Nghiên Cứu Lịch Sử Nhân Loại

Lượt đọc: 93 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
VIII. PHƯƠNG SÁCH ÔN HÒA

❊ ❊ ❊

Giờ đây, chúng ta hoàn toàn có thể đẩy luận điểm của mình đi xa hơn. Chúng ta đã xác định rằng, các nền văn minh ra đời trong những môi trường thường là khắc nghiệt, và điều này dẫn dắt chúng ta tới việc thẩm tra xem liệu đây có phải là một ví dụ cụ thể của một quy luật xã hội mà có thể được biểu diễn thông qua công thức: “Thách thức càng lớn thì nhân tố kích thích càng lớn” hay không? Chúng ta đã tiến hành nghiên cứu các phản ứng đáp trả gây ra bởi năm loại nhân tố kích thích - xứ sở khắc nghiệt, vùng đất mới, tai ương, áp lực, sự trừng phạt - và trong cả năm trường hợp kết quả cuộc nghiên cứu của chúng ta đều gợi ra những căn cứ vững chắc của một quy luật. Tuy nhiên, chúng ta vẫn còn phải xác định xem liệu những căn cứ này có xác thực hay không? Nếu chúng ta gia tăng tính khắc nghiệt của thách thức lên vô hạn, thì liệu chúng ta có thể đảm bảo một cường độ vô hạn của nhân tố kích thích và một sự gia tăng vô hạn trong phản ứng đáp trả khi thách thức diễn ra thành công hay không? Hay là chúng ta sẽ phát hiện ra một điểm giới hạn mà khi vượt qua nó, kết quả phát sinh ra sẽ thu nhỏ dần? Và nếu vượt qua điểm tới hạn đó, liệu chúng ta có phát hiện ra một điểm khác mà tại đó thách thức trở nên quá khắc nghiệt đến nỗi mọi khả năng phản ứng lại nó đều biến mất? Trong trường hợp đó, quy luật sẽ được phát biểu là “thách thức mang nhân tố kích thích mạnh nhất nằm ở khoảng giữa hai giới hạn thiếu và dư thừa tính khắc nghiệt”.

Liệu những thách thức dư thừa tính khắc nghiệt có tồn tại trong thực tế hay không? Chúng ta chưa từng gặp một ví dụ nào như vậy, và có nhiều trường hợp các hoạt động thách thức và phản ứng có tính đặc biệt khắc nghiệt mà chúng ta chưa đề cập. Chúng ta chưa nêu ra trường hợp của Venice - thành phố được xây dựng trên những móng cọc chạy theo đôi bờ bùn lầy của một con phá nước mặn - đã qua mặt tất cả các thành phố khác được xây trên phần đất khô ráo của vùng canh tác ở sông Po về sự thịnh vượng, quyền lực và vinh quang; hoặc trường hợp Hà Lan - một xứ sở thực sự được giành lại từ tay biển cả, nhưng rồi đã tự khẳng định mình trong lịch sử vượt xa bất kỳ một lãnh địa nào khác có diện tích và vị trí tương tự ở vùng đồng bằng Bắc Âu; hoặc Thụy Sĩ, với gánh nặng núi non trùng điệp. Có vẻ như ba mảnh đất khắc nghiệt nhất ở Tây Âu đã kích thích các cư dân của chúng đạt được mức độ thành tựu xã hội cao nhất bất chấp họ là những thành viên nào của xã hội Cơ Đốc Tây phương.

