Địa hình xứ Đàng Ngoài phần lớn thấp và bằng phẳng, không khác xứ Hà Lan là mấy, nhất là những con kênh mương và hệ thống đê điều. Rừng núi tạo thành biên giới của vương quốc ở các hướng tây, bắc và nam. Một dòng sông đặc biệt lớn tưới tiêu cho vương quốc, sau đó chia thành nhiều nhánh để đổ ra biển, các nhánh đều thuận tiện cho các thuyền nhỏ đi lại. Trên sông có nhiều tàu thuyền ngược xuôi, làm lợi rất nhiều cho thương nhân. Quả thực ở Đàng Ngoài không thấy trồng lúa mạch hay nho để làm rượu vang. Lý do không phải do thiếu mưa bởi những giống này cần đất khô hơn là đất ướt, mà bởi người Đàng Ngoài không mặn mà do thiếu hiểu biết về ưu điểm của chúng nên không trồng. Thóc gạo tất nhiên là lương thực chính của người xứ này; vương quốc Đàng Ngoài sản xuất một lượng lớn loại lương thực này. Giá như cây lúa có thể phát triển nhờ mưa trong các tháng Sáu và Bảy, chúng ta đã không phải trải qua những thời khắc buồn rầu trong những trận đói khủng khiếp giết chết hàng triệu sinh linh trong hai năm vừa qua.
Từ gạo, người ta cất được một loại đồ uống gọi là rượu. Tuy nhiên, thứ rượu này còn kém xa loại rượu cốt. Chiếc cày và cách sử dụng của người Đàng Ngoài học theo lối người Tàu, như được mô tả trong lịch sử Trung Quốc. Họ đạp lúa bằng chân, trông thật điệu nghệ.
Các loại hoa quả Đàng Ngoài cũng ngon như tại nhiều xứ khác ở phương Đông, riêng cam thì ngon hơn hẳn các loại cam mà tôi từng thử. Loại cây mà Taverniere gọi là cọ thực ra là cây dừa, có cùi trắng và vị như quả hạnh nhân. Giống cây này rất phổ biến ở Xiêm, nơi quả được ép để làm ra dầu. Loại dầu này được các tàu buôn mang đi bán cho dân các nước lân cận để thắp đèn. Nước dừa mát và dễ uống, nhưng nghe nói rất hại thần kinh. Quả thật dừa là giống cây có lợi bậc nhất xứ Ấn Độ, dùng làm thực phẩm, quần áo, chất đốt, xây dựng...
Ổi là thứ quả Taverniere mô tả đúng, nhưng ông lại không đúng khi nói về công dụng của nó bởi dù xanh hay chín ổi đều dễ gây táo bón, nên chẳng mấy ai ăn ổi xanh.
Đu đủ có hình dáng như dưa bở, ăn có vị chứ không đến nỗi khó chịu.
Cau, người Mã Lai gọi là penang, là giống cây mọc thẳng đứng, không có cành, ngọn trùm ra như vương miện, quả cau to như quả trứng bồ câu. Phần lớn người Ấn nhai cau với một thứ lá mà người Bồ Đào Nha gọi là beetle (trầu) còn người Mã Lai gọi là sera. Thức nhai này làm dịu hơi thở, chắc răng, phấn chấn tinh thần; nhai rồi nước trầu có vị đỏ. Trầu phổ biến đến nỗi người ta không thể tiếp đón bạn bè mà không có đĩa trầu để mời. Người Đàng Ngoài cũng như người Xiêm và người Mã Lai, sẵn sàng nhịn một phần ba bữa ăn để mua trầu. Quả sung được người Đàng Ngoài gọi là hungs, vị như cà rốt nhưng êm hơn cà rốt, chẳng giống vị quả vả ở châu Âu chút nào.
Một thứ quả khác là chuối, Taverniere gọi nó là quả sung Adam, dài độ gang tay, có khi ngắn hơn.
