Hắn lết tới chỗ bảng điều khiển trên tường và tắt vội cái máy điều hòa nhiệt độ. Hắn đẩy toang một cánh cửa sổ và hít lấy hít để bầu không khí nóng nực, oi bức từ dưới đường bốc lên. Ở một xó xỉnh nào đó trong tâm trí, hắn tự hỏi sao mình lại đi cảm kích cái thứ không khí mà chỉ vài phút trước thôi hắn còn thấy hành xác đến phát điên. Nhưng hắn ngẫm lại, đời vốn là thế. Và đó cũng là một kiểu đời ngớ ngẩn hết chỗ nói, hắn tự nhủ mà chẳng chút bực dọc.
Chỉ vài phút sau, tinh thần đã khá hơn đôi chút, hắn rời cửa sổ và tiến thẳng vào phòng tắm. Khi dòng nước đã chảy ổn định và hắn đứng dưới vòi sen, hắn bắt đầu cất giọng hát. Nhưng giọng hắn nghe chẳng giống giọng của Lauritz Melchior như mọi khi chút nào, ngay cả khi hắn cố gắng bắt chước chất giọng của Melchior dẫu biết là liều lĩnh và ngớ ngẩn. Chậm rãi, hắn bắt đầu nhận ra mình đang có chuyện bực mình.
Hắn bước ra khỏi phòng tắm và bắt đầu lau khô người. Cho đến tận lúc này, hắn nghĩ, hắn vẫn luôn trông cậy vào Tiến sĩ Thomas O’Connor để có được những thông tin bổ ích, đáng tin cậy và tương đối đầy đủ về ngành tâm lý điện tử (psionics) cùng các hiện tượng tâm linh nói chung. Hắn từng xem O’Connor như một phiên bản sống của một bộ bách khoa toàn thư Britannica cực kỳ chất lượng, lúc nào cũng sẵn sàng để tra cứu.
Thế mà giờ đây O’Connor lại chơi hắn một vố đau. Đối với Malone, thế thì quá bất công. O’Connor không có quyền làm hắn thất vọng, nhất là khi hắn chẳng còn nơi nào khác để bấu víu.
Malone thừa nhận gã khoa học gia kia đã nói đúng. Chẳng có nhà khoa học nào khác hiểu biết về tâm lý điện tử rành mạch như O’Connor, và nếu O’Connor đã phán là không có sách vở gì sất, thì đúng là như vậy: chẳng có cuốn sách nào cả.
Hắn với tay mở ngăn kéo bàn trang điểm, lôi ra vài món đồ lót, vừa mặc đồ vừa u oải ngân nga mấy giai điệu chẳng đầu chẳng cuối. Nếu chẳng còn ai để hỏi, hắn nghĩ, và nếu cũng chẳng có lấy một cuốn sách...
Hắn khựng lại với chiếc tất trên tay, trân trân nhìn nó đầy kinh ngạc. O’Connor đâu có bảo là không có sách. Thực ra, Malone nhận ra, gã đã nói điều hoàn toàn ngược lại.
Sách thì có đấy. Nhưng đó là những cuốn sách của bọn “lắm điều gàn dở”. O’Connor chưa từng đọc chúng. Gã bảo, có lẽ gã còn chưa từng nghe đến tên phần lớn trong số đó ấy chứ.
“Lắm điều gàn dở” là một từ nghe chói tai với O’Connor. Nhưng với Malone, nó lại ngọt ngào chẳng khác gì những lời nịnh hót. Suy cho cùng, hắn từng tóm được tụi ngoại cảm trong các trại tâm thần, và mấy tay dịch chuyển tức thời giữa đám thanh thiếu niên hư hỏng ở New York cơ mà. “Gàn dở” là cái từ đang dần phai sạch mọi ý nghĩa trong đầu Malone.
Hắn nhận ra mình vẫn đang dán mắt vào chiếc tất màu đen có sọc hồng. Vội vã, hắn xỏ chân vào và mặc nốt quần áo. Hắn với lấy chiếc điện thoại thực hiện vài cuộc gọi nhanh, rồi dịch chuyển tức thời thẳng vào căn phòng làm việc khóa kín của mình tại Tổng hành dinh FBI, nằm trên Đường 69 Đông ở New York. Hắn tự mở cửa bước ra ngoài và thong thả đi dọc hành lang. Viên sĩ quan chỉ huy ngẩng lên từ bàn làm việc khi Malone đi ngang qua, chớp mắt và cất giọng: “Chào Malone. Lại có chuyện gì thế?”
“Tôi đi tuần tra đây,” Malone nói. “Nhưng theo tôi thấy thì chẳng có việc gì cho anh làm đâu.”
“Hả?”
“Cứ thư thả đi,” Malone nói. “Hít thở đều vào.”
“Tôi sẽ cố,” viên sĩ quan chỉ huy đáp, giọng có chút buồn bã. “Nhưng cứ mỗi lần cậu xuất hiện là tôi lại nghĩ đến cái chiến dịch xe Cadillac đỏ mà cậu khơi mào. Tôi sẽ chẳng bao giờ cảm thấy thực sự an tâm nổi nữa đâu.”
“Cứ thư thái đi,” Malone nói. “Lần tới sẽ không phải là xe Cadillac nữa đâu. Mà có lẽ là mấy hồn ma đang thổi kèn ống tai đấy. Hoặc bất cứ thứ quái quỷ gì tụi nó làm.”
“Hồn ma á, Malone?” viên sĩ quan chỉ huy thốt lên.
“Không, cảm ơn,” Malone nghiêm giọng đáp. “Tôi không bao giờ uống rượu khi đang làm nhiệm vụ.” Hắn vẫy tay chào viên sĩ quan một cách vui vẻ rồi rảo bước ra phố.
