Mô Tả Vương Quốc Đàng Ngoài

Lượt đọc: 90 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương XVII Về sự xa hoa trong đám tang của Chúa Đàng Ngoài

❊ ❊ ❊

Đám tang của Chúa được cử hành với sự xa hoa và lộng lẫy như cách người ta vẫn tổ chức đám tang của các vị Vua trước đây và chắc chắn quy mô vượt xa so với đám tang dành cho vị Vua hiện tại. Ngay khi Chúa qua đời, Thế tử và các đại thần cố gắng hết sức để giữ kín tin tức trong khoảng 3 đến 4 ngày bởi nếu để tin này lọt ra ngoài thì chẳng khác gì đẩy vương quốc - nhất là Kẻ Chợ - vào nguy hiểm và hoảng loạn. Tình cảnh này đã diễn ra nhiều lần vào các đời Chúa trước (nhưng đời Chúa hiện tại thì không xảy ra chuyện này) khi vương quốc chìm vào nội loạn và tàn sát lẫn nhau giữa những người con của Chúa để tiếm quyền thừa kế ngôi vị. Một lẽ dĩ nhiên là người dân xứ Đàng Ngoài sẽ hứng chịu đủ nỗi thống khổ từ những cuộc tranh chấp quyền lực này.

Việc đầu tiên người ta làm cho vị Chúa quá cố là tắm rửa cho thi hài thật sạch sẽ, mặc cho ông bảy bộ áo đẹp nhất, dâng lên cho ông thức ăn đồ uống thịnh soạn nhất. Kế đó, Thế tử kế vị cùng với các anh chị em của mình vào để khóc than cho người quá cố, lạy năm lần, khóc than thảm thiết, hỏi ông vì sao ông lại vội vã ra đi để lại đám con cháu bơ vơ trên cõi đời này, hỏi han ông xem ông cần gì để họ biết mà chu cấp... Sau đó đến lượt các quan đại thần được phép vào làm thủ tục phúng viếng Chúa. Thế tử kế vị đứng ra đáp lễ họ dù họ chẳng dám nhận. Chỉ những người này mới được phép vào trong chỗ đặt thi hài Chúa, những người khác, kể cả họ hàng xa, không được đến gần. Sau đó họ bỏ vào miệng người quá cố những mẩu vàng, bạc, hạt ngọc trai. Thi hài của vị Chúa quá cố được quàn vào một cỗ áo quan lộng lẫy được làm từ loại gỗ tốt nhất, được sơn phủ một lớp dày và đẹp. Phía dưới đáy áo quan người ta rải một lớp bột gạo [rang] và hạt dầu thơm để chống mùi hôi thối, sau đó trải một lớp thảm lên rồi mới đặt thi hài người chết. Sau khi đã liệm xong, người ta đặt cỗ quan tài ở một phòng khác, đèn nến cháy suốt ngày đêm, cơm canh được dọn lên ba bữa một ngày, vào 5 hoặc 6 giờ sáng, 12 giờ trưa và 5 giờ chiều, mọi người vào lễ, viếng và chăm sóc ông chu đáo. Những việc này được lặp đi lặp lại hằng ngày cho đến khi người ta đem thi hài người quá cố đi chôn cất.

Hoàn toàn không có chuyện xác chết được ướp để giữ 65 ngày và người dân tự do đến nhìn thi hài vị Chúa quá cố như Taverniere đã nói trong cuốn sách của ông ta. Không có chuyện sư sãi và dân chúng nghèo đói đến lấy đồ ăn cúng lễ trước thi hài người quá cố. Cũng không có chuyện các quan đầu tỉnh nhận được sắc chỉ của triều đình về việc để tang Chúa trong bao lâu bởi phong tục đã được ấn định. Theo đó người dân phải để tang Chúa cũng như Vua 24 ngày, Thế tử để tang 3 năm 3 tháng, những người con khác cùng với phi tần để tang 3 năm chẵn, họ hàng gần để tang 1 năm, họ xa hơn thì du di trong khoảng 3 tháng đến 5 tháng, quan đại thần để tang Chúa 3 năm giống như những người con của Chúa.

