấn. Nhưng ngay khi họ bắt đầu, một cộng sự trẻ của Lazard bước vào với một lời nhắn. “Khi phỏng vấn xong,” anh này nói với Greeniaus, “ông nên qua bên kia đường đến tầng 48.” Điều đó đã phá tan bầu không khí. Raether nghi ngờ lời nhắn đó đến từ Johnson nhằm đe dọa Greeniaus. Đó là một trò cân não. Giống như Polychron trước đó, Greeniaus cứ thế trả lời các câu hỏi một cách lịch sự, nhưng không quá hữu ích.

Harold Henderson có lịch phỏng vấn lúc 5 giờ. Với hiểu biết chi tiết về các vấn đề pháp lý của thuốc lá, Henderson có thể đặc biệt hữu ích. Khoảng 5 giờ kém, Kravis và Dick Beattie đã thấy ông đến hội trường bên ngoài phòng phỏng vấn. Vị luật sư tự giới thiệu và bắt tay Kravis.

“Tôi có thể nói chuyện với anh không, Kravis, một phút thôi?”

Hai người bước vào một căn phòng trống trong khi Beattie đợi bên ngoài. Kravis đi ra từ phòng đó một phút sau, và nhìn theo Henderson đang đi dọc hành lang.

“Đây là điều đáng nguyền rủa nhất mà tôi từng nghe.”

“Gì vậy?”

“Gã đó nói rất rõ: Tôi cùng phe với Ross, dù thắng, thua hay hòa. Gã sẽ không nói chuyện với chúng ta. Đó là lần đầu tiên điều này xảy ra.”

Đến tối thứ Hai, ngay cả Raether cũng phát cáu. Người của Johnson dường như đang bị mất trí nhớ tập thể. Những câu hỏi dễ thì họ trả lời. Nhưng khi Raether thăm dò về một đánh giá, ý kiến về việc có thể cắt giảm khoản ngân sách nào, họ lại bắt đầu im lặng với cùng một câu nói: “Tôi sẽ trả lời anh sau.”

Cuộc diễu hành của các giám đốc bên Johnson tiếp tục vào thứ Ba. Chiều hôm đó, bộ ba giám đốc điều hành cấp cao, đi trước là người đứng đầu bộ phận thuốc lá trong nước, Dolph von Arx, đến phỏng vấn. Một ngày trước, tờ Wall Street Journal đã trích lời von Arx rằng ông sẽ rời công ty nếu Kravis tiếp quản. Vì vậy, Kravis cũng không ưa gì ông ta.

“Chắc chắn ông đã nghe hầu hết những gì tôi nói trong các bài phát biểu này,” Kravis nói. “Mà này, ngài von Arx, tôi không có nhiều điều để nói với ngài. Ngài sẽ ra đi, hoặc là tôi đã đọc được điều đó trong bài báo, cùng tám nhân sự hàng đầu của ngài.”

“Ồ, không,” von Arx phản đối. “Hãy đọc lại lời trích dẫn. Tôi không phát biểu thay họ; họ phải tự đưa ra quyết định.”

“Ngài sẽ ra đi nếu tôi mua công ty này phải không?” Kravis hỏi.

“Tôi trung thành với nhóm quản lý như anh thấy đấy,” von Arx nói. “Nhưng tôi sẽ phải đánh giá lại lập trường của mình.”

Thật hay, Kravis nghĩ, những người này nhanh chóng chuyển đổi lòng trung thành thế sao. Rất ít người, chẳng hạn như Bob Carbonell của Del Monte, rất dễ chịu và hơi có chút hợp tác. Còn những người khác nữa, nhưng dường như Kravis không thể nhớ tên họ.

Ed Robinson là tệ nhất. Giám đốc Tài chính của Johnson phải là một kho thông tin quý giá. Hiểu biết sâu sắc của ông về hoạt động ở châu Âu và các hoạt động cấp vốn nước ngoài của công ty sẽ là vô giá.

Xuất hiện vào 5 giờ chiều thứ Ba, Robinson rõ ràng không muốn hợp tác với Kravis. Sự thù địch tỏa ra từ người ông giống như sức nóng mùa hè tỏa ra từ đường phố.

“Ông có muốn nghe những gì tôi cần nói không?”

“Không,” Robinson nói. “Tôi biết đủ rồi.”

Trong phòng phỏng vấn, Robinson công khai đối đầu với Kravis. Trong hầu hết các câu hỏi, ông ta hoặc là viện cớ không biết, hoặc nói rằng sẽ tìm câu trả lời và gửi lại sau. Raether hỏi về các công ty con cho thuê của công ty, mà anh chỉ được biết tới sự tồn tại của chúng thông qua một lá thư tự nguyện gửi đến cho Kravis, và đề nghị được mua nó.

“Công ty cho thuê nào?” Robinson hỏi.

Và cuộc phỏng vấn cứ tiếp diễn như vậy. Sau một loạt câu trả lời đặc biệt mang tính thoái thác, một trong những trợ lý của Raether, Scott Stuart, cắt ngang: “Chúng ta có cần tiếp tục trò đố chữ này không? Hay ta có thể về nhà ngay bây giờ?”

Robinson ra ngoài. Người cuối cùng được phỏng vấn là Dean Posvar, trưởng bộ phận kế hoạch, có khá hơn một chút. Thật giống như thẩm vấn các tù nhân chiến tranh, Raether nghĩ, và anh đã tưởng tượng Posvar sẽ chỉ cho biết tên, cấp bậc và số sê-ri của mình. Khi phiên phỏng vấn cuối cùng kết thúc, Raether đã nổi cáu.

“Thật tốn công vô ích,” anh lẩm bẩm với Josh Gotbaum, một nhân viên ngân hàng của Lazard Freres, người được cử đến giám sát các cuộc phỏng vấn. “Những người này chẳng chịu nói gì cả.”

-

Sau khi gọi điện tạm biệt Cohen và Gutfreund vào sáng thứ Hai, Forstmann tự nhủ ông không hề hối tiếc vì việc hợp tác không suôn sẻ. Làm việc với Shearson thật đáng thất vọng, giống như nhiều lần khác ông đã trải qua trong sự nghiệp của mình. Làm việc với trái phiếu rác chỉ khiến ông muốn bỏ cuộc. Điều hối tiếc duy nhất của ông là nếu không có một đối thủ thực sự, Kravis có lẽ sẽ thắng trong vụ thầu lớn nhất trong lịch sử này. Shearson không đủ tầm để ngăn anh ta lại. Hai bên có thể cuối cùng sẽ trở thành một đội, Forstmann nghĩ. Thật may là ông đã thoát khỏi vụ này; bọn họ cũng chỉ cùng một giuộc thôi.

Geoff Boisi thì không sẵn sàng từ bỏ RJR Nabisco. Ông có tới ba khách hàng tốt nhất của Goldman đang rất muốn có một chân trong thỏa thuận này. P&G rất thèm muốn các công ty bánh quy của RJR. Ralston Purina của St. Louis thèm muốn có được các thương hiệu thực phẩm. Và David Murdoc, người đứng đầu Castle & Cooke, cha đẻ của trái cây Dole, rất muốn mua được đối thủ chính của Dole là Del Monte. Cũng giống như các khách hàng của mình rất muốn có được một phần công ty của Johnson, không ai muốn có thỏa thuận này hơn Boisi.

Giống như Shearson, Goldman Sachs sắp công bố quỹ đầu tư trị giá nhiều tỷ đô-la. Tuy nhiên, quỹ của Goldman là dành cho các khoản vay bắc cầu. Đây sẽ là lần đầu tiên nguồn quỹ này cho phép Goldman già nua và chậm chạp có thể cạnh tranh với những gã khổng lồ lắm tiền như Shearson và Merrill Lynch. Quỹ là đứa con tinh thần của Boisi; vụ đấu thầu RJR Nabisco sẽ đánh dấu sự ra mắt của nó.

Liên minh mà Boisi hình dung sẽ là một đội trong mơ. Tất cả những gì ông cần để hoàn thành nó là một người nào đó quan tâm đến việc mua các hoạt động thuốc lá. Người nào đó chính là Ted Forstmann. Forstmann phải bị thuyết phục. Và Boisi biết phải xử lý mọi việc thật khéo léo.

Cả ngày hôm đó, ông cứ căn vặn Forstmann, nhắc nhở ông ấy về những lý do họ cần cố gắng đặt thỏa thuận này ở vị trí ưu tiên hàng đầu. Boisi khẳng định Kravis phải dừng lại trước khi anh ta hủy hoại từng công ty trong Fortune 500. Nếu KKR thắng vụ này, sẽ không có điều gì ngăn cản được họ, ông lập luận. “Họ sẽ mạnh hơn Boone Pickens, Carl Icahn, và tất cả bọn họ là cùng một giuộc với nhau.”

Boisi nói với Forstmann rằng các công ty Mỹ sẽ đứng lên, và cổ vũ cho người dám thách thức liên minh trái phiếu rác. Bất cứ ai đánh bại Kravis sẽ nổi lên như một người anh hùng thực sự của trận đấu vật trong bùn này. Người anh hùng đó, Boisi đề xuất, phải là Ted Forstmann. Chỉ có Forstmann mới hội tụ đầy đủ kỹ năng và sức mạnh để đảm nhận công việc khó khăn này.

“Ông vẫn chưa biết mình mạnh đến mức nào đâu,” Boisi nói. Tiền mặt “giá rẻ” của Forstmann Little là lợi thế vượt trội so với tất cả các đối thủ khác. Ông vẫn chưa biết tiền của mình mạnh đến mức nào đâu. Đó là chìa khóa cho sự thành công của toàn bộ thỏa thuận.”

Rất nhanh, Forstmann bắt đầu gặm nhấm miếng mồi của Boisi. Sự hấp dẫn của việc giáng một đòn mạnh vào Kravis và những kẻ nghiện trái phiếu rác là quá lớn. Và không ai có thể phủ nhận mong muốn được làm việc với các công ty hàng đầu như P&G. Forstmann thậm chí còn cho phép mình nói thành tiếng những suy nghĩ chất chứa trong lòng.

“Nếu chúng ta thực hiện quá trình thẩm định, và điều này thực sự khả thi về mặt kinh tế, thì người sẽ tham gia cùng chúng ta chính là những thành viên hết sức tích cực. Họ đều là những người tiêu tiền thật. Không ai đến từ phe phái nào. Không ai thuộc về liên minh nào. Forstmann thân mến… đó không phải là một điều tuyệt vời sao?”

Đúng vậy, Boisi nói, và như vậy sẽ chẳng có gì là mạo hiểm. “Tôi biết ông sẽ không làm điều gì mạo hiểm. Tôi biết các giới hạn của ông. Nhưng hãy nghĩ về điều này: Nếu thỏa thuận này có thể đáp ứng các chuẩn mực của ông, hãy nghĩ về những gì chúng ta có thể làm được. Những kẻ buôn bán trái phiếu rác có thể phải mất ba, bốn năm mới làm được như vậy. Chúng ta có thể đảo ngược tình thế.”

Forstmann thấy mình đang nghĩ về thỏa thuận Revlon. Liên minh trái phiếu rác đã nổi lên thành thế lực mạnh trong vụ tiếp quản Revlon của Ron Perelman. Một lần nữa, ông cảm thấy day dứt với việc mình phải chịu trách nhiệm cho trận thua đó, và cho các thiệt hại mà những kẻ đột kích đã gây ra. Ông đã bị đánh bại trong trận chiến đó. Nhưng bây giờ…

Một sự mường tượng bắt đầu hình thành trong tâm trí của Forstmann. Bọn rợ trái phiếu rác đang rình ở cổng thành, Forstmann nghĩ. Chúng ta có thể ngăn chặn bọn chúng, tất cả bọn chúng, và chỉ cần một trận này thôi. Đây là lúc chúng ta có thể đứng trên cây cầu này và đẩy lui bọn rợ. Chẳng phải chúng ta đã làm nên một điều phi thường sao?

Ông sẽ làm điều đó.

Cohen là kẻ bòn rút. Chúng ta không cần anh ta, Forstmann nói. Cohen thiếu kinh nghiệm đến nỗi anh ta chắc chắn sẽ thất bại. Đây sẽ là trận chiến của Forstmann và Kravis. Những người tốt — P&G, Ralston và Castle & Cooke — sẽ quyết chiến với bọn rợ trái phiếu rác của Drexel Burnham và Merrill Lynch.

“Ông biết điều kiện là gì rồi đấy,” Forstmann nói với Boisi. “Không có trái phiếu rác. Không có thứ rác rưởi đó. Và họ sẽ phải mời chúng ta dự thầu.”

“Đúng vậy,” Boisi nói. Lúc này, ông phải cam kết bằng tất cả sức mạnh, và cả phần lời mà ông sẽ được hưởng.

Forstmann nói thêm, Forstmann Little phải có quyền phủ quyết đối với các động thái của nhóm đấu thầu. Boisi cũng đồng ý với điều đó.

…..

Dần dần, nhóm của Johnson tiến tới xây dựng gói thầu của mình. Johnson đã dành cuối tuần ở Atlanta, trở lại New York vào chiều thứ Hai và có cuộc gặp trong vòng một giờ với các đại diện của nhà đầu tư đến từ Texas, Robert Bass, một trong số những bên Cohen đang xem xét mời tham gia vụ thầu. Sau đó, Johnson, Horrigan cùng các giám đốc điều hành khác của RJR Nabisco ăn tối với nhóm Shearson và Salomon ở phòng ăn của Shearson.

Hai trường phái tư tưởng đang hình thành, và mỗi phe đều cho rằng phương pháp của họ là tốt nhất để tiếp cận giá thầu. Phe Salomon, do Gutfreund và Strauss dẫn đầu, đang nghiêng về phương pháp đấu giá ngay lập tức. Điều này sẽ khiến bàn dân thiên hạ và hội đồng quản trị thấy họ đang ở đây để chiến đấu thật sự. Họ phải đưa ra một giá thầu đầu đó khoảng 92 đô-la/cổ phiếu, chỉ cần đủ để cao hơn giá 90 đô-la của Kravis. Đó là bản năng của một giao dịch viên: trả giá nhanh, vượt qua giá của người khác 1 điểm phần trăm, và chờ xem điều gì sẽ xảy ra tiếp theo.

Phe kia, dẫn đầu là Steve Goldstone và Tom Hill, đánh giá cách tiếp cận đó là thiển cận. Họ lập luận trả giá cao hơn Kravis ngay bây giờ sẽ chỉ dẫn đến cuộc chiến đấu thầu kéo dài, và khiến giá thầu tăng vọt. Một cuộc đấu giá là điều cuối cùng họ muốn. Bằng cách nào đó, họ cần phải kết thúc nhanh chóng quá trình này: một đòn duy nhất, sắc bén, quyết đoán sẽ hạ gục Kravis, nắm trọn hội đồng quản trị một lần này và mãi mãi về sau. Hill và Goldstone phán đoán khả năng giá thầu nên ở mức 100 đô-la/cổ phiếu. Cuối buổi tối đó, Goldstone cảm thấy cả nhóm đang nghiêng về lập luận của anh.

Sáng thứ Ba, Goldstone nhận được một cuộc gọi từ Peter Atkins, luật sư đang làm việc cho ủy ban của Hugel. Đã một tuần kể từ khi Kravis đưa ra giá thầu, và hiện anh ta đang thực hiện thẩm định. Atkins tò mò hỏi về việc khi nào anh có thể nhận được giá thầu từ phía Johnson. Goldstone quyết định thử xem ý anh ta thế nào. Nếu chúng tôi đưa ra giá thầu rất cao - giá thầu ưu tiên mua - Goldstone nói, liệu hội đồng quản trị có cân nhắc việc có một thỏa thuận sáp nhập với bên anh không? Goldstone đề xuất điều này sẽ cho phép hội đồng quản trị chốt giá thầu ở mức cao, trong khi trên thực tế lại thiết lập được sàn giá thầu. Atkins dường như không muốn đưa ra ý kiến mà chưa suy nghĩ thấu đáo. Thông điệp của anh rất rõ ràng: Hãy đưa ra giá thầu, Steve. Đặt giá thầu đi.

Sau đó, Goldstone nghiền ngẫm kỹ ý tưởng này. Một giá thầu siêu cao để đổi lấy một thỏa thuận sáp nhập. Anh thích ý tưởng đó. Johnson cũng vậy, lão cho rằng ý tưởng này có vẻ là một cách tiếp cận hợp lý. Nhưng làm thế nào để Atkins hưởng ứng? Lần này, chính Johnson đã gợi ý cho Goldstone.

Từ những cuộc trò chuyện với Hugel, Johnson biết rằng hội đồng quản trị sợ chết khiếp việc nhóm quản lý sẽ liên kết với Kravis để loại bỏ sự cạnh tranh, và Hugel lo ngại điều này sẽ dẫn đến việc trả giá thấp hơn. Goldstone lập luận có thể hội đồng quản trị sẽ nắm lấy cơ hội này để giành được một giá thầu cao, đồng thời coi đó như một cách để phá hỏng bất kỳ cơ hội nào giúp hai bên tiếp tục đàm phán, liên minh với nhau.

Goldstone nói chuyện với Atkins một lần nữa vào sáng thứ Tư. “Tôi đã suy nghĩ thấu đáo rồi,” Goldstone nói với vị luật sư. “Chúng tôi muốn đàm phán với anh về một hợp đồng sáp nhập. Khi đó, ta sẽ thiết lập mức giá sàn. Tôi có thể hứa với anh, nếu anh sẵn sàng tiến hành theo cách này, chúng tôi sẽ đưa ra giá thầu rất, rất tốt. Một giá thầu ưu tiên mua.”

“Nghe này,” Atkins nói, “tại sao anh không đưa ra giá thầu ngay bây giờ? Hội đồng quản trị rất quan tâm đến giá thầu của các anh.” Atkins nghĩ: hôm trước mình đã nói rồi mà, anh ta không nghe thấy sao?

“Nhưng Peter, chuyện không đơn giản như vậy,” Goldstone đáp lại. “Tại sao chúng tôi phải đưa ra giá thầu trong khi không nhận được điều gì tương tự? Chúng tôi sẽ không nhận được bất cứ điều gì tương tự ư? Ngay bây giờ, chúng tôi vẫn còn cơ hội đàm phán với đối thủ cạnh tranh. Nếu chúng tôi làm vậy và thành công, anh sẽ thấy giá thầu thấp hơn nhiều so với giá hiện tại. Tôi sẽ không đưa ra giá thầu cho anh cho đến khi chúng tôi đàm phán xong với đối thủ của mình.”

Đó là một sự lừa bịp. Goldstone không biết liệu nhóm của Johnson có thể đàm phán với Kravis hay không. Càng khua chiêng gõ trống, cơ hội dường như càng thấp. Nhưng Atkins không biết điều đó. Goldstone đã phải sử dụng nỗi sợ hãi của chính anh để đấu với anh ta.

“Ồ, tôi hiểu ý định của anh rồi,” Atkins nói. “Anh thực sự muốn cho chúng tôi một khoản khích lệ.” Goldstone gần như nhận ra ý tưởng của anh đã định hình trong đầu vị luật sư.