Hiệp hội Nghiên cứu Tâm linh có văn phòng đặt tại Tòa nhà Ravell, một công trình lớn chủ yếu làm bằng kính tấm và nhôm mạ anốt, trông hơi giống một chiếc hộp bánh quy trong suốt màu xanh sáng dựng đứng lên vì một lý do quái đản nào đó. Sau khi đi bộ suốt quãng đường dài tới cái hộp này trên Đường 56, Malone đã lấy lại được khả năng cảm nhận nhiệt độ bình thường và cảm thấy biết ơn đến phát khóc trước cơn gió biển se lạnh thổi tới, khiến cho cái mùa hè ở New York bớt đi phần nào sự khó chịu không tài nào chịu nổi như mọi khi.
Sảnh tòa nhà lấp lánh và sáng bóng đến mức trông như thể con người chẳng tài nào sống nổi ở đây vậy. Malone bước lên thang máy lên tầng sáu, bước ra một sảnh nhỏ cũng bóng loáng không kém, rồi vội vã nhìn sang phía bên phải. Một cánh cửa nhỏ nằm ở đó, trên khắc những dòng chữ nhỏ vô cùng tinh tế.
Hiệp hội Nghiên cứu Tâm linh
Đẩy
Malone làm theo chỉ dẫn. Cánh cửa mở ra không một tiếng động, rồi khép lại sau lưng hắn.
Hắn đang đứng trong một căn phòng trông khá vuông vức, có một chiếc ghế dài và ghế bành được kê ở góc phòng, cùng một chiếc bàn làm việc ở phía tận cùng. Phía sau chiếc bàn là một tấm biển đồng, trên đó khắc:
Hiệp hội Nghiên cứu Tâm linh
Văn phòng chính
Bên trái Malone là một hành lang rẽ khuất vào góc khuất, còn bên trái chiếc bàn làm việc là một lối đi khác chạy thẳng ra phía sau, ngang qua những cánh cửa và hai chiếc lò sưởi cho đến khi quẹo vuông góc rồi cũng biến mất.
Malone ghi nhận từng chi tiết xung quanh gần như theo một phản xạ tự động, lưu giữ chúng trong trí nhớ phòng khi cần dùng đến.
Tuy nhiên, có một chi tiết đòi hỏi nhiều hơn sự chú ý máy móc. Ngồi sau bàn làm việc, với phần đầu nằm ngay bên dưới tấm biển đồng, là một cô nàng tóc đỏ. Malone thầm nghĩ, cô ta đẹp tuyệt trần. Dĩ nhiên là hắn chẳng thể nhìn thấy hai phần ba cơ thể bên dưới của cô ta, nhưng nếu chúng chỉ hấp dẫn bằng một nửa phần trên cùng với khuôn mặt và mái tóc kia thôi, thì hắn sẵn sàng bỏ ra vài ngày, vài tuần hay thậm chí vài tháng để nghiên cứu chúng. Hắn tự nhủ với một tinh thần trách nhiệm cao cả rằng có những công việc rất đáng để bỏ thời gian ra theo đuổi.
Cô ta quay người hơi chếch khỏi hướng của Malone và rõ ràng là không nghe thấy tiếng hắn bước vào. Malone tự hỏi làm thế nào để chào hỏi cho ngầu nhất, rồi đầy tiếc nuối mà dẹp ngay ý định rón rén đến sau lưng cô ta, lấy tay bịt mắt, hôn lên gáy rồi thét lên: “Bất ngờ chưa!” Hắn thấy cách đó cũng lịch thiệp đấy, nhưng ngặt một nỗi là trông chuối quá.
Cuối cùng, hắn đành thỏa hiệp với phương pháp hắng giọng kinh điển từ xưa để thu hút sự chú ý. Hắn tin chắc mình có thể từ đó mà lái mọi chuyện đến một kết cục mĩ mãn.
Hắn rón rén bước trên tấm thảm lông dày tiến thẳng đến bàn làm việc của cô ta. Hắn hít một hơi thật sâu.
Và chuyện phải đến cuối cùng cũng đến.
Hắn hắt xì.
Tiếng hắt xì vừa to vừa kéo dài, vang dội khắp căn phòng lẫn dọc theo các hành lang. Đối với Malone, nó nghe chẳng khác nào tiếng nổ của một quả bom bi, hay chí ít là một quả lựu đạn. Bản thân cũng giật mình trước âm lượng khủng khiếp do chính mình tạo ra, hắn nhảy lùi lại.
Cô gái cũng giật nảy mình, nhưng cú nhảy của cô ta lại hướng thẳng lên trên, chừng một đốt ngón tay. Cô ta rơi bịch xuống ghế và giơ một bàn tay lên. Bàn tay ấy quẹt nhẹ lên sau gáy với một động tác chầm chậm, lề mề đầy vẻ ghê tởm tột độ. Rồi cũng chậm rãi y như thế, cô ta quay đầu lại.
“Cái trò vừa rồi,” cô ta cất giọng trầm bổng, ngọt ngào, “đúng là một cú chơi khăm khốn nạn hết chỗ nói.”
“Đó chỉ là tai nạn thôi,” Malone nói. “Ý Chúa ấy mà.”
“Chúa có một bộ óc cực kỳ đồi bại,” cô gái nói. “Nhân tiện thì, đây cũng là điều mà tôi vẫn luôn nghi ngờ từ lâu.” Cô ta trừng mắt nhìn Malone đầy hằn học. “Anh lúc nào cũng giở trò đó với người lạ à? Hay đó là một thứ bệnh hoạn quái đản nào mới được phát minh ra thế?”
“Tôi chưa từng làm chuyện này bao giờ,” Malone nghiêm nghị đáp.