Tôi không hiểu ông Taverniere nói về chỗ nào trong cung điện - nơi ông mô tả là có những ngọn tháp và những nhà chuông không ngừng được gióng lên kể từ khi Chúa hoặc Vua qua đời cho đến khi thì hài được đưa xuống thuyền để đem đi chôn cất. Vào dịp cử hành tang lễ cho vị Chúa mới đây vào năm 1683[1], không một tiếng chuông nào được rung lên từ đầu đến cuối.

Khi mọi công việc chuẩn bị đã sẵn sàng, những chiếc thuyền được dùng để chở quan tài vị Chúa quá cố ghé vào điểm đỗ gần khu vực kho quân khí. Đi từ phủ Chúa ra đây không hết nửa tiếng đồng hồ chứ không phải hai ngày đường như ông Taverniere nói. Lễ tang được chuẩn bị như sau:

Một số quan lại chỉ huy vài đội quân binh mặc lễ phục toàn màu đen, mang theo vũ khí do các quan chỉ huy dẫn đường để đi trước chiếc xe quan tài của Chúa quá cố, diễu hành một cách lặng lẽ và âm thầm. Theo sau là hai người lực lưỡng cầm theo khiên và mâu, đeo mặt nạ để dọa nạt và xua đuổi ma quỷ, có nhiệm vụ mở đường cho xe tang đi theo. Theo sau đó là những đội quân nhạc mang theo nhạc cụ gồm trống, kèn, cồng... tấu lên những bản nhạc hiếu thật não nề. Tiếp đến là cờ trướng ghi những danh hiệu và chiến công vị Chúa đã đạt được trong đời - thường có xu thế ca ngợi quá những gì ông đạt được - tỉ như: Chúa là rường cột nước nhà, người vĩ đại vô song, quốc phụ tôn kính và hiếm hoi, uy vũ lưu danh... Những lời ca ngợi trên được thêu bằng chữ vàng trên những tấm vải điều hoặc thảm đỏ, đóng vào những chiếc khung lớn dài tầm 2 hoặc 3 sải thước (fathom), rộng trung bình khoảng 1 fathom[2]. Những bức trướng này được đóng vào các giá, sau đó có khoảng 20 đến 30 lính vệ binh khiêng đi theo.

Tiếp theo là chiếc khám trông như ngôi chùa trong đó có một chiếc ngai nhỏ nhưng được trang hoàng rất đẹp và hai chiếc cờ đuôi nheo. Theo sau nữa là chiếc nhà táng, hay chiếc lăng, được chạm trổ tinh xảo, sơn son thếp vàng lộng lẫy, chứa quan tài của Chúa trong đó. Không có chuyện nhà táng được đặt trên chiếc xe do 8 con hươu đực kéo như ông Taverniere nói (bởi ở xứ này hiếm khi có hươu hay hươu đực), mà do khoảng 100 hay 150 lính khiêng trên vai, đi thành đội ngũ chỉnh tề và vô cùng trật tự. Vây quanh nhà táng là rất nhiều cờ quạt, vừa để che nắng cho quan tài, vừa để phô trương cho sự xa hoa lộng lẫy.

Ngay sau nhà táng là Thế tử - người nối ngôi - và những anh em trai của ông. Họ mặc tang phục may bằng những mụn lụa thô, màu nâu - trông không khác vải bao tải của người Âu chúng ta là mấy - thắt dây thừng quanh người, rất cả đều chống gậy. Chỉ riêng Thế tử được đi giày bện bằng rơm. Tiếp theo sau là chính phi, ái nữ, các cung tần mỹ nữ của vị Chúa quá cố. Họ mặc tang phục và khăn trùm đầu may từ loại vải sô màu trắng, đi theo sau than khóc nghe thật ai oán. Tiếp theo sau là gia nhân phục vụ trong phủ Chúa, gồm các thiếu nữ và hoạn quan trẻ tuổi, tương tự như ở phía đầu đoàn lễ tang, phía cuối cùng có những đội lính mang vũ khí đi theo để canh gác. Cả đoàn tang lễ tuyệt nhiên không có ngựa, voi hay xe cộ gì như ông Taverniere nói cả, họa chăng là những hình nộm voi và ngựa làm bằng giấy hoặc gỗ để người ta mang theo đám tang hóa ở ngoài mộ.

