Mô Tả Vương Quốc Đàng Ngoài

Lượt đọc: 65 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương II Về vị trí và quy mô diện tích xứ Đàng Ngoài

❊ ❊ ❊

Chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi những người tiền nhiệm của chúng ta đã không có hiểu biết gì về vương quốc này sớm hơn, như họ am tường về xứ Trung Hoa, bởi sự khám phá xứ Đàng Ngoài diễn ra muộn hơn nhiều so với việc thám hiểm nước Trung Hoa. Người Bồ Đào Nha không những đã phát hiện ra xứ Đàng Ngoài sớm hơn mà còn phái cả tàu đến đó để kinh doanh.

Hiển nhiên là xứ Đàng Ngoài trước đây từng là một tỉnh của Trung Quốc và người Đàng Ngoài đến nay vẫn còn triều cống Hoàng đế Trung Hoa. Nhưng đó không phải là lý do khiến chúng ta chậm có những hiểu biết về xứ Đàng Ngoài, nhất là khi mà vương quốc này đã hoàn toàn do các bậc quân vương người bản xứ cai trị liên tục từ hơn bốn trăm năm nay - sớm hơn nhiều thời điểm người Bồ Đào Nha khám phá Ấn Độ. Có vẻ như lý do thực sự là ở chỗ người Đàng Ngoài trước đây (và hiện tại cũng thế) chưa từng đi ra nước ngoài buôn bán. Họ phần nào bị ảnh hưởng từ người Tàu về tính cách kiêu hãnh, coi các dân tộc khác là man di. Họ học người Tàu cách tổ chức triều chính, học nghiệp, chữ viết... nhưng bản thân họ lại thù ghét người Tàu.

Tôi không hiểu tại sao Taverniere cho rằng nhiều người tin xứ Đàng Ngoài ở vào khu vực khí hậu rất nóng, khi vương quốc này nằm ở dưới đường chí tuyến và có một vùng quá lên phía bắc. Mặc dù vậy ông quả quyết thời tiết ở đây khá ôn hòa nhờ có nhiều sông lớn tưới tiêu cùng với lượng mưa theo các mùa (đồng thời không có những đụn cát và đồi trọc vốn là tác nhân gây nóng ở các vùng Commaroan và vịnh Ba Tư). Sự thật là xứ này thường có mưa vào các tháng Năm, Sáu, Bảy và Tám (đôi khi sớm hơn) giúp làm ẩm đất nhưng không vì thế mà làm gió dễ chịu hơn. Trái lại, khí hậu trong hai tháng Bảy và Tám nóng không chịu nổi. Sự thật là xứ Đàng Ngoài có nhiều loại hoa quả; dân cư không quá đông đúc và sống chủ yếu nhờ lúa gạo. Họ tận dụng từng mảnh đất để trồng lúa và hiếm khi bỏ hoang đất đai.

Xứ Đàng Ngoài tiếp giáp Quảng Châu (Canton) về phía đông bắc, tiếp giáp vương quốc Lào và xứ Bowes[1] về phía tây, tiếp giáp hai tỉnh Vân Nam và Quảng Tây (còn gọi là Ai) của Trung Quốc về phía bắc, tiếp giáp vương quốc Đàng Trong về phía nam và đông nam. Khí hậu ôn hòa từ tháng Chín đến tháng Ba, đôi khi lạnh vào các tháng Một và Hai dù không bao giờ có tuyết và băng giá. Các tháng Bốn, Năm và Sáu thường không lành bởi mưa, mù trời và mặt trời chói lọi. Các tháng Sáu, Bảy, Tám là thời điểm cực nóng trong năm. Gió ở đây thổi theo hai hướng bắc nam và nam bắc, mỗi hướng đều sáu tháng. Từ tháng Năm đến tháng Tám là mùa đẹp nhất ở Đàng Ngoài khi cây cối sum suê, ruộng đồng tươi tốt, phong cảnh trông thật đẹp mắt.

Những trận gió lớn ở đây được đám thủy thủ gọi là bão, người vùng này gọi là Tanffoons[2], hoành hành dữ dội ở đây và những vùng biển lân cận không theo chu kỳ ổn định nào:

có khi 5 hoặc 6 năm một lần, có khi 8 hoặc 9 năm. Cho dù loại gió bão này không được gọi cùng tên Tanffoons ở các vùng biển khác ở phương Đông, nhưng với sức tàn phá dữ dội như thế có thể nói loại bão ở vùng vịnh Bengal và duyên hải Coromandel vốn được biết đến dưới tên gọi Tượng phong (Elephant Wind) chẳng kém bão ở vùng Đàng Ngoài là mấy. Hậu quả của loại bão này đối với đám thủy thủ thường rất thảm khốc. Tôi không thể tìm được một nhà thiên văn học nào ở Đàng Ngoài để hỏi về xuất xứ của các trận bão trên, vậy nên tôi không thể khẳng định rằng chúng được hình thành do những luồng khí thoát ra từ các vùng khai mỏ ở Nhật Bản.