“Ồ,” cô gái thốt lên. “Hóa ra là một tay chơi hệ thử nghiệm. Đang khao khát những cảm giác mới lạ hả. Chắc lại là một cậu ấm ăn chơi sa đọa thuộc hàng tai to mặt lớn nào đó ở New York rồi.” Cô ta dừng lại. “Nói nghe xem nào,” cô ta hỏi, “vui lắm phảikhông?”
Malone há hốc mồm nhưng chẳng thốt ra được chữ nào. Hắn mím chặt miệng, suy nghĩ mất một giây rồi lại thử lại. Hắn vừaú ớ được câu: “Tôi—” thì bị Nữ thần Báo oán tóm cổ. Cú hắt xì thứ hai còn to và uy lực hơn cú đầu tiên gấp bội.
“Chắc chắn là vui lắm rồi,” cô gái nói bằng giọng chua ngoa, lôi từ đâu ra chiếc khăn mùi xoa và bắt đầu lau chùi khuôn mặt. “Cậu có vẻ như không tài nào chờ được để làm lại phát nữa cơ mà. Có ích gì không nếu tôi bảo cho cậu biết cái sở thích chào hỏi kiểu này không phải ai cũng thích đâu hả? Hay là cậu đếch thèm quan tâm?”
“Mẹ kiếp,” Malone cáu tiết lên tiếng, “tôi bị cảm.”
“Và cậu cảm thấy mình có trách nhiệm phải chia sẻ nó với cả thế giới này,” cô gái châm chọc. “Tôi hiểu chứ lị. Nói nghe xem nào, tôi có thể giúp gì được cho cậu đây? Hay là sứ mệnh vĩ đại của cậu đã hoàn thành rồi?”
“Sứ mệnh gì cơ?” Malone hỏi.
“Sau khi hắt xì vào mặt tôi tận hai bận,” cô gái nói, “cậu đã thỏa mãn chưa? Cậu có định biến mất một cách nhẹ nhàng và êm thấm không? Hay là còn muốn đi hắt xì vào mặt ai khác nữa?”
“Tôi muốn gặp chủ tịch Hiệp hội,” Malone nói. “Theo thông tin tôi có được, ông ta tên là Sir Lewis Carter.”
“Và nếu cậu dám hắt xì vào mặt lão ấy,” cô gái cảnh cáo, “thì cái mạng cậu chỉ đáng xó bếp thôi đấy. Lão ta không thích mấy cái trò mèo mới mẻ đâu.”
“Tôi—”
“Thêm nữa,” cô ta nói tiếp, “lão ta đang bận tối tăm mặt mũi. Và tôi không nghĩ lão sẽ chịu tiếp cậu đâu. Sao cậu không xéo đi chỗ khác mà hắt xì nhỉ? Chắc ngoài kia có khối kẻ cảm thấy vinh hạnh khi được ai đó chú ý đến mình, nhất là theo một cách hú hồn chim én thế này đấy. Sao không thử đi tìm một đứa như thế đi? Ở một nơi nào đó cực kỳ xa xôi ấy.”
Malone tức á khẩu. Hắn luống cuống lục ví, lật tung nó ra rồi chìa chiếc thẻ nhận dạng trước mặt cô ta.
“Á chà chà,” cô ta ngân dài. “FBI chẳng còn việc gì tử tế hơn để làm nữa à? Ý tôi là, mấy người không thể đi hắt xì vào mặt bọn làm tiền giả trong sào huyệt của chúng, hay bất cứ xó xỉnh nào chúng trốn đi, được cơ à?”
“Tôi muốn gặp Sir Lewis Carter,” Malone kiên quyết nhắc lại.
Cô gái nhún vai rồi nhấc ống nghe điện thoại trên bàn lên. Dĩ nhiên đó là một cỗ máy liên lạc không hình ảnh; rất nhiều hệ thống liên nội bộ trong văn phòng đều thế. Cô ta bấm số, đợi một nhịp rồi cất giọng: “Xin lỗi Sir Lewis.” Thêm một giây trôi qua. Rồi cô ta nói tiếp. “Sir Lewis,” cô ta thông báo, “tôi là Lou ở bàn tiếp tân đây. Có một gã tên là Malone đang muốn gặp ngài.”
Cô ta chờ một giây. “Tôi cũng chịu chẳng biết hắn muốn gì,” cô ta nói vào ống nghe. “Nhưng hắn là người của FBI.” Dừng lại một nhịp. “Đúng vậy, FBI đấy,” cô ta xác nhận. “Vâng, thưa Sir Lewis. Ngay đây ạ.” Cô ta gác máy rồi quay sang trừng mắt nhìn Malone đầy cảnh giác.
“Sir Lewis,” cô ta bảo, “sẽ tiếp cậu. Tôi chịu không hiểu tại sao lão lại rảnh rỗi thế. Nhưng cứ đi theo hành lang bên hông để ra phía sau dãy phòng này. Phòng làm việc của lão có dán tên hẳn hòi, và tôi sẽ không thèm chúc cậu tìm thấy đâu vì tôi tin chắc là cậu sẽ lạc quẻ cho mà xem. Chúc may mắn nhé.”
Malone chớp mắt. “Này,” hắn nói. “Tôi biết mình làm cô hoảng, nhưng tôi không cố ý đâu. Tôi—” Hắn tính hắt xì, nhưng lần này đã kịp rút khăn tay ra bịu lại nên tiếng nổ được kìm hãm phần nào.
“Làm tốt lắm,” cô gái khen ngợi đầy mỉa mai. “Nói cho nghe xem nào, anh Malone đây, anh đã được dạy cách đi vệ sinh đúng chỗ chưa thế?”