Khi đoàn tang lễ đến bến thuyền, người ta đặt quan tài lên một chiếc thuyền sơn màu đen tuyền, tuyệt nhiên không có chạm trổ hoa văn hay trang hoàng gì cả. Khoảng 50 hoặc 60 chiếc thuyền tham dự đoàn đưa tang cũng là loại thuyền bình thường, rời bến Kẻ Chợ để đi về Tingeva (Thanh Hóa) - quê hương bản quán của dòng họ nhà Chúa. Chuyến đi kéo dài trong khoảng 5 đến 6 ngày. Chiếc thuyền chở áo quan được kéo bởi 5 hoặc 6 thuyền khác; không ai ngồi trên đó để chèo, cũng không trống kèn gì cả, bởi như thế sẽ làm kinh động đến người quá cố. Cả đoàn thuyền lầm lũi đi trong im lặng. Đến địa phận các tỉnh họ dừng ở những chỗ nhất định để quan cai trị tỉnh đó làm lễ tế và dâng lễ vật như trâu, bò, lợn. Trong lúc đưa linh cữu phụ thân về an táng tại quê nhà, vị Chúa mới hiếm khi đi theo mà ở lại kinh thành, các anh em khác của Chúa cũng ở lại, vì e ngại có âm mưu phản loạn hoặc thay đổi ngôi vị. Các chị em Chúa thì được khuyến khích đi theo đoàn tang lễ. Trọng trách tổ chức và cử hành lễ tang thường được giao phó cho một vài vị sủng thần.

Khi đoàn tang lễ về đến quê nhà, họ còn phải cử hành vô số lễ nghi theo phong tục của xứ này. Nơi chôn cất thi hài Chúa được giữ kín, rất ít người biết và chỉ những ai đã thề độc là sẽ trung thành tuyệt đối với sứ mệnh này mới biết cụ thể. Điều này hoàn toàn không phải do họ sợ mất của cải như ông Taverniere suy luận, bởi - như tôi đã mô tả ở phần trên - họ chẳng chôn theo Chúa của cải gì đáng giá ngoài mấy mẩu vàng, bạc, ngọc trai bỏ vào miệng người chết. Nguyên nhân chính là do sự mê tín của họ bởi cũng như việc bảo vệ quốc gia. Họ tin rằng hậu thế của dòng họ sẽ được thịnh đạt và sung túc nếu như tổ tiên của mình được mồ yên mả đẹp ở nơi đất tốt. Nếu như kẻ thù biết được chỗ đặt mồ mả tổ tiên của Chúa, họ sẽ dùng ma thuật để hãm hại dòng họ Chúa bằng cách chỉ cần lấy đi xương cốt của tổ phụ ngài và thay xương cốt tổ tiên nhà họ vào đó. Trong xứ này đã có khá nhiều trường hợp như thế: những kẻ khùng điên đánh tráo hài cốt những mong đổi đời và thăng tiến nhưng lại đi đến những kết cục bi thảm.

Chuyện một số quan lại và phi tần bị chôn sống theo Vua và Chúa như Taverniere nói thì thật không thể chấp nhận được vì nó hoàn toàn trái với phong tục xứ này, cũng như không phù hợp với bản tính của họ. Tôi tin rằng nếu người Đàng Ngoài biết rằng chúng ta nghĩ về họ theo kiểu man rợ như vậy, thế nào họ cũng sẽ đối xử với chúng ta một cách tàn nhẫn và khốc liệt. Tôi cũng không tìm thấy một nơi nào tên là Bodligo mà theo Taverniere nói là có cung điện và lâu đài ở đó, ngoại trừ việc phía khu vực đối diện kinh đô Kẻ Chợ, ở phía bên kia bờ sông, được gọi là Bode [Bồ đề]. Tuy nhiên, ở bên đó chẳng có lấy một cung điện hay lâu đài nào của nhà Vua cả, gần đó cũng không.

