Mô Tả Vương Quốc Đàng Ngoài

Lượt đọc: 65 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương VIII Về việc thăm hỏi và các trò tiêu khiển của người Đàng Ngoài

❊ ❊ ❊

Người Đàng Ngoài thường tổ chức thăm hỏi vào buổi chiều. Sẽ vô cùng bất lịch sự nếu như đến nhà một người có địa vị vào trước bữa ăn tối, trừ khi có việc khẩn cấp hoặc được hẹn trước, bởi như thế sẽ có ít thời gian để nói chuyện. Buổi sáng quan lại phải vào chầu Chúa đến khoảng 8 giờ, sau đó họ về nhà và sắp xếp các công việc cho đám tùy tùng thực hiện, sau đó họ có chút thời gian nghỉ ngơi cho đến bữa ăn tối.

Các vị Hoàng tử và đại thần thường cưỡi voi hoặc đi cáng, tháp tùng bởi gia nhân và binh sĩ... Với số lượng người tháp tùng tùy theo danh vọng của người đó. Những người ở phẩm hàm thấp hơn thường cưỡi ngựa, không giới hạn số lượng tùy tùng, thường không quá 10 người, nhưng họ hay mang theo nhiều vì muốn thể hiện có nhiều đệ tử xung quanh.

Nếu người đến thăm ở vào phẩm hàm cao hơn người được thăm hỏi, gia chủ không dám mời khách ăn uống gì, dù chỉ là miếng trầu, trừ khi khách có yêu cầu. Quan lại đi đâu cũng có người hầu mang theo trầu và nước uống.

Trong lúc trò chuyện, nhất là tiếp chuyện người bề trên, thì tuyệt đối tránh đề cập đến các chuyện không vui, dù là trực tiếp hay gián tiếp, mà nên nói những chuyện vui vẻ. Điều khó chấp nhận từ các vị quan này là họ thường để cho đám gia nhân của mình (những kẻ lỗ mãng) vào trong phòng riêng của khách trong lúc trò chuyện, nhất là khi đến thăm người châu Âu. Đám gia nhân này thường hay bắt chước như loài khỉ, nói năng tục tĩu và gây ra đủ trò hỗn hào, nhất là rất hay ăn trộm vặt đồ của nhà chủ. Những ông chủ ngờ nghệch lại thường tỏ vẻ vui thích hơn là ngăn chặn chúng. Nếu người mời có địa vị cao hơn hoặc ngang hàng, thì đôi khi đám gia nhân được thết đãi trà, rượu và tất nhiên là trầu - mở đầu câu chuyện và kết thúc bữa ăn. Hộp đựng trầu thường được sơn đen, đỏ hoặc một số màu sẫm. Những người thuộc tầng lớp trên như Hoàng tử, Công chúa, quan lại... thường dùng hộp vàng, bạc, mai rùa hoặc đồ khảm trai. Những chiếc hộp được tô vẽ lòe loẹt thường được dùng ở các nghi lễ trong chùa. Cái hộp mà ông Taverniere mô tả ở triều đình Mogul (Ấn Độ) trị giá tới 400.000 hoặc 500.000 đồng bảng chắc chắn không phải là thứ của Đàng Ngoài. Ở xứ này người ta không làm ra kim cương, hồng ngọc, lục ngọc hay các đồ trang sức khác; bản thân người Đàng Ngoài cũng không tìm mua. Cũng không thể có chuyện các sứ thần Đàng Ngoài mang từ Ấn Độ về bởi triều đình Lê - Trịnh không phái sứ bộ đến vùng Nam Á. Bản thân hai nước này cũng không có quan hệ buôn bán với nhau.