Chẳng có câu trả lời nào thích hợp cho cái câu nói vừa rồi cả, Malone thầm nghĩ trong lúc dò dẫm bước đi dọc theo hành lang bên hông. Nó dài dằng dặc và cứ liên tục rẽ nhánh một cách khó hiểu. Có lúc hắn vô tình xộc thẳng vào một căn phòng lớn đầy ắp người ngồi làm việc. Một người phụ nữ có vẻ sở hữu một hàm răng vô cùng đồ sộ cùng đôi mắt lồi ra ngẩng lên nhìn hắn. “Tôi giúp gì được cho anh không?” ả cất giọng rên rỉ đầy tha thiết.
“Tôi thành tâm hy vọng là không,” Malone đáp rồi lùi phắt lại, may mắn tìm lại được lối đi cũ. Sau một khoảng thời gian dài đến nản, cộng thêm hai cú hắt xì nữa, cuối cùng hắn cũng tìm thấy một cánh cửa nhỏ có gắn tấm biển khắc chữ hoa:
HIỆP HỘI NGHIÊN CỨU TÂM LINH
SIR LEWIS CARTER
CHỦ TỊCH
Malone thở dài. “Chà,” hắn lầm bầm, “mấy bố này đúng là chẳng thèm giấu giếm cái quái gì sất.” Hắn đẩy cửa bước vào.
Sir Lewis là một gã đàn ông cao lớn, vạm vỡ với nét mặt đôn hậu. Gã mặc chiếc quần ốc xô xám kết hợp cùng áo khoác tuýt màu nâu, tạo nên một sự tương phản màu sắc khá thú vị với mái tóc điểm bạc. Gã ngậm chặt chiếc tẩu bọc bọt biển có phần cán bằng gỗ bầu đến mức Malone tự hỏi không biết liệu có bao giờ gã tháo nó ra khỏi miệng nổi không. Malone khép cửa lại sau lưng, Sir Lewis liền đứng dậy chìa tay ra.
Malone tiến lại gần bàn làm việc và với tay bắt lấy bàn tay ấy. Tay gã khô ráo và chắc nịch. “Tôi là Kenneth Malone,” Malone xưng tên.
“À, vâng,” Sir Lewis cất giọng. “Rất vui được gặp anh. Tất nhiên là tôi luôn sẵn lòng làm bất cứ điều gì có thể để giúp đỡ tổ chức FBI của các anh rồi. Đó không chỉ là bổn phận, mà còn là niềm vinh hạnh nữa. Ngồi xuống đi. Xin mời ngồi.”
Malone tìm thấy một chiếc ghế đặt cạnh bàn làm việc và thả người ngồi xuống. Ghế vừa mềm vừa êm. Nó tạo ra một sự tương phản đến tội nghiệp so với chỗ ngồi bên nhà O’Connor, khiến Malone bắt đầu ước gì người làm việc tại Yucca Flats chính là Sir Lewis đây. Khi đó hắn có thể kể hết mọi ngóc ngách của vụ án cho lão nghe rồi.
Dĩ nhiên lúc này, hắn chỉ có thể úp úp mở mở và cố gắng xoay sở mà chẳng dám tiết lộ quá nhiều chi tiết.
“Sir Lewis,” hắn nói, “tôi hy vọng anh sẽ giữ kín cuộc trò chuyện này.”
“Đương nhiên rồi,” Sir Lewis đáp. Gã rút cái tẩu ra, ngắm nghía nó một lát rồi lại ngậm vào miệng.
“Tôi không thể cung cấp chi tiết toàn bộ,” Malone nói tiếp, “nhưng FBI hiện đang tiến hành một cuộc điều tra đòi hỏi những kiến thức chuyên môn mà tổ chức của các anh dường như đang sở hữu.”
“FBI ư?” Sir Lewis thốt lên. “Một cuộc điều tra chuyên sâu á?” Gã trông có vẻ hào hứng, nhưng cũng hơi hoang mang. “Anh bạn quý hóa ạ, bất cứ thứ gì chúng tôi có đều sẵn sàng phục vụ các anh, dĩ nhiên rồi. Nhưng tôi hoàn toàn không tài nào hiểu nổi sao anh lại có thể coi chúng tôi là—”
“Đây là một vấn đề khá bất thường,” Malone nói, cảm thấy đây quả là cách nói giảm nói tránh của năm. “Nhưng tôi được biết hồ sơ của các anh đã kéo dài gần một thế kỷ rồi cơ mà.”
“Đúng thế,” Sir Lewis lẩm bẩm.
“Trong khoảng thời gian đó,” Malone nói tiếp, “Hiệp hội đã điều tra rất nhiều vụ việc bị cho là siêu nhiên hoặc vượt quá tầm thường.”
“Phần lớn trong số đó,” Sir Lewis đáp, “tôi e là đều bị phát hiện là lừa đảo. Thực tế là đại đa số đều như vậy.”
“Đó cũng là điều tôi đoán trước,” Malone nói. Hắn thọc tay vào túi, lôi ra một điếu thuốc rồi châm lửa hút. Sir Lewis vẫn tiếp tục gặm cái tẩu chưa châm lửa của mình. “Điều chúng tôi quan tâm,” Malone nói tiếp, “chính là một vài mô tả về các phương thức mà những kẻ lừa đảo đó đã sử dụng để bịp bợm.”
“À,” Sir Lewis thốt lên. “Ý anh là những ngón nghề trong giang hồ ấy hả?”
“Chính xác,” Malone đáp.
“Thế thì,” Sir Lewis nói. “Chẳng hạn như lớp gạc phát sáng được dùng để đóng giả chất ectoplasm; các phương pháp làm bay bàn ghế; cách thao túng bảng cầu cơ—những thứ đại loại thế phỉa không?”