Tôi xin nói thêm đôi lời về lần giỗ vào năm thứ ba cho vị Chúa quá cố, được tổ chức vào khoảng 3 tháng trước khi đoạn tang. Lần giỗ này không chỉ được riêng dòng họ tổ chức mà còn mở rộng đối tượng ra cho các quan liêu đã từng giữ một chức vụ nào đó trong triều. Họ phải đến tham dự để tỏ lòng thành kính với vị tiên Chúa - người cha chung - của họ. Việc tổ chức như sau:

Trên bãi cát giữa sông và ngay trước kho quân khí, người ta dựng lên rất nhiều nhà tre và nhà gỗ mô phỏng các cung điện, kèm theo khoảng trống rộng rãi để làm sân vườn, với những vách phên đan trang trí lạ mắt. Chiếc lầu đặt án thờ tiên Chúa được trang hoàng đặc biệt lộng lẫy với các loại gấm vàng, lụa bạc. Các cột và chân đế được quấn bằng các loại tương tự hoặc loại vải đẹp nhập từ châu Âu, nóc phủ lụa tấm, thêu hoa, nền trải chiếu và thảm. Án thờ được trang hoàng cực kỳ tinh xảo, sơn son, mạ và khảm vàng... tiêu tốn không biết bao nhiêu tiền của, trí lực và công sức vào việc chế tạo ra nó. Việc dựng căn lầu và án thờ thì do phủ Chúa chi trả, còn các quan đại thần thì tùy theo khả năng tự mình bỏ tiền của ra ganh đua dựng các tòa lầu tang - như tôi có thể nói như vậy - vây xung quanh, cũng theo quy hoạch và hàng lối rất ngay ngắn. Các căn nhà do quan lại dựng cũng thường bằng các loại gỗ nhẹ, có cạnh vuông vào khoảng 4, 6 hoặc 8 feet[3] hoặc đường kính tròn khoảng 15 đến 20 feet, trông giống như các vọng lâu thắp đèn của người Âu chúng ta, mở cửa ra nhiều hướng với những cửa chớp, lan can, tay vịn, được chạm trổ nhiều hình họa, phủ sơn và treo những loại lụa đắt tiền hoặc các loại vải tốt. Bản thân các cấu trúc cũng được làm bằng những thanh gỗ và tấm ván mỏng, nhẹ. Mỗi quan đại thần cho dựng hai chiếc như vậy còn các quan khác dựng một chiếc, làm cho doi cát ngày thường trơ trụi là thế, nay bỗng biến thành một thành phố lộng lẫy chỉ sau khoảng 15 ngày xây dựng, trông giống như một doanh trại của nhà Vua Antiochus xưa kia[4]. Trong thời gian này dân chúng từ khắp nơi trong vương quốc đổ về đây chiêm ngưỡng những công trình nguy nga, tráng lệ này. Họ mang đến đây trưng bày đủ loại thú hoang hiếm lạ mà họ kiếm được như: hổ, gấu, khỉ đầu chó, các loại khỉ... mà họ đã bỏ công săn bắt từ trước đó nhiều ngày, thậm chí cả năm. Dân chúng nô nức kéo đến xem tất cả mọi thứ này, làm cho người ta nghĩ rằng dân chúng xứ này thật là đông đúc. Đây là dịp để họ tỏ lòng kính trọng sự hào phóng và lòng hiếu thảo mà Chúa dành cho người cha đã khuất. Nhưng khoảng 3 ngày trước khi cử hành lễ, người dân không được vào khu trại này nữa vì người ta sẽ hối hả dựng tượng của vị tiên Chúa ở ngay trước án thờ, khoác lên tượng nhiều bộ lễ phục đẹp, bày cơm canh cúng lễ và dâng lên tượng tiên Chúa những thứ quý giá như hồng ngọc, ngọc trai, vòng san hô, bình vàng, bình bạc, ấm chén, khay, cồng... tóm lại là tất cả những thứ gì đẹp và xa xỉ - những thứ mà Chúa thích và từng sử dụng lúc sinh thời. Trong sân của nhà án người ta cho dựng một công trình lớn, tương tự như cái mà ông Taverniere mô tả là cái lăng còn người Đàng Ngoài gọi là anja Tangh[5]. Để làm được công trình này người ta phải tiến hành từ năm hoặc sáu tháng trước đó, dưới sự giám sát của 3 hoặc 4 vị đại quan. Công trình này gồm ba hoặc bốn tầng, cao khoảng 40 feet, dài khoảng 30 feet và rộng chừng 20 feet. Vật liệu để dựng là loại gỗ ván mỏng và nhẹ để có thể chuyển đi được. Các phần được ghép với nhau bằng mộng để có thể lắp gá vào và tháo rời ra dễ dàng. Bộ phận đáy được đặt trên bốn bánh, sau đó các phần còn lại được lần lượt chồng lên bằng các dụng cụ mà đám thợ mộc thường sử dụng để thao tác với các súc gỗ nặng. Những hoạt cảnh trang trí rất đẹp, tỉ mỉ, chính xác và hào nhoáng được tô điểm những bức chạm trổ và sơn thếp, hoa vẽ, sơn son thếp vàng hết sức phong phú và tốn kém, kèm theo đó là những sáng tạo nghệ thuật nhỏ nhặt và xinh đẹp như ban công, cửa sổ, cửa chính, cổng vòm... làm cho công trình càng lộng lẫy. Người ta đặt lên cái ngai vàng uy nghi đó một bức tượng khắc về vị tiên Chúa, sau đó tất cả đều được đốt để hóa đi cùng với những thứ khác.

