Mô Tả Vương Quốc Đàng Ngoài

Lượt đọc: 65 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương XI Một số suy nghĩ về kiểu chính quyền độc đáo, luật pháp và chính sách của người Đàng Ngoài

❊ ❊ ❊

Không ai có thể phủ nhận thực tế rằng Đàng Ngoài là một dân tộc riêng rẽ hoàn toàn với người Hán - Những người gọi cộng đồng láng giềng phương Nam là Munto, nghĩa là man di, và vương quốc của họ là Gannam (An Nam) bởi vị trí địa lý ở phía Nam. Người Đàng Ngoài có nhiều nét gần gũi với cộng đồng người Ấn, ví như tục ăn trầu, nhuộm răng đen, đi chân đất và ngón chân cái bên phải choãi ra như hiện nay vẫn còn thấy ở một số người. Tuy nhiên, không rõ trước khi bị người Hán biến thành một tỉnh thì việc cai trị ở đây được tổ chức thế nào bởi vào thời ấy họ chẳng có chữ viết nên chẳng để lại sử sách gì. Vậy nên người đời sau viết về lịch sử của họ giai đoạn cổ xưa với đầy hư cấu và phóng tác theo chủ quan của họ nên ít có giá trị, phần nhiều là những câu chuyện hoang tưởng hơn là các văn bản mang tính sử học. Cũng chẳng có nhiều thông tin chính xác về quan hệ của vương quốc này với Trung Quốc - vốn làm cho người xứ này trở nên anh dũng đến lạ thường, đến nỗi không chỉ cầm chân mà còn đánh bại được cả các đội quân hùng mạnh của đế chế Trung Hoa để duy trì được nền độc lập của họ qua nhiều thế hệ. Có thể là trong lúc mô tả lại lịch sử họ đã tô điểm thêm cho các chiến công của mình để không bị coi là những người kém cỏi, chứ bản thân sự nhút nhát của người Đàng Ngoài chẳng hợp lắm với những chiến công vẻ vang đó.

Người Đàng Ngoài cho rằng họ đã dùng chữ Hán từ trước khi thành lập triều đại Ding[1] mà theo các sử gia của họ chắc chắn không dưới 2.000 năm. Nếu vậy thì tôi cho rằng xứ này đã từng bị người Hán chinh phục hoặc dân tự nguyện theo người Hán bởi vì nghi lễ, luật pháp, phong tục, chữ viết của người Tàu không thể cổ xưa đến thế cũng như không thể du nhập ngay một lúc vào người Việt được (như cách họ nói). Giả định này của tôi phù hợp với biên niên sử Trung Quốc cho rằng vào thời điểm nói trên đế chế Hán đang ở đỉnh cao của sức mạnh, cương giới mở rộng ra đến tận nước Xiêm, nên càng không thể tin rằng vương quốc của người Việt có thể tồn tại độc lập được mà đã bị nhập vào lãnh thổ của người Hán.

Có thể là người Hán không duy trì được sự cai quản lâu dài của mình đối với vùng đất phương Nam bởi vì cuộc xâm lược của người Tác-ta từ phương Bắc (hoặc thêm lý do gì khác nữa). Sau khi người Hán rút khỏi thì Vua Đinh lên ngôi, vẫn chưa có sự thống nhất về việc lên ngôi của Vua Đinh: hoặc là do người Hán đưa ông lên ngôi hoặc là do ông tiếm ngôi vua với sự hậu thuẫn của những kẻ lông bông và những tầng lớp dưới của xã hội. Người ta cho rằng Vua Đinh chẳng ở ngôi được lâu bởi ông bị ám sát bởi những người có vai vế. Có thể những chính sách khắc nghiệt Vua Đinh đã làm mất đi sự phục tùng của người dân, cũng có thể người dân không muốn tiếp tục phò tá một kẻ đồng bang nữa - một thứ tâm lý của những tộc người bị sống trong cảnh nô lệ không biết tận dụng sự tự do mình mới giành lại được - nên Vua Đinh bị sát hại. Sau khi đã nếm đủ khổ đau của những năm tháng cát cứ liên miên, người dân đồng tình tôn vinh một vị Hoàng tử lên làm Vua, gọi là Vua Leedayhang[2].

Người Đàng Ngoài nói rằng dưới triều tân vương Lê Đại Hành, người Trung Quốc xâm lược nước họ nhưng họ không nói rõ lý do của cuộc xâm lược trên. Tôi cho rằng có thể là một đám loạn đảng Trung Quốc đã dạt vào xứ này và người Việt đã đánh thắng nhiều trận. Tuy nhiên, giữa lúc cuộc kháng chiến đang diễn ra thì Vua Lê Đại Hành băng, không biết do tử trận hay vì lý do gì khác, để lại ngôi báu cho Libatvie[3], một Hoàng tử dũng mãnh và có đầu óc chính trị. Ông đã kế tục một cách thắng lợi sự nghiệp vẻ vang của Lê Đại Hành, đánh tan quân xâm lược Trung Quốc trong sáu hoặc bảy trận giao tranh, đưa đất nước trở lại thời kỳ thái bình và xây dựng nhiều cung điện nguy nga ốp lát đá cẩm thạch. Sau nhiều năm, các công trình trên đã bị phá hủy, chỉ còn lại một số cổng và thành như chứng tích của một thời vàng son.