Dọc đường cái quan ở xứ Đàng Ngoài có nhiều những rặng cây lớn và những hàng quán bán trầu và nước trà, thật tiện lợi cho lữ khách. Những rặng đa lớn có tán che mát cho cả ngàn người đi đường. Tôi không thể phê phán Taverniere về điểm này, chỉ nói thêm rằng những rặng cổ thụ tôi nhìn thấy ở các xứ Swallow, Mareene, Surat có kích cỡ lớn hơn nhiều.
Xứ Đàng Ngoài có nhiều quả vải mà người địa phương gọi là bajay, sinh trưởng chủ yếu trong phạm vi từ vĩ độ 20° đến vĩ độ 30° bắc. Quả vải mọc trên cây cao, lá tựa như lá nguyệt quế, quả mọc trên cành trông như hằng hà vô số trái tim, độ to nhỏ khác nhau nhưng trung bình như quả trứng. Vải chín có màu đỏ thẫm, vỏ xù xì nhưng mỏng và dễ bóc, cùi mọng có nước trắng. Vải chín có vị ngon tuyệt chính vụ vào tháng Tư và không kéo dài quá 40 ngày. Lúc đó một vị tướng quân sẽ mang theo lệnh chỉ đến dán vào những cây nhãn ngon nhất vùng, không kể chúng thuộc về ai. Chủ nhân của những cây nhãn bị đánh dấu này không chỉ không được hái ăn, mà còn có nghĩa vụ trông nom không để người khác xâm phạm, nếu không sẽ bị triều đình xử tội. Triều đình chẳng bố thí cho những chủ nhân tội nghiệp này lấy một xu.
Nhãn, hoặc lungtung (nghĩa chữ Hán là trứng rồng)[1], được trồng nhiều ở xứ này. Cây nhãn tựa như cây vải, cùi nhãn trắng và vị dịu, quả nhãn tròn và nhỏ hơn quả mận bé, vỏ không xù xì và có màu ôliu nhạt tựa lá úa. Người Đàng Ngoài thích vị ngon ngọt của nhãn, nhưng cho rằng thứ quả này nóng và không lành. Mùa nhãn chín là tháng năm, kéo dài đến tận tháng Bảy.
Quả na, người Bồ Đào Nha gọi là annona pampelmoor, cũng như hai hoặc ba loại mận và các loại quả khác của vùng Đông Ấn (ngoại trừ sầu riêng vốn chỉ ưa khí hậu nóng từ Xiêm đến Mã Lai, Malacca, Java...) đều có ở Đàng Ngoài. Nhưng thứ quả ngon nhất mà tôi từng được nếm ở xứ phương Đông này là quả jaca, hay quả myte (mít) ở xứ Đàng Ngoài. Tôi cho rằng đây là thứ quả lớn nhất thế giới mà tôi từng thấy. Và cũng bởi độ lớn của nó mà thiên nhiên đã biết tiên liệu để đặt nó ở trên thân cây chứ không phải trên cành vì e ngại rằng cành cây chẳng thể mang nổi nó. Khi còn xanh vỏ mít rất rắn, nhưng khi chín vỏ ngả màu vàng và có thể dễ dàng cắt bằng dao. Mít cũng có vài loại nhưng loại ngon nhất là loại có múi khô, khi ăn không bị nhựa dính vào tay và vào môi[2]. Phần lớn mít có nhựa dính, cùi màu vàng bọc hạt, hạt nằm trong lỗ nhỏ. Những người nghèo luộc hoặc rang hạt mít để ăn, vị gần như hạt dẻ ở ta, nhưng nghe nói vô cùng có hại cho phổi.
Taverniere kể tỉ mỉ về một loài chuột hiếm ở đây, gồm nhiều loại khác nhau, nhưng vì tôi chưa dự một buổi tiệc nào có loại thức nhắm này nên không thể đánh giá về độ khoái khẩu của nó. Tôi biết người Bồ Đào Nha ăn thịt chuột để trị một số bệnh.