Người Đàng Ngoài hiếm khi đi thăm người ốm. Họ không chấp nhận người khác, trừ con và họ hàng, gợi cho họ cảm giác về cái chết dù cho tình trạng của họ đã nguy cấp đến đâu. Một lời khuyên nhủ hoặc gợi ý nhẹ nhàng nhất rằng nên trù liệu mọi việc sau khi họ nằm xuống đều có thể trở thành những tội lỗi khủng khiếp và sự giận dữ không thể tha thứ. Hệ quả là những cái chết không để lại di chúc thường dẫn đến việc kiện cáo om sòm giữa họ hàng, nếu người quá cố không có con, thậm chí dẫn đến tổn thất tài sản riêng và mất hết cả những thứ mà họ muốn tranh giành thừa kế.

Sảnh của dinh thự nhà quyền quý thường có một số góc để họ trải chiếu ngồi xếp bằng trên đó theo thứ bậc, người ngồi ở vị trí cao nhất có thứ bậc cao nhất. Các chiếu có chất lượng cao, trừ khi nhà có tang người ta mới bắt buộc phải dùng chiếu thô. Người Đàng Ngoài không dùng thảm, mà chắc là họ cũng không thể mua được. Tôi rất nghi ngờ mô tả của ông Taverniere rằng ở Đàng Ngoài chiếu đắt tương đương với loại thảm đẹp bởi thảm trị giá không dưới 30 đến 40 rupee[1] mỗi tấm (ở Surat[2] và Ba Tư còn đắt hơn) trong khi loại chiếu mịn và đẹp nhất ở Đàng Ngoài cùng lắm cũng chỉ 3 hoặc 4 shilling[3]. Tôi không tin có người châu Âu nào ngoài Taverniere có thể nhìn thấy một chiếc chiếu ở Đàng Ngoài mịn như nhung và có khổ lên tới 9 ell[4] vuông, tuy nhiên, cũng dễ hiểu là những mô tả sai lệch này cũng chỉ tương tự như những phần mô tả khác trong cuốn sách của ông ta mà thôi. Người Đàng Ngoài cũng không dùng gối, dù là để ngủ hay để tựa. Tuy nhiên, họ có dùng một loại gối ống làm bằng mây hoặc cói để nằm hoặc để tựa.

Các trò nghệ thuật trình diễn (múa, hát, đi dây...) của người Đàng Ngoài

Nguồn ảnh: A Description of the Kingdom of Tonqueen, Samuel Baron, 1685

Đồ ăn thức uống của người Đàng Ngoài khá thú vị, cho dù mùi vị của chúng chẳng dễ chịu với người nước ngoài. Dân nghèo cầm lòng với những món tùng tiệm như cơm rau và cá khô; tầng lớp trên nếu muốn có thể hưởng thụ những sơn hào hải vị đệ nhất mà vương quốc này có.

Tôi không thể so sánh về nội thất trong nhà giữa người Đàng Ngoài và người Âu chúng ta được. Trong nhà của người Đàng Ngoài có ít đồ nội thất, hoặc cùng lắm là những thứ tối thiểu, tỉ như bàn, ghế dài, hiếm khi có ghế tựa. Họ không cần khăn bàn, cũng chẳng thiết dùng khăn ăn bởi tay họ đâu có chạm vào thịt mà họ dùng đũa để gắp như người Trung Quốc và người Nhật Bản. Thức ăn đồ uống của người Đàng Ngoài được đựng vào những chiếc bát và đĩa nhỏ làm bằng sứ - vốn rất được người dân ở đây ưa chuộng - chứ không phải đựng vào những chiếc bát hoặc đĩa làm bằng gỗ sơn son thếp vàng như ông Taverniere mô tả. Những người danh giá trong bữa ăn tỏ sự trang trọng và lịch sự, còn người dân lao động thì một khi đã ngồi xuống bàn ăn - thường là những chiếc bàn nhỏ phủ sơn - thì cắm cúi ăn mà chẳng cần trò chuyện gì nữa. Ở đây không phải do họ thiếu lịch sự hay kém lễ phép với người bề trên mà do họ tham lam muốn ních cho thật đẫy cái dạ dày, thật là những người phàm ăn khủng khiếp. Một lý do nữa là do họ sợ nếu cứ nói chuyện mất tập trung thì người bên cạnh sẽ lẳng lặng ăn hết cả mâm. Tôi thường xuyên chứng kiến đám gia nhân và tùy tùng của các quan ăn kiểu này, hết lòng thán phục sự tham lam và phàm ăn của họ. Dưới gầm trời lồng lộng này khó mà kiếm được một dân tộc nào phàm ăn như người xứ này!