“Đúng vậy.”

“Tôi hiểu rồi,” Atkins nói. “Hãy để chúng tôi suy nghĩ. Tôi sẽ thảo luận với những người có trách nhiệm, và trả lời anh sau. Anh đã có hợp đồng sáp nhập chưa?”

“Có, tôi có rồi.”

“Tại sao không gửi nó cho chúng tôi?”

Goldstone rất phấn khích. Anh hướng dẫn Gar Bason chuẩn bị một bản hợp đồng để gửi đi vào chiều hôm đó. Sau đó, anh vội vã đến bữa ăn trưa ở Shearson.

Các thủ lĩnh của Salomon, Gutfreund và Strauss đã chờ sẵn ở văn phòng của Cohen khi Goldstone đến. Họ đến phòng ăn của Cohen để ăn trưa, ở đó Goldstone tóm tắt về cuộc trò chuyện giữa anh với Atkins.

Gutfreund ngay lập tức tỏ vẻ hoài nghi. Một giá thầu ưu tiên mua sao? Chiến lược của Goldstone sẽ khiến nhóm phải trả giá cao hơn nhiều mức giá 90 đô-la/cổ phiếu. Sao lại cao vậy? Không phải chúng ta đang lãng phí tiền của mình sao? Gutfreund hỏi. “Tại sao chúng ta phải làm điều này? Anh có thể cho tôi biết liệu chúng tôi sẽ thực sự có được một hợp đồng sáp nhập nếu làm như vậy không? Liệu chúng ta có cơ hội để thành công không?”

“Tôi chỉ có thể nói ít hơn 50-50,” Goldstone thừa nhận.

Goldstone đã thất bại. Chẳng phải hai đêm trước, những người này đã nói với anh ta rằng họ ủng hộ một giá thầu ưu tiên sao? Vị luật sư cố dò xét ý của Cohen, nhưng không thể. Anh nghĩ rằng Jack Nusbaum cũng có những lo ngại giống Gutfreund về việc phải trả quá nhiều tiền.

Sau bữa trưa, Goldstone trở về văn phòng của mình, anh thấy lo lắng. Anh không gọi lại cho Atkins. Lần đầu tiên anh nhận ra mình đã đưa ra những lời hứa và nhóm anh không có ý giữ lời, đặc biệt là Gutfreund. Anh bực mình. Gutfreund có vẻ chẳng biết gì về chiến lược đấu thầu cơ bản nhất. Giờ thì Goldstone biết anh phải hành động rất cẩn thận. Có thể, anh đã đi quá xa.

-

Tối thứ Ba, sau khi các phiên phỏng vấn thẩm định đã hoàn tất, Kravis trở về từ khách sạn Plaza với tâm trạng u ám, và sẵn sàng thảo luận với Roberts về kế hoạch cho bước đi tiếp theo. Cuộc đấu thầu của họ như đang ở giữa ngã ba đường. Sau khi cố gắng nắm lấy cơ hội từ phía nhóm của Johnson nhưng không thành một tuần trước đó, họ đang mất đi động lực. Dường như không có điều gì đi đúng hướng. Quá trình thẩm định quả là một thảm họa. Mọi việc không thuận lợi, Kravis và Roberts đang phải đối mặt với thỏa thuận lớn nhất đời họ mà thông tin tài chính có được thậm chí còn ít hơn so với hiểu biết của một nhân viên đã về hưu ở RJR Nabisco.

Những điều đó vẫn chưa đủ tồi tệ, Kravis đã nghe thấy những bất bình đáng ngại giữa các nhà đầu tư của mình. Bằng chứng là hôm thứ Sáu vừa rồi, một loạt các bài báo cho thấy một số người ủng hộ có uy tín nhất của Kohlberg Kravis đang không yên tâm về chiến thuật hung hăng mà Kravis đang thực hiện. Sự tham gia của các quỹ hưu trí nhà nước trong một cuộc đấu thầu thù địch đã làm xuất hiện các dòng tít trên báo chí, và những cuộc tranh cãi giữa các đảng phái chính trị ở Oregon, Michigan và Massachusetts.[1] Kravis và người của anh đã cố gắng trấn an các nhà đầu tư, nhưng sức ép với bên anh đang ngày càng tăng lên. Anh thậm chí đã phải nhờ Eric Gleacher yêu cầu Hugel đảm bảo với các nhà đầu tư rằng, anh không phải là bên đấu thầu thù địch.

Kravis nghi ngờ Tom Hill và nhóm quản lý đứng đằng sau một số rắc rối với hậu phương của anh, và điều đó là đúng. Một trong những người ủng hộ có ảnh hưởng nhất của Kravis là Doug LeBon ở công ty quản lý đầu tư Wilshire Associates có trụ sở tại Los Angeles, ông là cố vấn quỹ hưu trí, người ra quyết định thay một số nhà đầu tư lớn nhất của Kravis, bao gồm các nhà đầu tư ở các bang Massachusetts, Oregon và Iowa. Khách hàng của LeBon đóng góp khoảng 25% số tiền hậu thuẫn cho Kravis. Ngay sau khi Kravis tuyên bố đề nghị đấu thầu, các khách hàng của Wilshire đã chịu áp lực từ mọi phía lên án hành động này. Bản thân LeBon cũng nhận được các cuộc điện thoại giận dữ từ những giám đốc điều hành của RJR Nabisco, trong đó có cả Harold Henderson. Ông này đã rất giận dữ chỉ ra rằng Wilshire đã có thỏa thuận với các khách hàng không hỗ trợ những thỏa thuận thù địch.

Dù vậy, trong tất cả các tai ương đó, điều khiến Kravis phiền lòng nhất là báo chí. Kohlberg Kravis đang chết dần chết mòn. Sau một tuần tranh cãi về câu nói “đặc quyền” của Kravis, vào thứ Hai, lần đầu tiên Kravis chứng kiến sự bùng nổ dữ dội gây chú ý lớn từ giới truyền thông. Bài báo có tiêu đề “The Debt Binge: Have Takeovers Gone Too Far?” (tạm dịch: Khủng hoảng nợ: tiếp quản có đang đi quá xa?) om sòm trên trang bìa của tờ Business Week. Tờ Time còn đổ thêm dầu vào lửa với bài báo gây ra tranh luận kéo dài: “Big-Time Buyouts” (tạm dịch: Thời đại của những vụ mua lại lớn). Như để giải tỏa bức bối, lãnh đạo các công ty lớn đã đứng trước hội đồng quản trị phản đối kịch liệt LBO và đưa ra những dự đoán tàn khốc về một nước Mỹ chìm trong nợ nần. Mọi câu chuyện trên báo chí dường như đều đưa ra một hoặc vài chỉ trích nặng nề nhắm vào Kravis. Tờ Newsweek là tệ nhất. Trang bìa của báo này còn dành một góc để nói về Kravis và Roehm: “The ‘High Voltage Life’ of a New York Supercouple” (tạm dịch: ‘Cuộc sống giàu sang’ của siêu cặp đôi ở New York), trong đó có những chi tiết thú vị như lời đe dọa của Oscar de la Renta với Kravis để chứng tỏ Roehm là một người phụ nữ trung thực.

Việc báo chí tấn công khiến Kravis tổn thương sâu sắc. Mặc dù có cuộc sống riêng tư ở California, George Roberts cũng nhận thấy các trang báo đang làm cho anh nản lòng. Bạn bè xúm đến bên anh trong các bữa tiệc cocktail, và hỏi liệu công việc kinh doanh của anh có thực sự tốt cho nước Mỹ không. Đáng chú ý hơn, trong 13 năm tham gia các hoạt động xã hội, đó là lần đầu tiên hai anh em họ thu hút sự chú ý vì một cuộc chiến đấu thầu lớn. Trong khi Kravis từ lâu luôn có mặt trên các cột báo về xã hội, thì nay các bức ảnh màu cùng những bài viết trên tờ NewsweekTime đều viết về những thứ khác hoàn toàn so với trước kia. Kiểu rêu rao này có thể làm hỏng việc kinh doanh của họ. Nó cũng có thể gây ra phẫn nộ ở Washington, một thực tế mà Roberts luôn phải bận lòng.

“Những người New York thật điên rồ,” anh nói. “Đây là một môi trường khủng khiếp. Chúng ta đang thực sự bị đánh bại.”

Kravis cũng phải đồng ý như vậy.

“Em rất muốn quay về San Francisco. Thành phố này thật điên rồ.”

Các nhà đầu tư lo lắng phải có cách nào đó để kết thúc tất cả những chuyện này. Hai người đi đến thống nhất có lẽ đã đến lúc chuyển hướng sang đàm phán với Johnson. Khi họ thảo luận về nó, Kravis nhận thấy họ đang hợp lý hóa những lợi ích của việc đấu thầu chung. “Chúng ta thích Jim Robinson,” anh nói. “Em cho rằng rồi chúng ta sẽ thích Peter Cohen. Sẽ không tệ lắm khi anh cứ nghĩ như thế…”

Ngoài sự khinh miệt với Johnson, Roberts thấy ấm lòng với ý tưởng này. Anh nghĩ Shearson sẽ không giữ lại các công ty thực phẩm để kiếm lợi nhuận từ chúng, Cohen sẽ không còn quan tâm đến nó nữa một khi đã thu được các khoản phí. Bây giờ cho anh ta một nửa thỏa thuận, Roberts đề nghị, và có lẽ sau này chúng ta sẽ có thể mua phần còn lại.

Tuy nhiên, anh thấy ghê tởm khi phải cúi đầu để tiếp cận Johnson, Kravis biết đúng là họ sẽ phải làm điều đó. Chán nản trước viễn cảnh đó, anh nhìn vào danh sách tin nhắn điện thoại của mình. Như thường lệ, có nhiều cuộc gọi từ Linda Robinson. Vợ của Jim Robinson dường như có ảnh hưởng đến Johnson. Linda không có động cơ gì ở đây; và đó là lý do để liên hệ với cô. Nghĩ vậy, anh nhấc điện thoại lên.

-

Linda Robinson rất vui khi Kravis gọi đến. Theo như cô biết, toàn bộ cuộc chiến này — từ những sự lăng mạ, sự chỉ trích dành cho nó, tất cả mọi thứ — đều đang mất kiểm soát. Chả có lý do trần tục nào để Kravis không thể thực hiện thỏa thuận này cùng với Shearson và Salomon. Có vô số lý do anh nên làm như vậy.

Nhưng đó chỉ là vì bản tính tự cao tự đại, Linda Robinson biết điều đó. Cô tự coi mình là người có khả năng khéo léo hòa hợp đối sách giữa những khách hàng huênh hoang ở Phố Wall. Chuyện này vẫn thường xảy ra, Peter Cohen và Tommy Strauss và cả Henry Kravis và những người khác nữa đã hoàn toàn quên mất mục tiêu thực sự của họ, RJR Nabisco. Những bất đồng của họ không liên quan gì đến giá trị của cổ đông hay trách nhiệm pháp lý của công ty. Đó chỉ là một cuộc thử thách về ý chí giữa một nhóm người có tính cách nam nhi đại trượng phu đang trong cuộc cạnh tranh khốc liệt, những kẻ chỉ biết uy hiếp người khác, khoác trên mình những bộ vest kẻ sọc lịch lãm, thường xuất hiện trên đại lộ Park. Cô nhận thức rõ, tại thời điểm này, Cohen sẽ không bao giờ nhượng bộ Kravis, hoặc ngược lại. Kravis chắc chắn sẽ không thỏa hiệp với Strauss. Mỗi người đều tự cho mình là vua của cuộc chơi lớn này.

Cô tự nhủ, phải có ai đó vượt qua tất cả những chuyện nhảm nhí đó. Bỏ qua những cảm xúc trong lòng, nút thắt sẽ trở nên dễ dàng gỡ bỏ. Điều mà trận chiến tiếp quản này đang cần là sự can thiệp của một phụ nữ.

“Tôi biết chúng ta có thể làm gì đó,” cô nói với Kravis. “Đừng mất hy vọng vào Ross. Chúng ta chỉ cần khiến họ ngồi lại với nhau. Chúng ta phải tập hợp họ lại.”

“Linda, tôi không biết,” Kravis nói. “Tôi không biết bây giờ chúng tôi đang ở đâu. Có sự chênh lệch lớn giữa giá mua và giá đặt thầu.”

Linda Robinson thúc ép. “Chính vì vậy nên chúng ta chỉ còn cách là phải ngồi lại với nhau. Ross cũng là người tốt. Tôi biết hai bên sẽ hợp tác tốt. Chuyện đã xảy ra chỉ là sự điên rồ.”

Kravis đồng ý. “Vậy thì được, sẽ tốt hơn nếu chúng tôi có thể ngồi lại bàn bạc.”

“Tôi sẽ cố gắng sắp xếp mọi việc.”

-

Linda Robinson gọi cho Johnson vào sáng thứ Tư, cô vui mừng nói: “Tôi nghĩ chúng ta nên thử thêm một lần nữa. Tôi nghĩ mọi việc có thể tiến triển. Ông nghĩ sao?”

Johnson thích ý tưởng này. Lão cũng thấy không có lý do gì để không gia nhập lực lượng với Kravis. Dù Cohen có nói gì đi nữa, Kravis không phải là ác quỷ. Tất cả bọn họ đều có quá nhiều thứ để mất nếu không hợp lực. Và thành thật mà nói, Johnson đã mất đi sự tự tin về khả năng Shearson có thể thắng thầu. Andy Sage đang theo dõi sát sao công việc của các nhân viên ngân hàng, và nghĩ rằng họ sẽ chẳng đi đến đâu.

“Được chứ,” Johnson nói. “Tại sao không?”

Linda Robinson thông báo Carolyne Roehm sẽ có buổi trình diễn thời trang mùa xuân ở khách sạn Plaza lúc 2 giờ. “Có lẽ, tôi sẽ gặp Henry ở buổi trình diễn thời trang. Tôi nên nói gì đây nhỉ?”

“Hãy nói với Henry rằng cuộc đàm phán phải được thực hiện ở cấp cao. Chúng tôi xin lỗi vì lần trước Jim và tôi đều không ở trong phòng họp. Sẽ chỉ có Jim và tôi, không ai khác. Hãy thử nói điều đó với anh ta, và đó sẽ là cố gắng cuối cùng.”

“Ồ, còn một điều nữa,” Johnson nói. “Việc này phải hoàn toàn tuyệt mật. Không ai khác được biết về cuộc tiếp xúc này. Không một ai, Johnson nhấn mạnh, thậm chí là — và có lẽ đặc biệt là — Peter Cohen. Đơn giản là vì Cohen và Hill hiện đang quá kích động để có thể đàm phán vào thời điểm này. Johnson thậm chí cũng sẽ không nói với Steve Goldstone.

Trước khi để cho Linda Robinson tiến hành thu xếp, Johnson gọi cho chồng cô ở American Express. Johnson nhanh chóng giải thích lý do đằng sau cuộc gặp. Jim Robinson đồng ý.

-

2 giờ kém vài phút, Kravis đi thang máy xuống phố 58, và đi bộ sang đường đến khách sạn Plaza. Bên trong phòng khiêu vũ lớn của khách sạn, Kravis thấy đám đông đang tụ tập. Đèn máy ảnh chớp sáng khắp căn phòng rộng, rất nhiều nụ cười rạng rỡ, và những mái tóc rất mượt mà. Cảm giác đợi chờ tràn ngập không gian khi đám đông chờ đợi buổi ra mắt bộ sưu tập mùa xuân của Roehm. Tất cả những nhân vật quan trọng đã có mặt: Kravis nhìn thấy Jerome Zipkin, người dự tiệc chuyên nghiệp, bên cạnh ông ta là các mệnh phụ tham gia công tác xã hội: Anne Bass và Blaine Trump.

Nhưng Kravis có nhiều điều quan tâm hơn là buổi trình diễn thời trang này. Anh quan sát căn phòng một phút trước khi nhận ra Linda Robinson. Ngoài việc xem Carolyne Roehm là bạn, vợ của Jim Robinson còn rất thích quần áo của cô. Kravis kín đáo dẫn người phụ nữ cao ráo có mái tóc đỏ vàng vào một góc. Anh nhìn xung quanh, cố gắng không bị để ý.

“Sao,” anh hỏi. “Mọi việc thế nào rồi?”

“Tôi đang tiến hành,” Linda Robinson nói. “Tôi nghĩ sẽ có tiến triển tốt. Tôi biết anh và Ross có thể hợp tác với nhau. Tôi sẽ sắp xếp để chỉ có anh, George, Ross và Jim gặp nhau.”

“Tốt. Nghe có vẻ mang tính xây dựng đấy.”

“Giờ,” Linda Robinson nghiêm giọng, “nếu chúng ta đã hợp tác, tôi muốn anh phải có chừng mực. Tôi cũng sẽ nói với họ phải có chừng mực.”

Kravis đảm bảo với cô rằng anh sẽ cư xử tốt nhất. “Henry,” Linda Robinson nói, “tôi hy vọng lần này sẽ không phải là cuộc gặp vớ vẩn, bởi nếu vậy, anh chỉ có thể làm điều đó thông qua một số kênh khác.”

Buổi trình diễn sắp bắt đầu, Kravis xin phép, và đến ngồi ở hàng ghế đầu cùng Oscar de la Renta. Linda Robinson nhanh chóng len người vào một chiếc ghế phía sau họ. Dàn nhạc sống bắt đầu chơi, không khí bừng bừng, sôi động, bài hát Hit the Road, Jack của Georgia vang lên rộn ràng, những người hâm mộ cuồng nhiệt, những người mẫu của Roehm tràn xuống sàn diễn theo từng nhóm, khoác trên mình những bộ vest cùng váy ngắn với các màu đỏ, xanh nước biển và trắng, quần âu cùng áo khoác rộng và áo liền quần với áo khoác lửng hoặc áo choàng dài. Nổi bật nhất trong bộ sưu tập của Roehm, như mọi khi, là những bộ đồ ngủ, những chiếc váy cắt xẻ thanh lịch may bằng lụa nguyên chất hoặc lụa sọc; áo len mỏng có các đường viền bằng voan; bộ lễ phục đơn giản đi với váy quần không dây. Chỉ có các phụ kiện làm dấy lên những lời phê bình, tờ Womens Wear Daily viết vào ngày hôm sau: “Những chiếc khăn quàng cổ và túi đeo tốt nhất không nên xuất hiện nhiều trên sàn diễn.”

Kravis nghĩ mọi thứ đều rất tuyệt. Tươi cười rạng rỡ với niềm tự hào về vợ mình, anh trò chuyện và cười với de la Renta trong suốt buổi trình diễn. Khi các người mẫu thực hiện lượt biểu diễn cuối cùng, Roehm bước ra, cô cũng sải bước trên sàn diễn và vẫy tay với chồng. Cô đẹp mê hồn, cao và mảnh dẻ, khi cổ vẫy tay cảm tạ những tràng pháo tay, Kravis cũng giơ tay vẫy lại.