“Không hẳn là mấy thứ sơ đẳng đó,” Malone nói. Hắn rít một hơi thuốc, thầm ước gì đây là một điếu xì gà. “Chúng tôi thừa sức xử lý mấy trò đó rồi. Nhưng anh đã bao giờ nghĩ rằng nhiều chiêu trò được áp dụng bởi các màn đọc suy nghĩ bịp bợm chẳng hạn, lại có thể được bọn gián điệp dùng làm phương tiện thông tin liên lạc chưa?”
“Chà, tôi tin là có vài vụ đã được dùng rồi đấy,” Sir Lewis nói. “Dù tôi không rành lắm về mảng đó; hồi Thế chiến thứ nhất từng có một vụ—”
“Đúng thế,” Malone nói. Hắn hít một hơi thật sâu. “Chính những thứ kiểu đó mới là thứ chúng tôi quan tâm,” hắn nói, rồi dành suốt hai mươi phút tiếp theo để vòng vo tam quốc tiếp cận vấn đề chính. Sir Lewis tỏ ra cực kỳ hứng thú, hoàn toàn sẵn lòng cởi mở về mọi hướng và còn hí hoáy ghi chép lại một số vụ án thú vị của Malone, miệng lẩm bẩm: “Quả là kỳ lạ, quả là kỳ lạ” khi viết.
Hàng loạt hiện tượng kỳ quái mà Hiệp hội từng điều tra lần lượt được lôi ra bàn tán, và Malone được nghe kha khá chuyện về Thế giới bên kia, Vùng đất mùa hè vĩ đại, các Đồng cốt cùng sự tồn tại giả định của lũ tiên, yêu tinh và người lùn.
“Nhưng này, Sir Lewis—” hắn lên tiếng.
“Cá nhân tôi thì không đưa ra tuyên bố khẳng định nào cả,” Sir Lewis nói. “Nhưng tôi được biết có một nhóm khá đông đảo và lớn tiếng lại đưa ra những tuyên bố nghe có vẻ rất chắc nịch về hướng đó. Họ bảo rằng họ từng thấy tiên, trò chuyện với yêu tinh, và khiêu vũ với lũ người lùn.”
“Họ chắc phải là những con người vô cùng dị thường,” Malone nói, lại một lần nữa dùng lối nói giảm nói tránh nặng đô.
“Ồ,” Sir Lewis thốt lên, chẳng mảy mai có ý mỉa mai nào, “họ đúng là thế thật đấy.”
Những câu chuyện kiểu đó ngốn mất gần nửa tiếng đồng hồ, cho đến khi Malone cảm thấy đã đến thời điểm thích hợp để tung ra vài câu hỏi thực sự của mình. “Nói nghe xem nào, Sir Lewis,” hắn bắt đầu. “Anh đã từng gặp trường hợp nào mà chỉ một gã đơn độc, hoặc một nhóm người rất nhỏ, lại có thể thao túng hành động của một đám đông lớn hơn gấp nhiều lần chưa? Và làm cách nào mà cái đám đông to tát kia thậm chí còn chẳng hề hay biết là mình đang bị dắt mũi ấy?”
“Dĩ nhiên là có chứ,” Sir Lewis đáp. “Và anh cũng thế. Người ta gọi đó là quảng cáo.”
Malone búng tàn thuốc vào gạt tàn. “Ý tôi không hẳn là thế,” hắn nói. “Ý tôi là trường hợp bọn chúng làm sao mà đám đông kia thậm chí còn không mảy mai nghi ngờ rằng có một thế lực nào đang thao túng mình cơ?”
Sir Lewis rút cái tẩu ra và nheo mắt nhìn nó đầy đăm chiêu. “Tôi có thể cung cấp cho anh chút ít thông tin,” lão chậm rãi nói, “nhưng không nhiều lắm đâu.”
“Thế á?” Malone cố tỏ ra là mình chỉ tò mò sương sương.
“Ngoài tâm lý học đám đông,” Sir Lewis nói tiếp, “và mấy thứ tương tự như vậy ra, thì thú thật tôi chưa từng thấy ghi chép nào về một vụ việc như thế xảy ra cả. Và tôi cũng chẳng tài nào tưởng tượng nổi có ai lại đi bịp bợm kiểu đó.”
“Nhưng anh vẫn có chút thông tin chứ?” Malone vặn hỏi.
“Tất nhiên,” Sir Lewis đáp. “Lúc nào mà chẳng có mấy thứ linh hồn thao túng.”
“Linh hồn thao túng á?” Malone chớp mắt.
“Sự nhúng tay của quỷ dữ,” Sir Lewis giải thích. “Giống như câu ‘Tên tôi là Legion’ ấy, anh biết đấy.”
Sir Lewis Legion, Malone hoang mang nghĩ bụng, quả là một cái tên khá dị. Hắn hít một hơi để trấn tĩnh lại cái đầu đang quay mòng mòng của mình. “Thế thì anh sẽ xử lý vụ đó thế nào?” hắn hỏi, nghe có vẻ hơi tuyệt vọng.
“Chịu chết, tôi mù tịt,” Sir Lewis vui vẻ thừa nhận. “Nhưng tôi sẽ cho người tra cứu lại hộ anh.” Lão ghi chép gì đó vào sổ. “Còn gì nữa không?”
Malone vắt óc suy nghĩ. “Có,” cuối cùng hắn cũng cất lời. “Anh có thể cho tôi một bản báo cáo tóm tắt về những gì đã biết—ý tôi là thực sự được công nhận ấy—về khả năng đọc suy nghĩ và dịch chuyển tức thời không?”