Những người nhà quê và đám tiện dân không mấy khi uống say xỉn, còn chuyện quan lại và binh sĩ say khướt lại chẳng bị coi là thói xấu xa. Gã nào uống khỏe được tôn vinh là dũng cảm. Họ không có thói quen rửa tay trước khi ăn. Họ chỉ súc miệng bởi lý do nhai trầu. Tuy nhiên, sau khi ăn họ lại rửa cả tay và miệng. Sau khi đã xỉa sạch răng thì họ nhai trầu. Nếu ăn ở nhà bạn, người được mời có thể gọi thêm cơm hoặc đồ ăn nếu anh ta còn chưa no và gia chủ sẽ vui vẻ đáp ứng. Gặp nhau họ không chào theo kiểu “cậu khỏe chứ” mà là “thời gian qua cậu đi đâu thế?”“thời gian qua cậu làm gì vậy?”. Còn nếu biết chắc người mình gặp vừa ốm dậy hoặc qua thần sắc đoán người đó có vẻ ốm yếu thì sẽ chào theo kiểu “mỗi bữa cậu ăn được mấy bát cơm?” (bởi mỗi ngày họ ăn ba bữa, người giàu có thêm bữa ăn nhẹ vào buổi chiều) và “cậu ăn có ngon miệng không?”.

Một số trò chơi dân gian của người Đàng Ngoài trong các dịp lễ, Tết.

Nguồn ảnh: A Description of the Kingdom of Tonqueen, Samuel Baron, 1685

Những lúc nhàn rỗi người Đàng Ngoài thường tổ chức nhảy múa và hát hò thâu đêm suốt sáng. Ông Taverniere gọi đây là hài kịch nhưng thật chẳng đúng chút nào xét cả trên phương diện danh xưng và bản chất. Bản thân việc trang trí buổi diễn cũng chẳng đến mức nổi bật như đã được mô tả. Người Đàng Ngoài diễn xuất các cảnh sông, biển, những trận thủy chiến... rất điêu luyện, thậm chí có thể biểu diễn về trận hải chiến giữa người Anh và người Tây Ban Nha năm 1588. Trong thành phố không có lấy nổi một nhà hát đúng nghĩa. Các buổi diễn thường được tổ chức tại sảnh của dinh thự các quan hoặc tại sân nhà dân. Tuy nhiên, ở các làng thường có những rạp hát do vài ba làng chung tiền dựng nên để tổ chức các dịp lễ hội kỷ niệm của các làng đó theo phong tục riêng của làng mình. Các buổi diễn thường có không quá 4 hoặc 5 người; tiền thù lao trả cho họ cũng bèo bọt, mỗi đêm diễn thường không quá 1.000 đồng xu, tương đương với 1 đô-la. Vậy nhưng họ thường được người xem thưởng tiền mỗi khi diễn được những màn hấp dẫn. Họ phục trang bằng những sản phẩm có trong nước như lĩnh, vải lụa, lượt là... Các làn điệu của họ không đa dạng, không quá năm làn điệu nhưng rất tình tứ và duyên dáng, nội dung chủ yếu là ca ngợi các bậc vua chúa.