Về diện tích của Đàng Ngoài, Taverniere đã sai lầm to khi cho rằng Đàng Ngoài có diện tích tương đương nước Pháp. Những người trải nghiệm ở Đàng Ngoài khẳng định vương quốc này chỉ nhỉnh hơn nước Bồ Đào Nha một chút, dù dân số có thể nhiều gấp bốn lần. Taverniere cũng không mô tả cụ thể về giới hạn đường biên cũng như diện tích của Đàng Ngoài.

Có một số đảo thuộc về vương quốc nằm trong vịnh Đàng Ngoài (vịnh Bắc Bộ), hòn đảo lớn nhất được người địa phương gọi là Twon Bene[3] còn người Hà Lan gọi là đảo Rovers (đảo Kẻ Cướp). Hòn đảo này nằm ở vĩ độ 19 độ 15 phút bắc, dài 1,5 lý[4], rộng tối đa nửa lý, phần lớn địa hình cao, cách bờ khoảng 1 lý, khe nước giữa đảo và đất liền tàu thuyền có thể qua lại (người Hà Lan trước đây vẫn đi qua) nhưng người điều khiển tàu phải cẩn trọng đi cách đảo khoảng một tầm súng để đảm bảo luồng sâu khoảng 6,7 hoặc 7,5 sải nước[5]. Ở phía tây của hòn đảo có hai vịnh nhỏ. Vịnh ở phía bắc có bãi ngọc trai nhỏ nhưng chẳng ai dám đến mò ngọc nếu không được Vua cấp phép. Cả hai vịnh đều có nước ngọt chất lượng rất tốt, tốt nhất mà chúng tôi từng thử ở đây. Mũi phía tây nam của hòn đảo là một rặng đá ngầm nhô ra biển khoảng 100 mét lộ rõ khi thủy triều xuống quá nửa. Ngoài mỏm đá đó ra, các lối đi còn lại khá an toàn.

Phía tây bắc là một vụng biển đẹp, sâu chừng 3,5 đến 4 sải, đáy biển là đất sét mềm. Nơi đây tập trung nhiều thuyền đánh cá thuộc về ngôi làng ngay gần đó - tôi ước tính làng đó có khoảng 300 đến 400 người, phần lớn là ngư dân.

Trên đảo có một đồn canh, thu lợi lớn cho vương quốc bởi tất cả tàu thuyền buôn bán - dù đi đến tỉnh Tingway[6] hoặc Guian[7] hay đi từ đây về phía bắc - đều phải dừng ở đây để nộp phí: tàu to vào khoảng 1,5 đô-la kèm theo quà biếu, các loại thuyền khác thì tùy theo định mức. Nguồn thu hằng năm của trạm kiểm soát này chắc chắn không dưới 1 triệu đô-la.

Đất đai trên đảo khô cằn và nhiều sỏi đá, không tốt để canh tác. Không có nhiều gia súc; người dân ở đây nói rằng có khá nhiều sơn dương sống ẩn nấp trên những vách đá và lùm cây trên đảo. Vì thế thóc gạo và thực phẩm đều phải mang từ các vùng khác đến. Nếu có quy chế tốt thì cuộc sống nơi đây sẽ đủ đầy, trong khi chỉ cần một số vốn đầu tư nhỏ cũng có thể biến nơi đây thành một cảng tốt.

Sông Hồng và kinh đô Kẻ Chợ

(thương điếm Anh và Hà Lan ở ngoài cùng bên phải)

