Trong những chương trước tôi đã giới thiệu về vị trí và quyền lực hạn chế của Vua Lê, trong khi đó Chúa Trịnh là người thực tế giữ quyền chèo lái vương quốc. Chương này sẽ trình bày về ông như là linh hồn và sự sống của vương quốc Đàng Ngoài. Quyền lực của Chúa cũng lớn như các vị vua chúa khác ở phương Đông: tuyệt đối chuyên chế. Tuy nhiên, Chúa Trịnh không đến mức khắc nghiệt như nhiều bạo chúa khác bởi Đàng Ngoài có một nền luật pháp và phong tục lâu đời rất được mọi người tôn trọng nên Chúa cũng nương các hành động của mình theo nền pháp luật đó.
Vị Chúa hiện nay là người thứ tư trong dòng dõi họ Trịnh và mọi người có thể nói rằng ông đã tung cây vương trượng của mình ra để nắm được thần dân của mình[1]. Quyền thế của dòng họ Trịnh được thiết lập ngay sau khi những kẻ tiếm quyền họ Mạc bị tiêu diệt và đặt nền tảng cho sự hùng mạnh của nhà Chúa hiện nay. Chúa đã 53 tuổi, là một chính trị gia ranh mãnh, nhưng có thể trạng yếu đuối[2]. Ông kế vị cha vào năm 1682 và trước đó đã cùng với cha mình cai trị một vài năm. Ông có ba người con trai và nhiều con gái với vô số các nàng hầu. Người con trai cả và người con trai út đã chết; người con trai thứ còn lại bị điên vào dịp đám tang của ông nội[3]. Hiện nay vị Thế tử này đã hồi phục và được ban tặng tước hiệu Chu-ta, có nghĩa là vị Chúa trẻ (tước hiệu thường có của người con trai lớn nhất còn lại trong dòng họ Chúa). Chúa trẻ có phủ độc lập và quyền hành tương tự như thân phụ của mình, có người hầu cận và có quan lại làm việc cho mình với các phẩm hàm tương đương như ở phủ Chúa cha. Chỉ có điều trong khi thiết triều thì quan lại ở phủ Thế tử chịu đứng dưới quan lại cùng tước vị của phủ Chúa. Tuy nhiên, khi Thế tử lên nối ngôi thì quan lại của ông sẽ lên ngồi ở các vị trí trên, chỉ trừ một vài quan lại giỏi và có kinh nghiệm của đời Chúa trước mới có thể giữ được vị trí của mình dưới triều Chúa mới.
Nếu Chúa lấy vợ - vốn ít khi xảy ra muộn đến mức Chúa đã lên ngôi mới tổ chức - thì người vợ của Chúa được coi là chính thất và thường được ban tặng hiệu Quốc Mẫu bởi bà thường có nguồn gốc hoàng gia. Chúa có thể lấy cung tần từ khi còn trẻ, thậm chí trước tuổi 18, số lượng không hạn chế, có thể lên đến 300 hoặc 500, hoặc thậm chí nhiều hơn nữa nếu Chúa thích bởi người xứ này quan niệm càng nhiều vợ và cung tần thì càng vinh hạnh. Trong khi lựa chọn cung tần tiêu chuẩn về sắc đẹp còn bị xếp sau các kỹ năng nghệ thuật múa, hát, chơi các loại nhạc cụ... để làm vui lòng Chúa. Người vợ nào có con được chọn làm Thế tử nối ngôi một cách chính thức sẽ được yêu kính nhất, dù không phải lúc nào cũng được tôn trọng nhất. Các cung tần đã có con với Chúa đều được gọi chung là ducba[4]. Các Con trai của Chúa - trừ Thế tử kế ngôi - đều được gọi chung là duc-ang[5]; con gái được gọi là batua[6], giống như người Âu chúng ta gọi Công chúa. Anh em trai gái của Chúa có tước hiệu như vậy nhưng con cái và cháu chắt của họ thì không được dùng tước hiệu đó, ngoại trừ con cháu nhà trưởng nam của Chúa.
Chúa chu cấp cho con mình đầy đủ còn anh chị em Chúa đành phải chấp nhận với nguồn thu từ quỹ công mà Chúa ấn định vốn phụ thuộc vào thứ bậc cũng như là họ gần hay họ xa, theo đó bậc thứ tư hoặc thứ năm chẳng còn được ban phát gì nữa.