Người ta nói rằng dưới triều Libatvie, đất nước thịnh trị đến tận đời Vua thứ tư hoặc thứ sáu. Tuy nhiên, vị Vua cuối cùng không có con trai nên phải để lại ngôi báu cho nàng Công chúa - người kết hôn với một vị Hoàng tử hùng mạnh của dòng họ Tran[4] và hai người cùng trị vì một vài tháng. Sau đó một người có vai vế tên là Hue nổi dậy chống lại, giết chết hai người và tiếm ngôi xưng vương[5].

Kẻ tiếm quyền này chẳng yên vị trên ngôi báu được bao lâu vì nhân dân nổi dậy chống đối. Tôi không rõ họ chống lại ông ta vì lý do gì, nhưng có vẻ do ông ta dùng các biện pháp cai trị xấu xa để bảo vệ vị trí bất hợp pháp của mình. Sau khi đã kêu gọi người Trung Quốc trợ giúp lực lượng, những người nổi dậy đã giết chết Vua. Tuy nhiên, họ cũng mất luôn độc lập dân tộc vì người Trung Quốc mưu mẹo đã nhân tiện chiếm luôn vương quốc này như một phần thưởng cho việc họ động binh[6].

Triều đình Trung Quốc cử một viên phó vương sang cai trị toàn bộ lãnh thổ của người Việt liên tục trong khoảng 16 năm như cái cách mà họ từng làm trong quá khứ. Người Việt sau đó trở nên căm phẫn với sự áp bức và hà khắc của người Tàu nên đồng tâm hiệp lực đánh đuổi kẻ xâm lược phương Bắc. Dưới sự lãnh đạo của thủ lĩnh tên là Lee[7] họ đã đánh thắng quân Trung Quốc nhiều trận, tiêu hao nhiều sinh lực địch, nhất là trận thắng oanh liệt trước đội quân của tướng địch Luetang[8]. Thảm bại của Liễu Thăng cùng với chi phí chiến tranh ngày càng cao trong khi việc chiếm đóng vương quốc của người Việt chẳng mang lại lợi ích gì đáng kể có lẽ là nguyên do khiến hoàng đế Trung Quốc là Humcew[9] quyết định rút quân về nước. Sự kiện này diễn ra vào khoảng 150 năm về trước. Hoàng đế Trung Quốc có đặt ra một số điều kiện như việc người Việt giữ lòng trung thành và ba năm một lần mang lễ vật đến Bắc Kinh để triều cống thiên triều nhằm tỏ lòng thành kính với những ân sủng mà hoàng đế Trung Hoa ban cho. Sau khi đã thỏa thuận xong quân Trung Quốc rút về nước. Các điều ước này đến nay vẫn được duy trì.

Trong số các lễ vật triều cống có một tượng người bằng vàng hoặc bạc mang dáng dấp của một phạm nhân nhằm thể hiện tội lỗi của họ trong việc giết chết Liễu Thăng và tục này sẽ còn được duy trì lâu dài. Quốc vương của Đàng Ngoài cũng nhận chiếu phong vương từ triều đình Bắc Kinh như một biểu tượng cho sự phụ thuộc của vương quốc này vào thiên triều phương Bắc. Người Đàng Ngoài chẳng mấy quan tâm đến việc này bởi chúng chẳng qua chỉ nhằm thỏa mãn thói kiêu hãnh của người Trung Quốc. Năm nay (1683) một sứ thần của triều đình Bắc Kinh mang đến Thăng Long sắc phong tước vương cho Vua Lê, vốn đã được chuẩn y từ 8 hoặc 9 năm về trước. Vị sứ giả Trung Quốc được đón tiếp với tất cả sự trọng thể mà Chúa có khả năng thực hiện được. Mục đích của Chúa không phải vì thiện cảm dành cho sứ thần phương Bắc mà để khuếch trương thanh thế về sức mạnh của ông. Chúa cho phô ra đông đảo quân binh trong trang phục chỉnh tề may bằng thứ vải nhập khẩu của người Anh hoặc người Hà Lan, những đội voi chiến được trang trí đẹp và uy nghi, những đội thuyền chiến sơn son thếp vàng... Mặc cho những sự bày vẽ trên, sứ thần Trung Quốc vẫn chẳng thèm đếm xỉa đến việc ghé thăm Chúa (dĩ nhiên là chưa có sứ thần phương Bắc nào làm việc đó), coi Chúa chỉ là một kẻ tiếm ngôi hèn hạ, một kẻ tiện dân tăm tối so với các bậc đế vương.

Trở lại vấn đề đang nói trên đây, sau khi quân Trung Quốc rút về nước, Lê (Lợi) xưng vương và cai trị đất nước một vài năm. Những người kế vị tiếp tục cai trị vương quốc trong khoảng 200 năm[10] thì bị Mack[11] tiếm ngôi. Người này vốn chỉ là thường dân, xuất thân võ biền, làm nghề vật, sinh trưởng tại ngôi làng Batshan ở vùng cửa sông - nơi ngày nay tàu thuyền phương Tây thường ghé vào buôn bán. Nhờ có võ thuật điêu luyện mà Mạc (Đăng Dung) được nhận vào triều làm quan. Nhưng tham vọng của ông ta không chỉ dừng lại ở đó và nhắm tới ngai vàng và đã đoạt được ngôi báu bằng những thủ đoạn ranh ma mà không cần động binh.

