Người Đàng Ngoài rất hiếu học vì đây là con đường để đạt được quyền lực và vinh hiển. Đây là động lực khiến người Đàng Ngoài miệt mài và chăm chỉ học hành. Nhưng cũng như ở nhiều nơi khác, sĩ tử đỗ đạt hay thất bại phụ thuộc vào nhiều nhân tố, nhất là liệu họ có trí nhớ tốt hay không bởi nghiệp học ở đây và thứ chữ tượng hình rất cần có trí nhớ tốt. Mỗi chữ là một nghĩa nên cần phải có trí nhớ tốt để thuộc lòng các chữ. Do vậy nên có người đỗ đạt sau mười hai hoặc mười lăm năm sôi kinh nấu sử; nhưng cũng có kẻ hai lăm hoặc thậm chí ba lăm năm đèn sách mà vẫn lận đận, thậm chí có người chẳng thể đỗ đạt dù tiêu tốn cả đời mình vào nghiệp học hành.
Khi người học cảm thấy tự tin về khối kiến thức của mình họ sẽ đăng ký dự thi. Ở Đàng Ngoài người học không bị buộc phải học cũng như không hạn chế tuổi tác với người đi thi. Họ cũng không có các trường công để dạy học. Các bậc phụ huynh tự chọn cho con mình một người thầy mà họ nghĩ là tốt và tự trả công dạy dỗ cho thầy.
Việc học của người Đàng Ngoài không đơn thuần có kiến thức về chữ nghĩa - như kiểu người Âu chúng ta. Họ không am hiểu nhiều về triết học phương Tây mà học theo ông Congtu[1] của nước Tàu, người sáng lập ra các kiến thức nghệ thuật và khoa học. Khổng Tử chỉ viết ra duy nhất một trước tác, nhưng biên soạn thêm bốn cuốn sách khác trên cơ sở tập hợp kiến thức từ các nhà triết học cổ đại Trung Quốc, luận chủ yếu về châm ngôn, lý luận chính trị, đạo đức, lễ nghĩa... Các nguyên tắc của Khổng Tử rất phù hợp với những quy tắc cai trị của nhà nước cũng như các quy định về hành vi cư xử của con người. Những cuốn sách này được tập hợp lại thành bộ Tứ Thư. Bộ Tứ Thư cùng với năm cuốn sách khác nữa mà trước đây tôi đã nhắc đến hợp thành một bộ chín quyển[2]. Đây là bộ sách cổ nhất và với danh tiếng của nó không một người Đàng Ngoài chấp nhận điều gì trái với nội dung bộ sách này cả. Bộ sách này không chỉ là nền tảng của học vấn cho người Trung Quốc và người Đàng Ngoài mà còn cho cả người Nhật Bản, dù có một số dị biệt không đáng kể.
Bộ sách trên chứa đựng phần lớn số lượng Hán tự vốn có, phần lớn trong số đó không dễ dàng có thể hiểu được. Người ta tính toán rằng có khoảng 90.000 đến 100.000 chữ. Tuy nhiên, người bình thường chỉ cần học đến 12.000 hoặc 14.000 chữ là có thể đọc thông viết thạo.
Người Đàng Ngoài hoàn toàn không biết về triết học tự nhiên, cũng không giỏi về toán học và thiên văn học. Tôi không hiểu về thơ ca của họ, còn âm nhạc thì tôi thấy chẳng có gì hấp dẫn và du dương cả. Vậy nên tôi không hiểu ông Taverniere dựa vào đâu mà dám kết luận rằng người Đàng Ngoài giỏi nhất xứ phương Đông trên lĩnh vực nghệ thuật.
Quay trở lại vấn đề người học, nếu muốn có được vị trí và phẩm tước (tôi không nói về những người thuộc tầng lớp quý tộc, còn với những người có học thì học vị sẽ bị mất đi sau khi người đó chết chứ không được truyền lại cho con cháu) thì người đó phải đỗ ba kỳ thi. Trước hết là đỗ singdo, tương đương với tú tài ở châu Âu chúng ta. Cấp thứ hai là đỗ hung-cong[3], ngang với cử nhân ở ta. Cuối cùng là Tuncy, tương đương với bằng tiến sĩ ở bên ta.
Trong số những người đỗ tiến sĩ, người ta chọn ra một người đỗ trungiveen[4], kiểu như chủ tịch hay giáo sư vậy.
Việc lựa chọn người đỗ đạt được tiến hành một cách công bằng đáng ca ngợi nhất. Trong mọi việc khác có thể bị chi phối bởi tệ hối lộ, thiên vị, tình cảm cá nhân, nhưng việc ban cấp những học vị này thì người ta thực sự tôn trọng giá trị của con người. Và không ai có thể đỗ đạt nếu không thực sự xứng đáng và phải trải qua những kỳ khảo thí đầy ngặt nghèo và nghiêm minh nhất.