Vị Chúa hiện tại[7] có khá nhiều anh em nhưng Chúa cư xử không mấy nhân hậu với họ. Tôi đoán là do Chúa có tính cách đầy nghi kỵ và thể chất khá ốm yếu. Những vị Chúa trước đây thường thiên vị và nâng đỡ anh em nhà mình, cho họ giữ các chức vị cao trong vương quốc như tướng thống lĩnh quân đội, thống chế, tổng trấn quan, giao cho họ một lực lượng quân đội nhất định và sử dụng họ vào những việc cao quý của triều đình để xứng đáng với địa vị huynh đệ của Chúa.
Tôi nói trong chương trước là ở phủ Chúa Đàng Ngoài ít khi xảy ra cảnh huynh đệ tương tàn, ngoại trừ một vụ xảy ra vào đời Chúa trước[8] khi ông Chechening bị sát hại trong một tình cảnh mà không ai có thể nói là ông mắc tội khi quân[9]. Chuyện như thế này:
Chechening là em trai thứ hai của vị Chúa tiền nhiệm, một người hội tụ đủ cả đức độ cũng như anh dũng, phóng khoáng, rộng lượng... được nhiều người kính trọng và nhất là được quân sĩ yêu mến sẵn sàng gọi ông là “cha”. Với tài thao lược của mình ông đã chỉ huy quân sĩ đánh tan tác quân Đàng Trong nhiều phen. Quân địch khiếp sợ uy danh của ông và gọi ông là “ánh chớp Đàng Ngoài”. Uy danh của ông cả trong nước và ngoài chiến trận đã đưa ông đến hiểm họa của những rặng đá ngầm và vực thẳm của sự đố kỵ và nghi ngờ từ chính anh trai mình. Là người thông thái, ông hiểu được mối nguy đó nên tìm mọi cách nói với anh mình hết sức khiêm nhường rằng ông sẽ không bao giờ làm quá một điều gì ngoài chỉ thị của anh, rằng những thắng lợi trên chiến trường đều do sự chỉ đạo sáng suốt và tài giỏi của anh và ông chỉ là người thừa lệnh. Ông cũng thề nguyện long trọng rằng sẽ không bao giờ làm một điều gì hại đến anh, rằng nếu quân sĩ hay thần dân đề nghị ông lên thay vị trí của anh thì ông không chỉ từ chối thẳng thừng mà còn trừng trị thích đáng những kẻ có tư tưởng sai quấy đó.
Vào thời điểm đó lời thề của ông có vẻ được Chúa chấp nhận, nhưng chỉ vài năm sau - không rõ là do sự đố kỵ của Chúa có từ trước đây hay là do ông làm điều gì đó dẫn đến bị nghi ngờ hoặc giả do những suy luận một cách sai trái (người ta nói đến nhiều nguyên nhân khác nhau) - ông và một số ít quân sĩ bị triệu về cung khi đang chiến đấu với quân Đàng Trong ở biên thùy phía Nam. Ông tuân lệnh hồi cung - nơi ông lập tức bị bắt và giam trong một nhà tù ngay gần phủ Chúa.
Ông bị giam cầm như thế suốt một vài năm mà không bị giết bởi ông chẳng có lỗi lầm gì đáng để bị hành quyết. Thế nhưng có lẽ định mệnh đã sắp đặt cho sự ra đi của ông. Vào khoảng năm 1672, một số lượng lớn quân sĩ, không dưới 40.000 người, ở kinh thành Kẻ Chợ, chiếm đóng mọi ngõ ngách của khu phủ Chúa, gây ra nỗi lo bạo loạn và huyên náo khắp nơi khiến dân chúng sợ hãi bỏ thành phố chạy về quê. Bọn lính đến trước phủ Chúa kêu gào ầm ĩ nhưng không dám xông vào trong bởi một nỗi sợ hết sức bản năng. Họ không mang theo vũ khí, chỉ hoa múa chân tay và miệng thì gào thét. Họ cất lên những lời thô tục để trách Chúa bạc đãi binh sĩ, hoang phí đối với đám cung tần mỹ nữ của mình khiến cho ngân khố cạn kiệt trong khi dân thường thì cùng kiệt và đói khổ, cứ như Chúa đã mưu tính để đẩy họ đến chỗ cùng đường bằng những nạn đói và sự thiếu thốn. Họ kể lể công lao của họ khi phục vụ Chúa và đe dọa sẽ hành động quá khích nếu Chúa không tăng lương và phát chẩn ngay lập tức. Họ cũng tản ra vây lấy phủ Chúa, đóng trại tại những phố chính cứ như họ đang chuẩn bị vây hãm cung điện và thiết lập tình trạng giới nghiêm “nội bất xuất ngoại bất nhập” tại đây.