Đám đông nhiếp ảnh gia lảng vảng quanh Kravis trong suốt buổi trình diễn, chụp ảnh anh từ mọi góc độ. Có lúc Linda Robinson vươn người lên, và thì thầm vào tai anh: “Khi anh thực hiện một thỏa thuận lớn, Henry, thử nghĩ xem sẽ có bao nhiêu nhiếp ảnh gia vây quanh anh.”

-

Bỏ lại phía sau những nụ hôn gió và ánh đèn máy ảnh lấp lóe, Kravis băng qua đường và trở lại văn phòng. Khi buổi trình diễn thời trang đang diễn ra, Roberts đã thảo luận với các cộng sự khác để đánh giá sự nhiệt tình của họ trong việc nối lại đàm phán với Johnson. Cảm giác rất tích cực. Hai anh em lên kế hoạch về những gì họ muốn nói trong các cuộc gặp với Johnson, sau đó họ gọi cho Linda Robinson. Cô đã trở lại tầng 48 sau khi vào hậu trường chúc mừng Roehm với một nụ hôn lên má.

“Nghe này,” Kravis bắt đầu, “việc hai bên gặp nhau sẽ không mang lại lợi ích gì nếu chúng ta không thỏa thuận trước một số vấn đề.”

“Vấn đề gì vậy?”

Kravis muốn kiểm soát phần lớn vốn cổ phần và hội đồng quản trị, nhưng anh nhanh chóng thỏa hiệp khi Linda Robinson kiên quyết đòi chia đều cả hai bên. Đó là cái giá anh sẽ phải trả cho hòa bình. Nhưng về vấn đề thứ ba, anh từ chối thỏa hiệp. Anh nói Drexel phải là bên chịu trách nhiệm ghi sổ khi chào bán trái phiếu. Kravis đảm bảo đó là cách duy nhất để có thể hoàn thành thỏa thuận có quy mô lớn thế này.

“Linda, nghe này,” anh nói. “Điều này rất, rất quan trọng. Cô phải hiểu. Drexel sẽ phải đảm nhiệm vai trò này. Chỉ có thể như vậy. Nếu việc này không thể thực hiện được, thì thỏa thuận này coi như xong.”

“Anh cũng biết là có những vấn đề thực sự nhạy cảm về Drexel từ phía Salomon mà,” Linda Robinson nói. Hai công ty đang là đối thủ cạnh tranh hàng đầu trong cuộc đua khốc liệt của thị trường trái phiếu rác. “Nghe này,” cô nói với Kravis, “Ross muốn thực hiện thỏa thuận này. Ông ấy muốn hợp tác với người tốt nhất. Điều đó sẽ không thành vấn đề.”

Ba vấn đề mấu chốt, ba thỏa thuận. Cả Kravis và Robinson đều cảm thấy vui mừng bởi bước tiến nhanh chóng của họ. Trước khi gác máy, Kravis cố gắng mặc cả một vấn đề nhỏ. Linda Robinson nghĩ rằng anh lại đang tái phạm.

“Henry, anh biết mà, đừng có mỗi khi chúng ta thu được một chút tiến bộ, anh lại bắt đầu quay trở lại như trước.”

“Được rồi,” Kravis nói. “Thế là đủ rồi.”

“Anh có hứa với tôi không?”

“Được,” Kravis nói. “Cô có hứa với tôi không? Người bên cô đồng ý với từng vấn đề này chứ?”

“Đồng ý chứ,” Linda Robinson nói. “Không có vấn đề gì nữa đâu.” Điều họ cần bây giờ là một cuộc họp thượng đỉnh.

-

Johnson thích những điều Linda Robinson kể về cuộc trò chuyện của cô với Kravis. Các điều kiện nghe có vẻ hợp lý. Chết tiệt, lão nghĩ, Kravis đang tự giảm vốn cổ phần, tăng lên đến 50-50 từ đề xuất 10% cho Cohen chỉ một tuần trước đó. Cuộc họp được ấn định vào lúc 6 giờ. “Henry nói cuộc họp này phải tuyệt mật,” cô nói với Johnson. “Họ sẽ không nói với các nhân viên ngân hàng đầu tư. Không nói cho ai hết.”

Johnson gật đầu. Đó cũng là điều lão muốn. Lão không muốn cơ hội này sẽ kết thúc trong bi thảm giống như các cuộc gặp của Kravis và Cohen trước đây. Johnson thậm chí còn ngưỡng mộ cách Kravis xử lý các nhân viên ngân hàng đầu tư, những người thường giữ thái độ thờ ơ hoặc có phần ngoan ngoãn. Johnson tin rằng nếu họ biết càng ít, thì khả năng họ làm hỏng việc càng thấp. Đôi khi lão ước mình có thể đối xử với Cohen và Gutfreund theo cách này.

Chỉ có một trở ngại, Linda Robinson tiếp tục, là vấn đề xã giao. “Tối nay,” cô nói, “tôi và Jim phải đi dự tiệc ở nhà Gleacher. Chúng ta phải làm gì đây? Cả hai đều biết, nếu Gleacher phát hiện ra cuộc họp thượng đỉnh này, tin tức có thể lan truyền rất nhanh.”

“Đừng làm bất cứ điều gì,” Johnson nói. “Chỉ cần gọi cho họ lúc khoảng 8 giờ và nói có việc gì đó đột xuất. Cô không thể nói với Gleach. Tin tức sẽ lan nhanh với tốc độ tên lửa nếu ông ấy biết điều gì đó đang xảy ra.”

Mặc dù ghét kiểu cư xử thô lỗ này, Robinson phải đồng ý vì đó là giải pháp duy nhất. Cô nói: “Giờ, ông phải gọi cho Henry.”

Cô gọi cho Kravis trước. “Ngay bây giờ, Ross sẽ gọi cho anh và xác nhận những điều đó với anh. Chúng ta đã thỏa thuận rồi đúng không?”

“Sẽ không có bất kỳ điều bất ngờ nào, phải không?” Kravis nói.

“Không đâu.”

“Vậy thì tốt.”

Ít phút sau, Johnson gọi cho Kravis.

“Henry,” lão nói, “hãy cho chúng ta cơ hội đi tiếp.” Sẽ chỉ có Johnson và Robinson đại diện cho nhóm quản lý, Kravis và Roberts đại diện cho chính họ. “Tôi đồng ý,” Kravis nói. “Nhưng không ai được biết. Nếu tôi nghe thấy một từ, tôi sẽ biết nó đến từ phía các ông. Bởi vì nó không xuất phát từ phía tôi.”

Họ đồng ý gặp nhau ở khách sạn Plaza. Khi Johnson truyền đạt tin tức về cuộc họp với Jim Robinson, người đứng đầu American Express khăng khăng yêu cầu phải có mặt Cohen. Không thể làm điều đó, ông đề nghị, sẽ thế nào nếu Cohen thấy ông ta và vợ của ông ta đang loay hoay sau lưng mình, sắp xếp các cuộc họp với kẻ thù của anh ta. Johnson phải miễn cưỡng đồng ý.

Sau đó, Johnson gọi cho Cohen. Phải xử lý việc này cẩn thận. “Tôi đã nói chuyện với Henry,” Johnson nói. “Anh ta muốn gặp. Anh nghĩ tôi nên làm gì?”

“Đến gặp đi,” Cohen nói. “Ông phải làm điều đó vì chính ông và người của ông. Làm thế là đúng đấy.”

Khoảng 6 giờ kém, Cohen và Robinson đến số 9 khu Tây. Khi bộ ba bước vào Plaza, Johnson muốn chắc chắn rằng Cohen đã biết kiềm chế ngay từ cửa. “Tôi muốn duy trì cuộc gặp với thái độ ôn hòa,” Johnson cảnh báo người đứng đầu Shearson. “Tôi không muốn bất kỳ xung đột nào làm hỏng kế hoạch này.”

-

Kravis và Roberts đến căn phòng hạng sang ở tầng 5 trước. Nơi đầy đã được trang trí lại trông rất đẹp mắt, nó là niềm tự hào và niềm vui của chủ sở hữu mới, Donald và Ivana Trump. Khách sạn đã kín chỗ vào tối hôm đó, nhưng Kravis vẫn xoay xở kiếm được một phòng của Ivana bằng cách hứa với cô sẽ ra khỏi phòng vào 8 giờ sáng hôm sau, khi một nhiếp ảnh gia có hẹn chụp ảnh phòng để làm tờ rơi quảng cáo.

Trong khi họ chờ đợi, Kravis đi lại trong phòng, dáng vẻ lo lắng. Có lúc, anh nghĩ rằng đã nghe thấy tiếng động. Có thể là tiếng chim hót líu lo. Kravis bước vào phòng ngủ, và nhìn thấy một cặp vẹt đuôi dài bị nhốt trong lồng. Anh sẽ phải nghe tiếng chim hót líu lo trong suốt cuộc họp.

Johnson, Cohen và Robinson đến lúc 6 giờ. Roberts chào đón họ và ngạc nhiên khi thấy Cohen. Với mong muốn phá tan căng thẳng và tỏ thiện ý với những bình luận trước đó, anh tặng Chủ tịch Shearson một hộp xì gà Montecruz. “Một lời đề nghị hòa bình,” Roberts nói khi anh đưa chiếc hộp cho Cohen. “Nhưng tôi mong anh sẽ không hút chúng ở đây.”

Cohen mỉm cười: “Tôi sẽ ngồi ở góc đằng kia, và hút chúng để khói thuốc không làm phiền anh,” anh nói.

Một khởi đầu tốt đẹp.

“Nghe này,” Johnson bắt đầu, thay mặt nhóm phát biểu, “hãy xem chúng ta có thể bắt đầu lại từ đầu không… mọi việc đang trở nên lố bịch. Dường như với Jim, tôi và Peter, chúng tôi có thể đi đến một số thỏa hiệp để cho mọi việc trở nên tốt hơn. Đó không phải là tất cả những điều mà các anh mong muốn. Đó cũng không phải là tất cả những điều mà chúng tôi muốn. Nhưng mọi việc sẽ trở nên tốt đẹp. Cuối cùng, sẽ không một ai có được tất cả những điều mình mong muốn.”

Trong 30 phút, họ phác thảo một thỏa thuận. Quyền kiểm soát hội đồng quản trị RJR Nabisco sẽ chia đều 50-50: Không bên nào có quyền kiểm soát hoàn toàn. Tương tự, cổ phiếu cũng sẽ được chia đôi, phần của Johnson được trích từ số cổ phiếu của Shearson. Không biết gì về sáng kiến hòa bình bí mật của Linda Robinson, nếu Cohen có bị bất ngờ bởi sự đồng thuận nhanh chóng, anh cũng không thể hiện điều đó.

Về tiền phí, Kravis cho biết anh dự định trả cho bốn ngân hàng đầu tư của mình, mỗi ngân hàng 25 triệu đô-la. Ngoài ra, Kohlberg Kravis dự định sẽ tính mức thông thường cho bên anh là 1%. Không cần phải thực hiện phép tính cũng biết, số tiền phí lên tới hơn 200 triệu đô-la, gấp ba lần bất kỳ khoản phí sáp nhập nào đã từng thực hiện trước đây trong lịch sử Phố Wall.

Chờ một chút, Robinson ngắt lời. Ông vẫn nhận thức sâu sắc rằng con mắt của cả thế giới đang nhìn vào họ. Ông cảnh báo họ không được tỏ ra quá tham lam. Thật ngạc nhiên, Kravis đồng ý trên lý thuyết sẽ xem xét lại khoản phí của mình.

Kravis đề cập đến Drexel, nhấn mạnh rằng cỗ máy trái phiếu rác này sẽ phụ trách việc chào bán trái phiếu rác, việc này rất cần thiết để cấp vốn cho thỏa thuận.

Cohen cứng đờ người. “Tại sao lại là Drexel?”

“Nghe này Peter, chúng tôi đã bỏ ra 2 tỷ đô-la vào vốn cổ phần, chúng tôi sẽ không đem số tiền đó ra bàn nếu từ số tiền đó không chắc chắn mang về các khoản vay bắc cầu.” Roberts không tin Salomon, hay thậm chí là Shearson và Salomon kết hợp, có thể làm được việc này. “Nếu tự mình thực hiện thỏa thuận này” - không có Shearson - “chúng tôi cũng sẽ không xem xét giao việc đó cho bên anh.”

Cohen không thích ý tưởng bán trái phiếu dưới sự kiểm soát của Drexel, và nói ra ý kiến của mình. “Anh biết họ thế nào mà. Khi Drexel đồng kiểm soát một thỏa thuận, họ sẽ chiếm toàn bộ thỏa thuận. Họ sẽ không cho anh bất cứ thứ gì.”

“Lần này sẽ không như vậy,” Roberts đảm bảo với Cohen. “Bên anh sẽ nhận được một nửa phí. Nếu bên anh không bán ra một trái phiếu nào, anh vẫn sẽ nhận được một nửa phí. Được chưa?”

Cohen không tranh cãi nữa.

Họ bàn sang các vấn đề khác. Cohen nói Shearson giữ quyền muốn xử lý việc bán đấu giá tất cả tài sản của RJR Nabisco được bán ra, Tom Hill dự tính số tiền phí cho riêng việc này là 103 triệu đô-la.

“Điều đó thật vô lý,” Roberts lập luận. “Anh phải chia những công ty đó cho các ngân hàng đầu tư có kinh nghiệm trong ngành.”

“Ít nhất chúng tôi cũng muốn trở thành đồng cố vấn,” Cohen nói.

“Tại sao phải trả phí hai lần?”

“Không, anh không hiểu sao. Đó không phải là điều quan trọng. Điều quan trọng là ghi tên trên bảng quảng cáo. Bảng xếp hạng các cố vấn sáp nhập tích cực nhất được tổng hợp từ tên những công ty xuất hiện trên các quảng cáo được in đen trắng trên các tạp chí uy tín, kèm theo thông tin về tất cả vụ mua lại lớn mà công- ty đó đã thực hiện. Cohen muốn có được sự tín nhiệm từ các vụ đấu giá đó, ngay cả khi Shearson không nhận được phí. Vấn đề này được để lại chờ giải quyết.

Trong một giờ, họ đã hoàn thành đàm phán. Họ nhất trí về ba vấn đề chính. Tất cả những vấn đề còn lại sẽ để các luật sư tham gia cùng họ, và đưa ra các thỏa thuận chi tiết cuối cùng.

Johnson rất hồi hộp. Bế tắc đã được giải tỏa! Phần lớn là nhờ vào công của Linda Robinson, cuối cùng lão cũng có được một thỏa thuận. Nó không thật hoàn hảo, Johnson tự nhủ, nhưng chắc chắn xét về mặt nào đó còn hơn cả việc thua hay thắng để rồi khiến lão không thể điều hành được công ty.

Khi họ đi ra cửa, ai nấy đều mỉm cười. Trên đường ra ngoài, Robinson đến bên Kravis, bạn cưỡi ngựa thân thiết của vợ ông. “Anh nên gửi một bó hoa lớn cho vợ tôi vì điều này,” Robinson nói và mỉm cười. “Cô ấy liều mình làm việc này vì anh đấy.”

-

Cho đến lúc này, chỉ có năm người bọn họ biết về hội nghị thượng đỉnh bí mật.

Ở trung tâm thành phố, Steve Goldstone cảm thấy có chuyện đáng ngờ. Anh không thể tìm thấy Johnson. Hoặc Cohen. Dường như hai người bọn họ không ở số 9 khu Tây. Anh gọi cho Tom Hill ở Shearson.

“Ông có nghe tin gì không?”

“Không,” Hill nói. “Còn anh…”

“Không. Nhưng có điều gì đó đang xảy ra…”

-

Roberts và Kravis ở lại trong phòng khách sạn, tinh thần rất phấn chấn. Kravis gọi điện cho Dick Beattie, ông này đang đi cùng cộng sự Casey Cogut, họ gặp hai người đang đi xuống tầng dưới, đến nhà hàng Oak Room trong khách sạn để ăn tối. Các luật sư gọi món cá, Kravis và Roberts gọi món bít tết để ăn mừng. Roberts vốn khảnh ăn, thấy nhiều hồ tiêu quá liền đẩy nó sang một bên. Trong khi ăn, Kravis tranh thủ tóm tắt cho các luật sư về diễn biến cuộc đàm phán. Nhóm có kế hoạch họp lại trên lầu sau một giờ nữa.

“Đây không phải là giải pháp lý tưởng,” Roberts nói với các luật sư. “Nhưng dù sao vẫn là một giải pháp.”

Trở lại trên lầu, Kravis nhận được một cuộc gọi ngắn từ Cohen.

“Thật buồn cười,” Kravis nói, đặt điện thoại xuống.

“Gì vậy?” Beattie hỏi.

“Anh ta sẽ mang theo Tommy Strauss. Anh đã nghĩ anh ta sẽ mang Gutfreund.”

“Strauss ư?” Beattie ngạc nhiên. “Chết tiệt, sao lại là Tommy Strauss? Anh ta biết quái gì về vụ này.”

Kravis không cần phải nói anh cảm thấy thế nào. Còn Beattie biết rõ ràng là Kravis sẽ sớm phải đối phó với người bạn cũ của mình.

Roberts nhận cuộc gọi thứ hai. Một tiếp viên tại Oak Room muốn biết lý do tại sao một ngài Roberts nào đó lại trả tiền bữa tối của mình ở phòng này. “Chúng tôi đã cho ngài Brown đăng ký thuê phòng.”

Roberts bật cười. Họ dùng biệt danh Brown để đăng ký phòng. “Tính tiền đó cho phòng này đi,” anh nói.

-

Bên kia đường tại số 9 khu Tây, Johnson ngày càng lo lắng về số người sẽ quay lại khách sạn Plaza. Goldstone đã được gọi, và anh sẽ đi cùng. Gutfreund và Strauss cũng vậy, những người đó rõ ràng cũng sẽ cùng đi. Johnson muốn duy trì cuộc họp có ít người tham gia để giữ bí mật, và bởi từ trước đến nay, quá đông người dự họp dường như luôn dẫn đến những cuộc tranh cãi lớn. Bên cạnh đó, anh cảm thấy Kravis không quan tâm nhiều đến cả hai thủ lĩnh của Salomon.

Johnson bảo Jim Robinson xem xét, chỉ cần một trong hai người bọn họ đi cùng. Bằng cách nào đó, Strauss đã được chọn. Nhóm có thêm luật sư của Shearson, Jack Nusbaum, như vậy là sáu người. Johnson rất hài lòng.

Khi Goldstone đến, Johnson hăng hái kể lại cuộc đàm phán buổi chiều với Kravis. Mọi thứ đều diễn ra rất tuyệt, Johnson nói. “Giờ mọi việc đã tiến triển đến mức Henry muốn xem thỏa thuận quản lý.”

Ngay lập tức, Goldstone thấy nghi ngại. Trong hai tuần qua, anh điên cuồng bảo vệ thỏa thuận trong bí mật. Goldstone cũng như Jim Robinson hiểu rõ điều gì sẽ xảy ra nếu bản thỏa thuận bị rò rỉ với báo chí. Anh đang mạo hiểm nếu để Kravis biết về thỏa thuận, Goldstone cảnh báo. Nếu đàm phán thất bại, anh nói, Kravis có thể sử dụng nó để hạ bệ chúng ta trên mặt báo.