Sau khi chiếm được ngôi báu, họ Mạc xây dựng Batshan[12] và một số nơi khác thành những khu đồn trú kiên cố nhằm đương đầu với các thế lực chống đối, nhất là Hoawing[13] một Hoàng tử có thế lực ở vùng Tingiva[14], người công khai chống lại họ Mạc và khiến họ Mạc khiếp sợ. Nguyễn Kim gả con gái cho Houtrin[15] - một người khỏe mạnh và dũng cảm, trước đây từng là tướng cướp nổi tiếng - đồng thời phong cho làm đại tướng thống lĩnh ba quân. Khi Nguyễn Kim chết, quyền lãnh đạo và nuôi dạy con trai duy nhất của ông (lúc đó khoảng 14 hoặc 15 tuổi) được giao lại cho Trịnh Kiểm. Kế tục quyền lực từ người cha vợ quá cố, Trịnh Kiểm mở nhiều đợt phản công thắng lợi vào quân Mạc và cuối cùng tiêu diệt bè đảng của thế lực tiếm quyền[16]. Trong lúc rối ren, họ Mạc chạy trốn lên trấn giữ vùng đất Cabury[17] - chốn hoang sơ của những người thiểu số - và thần phục hoàng đế Trung Quốc. Ngay sau khi tiến vào được kinh đô Kẻ Chợ và phá hủy các công sự của họ Mạc, họ Trịnh[18] công bố khắp thiên hạ nếu ai thuộc dòng dõi Vua Lê thì ra trình diện để ông tôn lên làm Vua, nói rằng cả đời ông xả thân chiến đấu cũng chỉ vì mục đích đó. Quả như lời ông ta nói, khi người ta dẫn đến một thanh niên thuộc dòng tộc nhà Lê, họ Trịnh - với tất cả sự chuẩn bị sẵn sàng từ trước - vui mừng đặt anh ta lên ngai vàng và yêu cầu thần dân sùng kính vị Vua hợp thức của vương quốc. Họ Trịnh tự xưng làm Chúa thống lĩnh toàn quân. Điều này hẳn nhiên làm cho chàng trai trẻ của họ Nguyễn, em rể của họ Trịnh[19] không thể hài lòng bởi họ Trịnh đã tước đoạt hết quyền lực của cha mình để xây dựng thế lực hùng mạnh như hiện nay mà không thèm đếm xỉa đến người con trai mồ côi họ Nguyễn. Trong khi đó, họ Trịnh sau nhiều năm đòi hỏi Nguyễn Hoàng cung cấp lương thực cho triều đình[20] đã viết một lá thư đòi hỏi họ Nguyễn thần phục Vua Lê, nếu không sẽ bị kết tội phản loạn chống lại triều đình. Điều này dẫn đến cuộc nội chiến và sự ly tán ở Đàng Ngoài. Mặc dù Nguyễn Hoàng không chống lại Vua Lê, nhưng ông ta không thể chấp nhận việc họ Trịnh xưng Chúa và cho rằng vị trí đó lẽ ra phải thuộc về mình mới phải. Nhưng vì thực lực quá yếu trong khi xứ Thanh Hóa lại quá gần Kẻ Chợ, Nguyễn Hoàng cho rằng cách an toàn nhất là xin vào nghỉ ngơi ở trong xứ Cochin-china[21] - nơi các quan và binh sĩ vui mừng chào đón ông và tôn ông làm Chúa, hay tướng quân, của nhà Lê - vị Vua hợp thức của họ - và kết tội họ Trịnh là một tên phản nghịch và phiến loạn. Vậy là cho đến nay, sau ngót 220 năm, đất nước này bị chia cắt và cai trị bởi hai vị tướng lĩnh dưới trướng triều đình. Cả hai đều tôn thờ Vua Lê - theo quy định của luật pháp - nhưng lại là kẻ thù không đội trời chung của nhau và đã liên tục dấy binh để chinh phục lẫn nhau[22].