Trong tình thế nguy cấp đó, Chúa triệu hồi Quan Fo Lew và nhiều đại thần đến để bàn bạc tìm giải pháp đối phó. Một vị văn quan đại thần trong số đó tấu trình lên Chúa rằng biện pháp tốt nhất là thỏa hiệp với đám binh sĩ và phát chẩn để dẹp yên bạo loạn, lý giải thêm rằng khi dân nổi loạn thì dùng binh sĩ để trị, nhưng để trị đám binh sĩ nổi loạn thì tốt nhất là phải dùng tiền. Nhưng một vị văn quan đại thần khác tên là Ong Trungdume[10] - một vị quan tài trí và có địa vị cao - phản đối ý kiến trên và chủ trương dùng sức mạnh trấn áp, cho rằng việc nhân nhượng với lũ loạn quân thật là một giải pháp khinh suất và ắt sẽ dẫn đến hậu quả tai hại. Ông ta nói thêm: tốt nhất là tóm cổ một vài đứa đầu sỏ đem giết để khiến bọn đồng đảng khiếp sợ mà chọn giải pháp giải tán để giữ thân mình. Chúa có vẻ nghiêng về giải pháp này vì không tốn tiền, nhưng cũng còn do dự. Bọn lính nổi loạn có mật báo từ phủ Chúa (cũng như Chúa có gián điệp cài vào đám binh sĩ) nên biết được nội dung cuộc họp trong phủ Chúa và dĩ nhiên căm thù Ong Trungdume đến tận xương tủy. Họ chờ đến khi ông ta rời phủ Chúa về nhà thì xông ra bắt lấy rồi đem xử tử viên quan theo cách không thể tàn ác hơn: đánh ông bằng nắm tay, bằng đầu gối, bằng khuỷu tay... giẫm đạp ông cho đến khi tắt thở rồi kéo lê xác qua các con phố ra doi cát ngoài sông phía gần kho quân khí của triều đình, băm xác ông ra thành trăm mảnh. Sự hành xử dã man này cùng với những lăng mạ với các quan lại khác khiến Chúa và cận thần lo sợ đến rụng rời chân tay. Quan lại tìm cách ẩn náu trong những chỗ kín đáo để tránh cơn thịnh nộ ngoài phố, bỏ mặc cho Chúa run rẩy trong tuyệt vọng.
Những kẻ cẩn trọng nhất trong đám binh lính nổi loạn nhận ra rằng bọn họ đã vượt quá ranh giới để có thể quay đầu lại nên khuyến nghị đồng bang tìm một minh chủ để dẫn dắt lực lượng trong những ngày sắp tới. Họ cho rằng ông Chechenin là người phù hợp nhất với vị trí đó nên tất cả đồng lòng tìm cách giải cứu ông ra khỏi ngục tù để tôn ông lên làm Chúa. Tuy nhiên, màn đêm cũng kịp buông xuống khiến quân lính phải trì hoãn kế hoạch cho đến tận sáng hôm sau. Chúa có tay trong nên biết được kế hoạch này, ngay trong đêm đó tự tay pha một liều thuốc độc rồi sai một viên hoạn quan tin cẩn mang đến yêu cầu Chechening uống hết. Viên hoạn quan đến ngục, lạy ông Chechening bốn lạy rồi đưa chén thuốc độc ra. Ông lúc đó đã đoán ngay ra được thứ quà Chúa ban cho mình. Không biết ông đã nói câu gì, chỉ biết là ông phủ phục về phía phủ Chúa rồi lạy bốn lạy, sau đó uống cạn chén thuốc độc. Vài giờ sau ông chết - một cái chết bị gây ra bởi chính đức độ cao cả của ông cũng như tình yêu lớn lao mà đám binh sĩ dành cho ông. Sáng hôm sau Chúa cho mở kho phát chẩn bạc và tiền đồng cho đám loạn binh nên tạm thời tránh được một cuộc bạo loạn. Nhưng nhiều kẻ sau đó chết một cách bí ẩn, chẳng mấy ai biết rõ nguyên do.