“Chúa ơi,” Johnson nói, gạt qua một bên những lo ngại của Goldstone. “Họ sẽ là đối tác của chúng ta đây. Anh cũng sẽ là đối tác của họ, anh phải bàn với họ mọi việc. Nếu có vấn đề, họ phải giải quyết.” Johnson nói với Goldstone rằng anh ta đang bị hoang tưởng. Trước sự khăng khăng của khách hàng, Goldstone buộc phải đồng ý cho Kravis xem bản sao của thỏa thuận. Nhưng anh không thích điều đó một chút nào.

Sáu thành viên trong nhóm của Johnson hối hả trở lại Plaza lúc khoảng 9 giờ. Hai mươi phút đầu, mọi việc diễn ra suôn sẻ, và Johnson dù không có hứng thú với các chi tiết về pháp lý đã trở nên bồn chồn đứng ngồi không yên. Có lẽ những điều cần nói lão đã nói xong, chỉ còn bản in của văn bản thỏa thuận chính thức. Lão hỏi Goldstone: “Còn điều gì cần đến tôi không?”

“Tôi thấy cũng không còn việc gì để ông cứ phải loanh quanh ở đây,” vị luật sư trẻ nói.

Vui mừng, Johnson trở về tòa nhà số 9 khu Tây, ăn vội một chiếc bánh sandwich, rồi thông báo cho Sage và Horrigan về các sự kiện diễn ra tối hôm đó. Sau đó, lão đi bộ qua hai tòa nhà đến căn hộ của mình, tắm rửa và cạo râu, khoác vội lên mình chiếc áo khoác thể thao. Lão chuẩn bị quay trở lại văn phòng để tổ chức một bữa tiệc trang trọng ở đó. Johnson hỏi vợ lão, Laurie: “Sao em không đến cùng anh? Đó sẽ là một trải nghiệm thú vị. Nhất định em sẽ vui đấy.”

-

Peter Darrow, luật sư chính của Salomon Brothers, đang nghỉ ngơi tại nhà ở khu phố Brooklyn Heights thì khoảng 10 giờ Mike Zimmerman của Salomon gọi điện đến. “Gutfreund đang ở số 9 khu Tây,” Zimmerman nói. “Ông ấy muốn anh đến đó ngay bây giờ.”

Rất nhanh, Darrow đến trụ sở của RJR Nabisco. Anh thấy tầng 48 trống trơn, ngoại trừ phòng của Gutfreund đang náo loạn. Chủ tịch của Salomon rõ ràng không có tâm trạng để tiệc tùng. Thật ra, Darrow chứa bao giờ thấy ông ấy nổi điên như vậy.

“Tôi không biết chuyện gì đang xảy ra, Peter,” Gutfreund nói. “Có một cuộc họp ở Plaza. Tôi bị cho ra rìa. Tôi không biết lý do. Tôi muốn anh tham gia cuộc họp đó ngay bây giờ.”

“Vâng, John, tôi sẽ theo ý ông,” Darrow nói, nhưng anh vẫn không biết làm cách nào xông vào một cuộc họp kín mà thậm chí John Gutfreund cũng không được mời. Gutfreund đưa cho anh một mảnh giấy ghi số phòng của Kravis.

Darrow sải bước qua phố 58, và đi thang máy lên tầng năm của khách sạn. Anh kiểm tra hai lần số phòng mà Gutfreund đã viết ra. Không có. Darrow cứ lang thang vô định cho đến khi anh nhìn thấy một người đàn ông rất cao lớn đứng bên ngoài một chiếc cửa đôi.

“Đây có phải là phòng của Henry không?” Darrow nói theo linh cảm.

“Vâng, thưa ngài,” người đàn ông nói, và mở cửa: “Xin mời vào.”

Tom Darrow bước vào và thấy Tom Strauss đang có cuộc tranh luận sôi nổi với Kravis và Roberts. Lúc đó, anh vẫn chưa nhận biết được tình hình, nhưng anh đang được chứng kiến những vết nứt đầu tiên trong hiệp ước hòa bình trị giá 20 tỷ đô-la của Ross Johnson.

-

“Đây là tiền của chúng tôi,” Strauss nói. “Chúng tôi không hề sẵn sàng bỏ tiền ra để kẻ nào đó chứ không phải chúng tôi kiểm soát đầu ra.”

Bài phát biểu của Strauss rất mạnh mẽ, đi thẳng vào vấn đề. Anh nói đơn giản là Salomon và Shearson phải cùng nhau phụ trách việc chào bán trái phiếu rác. Salomon đã sẵn sàng làm vụ này, họ có chuyên môn về lĩnh vực này, và yêu cầu quyền được thực hiện nhiệm vụ. Họ đã chuẩn bị trong nhiều tuần để bây giờ phải giao việc đó cho Drexel. Thật không công bằng.

“Chúng tôi đã sẵn sàng cho công việc này,” Strauss nói. “Tại sao không để chúng tôi làm?”

Kravis thấy khó chịu, anh giải thích tầm quan trọng của việc để Drexel xử lý trái phiếu rác. “Nghe này,” anh nói, “Drexel đã thực hiện công việc này rất tốt trong các vụ chúng tôi đã làm. Họ đã làm vụ Beatrice trong khi mọi người đều nói rằng vụ đó không thể thực hiện được. Họ là tốt nhất. Giá cả phải chăng. Đây là thỏa thuận lớn nhất từ trước đến nay. Chúng tôi không thể liều lĩnh để chấp nhận bất cứ rủi ro nào.”

Có thể Strauss đang tranh cãi về sự bất khả xâm phạm đến phần vốn của Salomon, nhưng mọi người trong phòng đều biết anh thực sự đang nhắm đến ai. Salomon ghét Drexel. Để mất quyền chào bán trái phiếu lớn nhất trong lịch sử về tay đối thủ sẽ là nỗi nhục nhã sâu sắc đối với công ty. Trong năm năm gần đây, Salomon dù đã đẩy mạnh kinh doanh mọi loại trái phiếu khác nhưng vẫn không thu được kết quả khi họ muốn xâm nhập vào lĩnh vực rất đặc biệt, có lợi nhuận rất cao — trái phiếu rác. Những nỗ lực của họ bị ảnh hưởng bởi các cuộc đấu đá nội bộ đã dẫn đến một loạt thảm họa. Với Gutfreund, bị Drexel chặn lối đi vào thị trường sẽ nối dài chuỗi thất bại liên tục của họ.

“Chúng tôi không chặn lối đi của các anh, nhưng người của các anh vẫn chưa thực sự làm được điều này,” Kravis nói với Strauss. “Bên anh chưa từng làm điều này.”

Đến lúc này, Strauss nói rằng Salomon đã chuẩn bị 60 nhân viên bán trái phiếu vào cuối tuần, nhằm chứng tỏ họ có những cách tốt nhất để bán trái phiếu. Tôi sẽ phải nói với họ sao đây, anh hỏi. Kravis và Roberts tròn mắt: “Người của các anh làm gì vào tất cả các ngày cuối tuần? Điều đó không có nghĩa gì cả. Chúng tôi phải làm việc với những người giỏi nhất, chất lượng nhất.”

Peter Cohen thấy mình ở thế khó. Trước đó, dù ít hay nhiều anh đã chấp thuận chọn Drexel, giờ đây anh phải đưa ra ý kiến, và dường như phải miễn cưỡng chấp nhận lập trường của Strauss. Trên thực tế, Cohen có lý do riêng của mình để không tin tưởng Drexel. Trong nhiều năm, Shearson đã tránh vướng vào các tranh chấp pháp lý với Drexel, trong hợp đồng họ tuyên bố sẽ thực hiện nhưng Cohen tin rằng Drexel đã bội ước. Việc Drexel từ chối thực hiện các hợp đồng đó đã khiến doanh thu của Cohen giảm 50 triệu đô-la trong năm 1985. Anh nói Drexel đơn giản không phải là đối tượng khiến Shearson cảm thấy yên tâm khi đặt cược tương lai của mình vào tay họ.

Chẳng mấy chốc, cả Kravis và Strauss đều lặp lại những điều đã nói. Khi cuộc tranh luận của họ lắng xuống, không ai quá lo lắng về sự không khoan nhượng mới xuất hiện của Salomon. Trong một thỏa thuận lớn thế này, chắc chắn sẽ có một số điểm vướng mắc trong thỏa thuận sơ bộ. Sau này họ có thể đạt được sự thỏa hiệp. Hơn nữa, có một vấn đề quan trọng hơn cần được giải quyết: thỏa thuận quản lý.

Goldstone lôi ra một bản sao, và đặt nó trước mặt Kravis. “Chúng tôi muốn anh ký vào đây,” vị luật sư nói.

“Hãy đưa nó cho Dick.” Kravis nói.

Beattie nhìn Goldstone trong khi lật qua các trang, và chỉ ngón tay cái vào đoạn mà anh đang xem. “Đoạn này,” anh nói. “Tôi muốn chắc chắn rằng ông sẽ đọc và hiểu kỹ về nó.”

Đây là đoạn về quyền kiểm soát, nói rằng Johnson sẽ có toàn quyền kiểm soát thỏa thuận. Đứng bên cạnh Goldstone, Beattie nghĩ đó là một chi tiết không quan trọng. Ông biết, nếu họ đạt được thỏa thuận, Kravis sẽ là người quyết định tất cả mọi việc. Điều đơn giản này ai cũng hiểu.

Không nói gì thêm, Beattie cầm bản sao thỏa thuận, và lui về một góc cùng với Casey Cogut để xem xét. Goldstone thấy lo lắng. “Tôi muốn ông hứa sẽ không sử dụng tài liệu này vì bất kỳ lý do nào khác ngoài việc đánh giá thỏa thuận này,” anh nói, “và ông sẽ không tiết lộ nó cho bất cứ ai.”

Sau vài phút, Beattie ra hiệu cho Kravis và Roberts cùng Cogut, bốn người lui sang một phòng ngủ cạnh đó. “Anh sẽ không thể tin vào điều này,” Beattie nói. Mới đọc qua tài liệu, nhưng những gì ông thấy thật không thể tin được: quyền kiểm soát, quyền phủ quyết đều nằm trong tay Johnson, và đáng báo động nhất là khoản lợi nhuận rất lớn mà Shearson hứa hẹn với Johnson. “Anh sẽ không thể chấp nhận điều này đâu, Henry,” Beattie nói.

Cogut cũngđồngý như vậy. “Nếu chúng ta ký vào bản thỏa thuận này, Ross sẽ điều hành mọi chuyện. Anh không thể đồng ý với điều đó được.” Kravis thực sự sốc. Anh biết Cohen rất khao khát được tham gia lĩnh vực ngân hàng đầu tư. Nhưng cho Johnson quyền kiểm soát thỏa thuận thì sao đây? Nó không giống bất kỳ vụ LBO nào anh từng thấy. “Chuyện này thật điên rồ,” Kravis nói. “Làm sao Cohen có thể làm như vậy?”

Cogut và luật sư của Salomon, Peter Darrow, là hàng xóm của nhau trên con phố chỉ có một tòa nhà cao tầng ở Brooklyn Heights. Họ đã nói đùa rằng những sự kiện kịch tính ở RJR Nabisco sẽ có ảnh hướng lớn đến con phố Garden Place này, không phải Phố Wall. Cogut đi ra từ một phòng ngủ, và khi cuộc họp có dấu hiệu kết thúc, anh ra hiệu cho Darrow. Luật sư của Salomon đi nhanh vào phòng ngủ nơi Kravis và những người khác đang họp kín với nhau.

“Anh đã đọc nó chưa?” Beattie hỏi Darrow.

Darrow gật đầu.

“Bên anh có đồng ý với họ không?”

Luật sư của Salomon đã đoán trước điều này. Ngay khi Goldstone đưa ra bản thỏa thuận quản lý, anh đã gọi cho Gutfreund để hỏi cách xử lý. Darrow phải rất cẩn thận tránh làm hai bên nóng giận. Nếu Salomon làm đối tác với Kravis, điều quan trọng họ cần làm là phải thể hiện họ không hài lòng với cái mà Gutfreund gọi là thỏa thuận “không thỏa đáng”. Nhưng nếu các cuộc đàm phán bằng cách nào đó đổ bể, Kravis chắc chắn sẽ sử dụng sự không hài lòng của Salomon như một thứ vũ khí để công khai tấn công nhóm quản lý.

Darrow thừa nhận với Beattie rằng tài liệu này “rõ ràng có vấn đề”, và có thể sẽ phải được viết lại. Anh nói thêm rằng Gutfreund và Warren Buffett đã phản đối nó. Đó là tất cả những gì anh phải nói. Vài phút sau, Beattie quay trở lại phòng khách, và kéo Goldstone sang một bên.

“Anh nói xem có bao nhiêu người tham gia thỏa thuận này?”

“Cho đến lúc này chỉ có bảy người, Goldstone nói, nhưng Johnson đã dự định hàng trăm nhân viên sẽ chia nhau số tiền lớn đó.

“Anh biết đấy, số tiền quá lớn.”

“Anh nên nói chuyện với Ross về điều đó.”

“Chúng tôi tất nhiên chưa thể đưa ra ý kiến về thỏa thuận này. Chúng tôi chưa thể nói đồng ý hay không cho đến khi có thời gian để xem xét nó.”

Goldstone gật đầu đồng ý, nhưng đề nghị họ xem xét tài liệu thật kỹ. “Các ông phải trả lời càng sớm càng tốt, bởi vì điều đó rất quan trọng.”

Cuộc họp đã kết thúc với dự định sẽ nhóm họp lại ở trụ sở của RJR Nabisco một giờ sau đó. Tâm trạng rối bời, cả Goldstone và Jack Nusbaum đều không lấy lại bản thỏa thuận quản lý từ tay Beattie.

“Họ không hỏi đến nó,” Casey Cogut nói, “nên chúng tôi sẽ giữ nó.”

-

Khi Kravis, Roberts, Beattie và Cogut bước từ thang máy vào tầng 48, họ ngạc nhiên khi thấy nơi đó chật cứng người. Rất nhiều người không liên quan đến cuộc đàm phán đang ồn ào đi lại. Linda Robinson đang loay hoay với bản nháp của một thông cáo báo chí. Kravis đã rất lúng túng khi được giới thiệu với Laurie Johnson. Anh quan sát Johnson tay cầm ly rượu scotch trông thoải mái và sảng khoái, một chiếc khăn tay phồng lên thò ra khỏi túi áo ngực. Kravis cũng được giới thiệu với Ed Horrigan, trông ông ta thật đỏm dáng trong chiếc áo len màu trắng mặc khi chơi tennis. Dự kiến đến đây để tiếp tục các cuộc đàm phán khó khăn, nhóm của Kravis bị giật mình khi bất ngờ gặp phải điều gì đó giống như việc đến làm quen với hội huynh đệ hơn.

Kravis và Roberts được hộ tống vào văn phòng của Johnson, nơi họ từng chứng kiến cảnh tượng rối ren đầu tiên một tuần trước đó. Với tinh thần phấn chấn, Johnson đã mời anh em họ uống thứ gì đó, nhưng họ từ chối. Beattie đưa cho thư ký của Johnson bản thảo thỏa thuận mà anh đã gấp rút viết ra với nét chữ nguệch ngoạc và cho đánh máy. Không thấy bóng dáng của Cohen hoặc Strauss.

Trong khi chờ đợi, Kravis và Roberts lắng nghe Johnson nói lan man về các công ty mà bọn họ sắp đồng sở hữu. Johnson, một người lạc quan, nông cạn, hay cười, điểm qua một số vấn đề, bao gồm Premier, trụ sở Atlanta, và triển vọng của các công ty Nabisco mà họ sẽ bán. Lão rất vui vì đã đến lúc làm quen với các đối tác mới của mình. Jim Robinson và Ed Horrigan ngồi bên cạnh, lắng nghe và thỉnh thoảng trò chuyện.

Trong gần một giờ, họ đã thảo luận về các điểm mạnh của RJR Nabisco. Lúc này, Gar Bason, vị luật sư chuyên dò la của Davis Polk, thò đầu vào phòng. “Ông đang làm gì ở trong phòng này mà không có luật sư vậy?” Anh hỏi Johnson, câu hỏi như thách thức Beattie. Anh ta đơn thuần chỉ đang bảo vệ khách hàng của mình, nhưng câu hỏi đó làm mọi người mất hứng.

Kravis nhận thấy họ đã chờ đợi rất lâu. “Điều gì dẫn đến sự chậm trễ này vậy?”

“Tôi không biết,” Johnson nói. Nhưng sau đó, lão không đặc biệt quan tâm đến sự chậm trễ đó nữa; những phiên họp kết thúc như thế này luôn luôn mất thời gian.

Cohen đến ngay sau đó. Anh đã thảo luận với Strauss và Gutfreund về vấn đề xung quanh việc chào bán trái phiếu.

“Chúng ta bàn đến đâu rồi?” Roberts hỏi.

“Chúng ta vẫn đang cố gắng thảo luận các chi tiết.” Cohen giải thích.

Trên thực tế, Cohen vẫn chưa thấy đi đến đâu. Trong một giờ, anh đã cố gắng thăm dò sự phản đối của Salomon đối với Drexel, và tìm mãi không ra một phương án để thỏa hiệp. Cohen không đến từ nền văn hóa giao dịch giống như những người bên Salomon, và đôi khi không nắm bắt được những vấn đề tế nhị trong các lập luận của Gutfreund. Thật là mất thời gian, và anh thấy mệt mỏi.

-

Sau đó, tất cả những người tham gia vào cuộc thảo luận kéo dài suốt đêm đó lần lượt xuất hiện, cùng các quan điểm khác nhau của cái gọi là Vấn đề Drexel. Jim Robinson chỉ ra những vấn đề pháp lý dự kiến mà phía Drexel phải gánh chịu. Quan điểm chính thức của Salomon là họ lo lắng khi đưa vốn liếng vào tay một người khác - một lời giải thích khiến người ta tò mò, bởi vì họ đã lên kế hoạch chính xác để thực hiện điều đó cùng Shearson. Johnson nêu ý kiến một cách khó hiểu rằng Kravis theo cách nào đó đang nằm dưới sự kiểm soát của Drexel.

Nhiều tháng sau, Tom Strauss thừa nhận vấn đề cốt lõi của cuộc tranh cãi nằm trong thế giới bí truyền của người giao dịch trái phiếu. Khi có nhiều hơn một ngân hàng đồng ý bảo lãnh phát hành trái phiếu, ngân hàng chính phải được chọn để điều hành công việc sổ sách. Các số liệu của việc chào bán phải tồn tại dưới dạng vật lý ở ngân hàng đó, mà điều này thường ảnh hưởng đến việc đưa ra các quyết định, và việc chia nhỏ số trái phiếu đó trong suốt quá trình chào bán. Điều đáng chú ý là sau đó, ngân hàng chính sẽ được ghi tên mình ở vị trí đầu tiên, bên trái bảng quảng cáo đen trắng trên tờ Wall Street Journal và các ấn phẩm tài chính khác. Được xuất hiện ở vị trí bên trái bảng quảng cáo có tính biểu tượng mạnh mẽ trong thế giới trái phiếu.