Vua Lê thiết triều

Nguồn ảnh: A Description of the Kingdom of Tonqueen, Samuel Baron, 1685

Bây giờ tôi xin quay trở lại vấn đề họ Trịnh và tìm hiểu tại sao họ Trịnh không lên kế vị ngai vàng. Không phải Chúa không ham quyền lực hay ông ta tôn trọng pháp luật gì đâu, mà bởi ông ta đã nghĩ nát óc về hai lý do sau để không lên làm Vua. Thứ nhất, nếu lên ngôi ông sẽ bị coi là tiếm quyền, bị cả nước ghét và thù oán, nhất là sự chống lại của họ Nguyễn - người sẽ có danh nghĩa chính đáng để tiến đánh dòng họ Chúa Trịnh. Thứ hai, Chúa nhận thức được rằng triều đình Trung Hoa sẽ chống lại ông ta một khi biết tin có kẻ không thuộc dòng dõi Vua Lê cướp lấy ngai vàng. Như thế chẳng khác gì tự rước họa lớn vào thân và tự mình hủy diệt bản thân. Bởi vậy con đường an toàn nhất là dựng một Hoàng tử thuộc dòng dõi Vua Lê lên làm Vua chỉ trên danh nghĩa, còn mọi quyền lực trong triều gắn vào tay của Chúa. Trong thực tế mọi quyền hành đều do Chúa nắm, từ việc quyết định chiến tranh hay hòa bình, tự ra luật và hủy luật, có quyền lên án hoặc ân xá phạm nhân, phong chức hoặc bãi nhiệm quan tòa, tướng lĩnh quân đội ông ra lệnh thu thuế, ra lệnh phạt... theo chủ ý của mình. Ngoại trừ có sứ thần Trung Quốc, những người ngoại quốc khác đều tấu trình lên Chúa. Có thể nói, quyền hành của Chúa không chỉ là quyền hành của hoàng gia, mà còn vô tận và tuyệt đối. Bởi thế người châu Âu gọi Chúa là Vua hay Vương (King), còn Vua được gọi bằng một danh xưng nghe thì to nhưng vô vị là Hoàng đế (Emperor). Vị Vua Lê chỉ buông rèm trong cung cấm và chẳng ai bén mảng đến ngoài mấy đứa mật thám mà phủ Chúa phái sang. Vua cũng chẳng được phép ra ngoài cung cấm nhiều hơn một lần trong năm, thường vào dịp lễ Tết. Toàn bộ công việc còn lại, Vua chỉ việc “chuẩn y” những gì Chúa muốn và thực hiện việc đó thông qua những lệnh chỉ cho đúng tính lễ nghi. Đối đầu với Chúa, dù là việc nhỏ nhất, cũng mang họa vào thân. Vậy nên dù người dân kính trọng nhà Vua nhưng họ rất sợ Chúa - người luôn được xu nịnh bởi ông ta có quyền lực tối thượng trong tay.

Phủ Chúa Trịnh

Nguồn ảnh: A Description of the Kingdom of Tonqueen, Samuel Baron, 1685

Phủ Chúa lộng lẫy tựa như cung Vua. Họ nhà Chúa cũng thế tập, con trưởng kế vị cha. Tuy nhiên, tham vọng của những người con khác của Chúa thường gây ra nội loạn nhằm tiêu diệt lẫn nhau để lên kế vị. Người Đàng Ngoài vì thế có câu: nghìn vị Vua băng chẳng hề làm đất nước lâm nguy nhưng một ông Chúa chết mọi người đều hoang mang, lòng dân bất an, triều chính loạn đảo.

Chỉ kể riêng vương quốc Đàng Ngoài được chia thành sáu trấn, đó là chưa tính đến vùng Cubang[23] và một phần của xứ Bowes - những vùng đất được cai quản với tư cách là những vùng mới bình định và thu phục được, nơi dân cư nói các ngôn ngữ khác với tiếng Đàng Ngoài[24]. Năm trong sáu tỉnh được cai trị bởi các vị hoạn quan rất có thế lực. Tỉnh thứ sáu được gọi là Giang[25], tiếp giáp với Đàng Trong, do một phó vương hoặc đại tướng quân cai trị, nắm giữ trong tay không dưới 40.000 quân, có quyền hành tuyệt đối và chỉ có thể bị xét xử nếu phạm trọng tội như phản quốc mà thôi. Người đứng đầu tỉnh Giang thường là một người được Chúa tin cẩn bổ nhiệm, và thậm chí gả con gái hoặc em gái cho để thắt chặt thêm quan hệ, bởi nếu người này tạo phản cấu kết với Đàng Trong thì hậu họa đối với vương quốc sẽ thật khôn lường.

Trước đây tỉnh Giang cũng do một hoạn quan trấn giữ. Tuy nhiên, sau khi viên hoạn quan này sập bẫy mưu kế của người Đàng Trong thì Chúa không bổ nhiệm thêm viên hoạn quan nào vào đây nữa. Câu chuyện đại loại thế này:

Người Đàng Trong rất ghét bọn hoạn quan và không bao giờ dùng họ vào việc gì quan trọng. Khi nghe tin viên hoạn quan vào nhận chức, người Đàng Trong bèn gửi tặng ông ta một chiếc yếm lụa làm quà, thứ mà phụ nữ hay mặc, và yêu cầu ông ta nên sử dụng thường xuyên. Hàm ý của việc này là viên hoạn quan đó gần với phái yếu hơn, chứ chẳng ra dáng một vị tướng hay một vị quan cai trị cấp tỉnh.

Mỗi quan đầu tỉnh sử dụng một số phụ tá giúp việc, thường là văn quan và những người hiểu luật để giúp ông cai trị toàn xứ đó và tham gia với ông trong những lúc thăng đường xét xử. Ngoài ra, mỗi tỉnh còn có một số công đường xét xử ở các đơn vị thấp hơn. Một trong số các công đường đó độc lập với công đường của quan đầu tỉnh và do tòa thượng thẩm Quanfo Lew[26] tại triều đình quản lý.