Chỉ có phụ nữ là múa và khi múa họ cũng phải hát. Trong lúc múa và hát họ thường bị gián đoạn bởi một anh hề chen vào làm trò kèm theo thứ giọng mà khán giả nghe xong đều lăn ra cười ngặt nghẽo. Các loại nhạc cụ gồm có trống, chiêng, kèn, nhị, đàn... Người Đàng Ngoài còn có trò múa đèn rất điêu luyện và hấp dẫn. Người múa đội đèn lên đầu và bắt đầu nhảy múa với các động tác khó như vặn mình và cúi người... theo các điệu khác nhau mà không để tràn ra ngoài bất kể một giọt dầu nào, trước sự thán phục của khán giả. Màn múa đèn thường kéo dài khoảng nửa giờ đồng hồ.

Phụ nữ Đàng Ngoài cũng rất thành thạo với màn múa trên dây; một số người trình diễn hết sức duyên dáng.

Chọi gà là trò vô cùng hấp dẫn người Đàng Ngoài và đã trở thành trò chơi vương giả, thu hút nhiều quan lại. Quan lại kiểu gì cũng thua khi cá cược với Chúa và theo cách đó Chúa sẽ làm cho đám cận thần của mình nghèo đi để họ khỏi làm được trò gì khác.

Người Đàng Ngoài thích câu cá và trong vương quốc cũng có rất nhiều sông ngòi, đầm, hồ, ao...

Ở Đàng Ngoài hiếm có một khu rừng nào đúng nghĩa cho hoạt động săn bắn và bản thân người Đàng Ngoài cũng không thạo trò này lắm.

Lễ hội lớn nhất của người Đàng Ngoài là dịp Tết Nguyên đán vốn thường diễn ra vào khoảng ngày 25 tháng Một theo lịch của người Âu và kéo dài khoảng ba mươi ngày. Vào thời điểm này, ngoài những vũ điệu và trò tiêu khiển như đã nhắc đến ở phần trên, người dân còn tổ chức đá bóng[5] và đánh đu trên những cột đu được dựng lên ở hầu hết các góc phố. Ở mọi nơi đều thấy biểu diễn những trò khéo và những trò ảo thuật để mua vui cho mọi người. Người Đàng Ngoài bao giờ cũng hối hả chuẩn bị cho dịp lễ này sao cho trọng thể nhất, chẳng ai chịu kém cạnh những nhà xung quanh, họ tổ chức ít nhất cũng ba bốn bữa, tùy theo năng lực của từng gia đình. Bởi đây là thời điểm ăn chơi thả cửa nên nếu người ta không tiệc tùng thết đãi họ hàng và bằng hữu - dù biết làm thế thì những tháng còn lại sẽ phải ăn mày để sống - sẽ bị mang tiếng là đồ bần tiện.

Ngày đầu năm người ta kiêng ra ngoài, trừ đám lính hầu cận, chỉ đóng cửa ngồi nhà, không tiếp khách trừ khi đó là họ hàng thân thuộc. Nhiều người thẳng thừng từ chối cho người khác dù chỉ là một ngụm nước, một viên than củi và sẽ vô cùng giận dữ với những ai ngỏ ý xin xỏ họ trong ngày đầu năm bởi họ mê tín rằng sẽ gặp điều rủi ro, rằng cả năm họ sẽ phải cho liên tiếp và cuối cùng là rơi vào cảnh ăn mày. Lý do của việc ngồi nhà ngày đầu năm cũng xuất phát từ lý do mê tín, lo sợ gặp điều chẳng lành thì vận hạn cả năm sẽ chẳng ra sao. Họ tin vào điều này một cách hết sức mù quáng. Vào ngày mồng Hai Tết họ mới đi thăm hỏi và chúc Tết những người bề trên, cũng như việc những người bề dưới đến thăm và chúc Tết họ. Tuy nhiên, quan lại sẽ vào chúc Tết Vua và Chúa trong ngày đầu năm hết sức đúng giờ và lễ phép.