Phương thức tổ chức vòng thi để chọn sinh đồ như sau: Theo thông lệ ba năm một lần Vua và Chúa lựa chọn hai hoặc ba vị tiến sĩ cùng với một số giám quan có bằng hương cống để lập thành hội đồng khảo thí ở tỉnh được chọn tổ chức (họ tổ chức luân phiên tại các tỉnh khác nhau). Trong quá trình tổ chức, những người trong hội đồng khảo thí không được phép bắt chuyện cũng như nhận hối lộ từ các sĩ tử. Sĩ tử đến trường thi được chỉ định một ngôi nhà tranh vách đất, ngăn cách nhau bởi những tấm phên thành chỗ làm bài. Các vị tiến sĩ được tách riêng ra khỏi các vị giám quan và ở trong một căn phòng riêng, không trao đổi với nhau suốt quá trình làm việc. Các cửa đều được canh gác kỹ càng trong khi mọi ngõ ngách đều được khám xét để truy tìm những tài liệu mang vào trái phép. Sĩ tử nào bị phát hiện vi phạm quy chế trường thi không chỉ bị trừng phạt nặng mà còn bị truất đi phẩm tước.
Vào buổi sáng của ngày thi các sĩ tử đến trường thi. Ở đó quan giám thị sẽ mang đến cho họ đề bài gồm khoảng năm hoặc sáu câu được viết theo lối đại tự để mọi sĩ tử đều nhìn thấy rõ. Sau khi đã xong phần đề thi, giám thị lại lục soát để kiểm tra xem có sĩ tử nào mang tài liệu vào phòng thi hay không. Sau đó giám thị đứng giám sát cặn kẽ để không ai có thể đến nhắc bài cho sĩ tử.

Phương thức thi tuyển của người Đàng Ngoài
Nguồn ảnh: A Description of the Kingdom of Tonqueen, Samuel Baron, 1685
Sĩ tử ngồi chăm chú làm bài và trước khi trời tối phải nộp bài. Mỗi bài thi không dài quá 24 mặt giấy, kèm theo một tờ phách ghi tên tuổi, họ tên cha mẹ, quê quán của sĩ tử. Các vị tiến sĩ sau đó đánh số phách và giật tờ phách cất đi để chấm bài cho công minh. Bài thi được xếp theo tỉnh và theo làng.
Sau khi hoàn thành việc làm phách, toàn bộ bài của sĩ tử được chuyển cho các quan giám khảo (trong khi đó tờ phách được một vị quan khác mang đi cất giữ cẩn mật). Quan giám khảo loại đi những bài kém, chọn những bài tốt để gửi lên cho các tiến sĩ. Các vị tiến sĩ chấm chặt chẽ và loại thêm nhiều bài kém chất lượng cho nên nhiều khi cả 4.000 hoặc 5.000 bài chỉ chọn được khoảng 1.000 bài qua được vòng loại thứ nhất, vòng thứ hai không quá 500 và vòng chấm cuối cùng chọn ra khoảng 300 người đỗ sinh đồ. Tám đến mười ngày sau tên những người đỗ được thông báo và họ sẽ chuẩn bị để bước vào kỳ thi thứ hai. Những người không thấy tên mình trong danh sách đỗ thì không cần ở lại làm gì bởi họ chẳng được phép dự thi vòng tiếp theo. Kỳ thi thứ hai và kỳ thi thứ ba cũng được tổ chức tương tự như kỳ thi đầu, tuy nhiên khó hơn nhiều. Điểm khác là kỳ thứ hai đề ra ba câu, sĩ tử làm mười hai mặt giấy còn kỳ cuối cùng đề ra hai câu, sĩ tử làm tám mặt giấy. Tất cả những ai đỗ kỳ thi thứ nhất đều được gọi là sinh đồ hay tú tài, từ nay về sau được miễn nửa số thuế phải đóng và được ban cho một số quyền lợi nhỏ khác.
Kỳ thi chọn đỗ hương cống được tiến hành trên cơ sở những người đã đỗ kỳ thi sinh đồ, số lượng nhiều hay ít tùy vào nhà Vua. Kỳ thi cũng được các quan giám khảo nói trên tổ chức thi và chấm cùng địa điểm với lần thi trước. Nếu vượt qua các kỳ thi này họ sẽ trở thành hương cống hay cử nhân. Việc tổ chức thi cũng tương tự như lần trước, riêng giám khảo và sĩ tử bị giám sát chặt chẽ hơn và các sĩ tử không được phép nói chuyện hoặc trao đổi với nhau (trong thực tế họ bị xếp ngồi cách nhau đủ xa trong quá trình làm bài). Trong lúc thi những người đã đỗ hương cống trong kỳ trước bị rời khỏi địa bàn tổ chức thi và về tập trung ở kinh đô, nơi họ bị giám sát nghiêm ngặt và không được phép rời đi cho đến khi kỳ thi kết thúc. An ninh đối với những hương cống đỗ kỳ trước cũng được thông báo đến quan tri phủ các tỉnh để đảm bảo họ không gian lận thi hộ cho người khác.