Trước khi Kravis đến, Strauss và Cohen đã đồng ý rằng Salomon và Shearson sẽ cùng phụ trách việc ghi sổ. Shearson sẽ ghi ở bên trái, Salomon ghi ở bên phải. Những cuốn sổ sẽ nằm ở Shearson. Strauss giải thích sự sắp xếp đó không khiến Salomon phiền lòng, bởi vì sức mạnh của Salomon trong thế giới trái phiếu hơn hẳn Shearson đến nỗi mọi người sẽ biết ai thực sự điều hành thỏa thuận.

Tuy nhiên, với cách làm tương tự, việc Drexel xuất hiện ở vị trí bên trái lại truyền đi một thông điệp hoàn toàn khác. Trong khi Salomon vẫn được hiểu là vượt trội hơn Shearson dù xuất hiện ở vị trí bên phải, điều tương tự sẽ không đúng với một Drexel rất mạnh về giao dịch trái phiếu. “Nếu Drexel được ghi tên ở vị trí bên trái,” Strauss nói, “chúng tôi sẽ được nhìn nhận như những kẻ đến sau.”

Cuối cùng thì sự nhìn nhận mới là vấn đề phải bàn. Việc nhìn nhận ai sẽ là người điều hành các phiên chào bán trái phiếu đối với Johnson hoặc bất kỳ người thâu tóm nào khác là một tiểu tiết. Dù có vị thế là một đối tác đầy đủ trong thỏa thuận của Johnson, dù có tiếng nói trong giới ngân hàng đầu tư, nhiệm vụ chính của Salomon không phải là sở hữu Oreos. Nhiệm vụ của họ là bán trái phiếu. Và họ đang sẵn sàng hy sinh lợi ích của Johnson - chính xác là như vậy, hy sinh toàn bộ thỏa thuận này — để tránh bị nhìn nhận là kẻ đến sau đối thủ đáng ghét nhất của họ, Drexel. Thông qua tất cả tính tự cao tự đại, thông qua tất cả sự tham lam, thông qua tất cả các cuộc thảo luận về giá trị cổ đông, tất cả đều đi đến điều này: John Gutfreund và Tom Strauss đang chuẩn bị phá hỏng vụ tiếp quản lớn nhất mọi thời đại chỉ vì tên của họ sẽ xuất hiện ở bên phải, không phải ở bên trái của bảng quảng cáo vinh danh có hai màu đen trắng, nằm lẫn giữa những bảng thông tin về chứng khoán ở mặt sau của tờ Wall Street JournalThe New York Times.

-

Hai giờ sáng, Cohen đang di chuyển như con thoi giữa Kravis và Roberts trong phòng họp ốp kính của Johnson cùng nhóm của Salomon. Anh đã tuyệt vọng trong việc tìm ra tiếng nói chung giữa hai bên. Có những nghi ngờ cho rằng Cohen có thể đã nghĩ đến việc chia tiền lời của mình cho Kravis vào cái đêm anh cố gắng hết sức để hòa giải hai bên.

Nhưng không có sự thỏa hiệp nào có vẻ chấp nhận được đối với Gutfreund. “Không có cách nào để chúng tôi chiều theo ý của Drexel,” Chủ tịch của Salomon nói với giọng chậm rãi, đều đều nhưng kiên quyết. Chúng tôi chào đón họ với tư cách là đối tác, Peter. Nhưng chúng tôi không đi xa đến mức trao thỏa thuận này cho Drexel.”

Hết lần này đến lần khác, Cohen cố gắng kéo Strauss sang một bên để nói chuyện chân tình. Mỗi lần như vậy, Mike Zimmerman hoặc một trong những nhân viên ngân hàng Salomon khác lại chạy ra chỗ họ và tham gia vào cuộc trò chuyện. Cohen bắt đầu cho rằng các giám đốc điều hành của Salomon như chuỗi xúc xích cứ dính lấy nhau ở bất cứ nơi nào họ có mặt. Anh không có lúc nào có thể ở một mình với bất kỳ ai trong số họ.

Chỉ có một lần Cohen mất bình tĩnh. Zimmerman đưa ra một tuyên bố khác về danh tiếng của Salomon. “Chúng tôi là Salomon Brother,” anh nói. “Họ nghĩ thế nào mà đối xử với chúng tôi theo cách này?” Như thế là quá đủ với Cohen, điều đó có thể khiến anh nhảy xuống bóp cổ nhân viên ngân hàng đó. “Anh đang nói về cái gì vậy? Chính các anh đã phá hỏng vụ Southland và Revco. Họ có lý do để lo ngại. Ý tôi là các anh thậm chí có hiểu những gì chúng ta đang làm ở đây không?”

Cohen đã thử mọi cách mà anh có thể tưởng tượng. Trả lại Kravis phần phí tăng thêm để thuê Salomon. Thiết lập phòng giao dịch tại một địa điểm trung lập, nơi cả ba công ty có thể cùng nhau quản lý việc chào bán trái phiếu. Anh nín thở mỗi khi thấy có động thái phía Salomon. Cứ mỗi khi họ dường như sắp đạt được thỏa thuận, một nhân viên ngân hàng của Salomon lại nói về Drexel. “Chúng ta đang làm gì đây?” một người hỏi. “Bọn họ là đồ lừa đảo. Đồ lừa đảo!” và cả nhóm lại bắt đầu tuôn ra vô số lời công kích Drexel.

Càng cố gắng, Cohen càng thấy bực bội. Là người vẫn tự hào về sức chịu đựng của mình, người đứng đầu Shearson phải thừa nhận rằng anh đã kiệt sức. Trong hai tuần, anh đã chiến đấu không ngừng nghỉ. Anh cần ngủ. Thật vô lý khi tiến hành đàm phán các vấn đề quan trọng nhất của vụ tiếp quản lớn nhất trong lịch sử vào lúc 2 giờ sáng. Tại sao họ vẫn đang ở đây vậy?

Khi đêm dần tan, Johnson tiếp tục bị ấn tượng với sự thông thạo về hoạt động tài chính của Kravis, lão bắt đầu nghiêng về phía Kravis sau khi đã thông suốt hoàn toàn lập luận của anh. Johnson tự hỏi tại sao không phải là Drexel, nếu thực tế họ đáng tin cậy nhất? “Peter, chúng ta nên có những người giỏi nhất làm việc này, tôi không quan tâm người đó là ai,” Johnson nói. “Nếu có ý tưởng nào đó tốt hơn, hãy sử dụng ý tưởng đó.”

Thái độ này của Johnson đã khuyến khích Kravis. Đến lúc này, anh bảo Johnson: “Tại sao ông không ra đó và tự mình thỏa hiệp?” Rốt cuộc, Johnson không phải là khách hàng ở đây sao? Lão đơn giản là không thể yêu cầu các nhân viên ngân hàng đầu tư của mình làm theo mong muốn của lão sao? Johnson nói lão sẽ thử. Lão bỏ đi, rồi trở lại sau 20 phút. “Phải, tôi đã nói chuyện với họ.”

Và? Kravis băn khoăn hỏi.

“Chà, tôi vẫn không biết chuyện gì đang xảy ra.”

“Vậy ai là người đưa ra quyết định ở đây?” Kravis hỏi, cơn tức giận bốc lên.

“Tôi không biết,” Johnson trả lời. “Những gã đến từ Salomon ngoài kia…”

-

Gần như suốt buổi tối, Jim Robinson chẳng đưa ra lời khuyên nào, ông cho rằng mình có một giải pháp. Ông nói Gutfreund không hài lòng vì bị cho ra rìa trong cuộc thảo luận của họ ở khách sạn Plaza. Tôi nghĩ rằng cảm xúc của ông ấy đã bị tổn thương. “Tại sao các anh không ngồi xuống và nói chuyện với ông ấy?”

“Phải đấy,” Kravis nói. “Tại sao ông không gọi anh ta đến đây.”

Có tin báo là không thể tìm thấy Gutfreund. Ông ta đã biến mất. “Ông ấy đi đâu vậy?” Johnson hỏi, và đi nhanh ra khỏi phòng tìm ông ta. Đầu tiên, lão hỏi các nhân viên bảo vệ, họ cho rằng Gutfreund đã ra ngoài đi dạo.

Nếu Gutfreund đang hờn dỗi, Johnson nghĩ, có lẽ mọi việc sẽ tệ hơn khi cử một người theo sau ông ta, vì vậy lão quyết định tự đi tìm. Lão nhìn thấy ông ta đang hút xì gà trên phố 57. Gutfreund dường như đang chìm đắm trong suy nghĩ.

“Thôi nào, John, anh phải lên lầu và đành chút thời gian với Henry,” Johnson nói. “Có vẻ như chúng ta cần có giải pháp cho vấn đề này.”

Khoảng 3 giờ sáng, Kravis và Roberts ngồi với Gutfreund trong phòng chờ nhỏ bên ngoài phòng của Johnson. “Chúng tôi đang cố gắng hợp lý hóa các vấn đề ở đây,” Kravis nói. “Bây giờ, ông hãy cho tôi biết tại sao việc người của các ông điều hành thỏa thuận này lại quan trọng đến vậy?”

“Vì người của chúng tôi có khả năng,” Gutfreund nói, “vì người của chúng tôi đã giành rất nhiều thời gian cho việc này. Chúng tôi hoàn toàn có khả năng làm việc này, và nên để chúng tôi làm nó… có rất nhiều lý do để chúng tôi phải làm lần này… Những năm gần đây, chúng tôi đã thua thiệt nhiều rồi.” Kravis biết: Đó là một trong những lý do khiến họ không muốn Salomon chịu trách nhiệm ghi chép sổ sách. “Chúng tôi hiện giờ cũng rất tôn trọng Mike Milken,” Gutfreund tiếp tục, “nhưng đây là cách Salomon Brothers muốn tiến hành ở vụ này.”

Rõ ràng, Gutfreund không hề lay chuyển, nhưng Kravis cũng vậy. Khi Gutfreund rời khỏi phòng, Roberts chìm vào tâm trạng u ám. Anh đứng đó, nói chuyện với Kravis bên quầy rượu của Johnson trong vài phút cho đến khi Dick Beattie bước vào.

“Nghe này, điều này thật điên rồ,” Roberts nói. “Chúng ta dành cả đêm chỉ để tranh luận ai sẽ ở bên trái và bên phải của bảng quảng cáo ghi danh người bảo lãnh phát hành. Làm thế nào chúng ta có thể đưa ra thỏa thuận về các vấn đề thực sự thiết thực? Thậm chí, chúng ta sẽ làm việc với những người này như thế nào nếu thực hiện thỏa thuận này? Mọi người quan tâm đến mọi thứ trừ việc thỏa thuận có thực hiện được hay không. Tất cả chỉ đang chạy theo cái tôi và lợi ích của mình thôi.”

Càng nói về nó, anh càng chán nản hơn. “Anh đến đây và nghĩ rằng chúng ta sẽ có một thỏa thuận,” Roberts nói. “Vậy mà giờ…”

“Em tin anh, George,” Kravis nói, gật đầu đồng ý. “Anh hoàn toàn đúng.”

Beattie chia sẻ với sự nản lòng của khách hàng. “Anh cũng biết đấy, có rất nhiều vấn đề trong thỏa thuận quản lý mà chúng ta đang để lại, chưa bàn tới. Nếu không thể nhường nhịn nhau trong vấn đề này, chúng ta sẽ không bao giờ nhường nhịn được nhau.”

“Hãy về nhà ngủ một lúc đi,” Roberts nói. “Chuyện này thật điên rồ.”

Kravis kéo Cohen ra một chỗ, và nói với anh rằng họ nên trở lại bàn bạc tiếp khi trời sáng. Đối với tình hình trái phiếu, Roberts và Kravis đã có kế hoạch bàn về một thỏa hiệp trong bữa sáng lúc 7 giờ với Peter Ackerman của Drexel, nhà giao dịch này đang đảm nhận vai trò của Milken. Có lẽ Ackerman sẽ nghĩ ra điều gì đó mà Gutfreund có thể chấp nhận.

“Hãy gọi về nhà cho tôi khi anh đã sẵn sàng nối lại đàm phán.”

Khi nhóm của Kravis tiến vào thang máy, Gutfreund hấp tấp chạy đến sau họ. “Dick, chờ một chút. Chúng ta hãy nói về chuyện này.” Beattie cố gắng trấn tĩnh Chủ tịch Salomon: “John, chúng ta sẽ không đạt được bất kỳ tiến triển nào.”

Kravis và Roberts dừng lại, trong khi Beattie quay trở lại để nói chuyện với các nhân viên ngân hàng Salomon đang ngồi rỗi trong căn phòng kính. Hàng tá câu hỏi được đặt ra cho vị luật sư khi ông bước vào. “Tại sao bên các ông lại bảo vệ Drexel đến vậy?” Nhiều người đặt câu hỏi: “Bọn họ lớn rồi. Họ có thể tự chăm sóc bản thân mà.”

“Nghe này,” Beattie nói, “Peter Cohen đã bảo vệ các anh cả đêm. Drexel là đối tác của chúng tôi. Họ đã tốt với chúng tôi. Chúng tôi sẽ không bỏ rơi họ.”

Beattie đã không giải thích thêm một sự thật mà họ vẫn chưa nhận ra, rằng Salomon đã liên tục làm hỏng nỗ lực của chính mình nhằm gia nhập thị trường LBO. Hay Kravis đã sớm có người giỏi hơn Salomon để xử lý việc chào bán trái phiếu. Hoặc là Kravis cảm thấy Strauss đã phản bội anh ta. Tất cả đều quá phức tạp.

Khi Kravis và Roberts rời đi, Johnson cũng đã đi rồi. Gar Bason đã có bản ghi nhớ thỏa thuận giữa hai bên để sẵn sàng ký kết, và Johnson đã ký tắt vào đó trên đường đi ra. Lão chắc chắn nút thắt giữa Kravis và Salomon sẽ được giải quyết vào sáng mai. Thành thật mà nói, lão thích cách tiếp cận của Kravis hơn Shearson. Nhưng lão vẫn sẽ hài lòng với bất cứ cách nào mà họ chọn. Những chi tiết đến vào phút cuối thật khiến con người ta mệt mỏi.

Nhiều người trong nhóm của Shearson còn ở lại, và nghiên cứu kỹ các sự kiện diễn ra tối hôm đó cho đến 5 giờ sáng. Khi hai thành viên của nhóm Salomon gồm Peter Darrow và Mike Zimmerman ra về vào lúc bình minh, họ phát hiện chiếc taxi đã chờ họ tám tiếng. Đồng hồ đo trên xe vẫn chạy.

“Xin lỗi, thưa ngài,” người lái xe nói khi thả hai người ở khu Brooklyn Heights. “Ngài có thể ký chứng từ này không? Sẽ không ai tin điều này.”

Bình minh hé rạng khi Cohen lê mình vào căn hộ ở đại lộ số 5. Anh đã nghĩ mình sẽ đi ngủ, nhưng vì quá lo lắng nên Cohen không thể ngủ ngay lập tức. Trong phòng ngủ, vợ anh, Karen, tỉnh giấc và hỏi chồng công việc đến đâu rồi. Hiếm khi Cohen cảm thấy thất vọng đến vậy. Lần đầu tiên trong sự nghiệp, anh không thể xây dựng được cầu nối giữa các phe phái chiến tranh, một khả năng mà anh vẫn tự hào. Vợ chồng họ ngồi trên giường gần một tiếng đồng hồ, phân loại các sự kiện đêm qua, từ từ thư giãn, rồi lặng lẽ chìm vào giấc ngủ.

-

Chuông điện thoại reo bên giường đánh thức Cohen đang say giấc. Mắt nhắm mắt mở, anh nhìn chằm chằm vào chiếc đồng hồ. Đã 8 giờ. Áp ống nghe vào tai, Cohen nghe thấy giọng nói lạnh lùng của Henry Kravis. Họ đã sẵn sàng gặp mặt.

Cohen không mong gặp lại Kravis; vì lý do nào đó, anh dường như không thể phản đối sự hợp tác này. Anh gọi Jim Robinson. “Ông đang làm gì vậy?” Cohen nói, “Bỏ đi. Hãy đến và gặp nhau ở số 9 khu Tây.”

Tiếp theo Cohen gọi cho Jeff Lane. Cho đến nay, giám đốc điều hành số hai của Shearson không tham gia sâu vào câu chuyện kịch tính RJR vì phải nắm quyền điều hành công ty trong khi Cohen vắng mặt. Bây giờ, Cohen cần đến anh. “Tôi thực sự mệt mỏi,” anh nói với Lane. “Có lẽ giờ tôi không thể suy nghĩ sáng suốt như mong muốn. Tôi cần một người có đầu óc tỉnh táo.”

Đến 9 giờ, một nhóm nhỏ đã tập hợp trong phòng làm việc của Johnson. Đội Salomon chỉ có Gutfreund và Strauss. Vài phút sau, Kravis và Roberts xuất hiện và đã sẵn sàng đàm phán. Cohen đề nghị họ quay trở lại văn phòng ở tầng dưới cho đến khi Johnson đến. 15 phút sau vẫn chưa thấy Johnson, một người gọi đến căn hộ của lão và phát hiện lão vẫn đang ngủ. Khoảng 9 giờ 15 phút, Cohen đi xuống văn phòng của Kravis, anh mệt đến nỗi gần như chẳng thấy đường đi, cuối cùng anh cũng thấy Kravis và Roberts đang ở cùng Dick Beattie. Vào bữa sáng, Peter Ackerman đã đề nghị Kravis rút lui khỏi hiệp ước hòa bình nếu anh muốn. Nhưng Kravis không muốn điều đó. Khi được hỏi về biện pháp thỏa hiệp, Ackerman nghĩ ra điều mà ông cho rằng Gutfreund có thể sẽ chấp nhận. Việc chào bán trái phiếu sẽ được chia ra: Drexel sẽ đứng ở vị trí đầu tiên, còn Shearson đứng thứ hai ở bên phải, Salomon cũng ở bên phải ngang với Shearson. Tương tự ý tưởng đã bị bác bỏ đêm hôm trước, nhưng Kravis vẫn nghĩ rằng cách làm này nghe có vẻ hợp lý.

Cohen cố hết sức lắng nghe, nhưng anh không chắc đã hoàn toàn hiểu đề xuất này. Chưa đầy nửa giờ sau, anh quay lại tầng trên để giải thích sự thỏa hiệp của Kravis với nhóm Jack Nusbaum, Jim Robinson và Steve Goldstone. Johnson vẫn chưa xuất hiện. Khi Gutfreund và những người khác bắt đầu hỏi Cohen về kế hoạch của Ackerman, anh thấy mình chỉ biết trả lời có hoặc không.

“Nghe này, tôi bỏ cuộc,” Cohen mệt mỏi nói với cả nhóm. “Sẽ có ai đó ngoài tôi có thể giải quyết vụ này. Có lẽ ai đó nên đi xuống và xem có thể làm được gì.”