Bây giờ tôi xin chuyển sang với những vị Thế tử, quan đại thần, văn quan, võ quan, v.v... những người khi ở kinh thành phải vào chầu Chúa và Thế tử vào mỗi buổi sáng. Vua tiếp triều thần vào các ngày mồng một và ngày rằm các tháng. Quan lại vào chầu phải mặc lễ phục màu tím hoặc màu xanh và đội mũ may bằng loại vải bông nội địa. Chúa đón tiếp họ một cách trọng thể, ngồi lộ thiên nhưng ở một khoảng cách khá xa. Để thêm phần tráng lệ (trừ những lúc trang nghiêm), đông đảo vệ binh với vũ khí trong tay đứng ngay trong sân chầu, hoạn quan đứng chầu chực để chuyển lệnh chỉ đến cho các quan, đồng thời quỳ xuống để dâng lên Chúa những câu trả lời của các quan. Nói chung những quyết sách lớn của vương quốc được đưa ra tại đây. Các tấu trình và xử án của Quan Fo Lew - hay quan pháp đình (đóng trong phủ Chúa) - cũng được trình lên cho Chúa ngay trong buổi chầu. Thế tử cũng có quan lại chầu chực bên Phủ Chúa (bởi Thế tử hiếm khi vào chầu hơn một lần trong tháng). Chúa nhắc cho Thế tử biết những gì đã diễn ra để Thế tử có thể giải quyết cho phù hợp. Không có vụ khiếu kiện nào có thể vào được đến phủ Chúa nếu như không kèm theo quà biếu tương xứng với địa vị của nơi này.
Cái cảnh Chúa và quan lại tổ chức công việc với đầy đủ sự trịnh trọng và nghi thức khiến người chứng kiến phải cảm thấy ngạc nhiên. Buổi chầu sẽ còn long trọng hơn nếu như người ta bỏ đi cái tục đi chân đất mang tính chất nô lệ. Chúa đối đãi với cận thần khá rộng rãi, tỏ vẻ tôn trọng họ và bảo đảm cuộc sống của họ - trừ khi họ mưu phản. Các lỗi khác chỉ bị phạt giáng cấp hoặc đuổi khỏi triều đình.
Khi quan lại có việc phải xin với Chúa xử tha tội cho thân nhân hay bằng hữu của mình, họ đội mũ đi vào phủ. Đến trước Chúa họ bỏ mũ ra, quỳ gối và cúi rạp mình để lạy liền bốn lạy - một kiểu thể hiện tình yêu và sự kính trọng lên Chúa, tựa như thói của người Tàu. Họ cầu xin Chúa tha thứ cho kẻ phạm tội và nói đỡ với quan xử án rằng kẻ mắc tội đó có những phẩm chất tốt để có thể được tha hoặc giảm nhẹ tội phạt.
Khoảng 8 giờ sáng, Chúa bãi triều; các quan cũng lục tục ra về, trừ có tên đứng đầu đám vệ binh và một vài kẻ, thường là hoạn quan, có chỗ tá túc ở trong phủ Chúa thì ở lại phục dịch. Bọn hoạn quan phục dịch thường trẻ tuổi, làm những việc tẻ nhạt và cùng với đám hầu gái được phép ra vào chốn hậu cung để phục vụ Chúa và các cung tần mỹ nữ.