Vào ngày cuối cùng của ba ngày chuẩn bị như đã nói trên, Chúa và gia quyến đến khu hành lễ từ sáng sớm, hai bên đường binh lính xếp hàng dài. Chúa được tháp tùng bởi đội thân binh, theo sau là các đại thần. Phần lớn ngày hôm đó Chúa khóc than, lễ bái, hiến tế, dâng lễ vật lên người cha quá cố của mình. Đến đêm, các loại đồ ăn thức uống được đem chia hết cho đám binh sĩ và những người phục dịch.

Một số thú hoang bị đem dìm chết để linh hồn của chúng có thể đi theo hầu hạ tiên Chúa ở thế giới bên kia. Số còn lại được phóng sinh.

Khoảng 10 giờ, người ta đem một số lượng rất lớn hình nộm các loài thú như ngựa, voi, gia cầm làm bằng giấy bồi... hóa ngay tại sân gần chỗ dựng chiếc lăng nhiều tầng. Chúa và quan lại lạy tượng của vị tiên Chúa. Các vị thầy pháp, Thay Phou Thivee[6] thi nhau đọc, hát, nhảy múa, biểu diễn những trò cổ điển, thể hiện những tư thế có thể làm kinh hãi mọi người, hoặc ít nhất cho đám đông thấy họ thực sự có bị ma quỷ ám hoặc đang bị điên dại. Quãng ba giờ sáng người ta cho phóng hỏa đốt hết toàn bộ khu vực này. Chúa về nghỉ ngơi, không quên mang theo mình những đồ lễ vật quý như vàng, bạc, ngọc trai, đá quý... đặt lễ tại án thờ dựng ngoài bãi sông. Quan lại cũng lục tục thu dọn lễ vật quý của mình như vàng bạc rồi ra về, để lại sau lưng khu lán trại rực cháy. Gió thổi tung đám tro lên, cuốn về những hướng khác nhau, chỉ rất ít hoặc chẳng còn gì được đem đến những nơi đã chỉ định.

❀ ❀ ❀

[1] Tức tang lễ Chúa Trịnh Tạc.

[2] Fathom: sải, đơn vị đo lường (thường là đo độ sâu của nước), tương đương 1,8 mét. Kích cỡ khung các bức trướng mà Baron mô tả sẽ tương đương 3,6 hoặc 5,4 mét chiều dài và 1,8 mét bề ngang.

[3] Foot (feet): bộ, đơn vị đo lường, tương đương với 30,48cm.

[4] Antiochus hay Antiochus III được gọi là Đại đế, hoàng đế xứ Sirya ở thế kỷ III TCN.

[5] Anja Tangh: có thể là án táng hay nhà táng.

[6] Thay Phou Thivee: Thầy Phù thủy.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 29 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.