Một số người cho rằng năm mới của người Đàng Ngoài bắt đầu từ ngày 25 của tháng âm lịch cuối cùng[6], nhưng theo tôi điều đó không đúng. Nguyên nhân của sự hiểu lầm này nằm ở chỗ vào ngày 25 tháng Chạp ấn triện được lật ngược lên và cất vào trong hộp trong đúng một tháng. Trong quãng thời gian đó công đường đóng cửa, không có hoạt động xét xử gì diễn ra, con nợ không bị xiết, các tội nhỏ như trộm vặt, đánh nhau... không bị truy tố, tội giết người thì bị tri phủ giải quyết bằng cách bỏ tù chờ khi khai ấn mới đem xét xử. Tôi cho rằng năm mới của người Đàng Ngoài bắt đầu vào ngày mồng Một tháng Giêng âm lịch - vốn thường rơi vào khoảng ngày 25 tháng Một theo lịch Âu - và sẽ kéo dài một tháng giống như phong tục của người Trung Quốc.

Những điều kể trên cho thấy ông Taverniere đã phóng đại quá nhiều điều về Đàng Ngoài, nhất là khi ông ta mô tả người dân xứ này là chăm chỉ, chịu khó và luôn dành thời gian vào những việc có ích. Trong chừng mực nào đó điều này có thể đúng với phụ nữ chứ đàn ông Đàng Ngoài thì nhìn chung là biếng nhác và thích nhàn rỗi, chẳng chịu làm việc gì. Tôi thực sự tin rằng họ chỉ thích mỗi hai việc là ăn và ngủ, nhiều người chỉ muốn ăn no đầy bụng. Tôi có cảm giác là họ sống trên đời này nhằm mục đích để ăn, chứ chẳng phải ăn nhằm duy trì sự sống.

Thật sai lầm khi nói rằng người Đàng Ngoài cảm thấy hèn kém vì thường để đầu trần bởi khi thuộc hạ đến nhà quan vì công việc hoặc do một vị quan khác phái đến, anh ta thường mặc nguyên khăn áo trong khi vị quan tiếp anh ta để đầu trần. Nhưng khi có lính truyền lệnh của Vua đến, dù là lệnh chỉ viết hay khẩu dụ, thì viên quan không bao giờ dám tiếp chỉ mà không mặc áo đội mũ. Tôi sẽ nói thêm về điều này khi chuyển sang đề cập về triều đình Đàng Ngoài.

Khác với những miêu tả của Taverniere, kẻ tội phạm trước khi bị xử trảm thường bị cạo trọc đầu để phòng khi trốn thoát sẽ dễ bị phát hiện. Tương tự, những kiểu hành hình như đóng đinh vào thánh giá, cho 4 thuyền chiến phanh thây... là những kiểu hành hình không phổ biến ở Đàng Ngoài.

❀ ❀ ❀

[1] Rupee: tiếng Hindi là Rupiya, đồng tiền xu đúc bằng bạc, thông dụng tại các xứ thuộc Ấn Độ trước đây. Ngày nay, vẫn còn nhiều nước gọi đồng tiền của mình là Rupee nhưng dưới một số biến âm khác nhau.

[2] Surat: một trung tâm buôn bán lớn nằm ở sườn phía tây lục địa tiểu Ấn.

[3] Shilling: đồng tiền bạc dùng tại Anh từ thời Vua Henry VII (trị vì: 1495-1509) đến tận năm 1971. Đồng Shilling trước đây cũng được lưu hành tại nhiều nước thuộc khối Thịnh vượng chung, trị giá 1/20 đồng bảng.

[4] Ell: đơn vị đo chiều dài tương đương một cánh tay. Độ dài của đơn vị Ell rất khác nhau tại các nước châu Âu. Riêng tại Anh, một Ell tương đương với 45 inches (= 1,125m).

[5] Có lẽ là trò chơi vật cầu hoặc hất phết, phổ biến ở kinh kỳ xưa kia.

[6] Tức tháng Chạp.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 29 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.