Nguồn ảnh: A Description of the Kingdom of Tonqueen, Samuel Baron, 1685

Về thành phố và thị trấn, ngoại trừ Kẻ Chợ[8], Đàng Ngoài có không quá 2 hoặc 3 thành thị trong toàn vương quốc. Làng xóm thì nhiều, ngoài khả năng tính toán của tôi, cũng chưa có ai đưa ra nhận định về số lượng làng cả. Kẻ Chợ là thủ đô của xứ Đàng Ngoài, nằm ở vĩ độ 21° bắc, cách biển chừng 40 lý. Quy mô của Kẻ Chợ sánh ngang nhiều thành thị khác ở châu Á trong khi dân số của Kẻ Chợ lớn hơn nhiều, nhất là vào phiên chợ ngày 1 và 15 âm lịch hằng tháng khi người dân cùng với hàng hóa từ các làng ven đô đổ về đây nhiều không đếm xuể. Những con phố ngày thường vốn rộng rãi và quang đãng giờ đây trở nên chật chội đến nỗi chỉ nhích được 100 bước trong vòng 30 phút đã là tốt lắm rồi. Các loại hàng hóa khác nhau được quy định bán ở các con phố riêng; mỗi con phố gồm cư dân của một hoặc hai ba làng. Những người dân ở các con phố tổ chức hàng bán theo kiểu phường hội ở các thành thị châu Âu. Triều đình, cung điện của Vua, tướng lĩnh, hoàng thân quốc thích và các vị đại thần đều đóng ở đây và chiếm một diện tích khá lớn trong thành phố. Tôi chỉ có thể nói rằng kiến trúc ở đây rất giản tiện, một số làm bằng gỗ, còn lại được dựng bằng tre nứa và trát đất trông rất tuềnh toàng, lèo tèo một vài ngôi nhà gạch vốn là thương điếm của người ngoại quốc. Kỳ vĩ nhất là bức tường ba lớp bao bọc khu thành cổ và các cung điện. Những phế tích còn lại minh chứng cho sự kiên cố cùng với những chiếc cổng lớn và chắc chắn được ốp đá cẩm thạch. Chu vi cung điện lên đến 6 hoặc 7 dặm[9], những lâu đài, cửa cổng, sân vườn đều thể hiện vẻ đẹp nguy nga tráng lệ. Một lực lượng quân đội hùng hậu đóng trong thành phố, sẵn sàng ứng phó mọi tình huống xảy ra. Kho quân dụng được đóng ngay tại bờ sông, gần cồn cát, nơi có Thecadaw[10]. Người địa phương gọi con sông này là Songkoy[11]. Con sông này bắt nguồn từ Trung Quốc, chạy dài vài trăm dặm trước khi chảy qua thành phố Kẻ Chợ và đổ ra biển ở vịnh Hải Nam qua 8 hoặc 9 cửa, tất cả các cửa đều đủ sâu để các thuyền cỡ nhỏ có thể đi lại. Con sông mang lại nguồn lợi nhuận lớn cho thành phố này bởi tất cả hàng hóa đều được vận chuyển bằng đường sông đến trung tâm của vương quốc thông qua một số lượng lớn thuyền buôn hoạt động ngược xuôi khắp vương quốc. Tuy nhiên, những người buôn bán này đều có nhà cửa ở quê hương chứ không phải sống lênh đênh trên thuyền như ông Taverniere mô tả, tất nhiên là trừ khi họ đi buôn chuyến.

❀ ❀ ❀

[1] Trong tấm bản đồ vẽ xứ Đàng Ngoài của S. Baron, xứ Bowes được Baron xác định là hướng tây bắc, rơi vào khoảng giáp ranh giữa vùng biên giới tây bắc của nước ta hiện nay với Lào và Trung Quốc. Xứ Bowes (hay Bawes, Baou) được L. Cadière chú là thuộc các tính Hưng Hóa, Tuyên Quang, từ thế kỷ XIV là lãnh địa do tù trưởng người dân tộc thiểu số Vũ Công Mật và con cháu chiếm giữ. (L. Cadière, “Les Européens qui ont vu le vieux Hué: Gemelli Careri, BAVH, 1930 (3), tr. 315).

[2] Tanffoons (có chỗ viết là Tuffoon, tiếng Anh hiện đại là Typhoon): bão giật miền nhiệt đới, thường xảy ra ở sườn tây Thái Bình Dương và khu vực Ấn Độ Dương. Chữ Tuffoon có nguồn gốc một phần từ phương ngữ miền Quảng Đông, Trung Quốc (Toi-fung: gió lớn), một phần từ tiếng Bồ Đào Nha (Tufão).

[3] Twon Bene: Hòn Biện, còn có tên gọi khác là Tevan Bene, Win Bien, Twan Bein, Twon-bene. Nay là Biện Sơn, Thanh Hóa - BT

[4] League: lý, đơn vị đo khoảng cách thời cổ và được sử dụng ở nhiều nước châu Âu với những độ dài rất khác nhau. Cho đến thế kỷ XV11, 1 league (lý) ở Anh tương đương 3 mile (dặm), hay tương đương với 4,8km.

[5] Fathom: sải, đơn vị đo chiều sâu của nước, tương đương 1,83m.

[6] Tingway: Thanh Hóa (?).

[7] Guian: Nghệ An (?).

[8] Kẻ Chợ: tên gọi dân gian kinh thành Thăng Long ngày xưa. Trong sách, Baron dùng nhiều chữ phiên âm khác nhau để chỉ địa danh này: Cocha, Chacha, Cacho - BT.

[9] Mile: dặm, tương đương 1,6km.

[10] Xem chương XV - BT

[11] Songkoy: có lẽ Baron phiên âm chữ sông Cái.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 29 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.