Những tranh chấp nhỏ như về tài sản, đất đai, nhà cửa, công nợ... được tiến hành như sau: người khiếu kiện trình bày sự việc lên người đứng đầu làng gọi là ongshaw[27]. Ongshaw tìm hiểu vụ việc rồi trình lên vị wean quan[28], người đứng đầu khoảng 20 đến 40 làng, để vị quan này xem xét và ra phán quyết để xử vụ việc. Nhưng nếu một ai đó trong vụ kiện không đồng ý với sự phán xét của vị wean quan, anh ta có thể đâm đơn lên vị foe quan[29], người đứng đầu của khoảng 80 đến 150 làng, nhờ ông ta phân xử lại. Nếu vị foe quan này đồng ý với vị wean quan thì ông ta sẽ y án. Nếu người khiếu kiện vẫn chưa hài lòng, anh ta có thể kiện lên quan tỉnh, người sẽ ra phán quyết cuối cùng. Nếu vụ kiện không có gì quan trọng lắm, thì sẽ không có thêm khiếu kiện lên trên nữa. Nhưng nếu vụ kiện liên quan đến số tiền lớn và có đòi hỏi chính đáng, người kiện có thể chuyển đơn lên Inga Haen[30], cấp công đường mà quan đầu tỉnh không có quyền can thiệp như đã nói đến ở đoạn trên. Đến cấp này thì một vị tiến sĩ, người đỗ cao nhất trong các bậc quan, thường đứng ra xử và có thể chuyển qua cho một số tòa liên quan trong thành phố. Và nếu như các bên kiện cáo vẫn theo đuổi thì sẽ tự hủy hoại lẫn nhau. Mặc cho quan tòa không thể cấm người thưa kiện trình sự việc lên một công đường khác, nhưng nếu hai công đường đều xét xử vụ việc như nhau thì người chống án sẽ bị phạt tiền hoặc phạt đòn theo quy định của luật pháp.

Những vụ xét xử đại loại như trộm cắp hoàn toàn do quan đầu tỉnh phán xét và ra lệnh phạt ngay. Tuy nhiên, những vụ liên quan đến hành hình sẽ phải gửi lên Chúa để được y án.

Kiện cáo của những người có địa vị thường được xử tại kinh đô Thăng Long, nhưng tôi không nắm được tên các công đường và quy trình xét xử diễn ra như thế nào. Tôi đoán rằng thường người ta bắt đầu với công đường Guan Key Dow, sau đó đơn được chuyển đến công đường Quan Gay Chuè. Nếu như sự việc quan trọng thì hồ sơ được chuyển lên cho Chúa. Chúa giao việc kiểm tra kỹ lưỡng hồ sơ cho Quan fo Lew - người sẽ tổ chức những cuộc họp quan trọng liên quan đến vụ án ngay trong phủ Chúa. Những người tham gia cuộc họp này bao gồm những quan lại có tiếng tăm trong vương quốc, những người từng đứng đầu các công đường lớn, hoặc ít nhất cũng là những quan lại thanh liêm, có uy tín, các Thượng thư và quan đại thần - những người này là chỗ dựa cho nền pháp luật của toàn vương quốc.

Những tranh cãi lặt vặt về đất đai, nhà cửa... trong hoặc liên quan đến kinh đô do công đường của Quan Fu Doven[31] - người quyết định cuối cùng khi có sự khác biệt về kiện cáo. Tuy nhiên, người ta có thể xin xét xử lại bằng cách gửi đơn kêu lên Quan gnue Suo, sau nữa là lên Quan fo Lew.

Những cuộc nổi loạn hoặc âm mưu chống lại Chúa v.v... do Quan fo Lew xử, sau đó quan đứng đầu kinh đô sẽ ra công báo xử tử. Quan đứng đầu kinh đô có vị trí kiểu như một viên chủ tịch phụ trách các việc khai sinh hay tử tuất và luật pháp của toàn kinh đô. Vị quan này cũng chịu trách nhiệm giải quyết các việc liên quan đến trộm cắp, giết người, xét xử và ra lệnh trừng phạt ngay lập tức mà không đợi cho bị cáo đệ đơn lên các cấp cao hơn.

Những kẻ nổi loạn sau khi đã đầu hàng được dẫn đến trước Chúa, miệng ngậm cuống rơm để bày tỏ rằng họ đã nhận ra lỗi lầm, rằng cuộc đời gian khó đã biến họ thành loài súc sinh. Tuy nhiên, trái với những gì Taverniere đã nói, những kẻ giết người thì không được tha thứ.

Luật pháp của Trung Quốc được người Đàng Ngoài sử dụng và có thể được coi là luật dân sự thành văn của họ. Những lệnh chỉ, quy chế, pháp điển... liên quan đến con người được các vị Hoàng tử và tiến sĩ nổi tiếng của vương quốc kết hợp với phong tục và tập quán địa phương để tạo nên những điều luật tuyệt vời, được cả thần dân và triều đình chấp hành một cách nghiêm chỉnh. Tất cả các điều luật đều được viết thành văn bản, tập hợp trong một số bộ sách để tạo thành bộ luật hoàn chỉnh và chính thức của vương quốc. Luật pháp của Đàng Ngoài về bản chất cũng nhân đạo hơn luật Trung Quốc, thậm chí hơn cả tư tưởng của Aristotle. Luật pháp Trung Quốc cho phép vứt bỏ những trẻ em tàn tật, dị dạng và trẻ em nữ - thật là những điều tàn nhẫn và trái tự nhiên.