Bọn hoạn quan này - thật là những giống sâu bọ của loài người, những loài ký sinh, những kẻ chỉ biết nịnh bợ Vua Chúa - đông tới 400 hoặc 500 tên trong triều đình. Chúng rất kiêu căng, hống hách, vô lý khiến người dân vừa e ngại, vừa ghét cay ghét đắng chúng. Thế mà Vua và Chúa lại ưu ái chúng, dùng chúng vào hầu hết các công việc trong nội cung và cả trong các vấn đề quốc gia đại sự. Sau khoảng 7 hoặc 8 năm phục vụ trong cung cấm, chúng sẽ từng bước tiến thân lên các vị trí trong xã hội và thậm chí được đặt vào những địa vị có danh vọng như quan đầu tỉnh hoặc tướng lĩnh quân đội. Trong khi đó, những người xứng đáng hơn nhiều, tỉ như các quan văn và quan võ, thì lại bị thất sủng và rơi vào cảnh bần hàn. Điều chắc chắn là Chúa để ý tới nguồn lợi trước mắt (không đếm xỉa đến hậu họa ra sao) mà đám hoạn quan này mang lại, vì rằng sau khi chúng chết thì Chúa sẽ được hưởng toàn bộ gia sản mà chúng đã vun vén được bằng tất cả các thủ đoạn xấu xa. Kể cả phụ thân và mẫu thân của viên hoạn quan đó còn sống thì Chúa vẫn là người thừa kế chính thức. Cha mẹ hoạn quan bị coi là chẳng có ý nghĩa gì đối với sự vương giả của con mình bởi họ chỉ làm mỗi một điều duy nhất là đem thiến con mình đi, những mong chúng có được địa vị trong triều. Bởi thế họ khó có thể kiếm được gì hơn ngoài một vài thứ rẻ tiền như vài nếp nhà, mảnh đất và cũng phải có được sự chấp thuận của Chúa.
Nhưng cũng phải nói cho công bằng là một vài hoạn quan có tài năng một cách đặc biệt, nổi bật nhất là ba vị đại quan Ong-Ja-Tu-Le, Ong-Ja-Ta-Foe-Bay và Ong-Ja-How-Foe-Tack - niềm tự hào của vương quốc Đàng Ngoài[11]. Những người này trở thành hoạn quan một cách vô tình: bị chó hoặc lợn cắn mất bộ phận sinh dục. Theo quan niệm của người Đàng Ngoài, những người gặp cảnh này về hậu vận thường có địa vị cao và có phúc lộc.
Trong số ba vị này, chỉ còn Ong-Ja-How-Foe-Tack là còn sống và hiện nay là quan trấn thủ của Hein[12], tỉnh lớn nhất của Đàng Ngoài. Ông cũng đồng thời thống lĩnh lực lượng hải quân, phụ trách việc giao thiệp với người ngoại quốc. Ông là người khôn khéo, một vị tổng trấn uyên thâm, một vị quan tòa công minh và được dân chúng kính trọng. Thật đáng hổ thẹn cho đám người Công giáo luôn nghĩ rằng mình đã được ban phước lành và sự sáng suốt của Phúc âm, thế nhưng chẳng có một ai có thể vươn đến tầm cao như vị quan này - hội đủ cùng lúc cả ba phẩm chất: vĩ đại, thánh thiện và đạm bạc[13].
Người Đàng Ngoài còn kể rất nhiều về vị hoạn quan nổi tiếng Ong-Ja-Tu-Le - một người có trí tuệ tuyệt vời đã vươn lên đỉnh cao nhanh kỳ lạ nhưng cũng gục ngã một cách bi thương. Câu chuyện thế này:
Vào thời họ Trịnh còn trong quá trình gây dựng, vị Chúa lúc đó rất khao khát có được một vài người giỏi giang và trung thành có thể giúp ông gánh vác một phần nào đó công việc quốc sự nặng nhọc. Trong lúc đầu óc còn rối bời và không nguôi nghĩ về ước vọng đó, Chúa chìm vào một giấc chiêm bao theo đó sáng hôm sau ông gặp một người có đủ khả năng gánh vác trọng trách ông giao phó. Và như được báo mộng, sáng hôm sau Ong-Ja-Tu-Le - người đầu tiên vào chầu - có hình dáng giống hệt như người Chúa đã gặp trong mộng, từ vóc người cho đến khuôn mặt. Sau một vài trao đổi với Ong-Ja-Tu-Le, Chúa nhận thấy đây quả thực là một người có khả năng, khôn khéo và am tường chuyện quốc gia đại sự. Chúa bèn phong ngay cho chức vụ cao, đến nỗi khó có thể phân biệt được đâu là chủ soái, đâu là thuộc cấp, có chăng là ở chỗ thậm chí Ong-Ja-Tu-Le còn được mọi người nể trọng hơn, phục tùng hơn so với chính bản thân Chúa. Liệu đây có phải là nguyên nhân dẫn đến việc Chúa ngày càng khó chịu với Ong-Ja-Tu-Le hay không? Hay cây nấm rơm kia (mọc lên sau một đêm) đã quên ngay thân phận của mình, chất chứa tham vọng và trở nên mù quáng bởi ánh hào quang quanh mình đã vội mơ tưởng đến việc hãm hại Chúa để nắm lấy quyền hành (như lời ong tiếng ve ngoài đời đồn đại)? Hay đơn thuần do Chúa ghen ghét với kẻ hạ thần mà dám nổi tiếng hơn cả bản thân Chúa? Những nghi vấn này tôi xin không khẳng định gì thêm, chỉ thông tin thêm cho độc giả rằng sau đó viên quan đình đám này bị Chúa ra lệnh xử tử bằng cách cho tứ mã phanh thây, thân xác bị băm nát trước khi đem đốt thành tro và rắc xuống sông.