Đề thi là ba câu trích từ sách của Khổng Tử và thêm bốn câu nữa trích từ những cuốn sách của các học trò của ông. Bài làm của thí sinh phải trả lời nhiều chủ đề, thể hiện một lối văn phong trang trọng và tao nhã, càng hùng biện và càng súc tích càng hay.
Những bài làm kém bị loại còn bài làm tốt được chuyển lên cho các tiến sĩ chấm. Các tiến sĩ sẽ chọn ra những bài tốt nhất để lấy đỗ. Người đỗ đạt được xướng danh một cách trang trọng, được hưởng nhiều quyền lợi hơn những người chỉ đỗ sinh đồ. Ngoài ra họ còn vinh dự được vào triều đình để nhà Vua ban thưởng cho khoảng 1.000 đồng tiền, tương đương khoảng 1 đô-la, và một tấm vải đen, trị giá khoảng 3 đô-la để may áo mũ.
Bằng cấp thứ ba, cũng là bằng cuối cùng, được gọi là tiến sĩ, tương đương với học vị tiến sĩ ở châu Âu. Kỳ thi này được tổ chức tại kinh đô theo định kỳ bốn năm một lần. Nơi tổ chức thi là một cung điện đẹp lát đá hoa cương, đẹp nhất trong vương quốc, nhưng qua thời gian đến nay đã bị hư hại nặng. Chỉ những người đỗ hương cống hạng ưu mới được phép tham dự kỳ thi này và số người đỗ cũng rất ít. Đích thân nhà Vua tham gia giám khảo, cùng với các Hoàng tử, các vị tiến sĩ nổi tiếng và những vị quan tòa. Phương thức tổ chức cũng tương tự như hai kỳ trước chỉ khác là câu hỏi nhiều hơn, khó hơn, và chuyên sâu hơn, liên quan đến các vấn đề hóc búa như đạo đức, chính trị, luật dân sự, thi ca và phép tu từ. Tất cả các thí sinh dự thi làm bài viết, qua bốn vòng và trong khoảng thời gian 20 ngày. Ai qua kỳ thi này thì được lấy đỗ tiến sĩ. Vòng thi này chẳng dễ dàng gì bởi thí sinh phải nhớ làu làu từng câu từng chữ trong bộ Tứ Thư.
Sau khi nhận đề các sĩ tử ngồi làm bài trong một cái lều tre che vải (được dựng lên cho mục đích khảo thí) từ sáng đến tối và bị giám sát gắt gao để đảm bảo rằng họ chỉ có bút lông, mực tàu và giấy thi. Hai vị tiến sĩ ngồi dưới lọng ở vị trí dễ quan sát để theo dõi các thí sinh làm bài. Các thí sinh phải trải qua bốn lượt thi trước khi có thể trở thành tiến sĩ. Vua và Chúa đến dự hai ngày đầu một cách trang trọng, sau đó giao việc tổ chức tiếp cho các vị Thượng thư. Những người đỗ được bạn bè chúc tụng, công chúng tung hô, và được các bậc đồng liêu tôn vinh với những lời lẽ đầy khen ngợi. Vua ban tặng cho họ một nén bạc trị giá tầm 14 đô-la, một tấm lụa kèm theo quyền quản lý và thu thuế một số làng (nhiều hay ít tùy theo sự màu mỡ của vùng đó). Người làng chi tiền làm tiệc mừng một vài lần. Những người đỗ tiến sĩ được bổ vào các vị trí pháp quan và thường được phái đi sứ ở Trung Quốc. Họ được phép mang hài, quần áo và mũ kiểu Tàu.
Những hương cống không đỗ kỳ thi Đình có thể tiếp tục tìm kiếm vận may ở lần thi sau. Nếu không họ có thể nhận một chức pháp quan hoặc nhận chức quan quản lý một làng...
Sinh đồ cũng được quyền lợi tương tự. Những người không muốn học lên nữa có thể tìm kiếm công việc làm cho các quan tri phủ, trong các đơn vị tư pháp, thư lại... Những chức quan cần viết giỏi hơn là nói hay.
Trong những năm tháng ở Đàng Ngoài quả thực tôi chưa thấy có chuyện người dân ở đây giỏi nghề làm pháo hoa và cũng không thấy các loại khác ngoài kiểu pháo ném. Loại máy móc giúp thay màn diễn cũng tuyệt nhiên không thấy có ở Đàng Ngoài như ông Taverniere nói.
Người Đàng Ngoài không giỏi về chiêm tinh học, hình học và các ngành toán học. Tuy nhiên, họ khá thạo về số học. Đạo đức của họ rối rắm và không theo phương pháp chuẩn như ngành logic học.
❀ ❀ ❀
[1] Congtu: Khổng Tử.
[2] Ý của Baron là bộ Ngũ Kinh gồm năm cuốn: Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch và Kinh Xuân Thu.
[3] Hung-cong: hương cống.
[4] Trungiveen: trạng nguyên.