Người Đàng Ngoài cũng phản đối những luật tục xấu đến bỉ ổi và kinh tởm của nước láng giềng mà tôi không tiện nói ra ở đây. Không nghi ngờ gì nữa, những người làm luật Đàng Ngoài khá uyên thâm và có tình người. Nhưng cho dù luật pháp được lập ra có tốt đến đâu thì sự nghèo khó của con người - qua thời gian, qua vô số luật gia và qua sự tăng lên hằng ngày của các quan tòa thuộc cấp - cũng dẫn nền luật pháp đó đến chỗ hủ bại. Có tiền thì tội gì cũng có thể được xóa. Chẳng mấy quan tòa không nhận đút lót.

Luật pháp - bị chính đám quan lại bội phản và làm sai lệch - đưa đất nước này đến chỗ loạn lạc và khiến người dân rơi vào trăm ngàn nỗi thống khổ. Đáng thương nhất là những người ngoại quốc vô phúc vướng vào cái mê cung luật pháp của họ, nhất là rơi vào nanh vuốt của đám hoạn quan, họ sẽ bị xử theo kiểu riêng. Người trong cuộc chắc chắn sẽ cháy túi và nếu không phát điên lên vì trăm nghìn khổ nhục đã là diễm phúc lắm rồi. Tôi đã chứng kiến rất nhiều vụ như thế này, kể cả việc bản thân đã trải nghiệm những khổ sở nói trên.

Sau khi đã nói kỹ càng về luật pháp cũng như các thủ tục tiến hành kiện cáo, tôi xin chuyển sang một vấn đề khác: chính sách của Đàng Ngoài, trong đó có sự tôn kính của thần dân dành cho vị Vua Lê, cho dù nhà Vua chẳng có mảy may quyền hành gì. Chúa thường được ca tụng là đã trung thực với lời hứa thiêng liêng rằng sẽ duy trì ngôi báu của hoàng gia cũng như gìn giữ luật pháp và thể chế của vương quốc chứ không thay đổi gì, mặc cho trong thực tế rất mâu thuẫn với việc Chúa tiếm hết quyền của Vua.

Sở dĩ có chuyện này là bởi Vua Lê được đảm bảo tiếp tục tồn tại mặc dù đã bị Chúa lột sạch quyền lực. Tôi nghĩ là chuyện này thật chẳng có ở xứ nào khác, cũng chẳng xảy ra trong lịch sử của bất kỳ một dân tộc nào. Chính trị gia ở các nước khác nghe chuyện kỳ lạ này chắc khó có thể tin được. Không phải do lo sợ đối với Trung Quốc mà Chúa đành lòng ngồi dưới Vua để không có thể lật đổ Vua. Không phải do Chúa không hiểu về quyền lực hay sự cám dỗ của hào quang vương miện bởi kể cả những kẻ không có điều kiện còn dám mơ tưởng đến. Cũng không phải Chúa xa lạ với lối hành xử của các nhà Vua chuyên chế trong các xã hội phương Đông - nơi bằng mọi cách họ đã giữ lấy quyền lực mình chiếm hữu được cho dù hành động đó làm băng hoại luật pháp và tính thiện cũng như phá vỡ các pháp điển của cả con người và đấng thiêng liêng.

Trong thực tế, chúng ta có thể nói rằng những vị Chúa Trịnh ở Đàng Ngoài khá chừng mực, không có những đặc tính xấu mà các vị bạo chúa thường có như tham vọng, tham lam, tàn ác. Một minh chứng thuyết phục cho những đặc tính này của các Chúa Trịnh là việc họ thường cất nhắc anh em mình vào các vị trí quan trọng như quan đầu tỉnh, chỉ huy quân đội... Nhìn chung, Chúa còn quá khoan dung rộng lượng trong việc giết hại anh em để phòng xa cho sự an toàn tưởng tượng của mình.

Tôi biết là chỉ có một vị bị Chúa ra lệnh đầu độc. Nhưng tôi có thể khẳng định rằng trường hợp đó là cần thiết bởi trong hoàn cảnh đó không có sự lựa chọn nào khác để đảm bảo cho tính mạng của ông. Tôi sẽ kể chuyện này trong chương sau.

Phương thức phong chức tước cho những người học hành đỗ đạt, như tôi đã mô tả ở phần trước, có thể nói là công bằng và hợp lý - một hình thức ban thưởng, đồng thời khuyến khích người dân chăm chỉ học hành.

Việc thuyên chuyển quan lại là một biện pháp tốt để chống lại những âm mưu và kế hoạch tạo phản. Nhưng chẳng có thứ chính quyền nào mà tự thân nó không có những nhược điểm cũng như ưu điểm. Với Đàng Ngoài, điểm hạn chế lớn nhất trong chính sách của triều đình là duy trì một đội quân thường trực quá lớn nhàn rỗi trong thời bình, tiêu tốn tiền của và tạo ra một gánh nặng vô cùng lớn cho người dân trong vương quốc.

Chúa không được nhanh nhạy trong việc cung cấp quân lương cho đội quân của mình, nhất là trong bối cảnh số lượng ngày một tăng, khó có thể khiến họ sống tập trung với nhau được. Vậy nên phải tìm kiếm giải pháp cho đám người đông đảo đó bởi nếu không thì e rằng sẽ gây loạn và dẫn đến những hậu họa khôn lường cho vương quốc. Một ví dụ cụ thể: trận đói năm ngoái đã cướp đi sinh mạng của khoảng hai phần ba dân số Đàng Ngoài - một số lượng nhân lực thừa sức chinh phục Đàng Trong hoặc các quốc gia láng giềng khác mà chỉ cần dùng tay không hoặc răng chứ chưa cần tới vũ khí!