Hằng năm, vào khoảng thượng tuần tháng Một theo Tây lịch, tương đương với thượng tuần tháng Chạp của họ, toàn bộ văn võ bá quan thề trung thành với Vua và Chúa, không bao giờ giấu giếm mưu đồ tạo phản nào, bằng không sẽ phải đền mạng. Quan lại cũng bắt vợ, gia nhân, thuộc hạ thề sẽ trung thành với mình. Kẻ nào phát giác âm mưu tạo phản và báo lên quan sẽ được thưởng khoảng 30 đô-la kèm theo một chức vụ nhất định - đây là điều mà Taverniere không tính đến.
Hằng năm, vương quốc đều tổ chức tuyển lính. Những người có chiều cao lý tưởng sẽ được trọng dụng vào làm vệ sĩ cho Chúa, còn những kẻ khác thì được phân bổ vào các công việc khác nhau. Những người có bằng cấp, hoặc tay nghề thủ công được miễn nghĩa vụ quân dịch. Tôi không rõ họ xử những tên đào ngũ thế nào, chỉ biết chắc người Đàng Ngoài không dùng hình phạt treo cổ mà sử dụng biện pháp chém đầu. Chỉ người thuộc hoàng tộc mới được áp dụng hình phạt thắt cổ. Tôi cần phải nói rằng trong những hành động này họ chẳng tỏ ra tàn nhẫn hoặc tế nhị gì.
Người Đàng Ngoài không tuyển dụng người ngoại quốc vào các công việc, cho rằng người ngoại quốc chẳng giỏi giang gì hơn bản thân họ. Có một lần khi tôi vừa từ Xiêm sang Đàng Ngoài thì bị triệu đến để cung khai về tình hình của hai xứ Xiêm và Đàng Trong, về chuyến đi của tôi trên một chiếc thuyền Đàng Ngoài, về câu hỏi liệu những thuyền của Đàng Ngoài có thể phù hợp với việc vận chuyển quân lương trên biển hay không... Tôi trả lời rằng theo tôi nghĩ thì các thuyền Đàng Ngoài phù hợp với việc đi biển. Sau đó họ hỏi tôi sẽ phản ứng thế nào nếu như Chúa trao cho tôi mệnh lệnh chỉ huy 200 hoặc 300 quân sĩ trong chiến dịch tiến đánh Đàng Trong. Tôi đáp rằng bản thân chỉ là thương nhân, thật mù tịt về chuyện binh đao nên không thể phục vụ Chúa trong lĩnh vực này được. Với lời chối từ đó tôi được yên thân, nhưng trong một dịp khác thì tôi bị phiền toái bởi người Trung Quốc.
Tôi đã nói qua ở đâu đó trong các chương trước rằng ở xứ Đàng Ngoài chỉ có Vua và Chúa là được truyền lại tước hiệu cho con cháu đến đời thứ ba. Những quan lại khác họ phải mưu cầu quyền tước qua chinh chiến, qua học hành, hoặc đơn giản là bằng tiền và chỉ có giá trị trong đời họ mà thôi. Qua chiến tranh: ít người thành đạt. Qua học hành: một số ngoi được lên. Bằng tiền bạc: quả là một thứ nam châm hấp dẫn được rất nhiều người ưa thích!