Sản vật đáng lưu ý tiếp theo là yến sào, được người vùng Đông Ấn ngưỡng mộ, có giá rất cao và được đánh giá Là loại thức ăn bổ dưỡng và có tác dụng kích dục. Tôi chắc chắn rằng Taverniere đã sai lầm lớn khi cho rằng yến sào chỉ có thể được tìm thấy tại 4 hòn đảo A, B, C, D thuộc Đàng Trong. Tôi không biết các hòn đảo nói trên và cũng không thấy một tổ yến nào ở đó cả. Loài chim yến sản sinh ra yến sào nhỏ hơn loài chim nhạn, hình dáng và kích thước tổ yến thì đúng như Taverniere đã mô tả. Một lượng lớn yến sào được thu hoạch tại Jehor, Reho, Pattany[3] và các tiểu quốc vùng Mã Lai. Taverniere thật hoang đường khi nói rằng yến sào tỏa ra mùi thơm khi đun nấu. Người ta ngâm các tổ yến vào nước ấm hai tiếng đồng hồ, xé thành các sợi càng nhỏ càng tốt, sau đó chỉ cho một ít nước vào và đem hầm với các món vịt, chim câu hoặc các loại thịt khác. Sau khi hầm chín yến sào tan ra thành một thứ nước sền sệt, không mùi không vị.
Bởi tấm bản đồ của ông Taverniere có quá nhiều sai sót, tôi không hiểu và cũng chưa từng nghe đến các hòn đảo được ký hiệu 1, 2, 3, 4, 5 nơi có vô số rùa. Người Anh chúng ta ai cũng biết đến vị ngon của loài rùa trong những chuyến tàu về châu Âu. Thế nhưng, việc Taverniere nói rằng người Đàng Trong và Đàng Ngoài không thể hài lòng với sự thịnh tình của bản thân trong các buổi tiệc tùng nếu như họ chưa thết đãi bạn bè món rùa thì quả thật là hoang tưởng. Khi chúng tôi ở trạm thuế quan trên đảo Tevan Bene (mà người Hà Lan gọi là đảo Kẻ Cướp), người ta mang đến bán một con rùa nặng chừng 20 pound[4] nhưng những người Đàng Ngoài ở đó chẳng thèm để ý đến loại đồ ăn này. Khi tôi trên đường từ Xiêm sang và dừng lại ở Cù lao Ubi[5], những thủy thủ đồng nghiệp của tôi mua lên tàu cùng một lúc 5 hoặc 6 con rùa to. Những người Đàng Ngoài đi cùng chúng tôi - những người buộc phải làm thuê cho chúng tôi để thoát khỏi nạn đói khủng khiếp đang hoành hành xứ Đàng Ngoài lúc đó - chẳng thèm ngó ngàng đến món rùa. Tôi cũng không biết rõ liệu có chuyện buôn bán rùa ở đây hay không, vậy nên rất lấy làm nghi ngờ về lời khẳng định của Taverniere rằng đã có những xung đột giữa các vương quốc ở đây liên quan đến chuyện đánh bắt rùa.
Xứ Đàng Ngoài không có nhiều loại dứa. Quả chanh mà Taverniere mô tả không hoàn toàn to như giống chanh ở châu Âu, lúc còn xanh có màu xanh và lúc chín thì ngả màu vàng.
Người Đàng Ngoài sản xuất ra nhiều tơ lụa đến nỗi cả người giàu và người nghèo đều có thể mua để may quần áo. Giá tơ lụa rẻ tương tự như mặt hàng vải bông thô vậy.
Nói về loại hoa có mùi hương thơm ngọt, cho dù không phải là người trồng và bán hoa thì tôi cũng biết ít nhất hơn hai loài hoa ở xứ Đàng Ngoài. Nhưng thứ hoa mà Taverniere gọi là bayne thì tôi không chắc chắn lắm. Thứ nhất, có một loại hoa hồng màu trắng phơn phớt hồng. Tiếp đến là loài hoa hồng có màu đỏ lẫn với sắc vàng. Các giống hồng này được trồng thành khóm, không có gai cũng chẳng có mùi thơm.