Chúa đặt quá nhiều tin tưởng vào lũ hoạn quan vô dụng và như vậy là đánh đổi quá nhiều điều trái ngược với sự tốt đẹp của chính sách chung chỉ để lấy một số lợi ích nho nhỏ từ đám người này.

Có thể nói rằng tục bán quan tước cho những ai trả nhiều tiền nhất cho vị trí đó mà không thèm đếm xỉa đến năng lực của người mua tước vị là một sai lầm tai hại và là gốc rễ của một xã hội loạn lạc, nhất là với những chức tước liên quan đến pháp đình. Một khi đã bỏ ra một khoản tiền lớn để mua chức tước, người ta sẽ tìm mọi cách khai thác chuyện xét xử để thu gom lại số tiền đã bỏ ra, vậy là chẳng còn có luật pháp gì nữa.

Quân đội thường trực của Đàng Ngoài đông hơn nhiều lần mức cần thiết cho một cuộc chiến tranh tự vệ (nhiều năm về trước họ coi việc này là cần thiết) và phù hợp với thời bình. Vì nếu quân đội gây rắc rối thì vương quốc sẽ lâm nguy. Vài năm trước quân đội nổi dậy chống lệnh. Nếu như lúc đó họ tìm được một người cầm đầu thì Chúa chắc chắn sẽ hứng chịu vô vàn khó khăn và tàn phá từ đám lính hỗn xược của mình, như hoàng đế La Mã trước kia phải đối đầu với lũ cận vệ hoặc Hồi vương Thổ Nhĩ Kỳ phải đương đầu với đám vệ binh của mình. Chúa rất khéo trong việc luân chuyển binh sĩ từ chỗ này sang chỗ khác, luân phiên thay đổi người chỉ huy, đồng thời luôn tạo việc để cho chúng bận rộn mà tránh rơi vào tình trạng nhàn cư vi bất thiện. Nhưng điều tệ nhất trong chuyện này là Chúa thường dùng bọn hoạn quan làm tướng lĩnh. Có nhiều người tin rằng việc dùng hoạn quan vào những vị trí trọng yếu đó chính là nguyên nhân chính khiến Đàng Ngoài đã nhiều lần bị người Đàng Trong đánh cho thua tan tác. Tình cảnh này chắc còn diễn ra nếu lũ người bị thiến hoạn này còn được trọng dụng. Đây là một cản trở lớn trong nỗ lực chinh phục Đàng Trong - một đất nước mà dân số chỉ đáng một nhúm tay nếu ta so sánh với dân số của vương quốc Đàng Ngoài.

Người Đàng Ngoài đặt nhiều niềm tin vào bộ binh hơn vào kỵ binh và tượng binh bởi lẽ địa hình ở đây ẩm thấp, nhiều sông, suối và đầm hồ nên kỵ binh và tượng binh không hữu dụng lắm.

Quân lính Đàng Ngoài thật sự là những xạ thủ cừ khôi. Tôi tin rằng họ chẳng kém mấy ai và chắc chắn hơn hẳn nhiều dân tộc khác trong kỹ nghệ bắn súng nhanh và chính xác.

Súng kíp không phổ biến trong quân sĩ Đàng Ngoài nhưng cung tên thì được họ sử dụng một cách thuần thục đến mức phải ngưỡng mộ.

Nhìn chung binh sĩ Đàng Ngoài học binh lược từ rất sớm và rất tinh thông về vũ khí. Người Đàng Ngoài không có các giống ngựa lớn nên họ phải đành lòng cưỡi những giống ngựa nhỏ nhưng khá nhanh nhẹn.

Voi được huấn luyện để tham chiến và - trong chừng mực mà loài vật này có thể chịu đựng được - không sợ những tình huống chiến trận như lửa cháy và tiếng gầm của súng. Với pháo hoa thì voi chẳng sợ hãi gì.

Tài chính quốc gia - hay các nguồn thu của phủ Chúa - gồm các nguồn sau đây: tiền bán quan tước, tiền phạt thu được từ các quan hay từ các loại hình phạt khác, một phần mười hàng lậu, một phần lớn từ tài sản của các quan qua đời (Chúa là người thừa hưởng toàn bộ tài sản của bọn hoạn quan qua đời), thêm vào là những khoản thu bất thường như nguồn thu từ những người ngoại quốc, thương nhân (tùy theo số lượng tàu thuyền đến buôn bán), các khoản thuế thân, thuế hàng hóa và thuế buôn bán trong nước... Nói chung nguồn thu đa dạng như thế chắc chắn phải làm cho ngân khố của Chúa khá đáng kể. Tuy nhiên, bởi nguồn thu này thường là lấy chỗ này đập vào chỗ nọ nên lợi ích xã hội chẳng được là bao, thậm chí còn tệ đi bởi các nguồn thu đó đều từ mồ hôi và máu của người dân lao động hai sương một nắng và bọn người lười biếng thì ung dung ngồi hưởng thụ và bòn rút khiến sưu cao thuế nặng chẳng hề giảm bớt đi. Có thể nói, việc người Đàng Ngoài khinh miệt hoạt động thương mại và thương nhân, bỏ phí tiềm năng lớn để biến xứ sở này trở nên giàu có (vốn là điều học hỏi của mọi quốc gia có nền cai trị tốt trên toàn thế giới). Điều đó đã khiến cho người Đàng Ngoài nghèo nàn và khốn khổ.