Phủ Chúa đóng tại Kẻ Chợ, gần như tại trung tâm thành phố. Phủ rất rộng rãi, được vây kín bằng tường rào, trong và ngoài đều có nhiều nhà nhỏ, thấp để quân lính sử dụng. Nhà ở trong phủ phần lớn dựng hai tầng, nhiều khoảng lộ thiên để đón không khí. Cửa rộng và bề thế, toàn bằng gỗ lim - phần lớn trong phủ Chúa là thế. Tư thất của Chúa và của các phi tần đều sang trọng và đắt tiền, chạm trổ và sơn son thếp vàng. Phía trước phủ đường là tàu ngựa và voi quý. Phía sau phủ đường có đủ thứ tiêu khiển, từ vườn hoa, lùm cây, lối đi dạo, hồ cá... Tóm lại, ở đây có đủ mọi thứ thưởng ngoạn mà vương quốc này có thể đáp ứng để Chúa tiêu khiển bởi Chúa chẳng mấy khi đi ra bên ngoài.
❀ ❀ ❀
[1] Tức Chúa Trịnh Căn (trị vì: 1682-1709). Ba đời Chúa trước đó (có lẽ Baron không tính Trịnh Kiểm, nắm quyền: 1545-1570) là Trịnh Tùng (trị vì: 1570-1623), Trịnh Tráng (trị vì: 1623-1657), Trịnh Tạc (trị vì: 1657-1682).
[2] Đến năm đó (1683 - khi Baron viết cuốn sách này), Chúa Trịnh Căn mới 50 tuổi (Chúa sinh năm 1633).
[3] Tức đám tang Chúa Trịnh Tạc, mất năm 1682.
[4] Ducba: Đức Bà.
[5] Duc-ang: Đức Ông.
[6] Batua: Bà Chúa (?).
[7] Tức Chúa Trịnh Căn.
[8] Tức Chúa Trịnh Tạc.
[9] Chechening mà Baron mô tả là Ninh Quốc Công Trịnh Toàn - con út của Chúa Trịnh Tráng, em Chúa Trịnh Tạc và là chú ruột của Chúa Trịnh Căn sau này. Ông có công lớn trong việc đẩy lùi quân Nguyễn khỏi vùng Nghệ An trong đợt xung đột lần thứ 5 (1655-1660). Do có tài và có uy tín lớn trong quân đội Trịnh Toàn bị Trịnh Tạc lập mưu bắt giam và giết đi để trừ hậu họa.
[10] Ong Trungdume: Ông Trạng?. Theo sử cũ, Nguyễn Quốc Trinh (Quốc Khôi) là người có tài, thi đỗ Trạng nguyên, tính tình cương trực, được cử làm quan Bồi tụng phủ Chúa. Năm 1674, kiêu binh nổi lên làm loạn ở kinh thành, giết Nguyễn Quốc Trinh cùng phá nhà Tham tụng Phạm Công Trứ.
[11] Người nước ngoài thường gọi quan lại theo chức danh; Ong-ja là Ông già. Trong số ba người mà Baron điểm ra có Ong-Ja-Tu-Le là xác định được vì người này được mô tả khá kỹ trong các văn bản của Công ty Đông Ấn Hà Lan. Đây chính là Ông già Tư Lễ, tức hoạn quan Hoàng Nhân Dũng, người làm đến chức Tư lễ giám, nhưng sau bị xử tử do bị khép tội có âm mưu chống lại Chúa. Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: “(năm 1653), Nhân Dũng là tên hoạn quan được yêu, làm đến chức chưởng Tư lễ giám, thiếu bảo, tước quận công, được ban họ tên là Trịnh Lãm. Quyền lực to quá, ngày càng kiêu căng phóng túng, ngầm mưu với thủ hạ là Trần Nhân Liễn nuôi giấu người có yêu thuật là Tuyên Đức để xướng loạn. Việc bị phát giác, đưa xuống triều thần xét tội. Nhân Dũng bị chém bêu đầu, bọn Nhân Liễn, Tuyên Đức đều bị lăng trì, thị chúng”.
[12] Hein: Phố Hiến.
[13] Nhiều khả năng đó là Lê Đình Kiên, quan trấn thủ Sơn Nam trong suốt 41 năm (năm 1664 đến năm 1704). Tài liệu của Công ty Đông Ấn Anh (dù luôn phỉ báng quan lại Đàng Ngoài về sự o ép và nhũng nhiễu) cũng dành cho quan trấn thủ phố Hiến những lời ca ngợi nhất định.