Có một loại hoa chỉ có nụ, trông giống như loài bạch hoa nhưng có kích cỡ nhỏ hơn, mùi hương tương tự những loài hoa khác mà tôi biết và có thể giữ hương khoảng nửa tháng cho dù đã bị hái khỏi cành. Các cung nữ thường dùng mùi hương này để xông xiêm y của họ.[6]
Giống hoa huệ trồng ở đây cũng như một số vùng thuộc Ấn Độ có hình dáng tựa như loài hoa huệ ở châu Âu nhưng kích cỡ nhỏ hơn nhiều. Hoa có màu trắng, mọc trên thân cây cao, trông rất ưa nhìn, dù không được thơm lắm.
Ở Đàng Ngoài có một loài hoa nhỏ màu trắng tuyết, mọc trên khóm thấp, hương thơm tựa hoa nhài nhưng mùi thơm mạnh hơn. Ở xứ Ba Tư có rất nhiều, người ta chiết xuất để lấy nước thơm và xuất khẩu ra bên ngoài qua các thuyền buôn. Người Đàng Ngoài không chuộng loài hoa này lắm nên tôi cũng không bàn thêm.
Mía được trồng rất nhiều ở Đàng Ngoài. Bản thân người Đàng Ngoài không giỏi về kỹ thuật tinh chế đường mà vẫn sản xuất theo lối riêng của họ để phục vụ tiêu dùng. Người ta không ăn đường sau bữa cơm như Taverniere mô tả mà vào các dịp nhất định.
Ở Đàng Ngoài có hổ và hươu đực nhưng số lượng không nhiều. Khỉ thì nhiều vô kể. Bò, lợn, gà, vịt, ngỗng thì nhiều không kể hết. Ngựa xứ Đàng Ngoài nhỏ nhưng dũng mãnh và nhanh nhẹn. Không phải là người ta không dùng ngựa để cưỡi mà chỉ để lấy thịt. Ngựa rất hữu dụng cho nhiều công việc.
Voi được huấn luyện cho mục đích chiến trận và không to đến mức kỳ lạ như Taverniere mô tả bởi tôi đã chứng kiến những con voi to hơn nhiều ở Xiêm. Chúng cũng chẳng khéo léo hơn những con voi xứ khác, được huấn luyện biết quỳ xuống để quản tượng trèo lên.
Ở Đàng Ngoài có rất nhiều mèo nhưng lại ít những con mèo bắt chuột giỏi. Khiếm khuyết này được bổ sung bởi loài chó, nhất là những con chó nhỏ bắt chuột rất nhanh nhạy.
Các loài chim không nhiều nhưng lại rất nhiều giống hoang cho các tay thợ săn.
Vùng ven biển và trong thành phố có rất nhiều muỗi. Ở nông thôn ít có vấn đề với muỗi hơn. Nếu muốn xua muỗi thì người ta phải xông khói phòng ở, hoặc nằm màn làm bằng loại lụa mỏng. Gió mùa Đông Bắc xua đàn muỗi đi và người dân được yên ổn trong một khoảng thời gian ngắn.
Những mô tả của Taverniere về kiến trắng rất chính xác. Loài côn trùng này thật ghê gớm. Ở Xiêm chẳng có nhà nào thoát nạn kiến trắng. Vì thế thương nhân buộc phải làm các thùng kiểu như nhà táng để chứa hàng, sau đó bôi dầu vào chân để xua kiến vì kiến vốn sợ mùi dầu.
Taverniere mô tả đúng về việc ngâm muối trứng gà hoặc vịt nhưng những quả trứng muối này chỉ được dùng để làm nước sốt[7].
❀ ❀ ❀
[1] Long nhãn (?).
[2] Ý của S. Baron là loại mít dai, để phân biệt với giống mít mật thường nhão và nhiều nước.
[3] Jehor, Reho: nay thuộc Indonesia; Pattany (hoặc Patani): nay thuộc miền Nam Thái Lan.
[4] Pound: đơn vi đo lường Anh, nặng tương đương 454 gram.
[5] Pulo Ubi: Cù lao Ubi, một hòn đảo nhỏ nằm trong vịnh Thái Lan.
[6] Theo mô tả của Baron thì nhiều khả năng đó là hoa nhài.
[7] Dầm nước mắm (?).