Tôi đã bàn đến vấn đề thương mại trong chương trước nên không đi sâu thêm nữa, mà sẽ chuyển sang trình bày về Chúa Trịnh, phủ Chúa và những cận thần của ông.

❀ ❀ ❀

[1] Triều Đinh.

[2] Leedayhang: Lê Đại Hành.

[3] Libatvie: Lý bát đế? Lý bát vị? Có thể chỉ Lý Thái Tổ hoặc các Vua Lý nói chung.

[4] Trần.

[5] Nhận thức của Baron về lịch sử giai đoạn này rất lộn xộn, nhân vật Hue có lẽ là Hồ Quý Ly. Tuy nhiên, Baron hiểu rất sai về thời gian trị vì của vương triều Trần khi cho rằng chỉ vài tháng sau cuộc hôn nhân giữa Công chúa họ Lý (Chiêu Hoàng) và Hoàng tử họ Trần (Cảnh) thì nhân vật Hue đã nổi dậy tiếm quyền”. Có vẻ như Baron đã nhầm lẫn sự kiện này với việc Vua Lý Huệ Tông bị sát hại vào đầu triều Trần (?).

[6] Ý của Baron là việc nhà Minh xâm lược và đô hộ Đại Việt (1400-1428).

[7] Lee: Lê Lợi.

[8] Luetang: Liễu Thăng.

[9] Humcew: Hồng Hi.

[10] Trên thực tế là đúng 100 năm (1428-1527).

[11] Mack: họ Mạc.

[12] Theo cách mô tả của Baron thì Batshan (mà nhiều người cho là khoảng khu vực Bạch Sa ở vùng Tiên Lãng và cửa sông Thái Bình) là Dương Kinh - quê hương của họ Mạc. Sau khi giành được quyền lực họ Mạc đầu tư xây dựng vùng đất Dương Kinh thành điểm tựa quan trọng trong cuộc chiến tranh Nam - Bắc Triều chống lại triều Lê Trung hưng được hậu thuẫn bởi Nguyễn Kim và sau này là dòng họ Trịnh.

[13] Hoawing: họ Nguyễn, tức Nguyễn Kim.

[14] Tingiva: Thanh Hóa.

[15] Hoatrin: họ Trịnh, tức Trịnh Kiểm.

[16] Trịnh Kiểm mất năm 1570. Trịnh Tùng (cai trị từ năm 1570 đến năm 1623) hoàn thành sự nghiệp đánh bật họ Mạc ra khỏi Thăng Long vào cuối thế kỷ XVI. Những niên đại mà Baron đưa ra nhìn chung rất lộn xộn.

[17] Cabury: Cao Bằng.

[18] Trịnh Tùng.

[19] Chỉ Nguyễn Hoàng, em rể Trịnh Kiểm và là cậu của Trịnh Tùng.

[20] Theo cách mô tả của Baron thì lúc đó Nguyễn Hoàng đã được cử vào làm trấn thủ Thuận Hóa (từ năm 1558) và có nghĩa vụ cung cấp lương thực cho Vua Lê chống lại quân Mạc ở miền Bắc.

[21] Tức Đàng Trong.

[22] Có thể nói một cách khách quan và công bằng là Baron đã tìm hiểu khá kỹ lịch sử của Đại Việt nói chung, Đàng Ngoài nói riêng, cho dù các niên đại và sự kiện thường nhầm lẫn và lộn xộn.

[23] Cubang: Cao Bằng.

[24] Căn cứ theo bản đồ của Baron vẽ và những nhận thức của ông về xứ Bawes (vùng mới bình định, tự trị...) thì nhiều khả năng đây là vùng dân tộc thiểu số phía tây bắc (chứ không phải là Cao Miên như một số người quan niệm). Bản đồ của Baron thể hiện Bawes nằm chệch về phía tây của Cao Bằng, tiếp giáp với vùng Vân Nam (Yunnam) của Trung Quốc và vùng phía bắc nước Lào (Lawos). Hơn nữa, nếu ước lượng trên bản đồ do Baron vẽ thì khoảng cách từ Kẻ Chợ đến Cao Bằng tương đương với khoảng cách từ Kẻ Chợ đến Bawes.

[25] Tỉnh Giang trong mô tả của Baron là vùng đất phía bắc của sông Gianh ngày nay.

[26] Quan fo Lew: Quan Phủ liêu.

[27] Ongshaw: có lẽ là Ông xã.

[28] Wean quan: có lẽ là Huyện quan.

[29] Foe quan: phủ quan.

[30] Inga Haen: nha Hiến.

[31] Quan Fu Doven: Có lẽ là Quan Phủ Doãn. Các tên gọi khác mà Baron phiên âm chưa xác định rõ được cụ thể là gì.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 29 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.