Jeff Lane và Jack Nusbaum đã được chọn để thực hiện cuộc xuất kích lần hai. Ở tầng dưới, Kravis đưa hai người vào một phòng khác, và yêu cầu Ted Ammon giải thích lại về thỏa hiệp mà anh đã dự định. Kravis hoảng hốt. Lane và Nusbaum dường như không nắm bắt được những gì bên anh đang nói.

-

Linda Robinson đang ở căn hộ phía trên bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại thì bị đánh thức bởi một cuộc gọi từ thư ký. “Henry Kravis vừa gọi. Anh ấy nói có chuyện rất quan trọng.”

Linda Robinson ngủ chưa được ba giờ. Khi gục đầu vào gối lúc 6 giờ sáng, cô đã hy vọng lúc cô thức dậy, họ đã đạt được thỏa thuận. Cô gọi cho Kravis, và đường dây nhanh chóng thông suốt.

“Tôi phải làm sao đây, huấn luyện viên?”

“Tôi không biết, Henry,” cô nói, giọng ngái ngủ. “Giờ là 9 giờ 30 phút sáng. Có chuyện gì xảy ra vậy?”

“Chúng tôi vừa mới họp. Mọi thứ đã ổn, nhưng chúng tôi thực sự không thể hiểu.” Linda Robinson nghĩ Kravis đang thăm dò chuyện gì đó.

“Tôi không biết chuyện gì đã xảy ra,” cô nói, “nhưng tôi sẽ tìm hiểu và gọi lại cho anh.”

Linda Robinson đặt điện thoại xuống, sau đó gọi cho nhóm đang ở RJR Nabisco. Họ nói với cô Kravis khăng khăng đòi duy trì vai trò của Drexel trong thỏa thuận, và các cuộc đàm phán đang sụp đổ. Mọi người đều đổ lỗi cho Kravis. Ồ, không, cô nghĩ.

Cô gọi cho Johnson. Lão vẫn ở nhà và không hay biết gì về tình hình xấu đi nhanh chóng ở số 9 khu Tây. Johnson là người hay ngủ muộn, và một cuộc đàm phán trị giá 20 tỷ đô-la không làm thay đổi thói quen này của lão. “Mọi thứ có vẻ rất tệ,” Robinson nói. “Họ đang đi lệch hướng.”

Sau đó, cô gọi lại cho Kravis. “Mọi người điên thật rồi. Chuyện gì đã xảy ra khi anh gặp gỡ với người bên tôi?”

“Người bên cô thật sự rất khó chịu.”

“Còn họ thì nói rằng anh vẫn chứng nào tật nấy về tất cả mọi thứ.”

-

Sau đó, Johnson đến lúc khoảng 10 giờ, lão thấy Cohen, Gutfreund và phần còn lại của vụ náo động. Họ nói Kravis không chỉ khăng khăng rằng Drexel phải cùng phụ trách việc ghi ghép sổ sách, mà giờ đây anh ta còn đặt ra câu hỏi về thỏa thuận quản lý và các vấn đề mới nữa. “Họ ghét thỏa thuận quản lý của ông,” Cohen nói. “Họ cũng đang nhằm vào nó.”

Johnson luôn nhận ra mỗi khi ai đó đang cố gắng khiến lão nổi giận. Cohen rõ ràng muốn lão nổi giận với Kravis. Lão thấy bối rối, và cơn giận dữ của lão cứ thế nhanh chóng tăng lên. Johnson ngồi xuống một chiếc ghế trong phòng hội nghị lớn, nơi cả nhóm đang đang tranh luận về cách xử lý Kravis. Đa số họ dường như chỉ muốn nguyền rủa anh ta.

Họ đang cố gắng thực hiện toàn bộ thỏa thuận! Chúng ta sẽ bị cho ra rìa! Họ đang muốn tống khứ chúng ta! Họ sẽ tống khứ chúng ta!

Với Johnson, những điều này thật vô lý. Theo như hiểu biết của lão thì nguyên do chủ yếu nằm ở việc ai sẽ nhận được khoản phí lớn nhất. Mỗi khi lão đặt câu hỏi, câu trả lời lão nhận được lại được trình bày theo kiểu văn vẻ cầu kỳ ở Phố Wall, và chỉ khiến vấn đề trở nên khó hiểu hơn. Thỉnh thoảng, Johnson lại không biết liệu lão có nhầm lẫn không. “Chết tiệt, tôi vẫn không hiểu vấn đề nằm ở đâu,” lão nói.

Strauss cố gắng giải thích rằng việc chia sẻ quyền chào bán trái phiếu là một cơn ác mộng về mặt hậu cần. “Chết tiệt,” Gutfreund chửi bới, “những gì bọn họ đang đòi hỏi thật lố bịch. Chúng tôi chỉ có thể dựa vào bản thân thôi. Chúng tôi sẽ không bao giờ có thể chấp nhận bọn họ.”

Johnson phẫn nộ lui về phía mình. Lão chẳng mong thấy những cuộc tranh cãi vô giá trị này. Lão không thể tin được rằng thỏa thuận sẽ sụp đổ vì điều gì đó ngớ ngẩn như việc ngân hàng nào sẽ phụ trách việc chào bán trái phiếu. Mọi người đổ xô đến theo lão, phàn nàn rằng thỏa thuận này không thể thực hiện. Johnson đã phát cáu.

“Nhảm nhí,” lão cáu kỉnh nói. “Chẳng ai quan tâm đến công ty này. Chẳng ai nghĩ đến các nhân viên. Chúa ơi, tôi có một công ty phải điều hành. Tôi phải lo cho 140.000 người. Chúng tôi không thể từ bỏ!”

Buổi sáng trôi qua, Johnson vẫn chờ đợi, hy vọng có điều gì đó xảy ra. Hiệp ước hòa bình không thể sụp đổ. Đơn giản là không thể. Cũng như những tranh chấp này sẽ phải qua đi.

Bên trong phòng họp kính, mọi việc trở nên xấu đi nhanh chóng. Họ nhất trí rằng nếu Kravis khăng khăng sử dụng Drexel, sẽ không có hiệp ước hòa bình. Nếu không có hiệp ước, đã đến lúc phải đưa ra giá thầu. Gutfreund và Strauss lập luận: Đã 10 ngày kể từ khi Kravis công bố đề nghị dự thầu với giá 90 đô-la, nhóm quản lý vẫn chưa đưa ra giá thầu mới. Họ đề nghị ngay lập tức công bố mức giá 92 dô-la/cổ phiếu để giành quyền mua công ty.

“Chuyện này khiến chúng ta tỉnh ngộ,” Strauss nói. “Chúng ta cần chuẩn bị đấu giá. Chúng ta phải trình giá thầu lên.” Cohen hay Jim Robinson đều không có ý kiến về mức giá này. Trong số những người có mặt, chỉ có Steve Goldstone phản đối kịch liệt.

Goldstone hiểu rõ chiến thuật của bọn họ sẽ thế nào: Đó là thứ mà các nhà giao dịch gọi là đặt giá thầu “đối kháng công khai”. Nói một cách đơn giản, Cohen và Gutfreund đã rất tức giận với Kravis, họ muốn ngay lập tức đưa ra giá thầu khiến anh ta bối rối. Goldstone âm thầm nguyền rủa những gã này và cái tôi quá lớn ngự trị bên trong con người bọn họ.

Anh đứng cạnh chiếc bàn lớn, và bác bỏ ý tưởng về giá thầu mới, khi nói giọng anh cứ to dần lên. Anh đã cầu xin Atkins về một hợp đồng sáp nhập, và anh đã hứa rằng nhóm quản lý sẽ trình lên một giá thầu ưu tiên mua. Anh nói việc Shearson trả giá 92 đô-la chắc chắn sẽ dẫn đến sự cạnh tranh. Giá thầu tăng chỉ 2 đô-la sẽ không thể ngăn chặn được ai. Một khi giá thầu này được đưa ra, họ đã mất sự ủng hộ của ủy ban đặc biệt. Atkins và Hugel sẽ biết rằng nhóm quản lý cũng không mấy dư dả về tiền bạc, và họ sẽ đẩy giá lên cao nhất có thể.

“Điều này không khiến Henry sợ hãi,” Goldstone lập luận. “Henry sẽ không bỏ cuộc với mức giá đó. Nó sẽ chỉ làm anh ta tức giận thêm. Tất cả những gì các vị đang làm là chọc giận Henry, và mất đi sự ủng hộ của ủy ban đặc biệt. Chúng ta đang vứt bỏ lợi thế chiến lược của mình. Giá thầu đó thật vô nghĩa.”

Gutfreund không nghĩ nhiều về lập luận của Goldstone và đã nói đúng như vậy. Gutfreund nói Ross Johnson có thể viết séc, nhưng tiền vẫn là của Salomon và Shearson. “Tiền là của chúng tôi,” ông ngắt lời. “Chúng tôi biết phải làm thế nào.”

Trong vài phút, Goldstone và các giám đốc của Salomon đã sa đà vào một cuộc tranh luận nảy lửa về chiến lược đấu thầu. Goldstone mong Tom Hill, người đang ở Minneapolis tham gia cuộc họp hội đồng quản trị của Pillsbury, cũng có mặt ở đó để tăng thêm sức nặng cho lập luận của anh. Cuối cùng, đối tác của Goldstone, Dennis Hersch, cúi xuống và thì thầm vào tai bạn mình.

“Này, bình tĩnh đi,” Hersch nói. “Họ mới là người quyết định. Anh đâu phải là luật sư của họ.”

Goldstone xông vào văn phòng của Johnson. Làu bàu trong cơn giận dữ, anh nói vắn tắt về tình hình hiện tại với Johnson, và nói thêm rằng các nhân viên ngân hàng đã chuẩn bị khởi động một cuộc phản công. “Đây là một sai lầm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, và nó sẽ làm chúng ta tổn thương,” Goldstone nói. “Nhưng tôi không thể ngăn họ lại. Họ hoàn toàn thù địch. Họ không nghe tôi nói.”

Johnson lắng nghe Goldstone tiếp tục nói về Gutfreund. Lão vẫn giữ thái độ chẳng thèm quan tâm. Đây là đàm phán, và tất cả các cuộc đàm phán đều trở nên nóng bỏng. Lão tự nhủ, sớm muộn gì họ cũng sẽ bình tĩnh lại thôi.

-

Robinson, Cohen và Nusbaum được chỉ định thực hiện chuyến đi cuối cùng xuống tầng dưới, họ tới văn phòng của Kohlberg Kravis vào khoảng 11 giờ. Họ được hộ tống vào văn phòng của Kravis, Robinson là người phát biểu.

“Chúng tôi đánh giá cao thiện chí thương lượng của bên anh,” ông nói. “Cả hai bên đã cố gắng đi đến một hiệp ước hòa bình. Mọi người đã làm việc chăm chỉ. Có vẻ chúng tôi đã có những vấn đề không thể vượt qua. Nếu bên anh không thể nhượng bộ, chúng ta sẽ không còn lý do gì để tiếp tục đàm phán. Chúng tôi sẽ phải đi con đường riêng của mình.”

Kravis sửng sốt: “Câu trả lời cho đề xuất mà chúng tôi đã đưa ra cho Peter sáng nay là gì?”

Robinson đúng là một nhà ngoại giao giỏi. Điều đó không được, ông nói và không đi sâu vào chi tiết.

“Chúng tôi sẽ đề xuất một giá thầu thay thế,” Robinson nói. Ngay bây giờ, chúng tôi sẽ công bố trên bản tin về mức giá đó.”

“Cái gì?” Kravis kinh ngạc. Theo anh biết, họ vẫn đang đàm phán. Tại sao?

“Chúng tôi có thể thắng hoặc có thể thua,” Robinson nói, “nhưng nếu thua, chúng tôi vẫn phải thua theo cách thức phù hợp nhất với công ty và nhà đầu tư của chúng tôi.”

Khi nhóm của Robinson rời đi, Kravis nhảy dựng lên, George Roberts cũng vậy. “Chết tiệt,” Roberts càu nhàu, “Ross Johnson không dám xuống đây nhìn vào mắt chúng ta, và tự mình nói với chúng ta những điều đó. Anh rất vui vì chúng ta không phải hợp tác với đám người đó. Cuộc đàm phán này sẽ không bao giờ có kết quả tốt đẹp.”

Cohen bước ra khỏi văn phòng của Kravis, nhấc điện thoại trong phòng chờ của Kohlberg Kravis và gọi cho nhóm ở tầng trên.

“Tiến hành đi,” anh nói. Ít phút sau, tin tức về giá thầu 92 đô-la của nhóm quản lý đã đến với Bản tin Dow Jones.

-

Kravis không phải là người duy nhất choáng váng vì giá thầu của nhóm quản lý. Johnson cũng thấy bối rối. Mải mê suy nghĩ trong văn phòng của mình, Johnson đã cho rằng cuộc tranh luận đang diễn ra trong phòng họp chỉ mang tính lý thuyết. Bất chấp cảnh báo của Goldstone, lão không tin có ai đó sẽ thực sự đưa ra một giá thầu mới. Không phải họ đã tiên rất gần tới một thỏa thuận hòa bình với Kravis sao. Và chắc chắn càng không thể nếu chưa có sự chấp thuận của lão.

“Chúng ta đang làm gì vậy?” Johnson la lớn với Goldstone khi nhìn thấy những tin tức chạy trên bản tin. “Thật ngu ngốc hết chỗ nói! Thật ngu xuẩn! Nếu tất cả các cuộc đàm phán đã đổ vỡ, đưa ra giá thầu bây giờ phỏng có tác dụng gì? Anh sẽ không có được hợp đồng sáp nhập.” Nó chỉ khiến Kravis thêm tức giận.

Linda Robinson đã đến tầng 48, và nói chuyện với Kravis qua điện thoại vào buổi trưa. Anh giận tím người. “Tôi không thể tin họ lại cư xử như vậy!” Krivis nổi cơn thịnh nộ. “Tại sao họ không cố gắng hơn?” Anh tiếp tục nói trong vài phút, không kiểm soát được cơn tức giận.

Linda Robinson chỉ có thể lắng nghe, cô thấy tức tối và có chút xấu hổ với cách cư xử của người bên mình.

Johnson vẫn ở trong văn phòng của mình, và bị sốc trước diễn biến của các sự kiện. Lão chẳng thể nói gì với Gutfreund hoặc Cohen; họ có vẻ rất hài lòng vì đã cho Kravis thấy cái giá của việc gây rối với họ. Lão cũng không thể nói gì với Kravis, người “đang thét ra lửa”. Chỉ mới 17 giờ trước đó, lão vẫn còn cố gắng đạt được một hiệp ước hòa bình. Lão cũng không muốn có yêu cầu gì với Strauss, Cohen hay bất kỳ ai trong số những người ở Phố Wall. Tất cả đổ vỡ cũng chỉ xuất phát từ lòng tham, rất thuần túy và đơn giản, chỉ có lòng tham mà thôi. Nhưng quan trọng hơn nữa là các đối tác của lão đang đưa ra một gói thầu trị giá 20 tỷ đô-la mà không thèm nghĩ đến việc nói với lão một câu. Lão cảm thấy mình như người đàn ông bước vào sòng bạc trong bộ tuxedo lịch lãm, và sáng hôm sau ra khỏi đó rách rưới tả tơi. Tệ hơn nữa, Johnson nhận ra lão thậm chí đã mất khả năng kiểm soát số phận của chính mình.

Chứng kiến bộ dạng ủ rũ của Johnson, Goldstone đành miễn cưỡng gọi cho Peter Atkins để thông báo cho anh ta về giá thầu mới của nhóm quản lý. Atkins bị kéo ra khỏi cuộc họp của ủy ban đặc biệt tại Skadden Arps để nhận cuộc gọi. Goldstone cố gắng che giấu sự thất vọng trong giọng nói. Sau cuộc thảo luận về giá thầu ưu tiên mua hôm trước, anh gần như thấy xấu hổ khi nói chuyện với Atkins. Một giá thầu cực cao, Goldstone đã thề như vậy.

Khi báo tin cho Atkins, Goldstone nghĩ rằng anh sẽ nghe thấy sự ngạc nhiên trong giọng nói của vị luật sư. Anh muốn giải thích, nhưng bản thân lại không đám. Khi anh nói xong, có một khoảnh khắc im lặng khó xử giữa hai người. Anh biết Atkins đang rất cố gắng để hiểu tại sao lại có sự bất ngờ này, tại sao giá thầu thấp như vậy.

“Được rồi,” cuối cùng Atkins nói. “Tôi nghe thấy anh nói rồi.”

Goldstone không phải là người duy nhất không hài lòng với giá thầu 92 đô-la của nhóm quản lý. Ở Minneapolis, Hill bước ra khỏi cuộc họp hội đồng quản trị của Pillsbury để nghe tin tức từ Cohen. “Tôi nghĩ đó là một sai lầm,” Hill nói với ông chủ của mình. Họ đang ở trong một cuộc đấu giá, và người ra giá phải kiểm soát được tất cả các nhà thầu khác. Nhiều tháng sau đó Hill nhớ lại: “Khi chúng tôi ra giá, hội đồng quản trị biết rằng họ đã nắm được điểm yếu của chúng tôi.”

Sau đó, mọi người giải tán. Cohen dành cả buổi chiều cho một cuộc họp hội đồng ở Sở Giao dịch Chứng khoán New York. Strauss và Gutfreund lên máy bay đến Palm Beach tham gia chuyến đi chơi cuối tuần với khách hàng của Salomon. Johnson vẫn đang rất giận dữ, và ở yên trong phòng. Linda Robinson dừng lại ở văn phòng của Kravis trên đường ra khỏi tòa nhà.

“Chúng ta phải làm gì đó,” cô nói. “Chúng ta phải đưa đàm phán trở lại đúng hướng.”

“Tôi không thấy có cách nào có thể đưa đàm phán trở lại đúng hướng.” Kravis nói, anh đã cam chịu thực tế. Kết thúc rồi. Giữa cuộc đàm phán, Peter Cohen đã rút súng và vung đạn khắp phòng. Làm sao có thể đàm phán với những người như vậy?

“Bên cô đã đưa ra giá thầu mới,” Kravis nói với vợ của Jim Robinson. “Đến nước này, họ đã đi con đường của mình rồi.”

-

Nghiên cứu tài chính là lẽ sống của Frank Benevento. Là cố vấn của Johnson và Sage, Benevento thích sử dụng các thuật ngữ khoa học tài chính để mô tả công việc tính toán các con số của mình. Gần đây, Benevento bân rộn nghiên cứu cấu trúc lệ phí của các cố vấn có uy tín ở Phố Wall. Chiều thứ Năm, anh bước vào văn phòng của Johnson với các kết quả nghiên cứu mới nhất. Theo các khoản phí tính theo phần trăm hiện đang phổ biến ở Phố Wall, và căn cứ theo các khoản phí khổng lồ trả cho nhân viên ngân hàng đầu tư và luật sư trong thỏa thuận này, Benevento nói, anh đã tự soạn thảo hóa đơn tiền phí cho riêng mình.

Nó lên tới 24 triệu đô-la.