“Thứ anh muốn tìm,” Sir Lewis nói, “là những vụ đã được chứng minh là có thật chứ gì, chứ không phải mấy vụ mà chúng tôi đã lật tẩy được hành vi lừa đảo, hay những vụ vẫn còn đang bỏ ngỏ.”
“Chính xác,” Malone đáp. Nếu hắn không dùng được dữ liệu này vào việc khác, thì ít ra nó cũng cung cấp cho hắn một thước đo để đánh giá cái Hiệp hội này. Công chúng ngoài kia đâu biết rằng Chính phủ đang thực sự sử dụng năng lượng tâm lý điện tử, và những lý thuyết của Hiệp hội, khi được đối chiếu với thực tế, sẽ cung cấp một hệ số đáng tin cậy tương đối để áp dụng cho các dữ liệu khác của họ.
Nhưng mà chuyện hồn ma quỷ gì đó nghe chừng chẳng khả thi cho lắm. Malone thở dài đứng dậy.
“Tôi sẽ cho người sao chép lại toàn bộ tài liệu liên quan,” Sir Lewis nói, “từ thư viện và các tệp nghiên cứu của chúng tôi. Anh muốn gửi tài liệu đến đâu? Tôi phải cảnh báo trước là chúng khá cồng kềnh đấy; số lượng có lẽ không nhỏ đâu.”
“Tổng hành dinh FBI, trên Đường 69,” Malone nói. “Rồi gửi kèm cả bảng kê chi phí cùng với đống tài liệu đó luôn. Miễn là hóa đơn trong hạn mức hợp lý, không cần phải liệt kê chi tiết quá đâu; tôi sẽ tự tay lo phần Kế toán cho.”
Sir Lewis gật đầu. “Tuyệt,” lão nói. “Và nếu anh gặp bất kỳ khó khăn gì với đống tài liệu đó, cứ cho tôi biết nhé. Tôi lúc nào cũng sẵn lòng giúp đỡ.”
“Cảm ơn sự hợp tác của anh,” Malone nói. Hắn quay người đi về phía cửa và bước ra ngoài.
Hắn lại lủi thủi đi lạc vào căn phòng lớn quen thuộc trên đường băng qua các hành lang. Người phụ nữ có đôi mắt lồi, kẻ dường như được thừa hưởng trọn vẹn cả hàm răng ba mươi hai chiếc từ cả bố lẫn mẹ, liền tặng hắn một nụ cười thân thiện dẫu có phần chật chội, nhưng Malone cứ thế phớt lờ rảo bước không thèm nói một lời. Chợt lát sau, hắn cuối cùng cũng tìm lại được phòng tiếp tân.
Cô gái ngồi sau bàn làm việc ngẩng lên. “Lão ta phản ứng thế nào?” cô ta hỏi.
Malone chớp mắt. “Phản ứng á?” hắn hỏi lại.
“Lúc cậu hắt xì vào mặt lão ấy chứ sao,” cô ta nói. “Vì tôi vừa ngồi ngẫm nghĩ lại, và tôi đã tóm được một lý thuyết mới. Cậu đang thực hiện một cuộc khảo sát về cách hành xử của con người khi đối mặt với những cú hắt xì phải không? Kiểu như Kinsey ấy nhỉ.”
Cô nàng này—tên là Lou gì gì đó, Malone thầm nghĩ, và phải kìm lắm mới không thốt nốt chữ “Gehrig” ra—quả thực tạo ra một thứ hiệu ứng lạ kỳ, hắn tự nhủ. Hắn tự hỏi trên đời này có ai mà cô ta không thể khiến cho cứng họng đến mức á khẩu không.
“Tất nhiên,” cô ta nói tiếp, “Kinsey chuyên nghiên cứu về tình dục, còn cậu thì không. Ít ra là cậu không làm thế trong giờ làm việc.” Cô ta mỉm cười lịch sự với Malone.
“Ừ,” hắn bất lực đáp, “tôi không.”
“Thế hóa ra là nghiên cứu về hắt xì thật à,” cô ta suy luận. “Lúc sách được xuất bản, tên tôi có được xuất hiện trong đó không thế?”
“Sách á?” Malone hỏi, cảm thấy bản thân ngày càng giống một gã đần độn hạng nặng.
“Cái cuốn sách viết về chứng hắt xì khi cậu cho phát hành ấy,” cô ta nói. “Giờ tôi có thể hình dung ra nó rồi đấy: Vụ án của Tiểu thư X, một cô nàng tiếp tân.”
“Chẳng có cuốn sách nào được xuất bản hết,” Malone phũ phàng đáp.
Cô ta lắc đầu. “Thật là một điều đáng tiếc,” cô ta thở dài. “Từ bé tôi lúc nào cũng ao ước được làm một Tiểu thư X. Nghe cứ như phim hành động ấy nhỉ.”
“X,” Malone tiện mồm phun ra một câu, “đánh dấu vào chỗ hiểm.”
“Chà, đó là câu nói ngọt ngào nhất mà tôi được nghe từ sáng đến giờ đấy,” cô gái thốt lên. “Cứ tưởng anh câm như hến, ai ngờ thốt ra toàn câu nghe ngọt xớt thế này. Nhưng tôi cá là anh đi cưa cẩm cô nào anh cũng nói thế phải không.”
“Tôi chưa từng nói câu đó với bất kỳ ai bao giờ,” Malone lạnh lùng đáp. “Và tôi cũng sẽ không bao giờ nói thế nữa đâu.”
Cô gái thở dài. “Tôi sẽ trân trọng nó vậy,” cô ta nói. “Khoảnh khắc huy hoàng duy nhất trong đời tôi. Tạm biệt nhé, anh—Malone đúng không nhỉ?”
“Ken,” Malone nói. “Cứ gọi tôi là Ken.”