Johnson suýt ngất. Tất cả bọn họ, lão nghĩ, đều đến đây để có được điều gì đó cho mình: “Các giám đốc với những mối quan tâm nhỏ nhặt như lương hưu và bảo hiểm ô tô, Kravis và các nhân viên ngân hàng đầu tư với các khoản phí, Salomon với trái phiếu. Và bây giờ là Frank Benevento muốn 24 triệu đô-la.

Johnson nghĩ không biết bằng cách chết dẫm nào mà Benevento có thể kiếm được gần 24 triệu đô-la. Lão bảo anh ta cứ lập hóa đơn gửi công ty cho những gì anh muốn. Vấn đề sẽ được giải quyết khi mọi việc trở lại bình thường.

Chán nản, Johnsons rời khỏi New York vào sáng thứ Sáu, đi về phía bắc đến một bệnh viện ở vùng ngoại ô thành phố Albany. Chiều hôm đó, lão ngồi trong phòng bệnh của con trai suốt bốn giờ, anh vẫn hôn mê. Tình trạng của Bruce Johnson không tốt, chuyển biến xấu đi nghiêm trọng trong chuyến bay từ Westchester đến Albany. Các bác sĩ Westchester khẳng định việc di chuyển sẽ an toàn, nhưng các đối tác ở Albany cảm thấy có lẽ họ không nên di chuyển anh. Nhiệt độ của Bruce tăng vọt. Johnson dành cả ngày để nói chuyện với các bác sĩ, nhưng tình hình vô cùng căng thẳng.

Không hẹn mà nên, Kravis cũng dành ngày thứ Sáu cho con trai. Đó là Ngày của Cha mẹ ở trường Middlesex, ngôi trường chỉ dành cho con nhà giàu ở Massachusetts, và Kravis đã lái xe đến nhân dịp này. Sau đó, anh lui về căn nhà ở vùng đồng quê, hy vọng thoát khỏi sự khắc nghiệt của các cuộc đàm phán thầu đêm, và việc trở thành tâm điểm cho báo chí chỉ trích. Các cuộc tấn công của truyền thông khiến anh có cảm giác đang bị bao vây. Vào những thời khắc đen tối nhất, cũng là lúc anh thấy như vậy đã đủ rồi, anh tự đặt ra câu hỏi anh thực sự muốn sở hữu RJR Nabisco đến mức nào? Nó có xứng đáng với cái giá mà anh phải trả không?

Chiều thứ Sáu, Kravis chịu đựng đòn giáng nặng nhất từ báo chí cho đến nay. Cụm từ “VUA HENRY” om sòm trên trang bìa của tờ Business Week ngày hôm đó. Dòng tiêu đề viết: “Why KKR’s Kravis may be headed for a fall - even if he wins the battle for RJR Nabisco” (tạm dịch: Tại sao Kravis của KKR có thể cư xử như vậy — cho dù anh ta đã giành chiến thắng trong trận chiến giành RJR Nabisco). Carolyne Roehm đã co rúm người khi nhìn thấy trang bìa ở văn phòng của cô trên đại lộ số 7.

Kravis phản ứng như thể anh bị công khai chỉ trích là kẻ lạm dụng tình dục trẻ em. Anh thu mình lại, buồn bã. Roehm cố gắng dùng mọi cách để cổ vũ anh cả các ngày cuối tuần, nhưng chẳng ích gì. Cô vờ tỏ ra ngờ nghệch, trêu chọc và cười đùa với anh. Cô đùa họ nên phóng to tờ bìa lên bằng cỡ tờ quảng cáo và treo nó lên. Linda Robinson gọi đến và gửi lời chia buồn. Không có điều gì khiến anh khá hơn. Kravis vẫn vô cùng đau khổ.

Sau đó, khi tâm trạng của anh đang ở đỉnh điểm của sự tàn tạ, có một chuyện đã xảy ra khiến anh cảm thầy tốt hơn rất nhiều. Kravis không biết rằng tâm trạng của công chúng sắp đổi hướng vô cùng mạnh mẽ theo hướng có lợi cho anh.

-

Bất chấp tất cả các cuộc tranh luận về nội dung của nó, việc bản sao thỏa thuận quản lý của Johnson rơi vào tay Kravis đã không làm thay đổi cục diện trong hai tuần. Bất chấp những lời phàn nàn của Gutfreund về các khía cạnh “không thỏa đáng” của nó, bất chấp những lời đề nghị của Jim Robinson, và mặc dù thực tế là hầu hết những người có liên quan đều đồng ý rằng nó phải được đàm phán lại, cho đến nay vẫn chưa có động thái nào được thực hiện. Cohen có nhiều thứ quan trọng hơn để lo lắng. Anh giao trách nhiệm đó cho Jack Nusbaum, anh này lại chuyển nó cho một cộng sự cùng công ty. Các cuộc đàm phán sẽ rất hỗn độn và tốn thời gian, mọi người đều đang bận rộn chiến đấu với Kravis.

Sau khi nhận được sự đảm bảo về việc cắt giảm, Gutfreund cũng thấy không cần phải vội vàng. Những người giữ bản thỏa thuận này, các luật sư của Johnson ở Davis Polk, cũng không vội vàng. Steve Goldstone cảm thấy hiếu kỳ, nên cứ để cho Johnson đàm phán lại thỏa thuận quản lý. “Ross là người hiểu chuyện.” Sau đó, Goldstone nói: “Ông ấy sẽ biết phải từ bỏ nó. Hãy cứ để ông ấy quyết định.”

Ngày lại ngày, trách nhiệm với bản thỏa thuận vẫn nằm trong tay trợ lý của Goldstone, Gar Bason. Bason nhận thấy nhiệm vụ của mình chẳng vì lợi ích của ai ngoài Johnson nên quyết tâm giữ nguyên thỏa thuận, bất kể Cohen đã hứa gì với Gutfreund.

Một tuần sau khi Salomon tham gia cuộc chiến, Bason đã yêu cầu trợ lý của Gutfreund phê duyệt nó. “Các anh đã ký vào bản thỏa thuận chưa?” anh hỏi. “Các anh đã ký chưa?”

Bực mình, Bason phàn nàn với Goldstone. “Bọn họ thật mất thời gian!” anh càu nhàu. Bị thúc giục trước những yêu cầu của Bason, luật sư trưởng của Salomon, Peter Darrow, cũng phàn nàn với Goldstone. “Người của anh, cái gã Bason ấy, cứ lên tục quấy rầy chúng tôi,” Darrow nói. “Hình như anh ta nghĩ rằng sẽ không có gì thay đổi. Này, sẽ phải có thay đổi đấy.”

Goldstone thấy không có lợi lộc gì khi tranh cãi.

“Được rồi,” anh nói. Anh có thể chờ mà.

Trong số rất ít những người muốn nhanh chóng thay đổi bản thỏa thuận đó có Jim và Linda Robinson, hai thành viên của nhóm rất quan tâm đến mối quan hệ hài hòa với công chúng. Cả hai người đều biết khả năng thỏa thuận sẽ bùng nổ làm bẽ mặt Johnson. Nhưng Jim Robinson, người đáng ra phải thúc ép sự thay đổi, lại không làm gì. Kết quả là bản thỏa thuận vẫn giữ nguyên. Nó đơn giản là đang nằm trong trạng thái như một quả bom đã hẹn giờ. Và đến chiều thứ Sáu, nó phát nổ.

Linda Robinson nhận được một cuộc gọi. Một phóng viên kỳ cựu của tờ New York Times tên là James Sterngold đang chuẩn bị đăng báo câu chuyện về thỏa thuận quản lý vào hôm thứ Bảy. Từ những gì Sterngold nói với cô, rõ ràng anh ta đã biết tất cả mọi thứ: 2 tỷ đô-la, di chuyển miễn phí, thậm chí là sự phản đối của Salomon. Sự thôi thúc đầu tiên đến với Linda Robinson là phải giải thích rõ ràng, và thảo luận về bản thỏa thuận một cách cởi mở, nhưng Goldstone, người rất cảnh giác với báo giới, lại kịch liệt phản đối điều đó. Khi cô thông báo cho chồng về cuộc gọi của Sterngold, bộ trưởng ngoại giao của các công ty Mỹ có một phản ứng hết sức cô đọng: “Ồ, chết tiệt.”

-

Cuối buổi chiều thứ Sáu, Peter Cohen ngồi ở ghế sau chiếc xe limousine đang trên đường về nhà. Đó là một tuần dài bực bội, nhưng dù đã tự mình phá vỡ các cuộc đàm phán hòa bình, anh vẫn nuôi hy vọng có thể đưa Johnson và Kravis xích lại gần nhau. Không có sự thù hằn tồn tại vĩnh viễn giữa hai bên, và cuộc đụng độ giữa Drexel và Salomon có vẻ quá ngớ ngẩn để ngăn cách họ.

Khi nghe câu chuyện đáng trên tờ Times, Cohen ngay lập tức nhận ra hậu quả. Nếu bản thỏa thuận bị rò rỉ, nó chỉ có thể đến từ một nơi. Cohen ngay lập tức gọi cho Dick Beattie.

“Chuyện quái gì đã xảy ra vậy?” Cohen hỏi gặng.

“Tôi không biết, Peter,” Beattie nói. “Tôi không hiểu làm sao chuyện này xảy ra. Nhưng nó không xuất phát từ phía tôi.”

“Anh đã tiết lộ tin này cho Sterngold!”[2]

“Peter, tôi không làm. Tôi không thể làm. Bản thỏa thuận vẫn còn ở ngay trong cặp tài liệu của tôi.” Chiếc cặp đang mở nằm dưới chân Beattie. “Tôi không thể kiểm soát được tất cả mọi thứ, Peter,” Beattie nói. “Henry đã giao việc cho tất cả mọi người.”

Trên thực tế, Kravis đã triệu tập một cuộc họp với các nhân viên ngân hàng đầu tư vào chiều thứ Sáu, và các điều khoản của thỏa thuận quản lý đã được phô bày chi tiết. Trước giờ, Kravis vẫn không tin tưởng các cố vấn của mình có thể giữ mồm giữ miệng. Tuy nhiên, họ nên được biết về thỏa thuận quản lý. Beattie biết bất kỳ ai đó trong số hàng tá cố vấn có thể là nguồn rò rỉ thông tin.

Cohen cúp máy, và nổi giận. Cuộc chiến RJR Nabisco đang leo thang. Những cơn gió đã đổi chiều, và chúng bắt đầu thổi mạnh, thốc vào mặt Peter Cohen.

-

Đến thứ Sáu, nhóm đấu thầu của Ted Forstmann đã sẵn sàng để trình làng. Lúc đầu, ủy ban đặc biệt của Hugel rất cảnh giác với việc phải cung cấp thông tin tài chính nhạy cảm cho các đối thủ cạnh tranh gắt gao nhất của công ty, nên đã do dự không muốn chào đón nhóm của Forstmann. Nhưng ngày hôm đó, sự kiên trì của Geoff Boisi đã chiến thắng. Boisi đã đồng ý với một quá trình thẩm định khắt khe hơn, khi đó mỗi tài liệu mà nhóm nhận được sẽ được mã hóa theo màu để một số thành viên nhất định mới được xem xét nó.

Tuy nhiên, thế bế tắc đã được khơi thông khi Hugel nhận ra Forstmann Little sẽ ở vị trí dự phòng trong trường hợp Johnson và Kravis hợp tác với nhau. Hugel chắc chắn hai người bọn họ sẽ hợp lực: Điều đó rất có thể sẽ xảy ra. Khi đó, sự hiện diện của Forstmann sẽ giúp cuộc đấu thầu duy trì cạnh tranh.

Tất nhiên, Forstmann biết chắc nhóm sẽ có một ngày thành lập hết sức khó khăn. Thứ Sáu, ông đã dành cả ngày ở Trung tâm Rockefeller của Lazard để đàm phán một thông cáo báo chí thông báo sự ra đời của nhóm. Ông kiên quyết yêu cầu bản thông cáo báo chí đó phải có thông tin nhóm đã được chấp nhận tham gia đấu thầu. Việc Forstmann được chào đón như một một bên đấu thầu thân thiện sẽ rất quan trọng. Nhưng Peter Atkins từ chối. Xét cho cùng, Hội đồng quản trị phải ở thế trung lập. Cho dù Forstmann muốn đấu thầu với giá bao nhiêu, họ cũng không thể được coi là nhà thầu được yêu thích hơn.

Nhưng Forstmann rất cứng rắn. “Chúng tôi phải được mời dự thầu. Anh không hiểu điều đó sao?” ông nói với các cố vấn của Lazard, “hoặc chúng tôi được mời, hoặc chúng tôi không tham gia nữa.”

Suốt buổi chiều, họ tranh luận. Sau đó, khi Forstmann sắp phát cáu thì Atkins cuối cùng cũng mủi lòng. Thế còn hoan nghênh thì sao? Luật sư gợi ý. Hội đồng quản trị sẽ hoan nghênh sự quan tâm của Forstmann. Forstmann đồng ý.

Trong lúc giải lao, Forstmann liên lạc về văn phòng công ty, và phát hiện một tin nhắn từ Jim Robinson. Vài phút sau, ông gọi lại, và nghe thấy giọng nói mềm mại, lè nhè đúng kiểu dần Georgia trên đường dây của Robinson. “Teddy, ông biết sự tôn trọng mà tôi dành cho ông,” Robinson bắt đầu. “Ông đang điều hành công ty của mình, và tôi điều hành công việc của tôi. Bây giờ, tôi không có ý định bảo ban ông nên điều hành công ty thế nào. Nhưng tôi muốn ông biết rằng đã có tin đồn đáng thất vọng là ông và Geoff đã hợp lực với nhau, và người của ông đang sôi sục muốn tham gia vào vụ này.”

Forstmann nghe không quen cụm từ này, nhưng ông đã hiểu một thông điệp rằng Cohen đang rất tức giận. Robinson tiếp tục: “Họ nhớ là bên ông đã tuyên bố với họ rằng nếu các ông không làm với chúng tôi, thì các ông sẽ không làm gì cả. Họ nói các ông đã đồng ý đứng ngoài cuộc đua này.”

Forstmann hít một hơi thật sâu. “Jimmy, nói ra điều này rất khó khăn. Tôi biết ông hiểu tôi, tôi là người làm ăn chân chính.” Ông nói với Robinson là ông đã giải thích rất rõ với Cohen rằng Forstmann Little có ba sự lựa chọn: gia nhập lực lượng với Shearson, làm việc một mình hoặc đứng ngoài cuộc. “Thẳng thắn mà nói, lựa chọn cuối cùng khiến tôi thích nhất. Tôi chỉ muốn quên vụ này đi. Bây giờ, tôi vẫn chưa chắc chắn chúng tôi sẽ làm gì.”

“Tôi hiểu điều đó,” Robinson nói. “Tuy nhiên, ông đã nói rằng bên ông sẽ đứng ngoại cuộc đua này.”

Forstmann cố gắng giải thích ý ông là gì khi nói họ sẽ đứng ngoài cuộc đua. Nhưng ông biết dù nói gì cũng không có tác dụng. “Nghe này, Jim, chúng tôi vẫn chưa biết mình sẽ làm gì nữa. Khi chúng tôi đã quyết định được, ông sẽ là người đầu tiên nhận được thông báo.”

Hai giờ sau, Forstmann gọi lại cho Robinson. Ông đọc cho Chủ tịch American Express thông cáo báo chí công bố thành lập nhóm đấu thầu mới. Robinson cười lớn. “Chúa ơi, cuộc điện thoại của tôi chắc chắn đã có tác động đấy nhỉ.” Forstmann chẳng mảy may để tâm đến lời phản đối đối trước đó của Robinson.

“Chúc các ông may mắn,” Forstmann nói.

“Còn các ông thì sao?” Jim Robinson nói.

-

Sáng thứ Bảy, Johnson ở nhà của lão ở Atlanta, và vẫn ngủ dậy muộn như mọi khi. Lão đi xuống cầu thang và cầm tờ The New York Times lên. Xem qua phần kinh doanh, mắt lão lập tức bị cuốn vào câu chuyện ở góc dưới bên trái. Tiêu để viết: “CÁC GIÁM ĐỐC ĐIỀU HÀNH CỦA NABISCO THU ĐƯỢC KHOẢN LỢI NHUẬN KHỔNG LỒ TỪ VIỆC MUA LẠI CÔNG TY CỦA CHÍNH MÌNH”.

Johnson, người không bao giờ xem thỏa thuận quản lý là biểu tượng của lòng tham giống những người khác đang nghĩ, cho rằng câu chuyện này rất hoang đường và không đáng tin chút nào. Bài báo cho rằng thỏa thuận có thể trị giá tới 2 tỷ đô-la, một con số mà Johnson coi là ngớ ngẩn. Chỉ khi đạt được mọi ưu đãi, họ mới có thể thu được nhiều như vậy, nhưng bây giờ, giá thầu đã được đẩy lên mức thấp là 90 đô-la, điều đó sẽ không bao giờ xảy ra. Hơn nữa, mọi người đều biết thỏa thuận này sẽ được đàm phán lại.

“Một trò đùa chết tiệt, hết chỗ nói,” lão la lớn. Sẽ không có ai tin điều này. Có phải không?

Lão đến gặp Jim và Linda Robinson ở Connecticut. “Không người nào có hiểu biết lại tin vào điều đó,” lão nói với họ. “Đúng là ngu xuẩn hết mức mà.”

Linda Robinson không nghĩ rằng câu chuyện này khác nhiều so với sự thật, nhưng cô không nói với Johnson điều đó. “Ross, ông đang phải đối phó với vấn đề không chỉ là quan hệ công chúng thông thường,” cô nói. Cô phải nói cho Johnson hiểu họ đang phải đối mặt với tình thế tiến thoái lưỡng nan. “Thực tế đang bày ra trước mắt. Ông không hiểu sao. Ông không thể chỉ kiên trì là có thể vượt qua khó khăn này. Ông sẽ gục ngã vì điều này.”

Ngày hôm đó, điện thoại của Johnson bận suốt. Một trong những người đầu tiên gọi là Andy Sage, kiến trúc sư của thỏa thuận quản lý. Sage đã đọc câu chuyện của tờ The Times, và điều đáng chú ý là ông ta đã không nghĩ nhiều về nó. “Ôi, cái đó,” Sage nói, “tất cả chỉ là phỏng đoán thôi; không ai có thể coi những điều đó là nghiêm trọng đâu.”

Sage muốn nói về tình hình ngân hàng. Ông lo ngại rằng Shearson sẽ không kịp tiến độ trong việc tập hợp được các nguồn vốn vay. “Tôi chỉ có thể tìm hiểu được như vậy về họ,” Sage nói. “Tôi chỉ nghĩ rằng họ đang làm không tốt việc đó.”

Đó là tất cả những gì Johnson cần nghe. Lão bắt đầu nhận ra những hạn chế từ các đối tác của mình, Shearson và Salomon. “Hãy theo dõi và nghe ngóng bên George và Henry,” lão nói với Sage, “có thể nói đối thủ có chút mạnh hơn chúng ta.”