“Còn tôi là Lou,” cô gái đáp. “Tạm biệt.”
Một chiếc thang máy trờ tới và Malone tót ngay vào trong. Louie chăng? Louise? Hay Luke? À mà nhắc mới nhớ, có lão Sir Lewis Carter kia kìa, nhỡ đâu lão cũng được gọi là Lou thì sao. Lão có họ hàng gì với cô nàng này không ta?
Không, Malone điên rồ nghĩ bụng. Họ hàng thì người ta phải theo họ chứ. Chẳng có lý do gì mà Lou lại có họ hàng với Sir Lewis cả. Trông hai người họ có nét nào giống nhau đâu cơ chứ. Lấy ví dụ như hắn, hắn hoàn toàn chẳng có lấy một chút ham muốn nào muốn hẹn hò với Sir Lewis Carter, hay lôi cổ lão ta đến một quán bar lấp lánh ánh đèn, hay thỏ thẻ mấy lời đường mật với lão cả. Và cái ý tưởng tượng cảnh Sir Lewis Carter ngồi lên đùi Malone thôi cũng đủ khiến hắn bị khó tiêu và hoa cả mắt rồi.
Hắn nghiêm nghị tự nhủ phải quay lại làm việc chính. Thang máy dừng ở tầng trệt, hắn bước ra và rảo bước dọc theo con phố, thầm nghĩ việc ngắm nghía cô nàng tên Lou kia có khi lại thú vị hơn nhiều. Suy cho cùng, dựa vào đâu mà hắn đòi vác cái đống việc đó ra để làm chứ?
Cho đến tận lúc này, hai chuyên gia đã khẳng định chắc nịch rằng lý thuyết của hắn đầy rẫy những lỗ hổng chết người. Tệ hơn thế, họ còn bảo rằng việc thao túng cả một đám đông con người là điều bất khả thi, theo những gì họ biết.
Và biết đâu nó thực sự bất khả thi thì sao, hắn buồn bã tự nhủ. Biết đâu hắn nên quăng sọt rác toàn bộ lý thuyết của mình và nghĩ ra một cái mới tinh. Biết đâu chẳng có tí năng lượng tâm lý điện tử nào dính líu đến vụ này sất, và bộ đôi Boyd với O’Connor mới là những kẻ đúng.
Dĩ nhiên, trong thâm tâm hắn vẫn có một niềm tin sắt đá rằng tâm lý điện tử chính là cội nguồn của mọi thứ, nhưng thế thì cũng chẳng chứng minh được điều gì. Khối kẻ mang niềm tin sắt đá rằng mình là mấy con bọ hung, hoặc quả đất này phẳng lì cơ mà. Và ngẫm lại xem, bọn sát nhân đôi khi cũng phải chịu hậu quả chỉ vì mang trong mình những niềm tin sâu sắc quái quỷ nào đó.
Mặt khác, biết đâu hắn vừa phát minh ra cả một lý thuyết tâm lý điện tử hoàn toàn mới, hoặc ít nhất là quan sát được vài sự thật mới mẻ về nó. Biết đâu người ta sẽ gọi kết quả đó là Malonizing, thay vì O’Connorizing. Hắn cố tưởng tượng cảnh một gã đàn ông mở cửa ra và hét lên: “Chuồn mau lên, lão Frembits lại đang Malonizing nữa kìa.”
Nghe chẳng thuyết phục tẹo nào. Nhưng mà suy cho cùng, hắn vẫn có một niềm tin sắt đá cơ mà. Hắn cố tưởng tượng ra một niềm tin hời hợt nào đó, nhưng thất bại thảm hại. Mấy cái niềm tin quái quỷ ấy rốt cuộc chẳng bao giờ đứng vững được nổi lấy một lần sao, hay là cứ thế nằm ì ra đấy?
Hắn lắc đầu, nhận ra mình đã đến Đường 69, liền cắm cổ hướng thẳng về Tổng hành dinh FBI. Hắn nhận ra những niềm tin của mình đôi khi chính là biểu hiện của khả năng tiên tri; hắn tự nhủ cứ bám theo chúng xem sao, ít ra là trong một thời gian ngắn.
Lúc hắn đặt chân đến văn phòng của viên sĩ quan chỉ huy, hắn đã phác thảo xong những nét cơ bản cho một hướng tấn công hoàn toàn mới.
“Mấy con ma đâu rồi?” viên sĩ quan chỉ huy cất tiếng hỏi khi hắn đi ngang qua.
“Chúng đang tới đấy,” Malone đáp. “Được bọc trong một gói hàng bự chảng, gửi thẳng cho cá nhân tôi. Nhớ là đừng có táy máy mà mở gói hàng ra đấy.”
“Sao lại không?” viên sĩ quan chỉ huy thắc mắc.
“Vì tôi không muốn bọn chúng sổng chuồng ra ngoài rồi chạy rông đi hù dọa thiên hạ đâu,” Malone vui vẻ đáp rồi bước tiếp.
Hắn mở cửa phòng làm việc riêng, bước vào trong và ngồi phịch xuống bàn làm việc. Hắn thong thả nhào nặn một ý nghĩ, một ý nghĩ đơn độc, rành mạch và có chủ đích:
Tâu Bệ hạ, thần muốn yết kiến Người.