-

Sáng hôm đó, Charlie Hugel đọc bài báo trên tờ The Times khi ông đang ở nhà, ở Connecticut, và ông cũng nhận được nhiều cuộc gọi. Đó là cuộc gọi từ các giám đốc đang tức giận, họ yêu cầu một lời giải thích từ phía Johnson. Nếu thông tin của tờ The Times là đúng, hội đồng quản trị có nguy cơ trở thành lũ ngốc vì họ không hề biết gì về thỏa thuận này. Bản thân Hugel cũng rất tò mò, dù ông rất khinh thường giới báo chí, và cho rằng điều đó không chính xác. Ông gọi cho Johnson ở Atlanta.

“Ồ, Charlie, nghe này,” Johnson nói. “Họ viết vớ vẩn đấy. Đừng có tin.”

Hai người thảo luận một lúc về sự không chính xác của các thông tin công bố trong bài báo. “Nghe này,” cuối cùng Hugel nói, “hãy viết cho tôi một lá thư về điều đó, bởi vì tôi cũng đã nhận được một số cuộc gọi.”

Được rồi, Johnson nói. Ngày hôm sau, Goldstone viết một lá thư cho Hugel, có chữ ký của Johnson. Mở đầu lá thư viết: “Tờ The New York Times đã hiểu không chính xác rằng tôi và một vài thành viên khác của nhóm quản lý có thể kiếm được số tiền rất lớn nhờ đề xuất mua lại công ty. Điều này đơn giản là không đúng, tôi xin được đính chính lại như sau.”

Johnson tiếp tục nói rằng khoản tiền thưởng cho nhóm ông là hoàn toàn bình thường trong một vụ LBO. Hơn nữa, ông viết, phần lớn cổ phiếu thuộc vốn cổ phần mà nhóm sẽ nhận được sẽ được phân phối cho số lượng lớn nhân viên. “Khi chúng tôi đạt được thỏa thuận với các đối tác tài chính về việc phân bổ vốn cổ phần,” Johnson viết, “tôi đã yêu cầu các luật sư của chúng ta ở New York và Winston-Salem phân tích cách thức phân phối cổ phiếu này cho nhân viên của chúng ta, và họ đang tích cực làm việc này.”

Charlie Hugel đọc thư của Johnson một cách cẩn thận. Trong ba tuần nói chuyện với Johnson, kể cả cuộc nói chuyện mà Johnson đề nghị ông cũng sẽ có phần trong số tiền thưởng, đây là lần đầu tiên Hugel nghe thấy lão đề cập đến việc các nhân viên sẽ nhận được cổ phiếu. Ngay cả hôm qua, sau khi Johnson đã đọc bài báo trên tờ Times, lão cũng không hề đề cập đến điều này. Hugel nghĩ Ross Johnson đang nói dối.

-

Trong số các chi tiết khiến người ta ngạc nhiên hơn nữa về câu chuyện trên tờ Times, có một đoạn cho thấy Salomon đã có những lo lắng về thỏa thuận quản lý. Gutfreund đã gọi cho Johnson vào thứ Bảy để từ chối có liên quan đến thông tin này, và đảm bảo với lão rằng không có chuyện một giám đốc điều hành nào đó của Salomon đã liên hệ với phóng viên. “Tôi nói để ông biết, Johnny, con chim hoàng yến đó chỉ ở đâu đó quanh ông thôi,” Johnson nói. Lão chỉ nói được có vậy. Johnson đơn giản là không giỏi đối đầu.

Chính Steve Goldstone cũng nghi ngờ Salomon. Khi Goldstone đọc thông tin về Salomon, anh đã nổi điên. Ý nghĩ đầu tiên xuất hiện trong đầu anh là Salomon đã làm rò rỉ thỏa thuận quản lý để ép buộc họ nhằm có được những thay đổi mà họ muốn. Nhưng anh đã gạt suy nghĩ đó sang một bên.[3] Anh cho rằng ngay cả Gutfreund cũng sẽ không ngu ngốc đến vậy.

“Chúng tôi phải làm rõ chuyện này với bên Sally,” chiều hôm đó, Goldstone phàn nàn với Cohen. “Nếu cần có một số thay đổi, ta sẽ thực hiện. Nhưng kiểu mang nhau ra đấu đá trước bàn dân thiên hạ này cho thấy sự chia rẽ khủng khiếp trong nhóm của chúng ta. Đơn giản là phải lôi kẻ đó ra ánh sáng. Kiểu người như vậy sẽ giết chết chúng ta.”

Cohen khẳng định bên Salomon không có vấn đề gì, nhưng Goldstone thì không chắc chắn lắm. Sau đó, anh bảo Gar Bason gửi cho Cohen bản nháp của bức thư mà anh đang cân nhắc gửi đi.

Peter thân mến,

Chúng tôi ngày càng quan ngại về các thông tin báo chí trong những ngày gần đây cho thấy các đối tác tài chính của nhóm quản lý không hoàn toàn ủng hộ Ross cùng tất cả thỏa thuận về vốn cổ phần với nhóm quản lý mà chúng ta đã đạt được. Ross và nhóm của ông ấy tin rằng việc chỉ dựa trên của sự đảm bảo của ông và Tom [Strauss] sẽ chẳng có tác dụng gì. Tuy nhiên, những tin đồn tiếp tục xuất hiện trên các tờ báo đang gây tổn hại cho tất cả chúng ta. Vì thế, tôi viết bức thư này đề nghị Shearson và Salomon viết một ghi chú ngắn gọn giúp tôi, trong đó thể hiện rằng các vị ủng hộ các thỏa thuận hiện có của chúng ta. Đương nhiên, chúng tôi hiểu rằng ngay khi có bất kỳ đề xuất mới nào, tất cả các bên sẽ cùng nhau thảo luận lại những thỏa thuận đó.

Trân trọng,

George R. Bason, Jr

Hôm thứ Bảy, Ted Forstmann cố gắng liên lạc với Johnson để chính thức thông báo với lão về nhóm đấu thầu mới của ông nhưng không thể, nên cuối cùng, ông phải chọn cách gọi cho Jim Robinson ở Connecticut. “Jim, tôi muốn nhờ ông một việc, tôi đang cố gọi cho Ross. Tôi không có tất cả số điện thoại của ông ấy. Ông có phiền không khi nói với ông ấy rằng tôi đang rất muốn tìm ông ấy?”

“Tôi nghĩ ông nên tự mình gọi cho ông ấy.”

“Chúa ơi, đành vậy.”

Robinson đề cập đến nhóm mới của Forstmann. “Ông có thể vẫn sẽ làm việc với chúng tôi chứ, Ted? Ý tôi là chúng ta có thể thử hợp tác với nhau không? Vẫn có thể chứ?”

Ý tưởng đó khiến Forstmann chú ý. Tại sao không phải là Johnson tham gia nhóm Forstmann? Thậm chí, Shearson cũng có thể mà. Thay vì ép mình vào mớ bòng bong của Shearson, tại sao Forstmann Little không dành cho Shearson một chỗ trong thỏa thuận bằng tiền thật của mình?

“Tất nhiên rồi, chúng tôi sẽ hợp tác với bên ông,” Forstmann nói. “Chúng tôi luôn chào đón các ông. Chúng ta sẽ làm theo cách của Forstmann Little. Không có trái phiếu rác. Không đầu cơ. Ngoài ra, chúng tôi rất muốn bên ông ở trong nhóm của chúng tôi.”

Robinson cho ông ta số của Johnson, và Johnson đã trả lời cuộc gọi của Forstmann vào chiều thứ Bảy. Forstmann bắt đầu nói: “Ross, tôi hy vọng ông hiểu những gì tôi đang làm là hoàn toàn được phép. Tôi muốn nói với ông sự thật về những gì đã xảy ra. Nhưng tôi không thể gặp ông. Chúa ơi, tôi đã không thể nói chuyện với ông.”

Johnson nói đến câu chuyện trên tờ The Times. “Thỏa thuận của tôi đã bị rò rỉ với báo chí,” lão nói. “Ông không biết gì về nó, phải không Ted?” Forstmann đã không bỏ lỡ cơ hội này.

“Tôi không nghe về nó… nói thật với ông, tôi không làm điều đó. Tôi ghê tởm điều đó. Đó là một hành động bẩn thỉu, chết tiệt.”

“Được rồi,” Johnson nói, “tôi sẽ có cách đối phó với Kravis, nếu đó là do anh ta làm.”

Forstmann đưa cuộc trò chuyện quay trở lại với nhóm của mình. “Ông biết đấy, Ross, tôi nghĩ chúng tôi là những người giỏi nhất trong lĩnh vực này. Chúng tôi là kiểu người các ông cần. Ông thừa biết nguồn tiền của chúng tôi: GM, IBM, GE.”

“Tôi biết, John Welch, John Akers,” Johnson nói, điểm tên các CEO của General Electric và International Business Machines. “Tôi vẫn thường chơi gôn với họ.”

“Tôi không trách ông khi ông hợp tác với những tay buôn trái phiếu rác đó,” Forstmann nói. “Nhưng trong các thỏa thuận của tôi không có trái phiếu rác, không có thứ tiền giả đó.”

Johnson cười lớn: “Tôi cũng không có bất kỳ loại trái phiếu rác nào trong danh mục đầu tư của mình.”

Forstmann cho phép bản thân mình có chút phấn khích. Nghe có vẻ có triển vọng đây. Forstmann nói: “Giờ, Jim hỏi tôi liệu chúng ta có thể hợp tác được không. Tôi nói có. Tôi không cố gắng chia rẽ ai đó. Tôi cũng không cố làm điều gì nực cười. Chúng tôi đã có danh tiếng, và tôi phải bảo vệ danh tiếng ấy.”

“Tôi biết các ông rất có uy tín.”

“Ross, ông nên nghiêm túc xem xét những gì tôi đang nói. Hãy nói chuyện với Jimmy. Ông ấy là người rất thẳng tính. Ông ấy sẽ nói với ông. Nếu chúng ta có thể hợp tác, sẽ rất tuyệt. Ông là người quyết định chuyện hợp tác này. Hy vọng ông sẽ đồng hành cùng chúng tôi.”

“Teddy, tôi sẽ suy nghĩ về điều đó.”

Forstmann cố gây sự chú ý bằng bằng cách nhắc đến chuyện riêng tư “Tôi cũng muốn nói rằng tôi rất tiếc về chuyện của con trai ông. Thật tệ. Tôi thực sự rất buồn về điều đó.” Sau lời cảm ơn của Johnson, Forstmann tiếp tục: “Ông biết đấy, chúng ta vẫn sẽ đồng hành cùng nhau sau những chuyện này. Có nhiều thứ quan trọng hơn so với việc ai sẽ mua RJR Nabisco.”

“Đúng vậy.”

“Quan trọng là chúng ta vẫn là bạn bè.”

Johnson không có ý định gia nhập nhóm mới củaTed Forstmann, mà lão đã gán cho cái tên “Voi năm chân”. Theo lão, Forstmann không có cơ hội chiến thắng trong thỏa thuận này.

-

Chủ nhật, ai nấy đều nghỉ ngơi, ở Atlanta, Johnson ôm một chồng báo, xem các trận bóng đá và golf trên tivi. Ở Connecticut, Henry Kravis đang ủ ê, buồn bã tự hỏi không biết hội đồng quản trị có chú ý đến câu chuyện gây tò mò trên tờ The Times hay không. Anh không chú ý nhiêu đến nhóm mới của Forstmann; Liên minh, theo kinh nghiệm của anh, sẽ quá cồng kềnh và khó giành chiến thắng, ở New Jersey, Peter Cohen đưa con trai mình đến xem trận đấu của đội New York Giants, và có lẽ anh là người cha duy nhất ở Meadowlands ngày hôm đó ngủ trong cả bốn hiệp đấu.

Tối đó có một nhóm nhân viên ngân hàng và luật sư tập trung tại căn hộ trên đại lộ số 5 của Cohen để vạch chiến lược cho tuần tiếp theo. Cohen đã lăng mạ Geoff Boisi và Ted Forstmann, người mà anh cho rằng họ đã đảm bảo nhiều lần sẽ không tự mình theo đuổi RJR Nabisco. Họ đã tính đến khả năng khởi kiện nhưng sau đó lại thôi. Jack Nusbaum đề nghị viết một lá thư thể hiện sự không hài lòng của họ. Goldstone và Peter Darrow cho rằng làm vậy chẳng có tác dụng gì, nhưng Cohen dường như quyết tâm phải có hành động gì đó.

-

Tối Chủ nhật, Ted Forstmann đang ở tại căn hộ của mình bên bờ sông Đông, chịu đựng trận xoa bóp đau nhói người của một nhân viên mát-xa từng làm cho đội tuyển quần vợt quốc gia Ý. Forstmann liên tục bị quấy rầy ở các cuộc gọi lo lắng từ cố vấn bên ngoài về quan hệ công chúng, Davis Weinstock. Từ giọng điệu thù địch trong câu hỏi của các phóng viên ngày hôm đó, Weinstock nhận thấy rõ ràng Shearson rất không hài lòng với Forstmann Little. “Họ công bố sẽ kiện ông vì điều đó,” Weinstock nói “Tôi không biết họ đang nói về điều gì.”

Forstmann nghĩ trong giây lát. Chắc chắn ai đó đã đổ lỗi cho ông trong vụ rò rỉ thỏa thuận quản lý. Nếu tay Kravis chết tiệt đó thuyết phục mọi người rằng chính mình đã lộ thông tin này thì sao…

Khi Forstmann tiếp tục đứng lên để nhận cuộc gọi của Weinstock, nhân viên mát-xa phát cáu. “Tôi làm sao mát-xa cho ông được khi ông cứ liên tục đứng lên thế này?”

“Maurizio,” Fortmanm nói, “tôi biết anh không hài lòng. Nhưng tôi có chuyện quan trọng hơn.”

Cuối cùng, Forstmann quyết định tìm hiểu chuyện gì đang xảy ra. Ông gọi cho Johnson ở Atlanta. Laurie Johnson trả lời điện thoại ở nhà họ trên đường Whitwater Creek. “Xin chào, Laurie. Tôi là Ted Forstmann.”

“Vâng, Ted, ông khỏe không?” Cô có vẻ thực sự vui khi ông gọi đến.

“Tôi khỏe lắm, cảm ơn cô. Ross có ở đó không? Cô có thể nói ông ấy nghe máy không?”

Laurie Johnson để điện thoại trong một phút, sau đó cô quay lại. “Ross nói anh ấy sẽ gọi cho ông ngay sau khi kết thúc cuộc gọi hội nghị.” Trước khi ông cúp máy, cô hỏi: “Thời tiết ở đó thế nào?”

Câu chuyện về thời tiết nhanh chóng chuyển sang tình trạng sân cỏ ở Deepdale. Họ trò chuyện trong gần 10 phút. Forstmann gác máy, và nghĩ rằng Johnson có một người vợ thật tốt bụng.

Khi Laurie nói chuyện với Forstmann, chồng cô đang ở trên đường dây khác họp với Cohen và Goldstone. Cả hai đều cảnh giác khi lão nói đến cuộc gọi từ Forstmann. Điều đó có thể chỉ chứng tỏ một điều: “Giống như với Kravis trước đây, Forstmann đang cố gắng lôi kéo Johnson.”

“Nghe này, tôi ở phe các anh,” Johnson nhấn mạnh. “Tôi sẽ không hợp tác với bất cứ người nào không muốn hợp tác với tôi.”

“Tại sao chúng ta không gọi cho Ted và bày tỏ quan điểm đó, và ông cũng không cần phải gọi đâu, phải không?” Goldstone kiến nghị. Anh lo rằng Johnson không có khả năng cư xử cứng rắn với Forstmann.

“Tốt thôi, cứ làm những gì các anh cho là tốt nhất.”

Goldstone nhanh chóng gọi Gar Bason, và giao cho anh chàng mặt búng ra sữa một công việc mới.

30 phút sau, điện thoại của Ted Forstmann reo. Ông đã biết phải nói với Johnson những gì. Ross, tôi muốn đảm bảo với ông rằng tôi không biết gì về chuyện rò rỉ bẩn thỉu này. Chúng tôi không làm những việc như thế. Chúng tôi ghê tởm điều đó.

Nhưng khi nhấc điện thoại, ông nghe thấy giọng nói lạ hoắc và không nhận ra đó là ai: “Tôi là Gar Bason đến từ Davis Polk and Wardwell. Chúng tôi đại diện cho ông bà Johnson, và tôi được ủy quyền để nói với ông hãy ngừng làm phiền họ. Ông đang gây rắc rối cho họ khi cứ gọi điện thoại đến nhà. Ông không được tiếp tục gọi trực tiếp cho ngài Johnson nữa. Bất kỳ thông tin liên lạc nào giữa ngài Johnson và ông trong tương lai sẽ phải thông qua tôi.”

“Tôi không biết anh là ai,” quá kinh ngạc, Forstmann đáp trả, “nhưng để tôi nói cho anh biết vài điều. Tôi chỉ gọi cho Johnson để nói với ông ấy nếu có bất cứ chuyện lố bịch gì xảy ra, thì không phải tôi đã làm điều đó. Bà Johnson và tôi đang nói chuyện về chơi golf và sân golf ở một câu lạc bộ, nơi tôi có tên trong hội đồng quản trị, và đã giúp Ross Johnson đăng ký chơi golf ở đó. Tôi muốn anh biết hôm qua tôi đã nói chuyện với Johnson theo yêu cầu của Jim Robinson.”

Giờ đây, Forstmann thấy trong lòng cuộn sóng. Tất cả sự khó chịu của ông với Peter Cohen và điếu xì gà của anh ta, cả mối ác cảm với Henry Kravis cùng các luật sư và trái phiếu rác ùa đến sôi sục trong lòng. “Để tôi nói cho anh biết. Tôi biết đủ về các luật sư để biết ai đã bày ra trò này. Đây không phải là ý của Ross Johnson. Tôi biết các luật sư đã thay mặt ông ấy. Chúa phù hộ. Đây chính là những điều sai trái trong thế giới này. Những kẻ tiểu nhân như anh và chính anh đã dựng nên chuyện này.”

Nhưng Forstmann vẫn chưa nói xong. “Tôi coi cách cư xử này là vô cùng thô lỗ. Hãy yên tâm rằng tôi sẽ dành thời gian với ông bà Johnson khi chuyện này qua đi. Và cứ yên tâm đi, tôi sẽ nói với họ về sự thô lỗ của anh.”

Sau đó, ông cúp máy.

[1] Cả Michigan và Massachusetts cuối cùng đã từ chối ủng hộ Kravis trong thỏa thuận của RJR Nabisco, lấy cớ là RJR có các khoản đầu tư ở Nam Phi. (TG)

[2] Cohen không nhớ có thái độ hiếu chiến đến mức đó, phần này chủ yếu dựa vào hồi ức của Beattie. (TG)

[3] “Nếu biết họ làm vậy, chính tôi sẽ rút dao ra và tự tay giết họ,” Goldstone phát biểu sau đó. Đây là một trong những hành động ngu ngốc nhất trong lịch sử Phố Wall. (TG)

HoHoàng Thị Ngọc dịch • Barbarians at the gate •
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.