Hắn vừa dứt suy nghĩ thì kịp có phản ứng. Một tia sáng lóe lên trong phòng, chỉ cách bàn làm việc của hắn vài bước chân. Tia sáng ấy hiện nguyên hình thành một bà cụ nhỏ thó trông như một người bà hiền hậu, với mái tóc trắng bồng bềnh như vầng hào quang cùng nét mặt đôn hậu, ánh lên vẻ tinh anh. Bà khoác lên mình bộ trang phục triều đình đầy đủ của thời kỳ Elizabeth đệ nhất, và điều đó chẳng có gì là ngạc nhiên đối với Malone cả. Bà cụ đinh ninh rằng mình chính là Nữ hoàng Elizabeth I, người được bảo ân phép màu để trường tồn qua bao thế kỷ. Bản thân Malone cũng gần như quên bẵng đi cái tên thật sự của bà cụ là Rose Thompson, và rằng bà mới chỉ sống trên cõi đời này chừng sáu mươi lăm năm có lẻ. Hầu như suốt quãng thời gian đó, bà đều sống trong cảnh điên loạn.
Thế nhưng, trong suốt quãng thời gian ấy, bà lại là một nhà ngoại cảm thực thụ. Bà được phát hiện trong quá trình Malone giải quyết vụ án tâm lý điện tử đầu tiên của mình, và đến nay bà thậm chí còn học được cách dịch chuyển tức thời bằng cách “đọc” quy trình đó ngay trong tâm trí của Malone.
“Trẫm chào Sir Kenneth,” bà cất giọng đài hạc và từ tốn. Hắn thừa biết bà bị điên, nhưng chứng hoang tưởng của bà lại được kiềm chế trong một giới hạn rất chừng mực. Toàn bộ thế giới rực rỡ của bà xoay quanh một sự thật duy nhất rằng bà hoàn toàn tin chắc vào thân phận hoàng gia cao quý của mình. Miễn là phía FBI còn hùa theo cái ý tưởng đó—bao gồm việc cung cấp cho bà một cung điện hoàng gia thu nhỏ ở Yucca Flats, cùng đặc quyền thỉnh thoảng ban phong tước cho các mật vụ FBI nào lọt vào mắt xanh dở chứng của bà—thì bà hoàn toàn tỉnh táo trong mọi vấn đề khác. Bà hợp tác với Tiến sĩ O’Connor và lực lượng FBI trong việc điều tra năng lượng tâm lý điện tử của mình, đồng thời đã thề danh dự trước Hoàng gia rằng sẽ không dịch chuyển tức thời trừ khi có yêu cầu trực tiếp từ Malone.
“Thần muốn thưa chuyện với Người, thưa Bệ hạ,” Malone nói.
Có một âm điệu kỳ lạ vương vấn trong giọng nói của Nữ hoàng, cùng một biểu cảm đầy ám ảnh hiện lên trên khuôn mặt bà. “Trẫm cứ ngóng chờ ngươi vào yết kiến từ nãy đến giờ đấy,” bà nói.
“Thần có linh cảm Người đang bám theo thần bằng khả năng ngoại cảm,” Malone nói. “Người có thể giúp gì cho thần không?”
“Trẫm—trẫm thực sự không rõ nữa,” bà đáp. “Đó là một thứ gì đó hoàn toàn mới mẻ, và vô cùng phiền nhiễu. Trẫm chưa từng bắt gặp thứ gì tương tự thế bao giờ.”
“Giống cái gì cơ ạ?” Malone hỏi.
“Chính là cái—” Bà vung tay một động tác chẳng mang lại một chút thông tin nào cho Malone. “Cái—cái thứ nhiễu sóng ấy,” cuối cùng bà cũng thốt lên.
Malone chớp mắt. “Nhiễu sóng á?”
“Đúng vậy,” bà đáp. “Ngươi không có khả năng ngoại cảm, nên trẫm chẳng thể diễn tả cho ngươi hiểu cảm giác thực sự của nó ra sao đâu. Nhưng mà—thôi được rồi Sir Kenneth, ngươi đã bao giờ nhìn thấy màn hình ti-vi bị nhiễu sóng khi có nguồn điện cực mạnh ở gần đó chưa? Mấy cái vệt tuyết sáng lóa vô nghĩa, thứ tạp âm hỗn độn chẳng đâu vào đâu ấy?”
“Rồi chứ,” Malone đáp.
“Nó y hệt như thế,” bà nói. “Đó là một tràng bùng nổ năng lượng ngoại cảm thình lình, vô nghĩa và đầy phiền nhiễu.”
Điện thoại đổ chuông một tiếng. Malone phớt lờ nó.
“Cái gì gây ra mấy vụ nhiễu loạn này thế?” hắn gặng hỏi.
Bà lắc đầu. “Trẫm chịu, thưa Sir Kenneth. Trẫm không biết,” bà nói. “Trẫm không tài nào bắt được sóng tâm trí của một người ở khoảng cách xa trừ khi trẫm quen biết họ, và trẫm chẳng thể nhìn thấy thứ đang gây ra chuyện này ở đâu cả. Nói thật lòng nhé Sir Kenneth, nó khá là đáng sợ đấy.”
Điện thoại lại reo lên lần nữa.
“Người đã trải qua hiện tượng nhiễu loạn này bao lâu rồi?” Malone hỏi. Hắn liếc nhìn chiếc điện thoại.
“Cái điện thoại đó có quan trọng gì đâu,” Nữ hoàng phất tay. “Chẳng qua chỉ là lão Thomas gọi để báo cáo đã tóm được ba tên gián điệp thôi, chuyện đó có xích mích gì đâu mà bận tâm.”
“Không bận tâm ạ?”
“Đương nhiên là không,” Nữ hoàng tuyên bố. “Điều duy nhất đáng nói là trẫm chỉ bắt đầu hứng được mấy đợt sóng chập chờn này kể từ khi ngươi được giao phó vụ án mới này đấy, Sir Kenneth. Và....” Bà khựng lại.
“Và sao nữa ạ?” Malone giục.
“Và chúng chỉ xuất hiện,” Nữ hoàng phán, “khi trẫm dò đúng tần số tâm trí của ngươi!”