Nhưng còn những yếu tố khác cần cân nhắc. Mặc dù khắc nghiệt, song ba thách thức này vẫn bị giới hạn trong phạm vi chỉ một trong hai lĩnh vực (môi trường tự nhiên và môi trường con người) để tạo thành một xã hội bất kỳ. Chắc chắn chúng là thách thức của đất đai khắc nghiệt, nhưng về phía con người - tai ương, áp lực và trừng phạt - thì không. Độ khắc nghiệt của điều kiện tự nhiên này không phải là một thách thức mà là một sự trợ giúp; nó che chở họ khỏi những thử thách đến từ con người mà các láng giềng của họ đã phải đối mặt. Venice nằm trên các bờ sông bùn lầy, bị cô lập khỏi đại lục bởi những con phá, đã thoát khỏi sự chiếm đóng quân sự từ bên ngoài trong gần 1000 năm (810-1797). Hà Lan cũng đã hơn một lần cứu được thủ phủ của mình bằng cách tạm thời đảo ngược cơ chế duy trì sự tồn tại của nó và “mở các con đê”. Chúng hết sức tương phản với lịch sử của các xứ Lombardy và Flander láng giềng, với điều kiện thiên nhiên ưu đãi nhưng đồng thời là hai bãi chiến trường thường xuyên của Âu châu.

Dĩ nhiên là rất dễ nêu ra ví dụ về các cộng đồng đã thất bại trong phản ứng đáp trả những thách thức cụ thể. Điều đó chẳng chứng minh được cái gì cả, vì gần như mọi thách thức đều đã từng làm thất bại hoặc bẻ gãy hết sự chống trả này tới sự chống trả khác hàng trăm, thậm chí hàng nghìn lần trước khi có một cái thành công. Điều đó đã được biết đến như là “sự chắt lọc tự nhiên”, và có thể nêu ra rất nhiều ví dụ.

Một ví dụ cụ thể đó là, thách thức tự nhiên của rừng rậm Bắc Âu đã đánh bại người nguyên thủy một cách triệt để. Không được trang bị những phương tiện để đốn hạ cây rừng và không biết cách tận dụng tài nguyên giàu có nằm bên dưới đất đai bằng cách trồng cấy, ngay cả nếu họ có thể khai quang rừng rậm, người nguyên thủy Bắc Âu vẫn sẽ chỉ đơn giản rời bỏ khu rùng, đi tới những cồn cát và trút nắm xương tàn ở đó - hoặc tìm ra những vùng đất mà hậu duệ của họ sau này gọi là “đất xấu” khi rừng rậm gục ngã dưới lưỡi rìu của họ. Đối với người nguyên thủy, thách thức của rừng cây ôn đới thực ra còn khủng khiếp hơn các vùng thảo nguyên lạnh giá; và ở Bắc Mỹ, con đường ít gặp phải kháng cự nhất cuối cùng đã dẫn họ tiến về cực Bắc, vượt qua các khu rừng phía bắc để phát hiện vận mệnh của mình trong việc sáng tạo ra nền văn minh Eskimo để đáp ứng lại thách thức của vành đai Bắc Cực. Tuy vậy, những gì đã xảy đến với người nguyên thủy không chứng minh rằng thách thức của rừng rậm Bắc Âu là vượt quá năng lực đáp trả tích cực của con người; vì những người rợ tiếp bước họ đã có sự bổ sung thật ấn tượng về mặt công cụ và kỹ thuật, có thể là từ những nền văn minh mà họ đã va chạm, cho tới khi những người tiên phong của nền văn minh Tây phương và Cơ Đốc Chính thống Nga “đến, thấy và chinh phục”.

Trong thế kỷ thứ hai trước CN, đội tiên phong phía nam của rừng rậm Bắc Âu trong thung lũng sông Po bị chinh phục bởi quân tiên phong La Mã sau khi đã từng đánh bại các tổ tiên họ. Sử gia Hy Lạp cổ Polybius, người đã viếng thăm xứ sở này ngay sau khi nó được khai phá, đã vẽ ra một sự tương phản gay gắt giữa đời sống kém hiệu quả và bần cùng của các tổ tiên Gallic của người La Mã, mà những đại diện cuối cùng còn sống sót của họ vẫn còn đang trải qua đời sống này trong những khu rừng hẻo lánh dưới chân dãy Alps, với sự trù phú của những vùng lãnh thổ lân cận đã thuộc về tay người La Mã. Bức tranh tương tự cũng thường xuyên được vẽ ra ở đầu thế kỷ 19 nêu bật sự tương phản giữa thất bại trong bần cùng của người da đỏ với sức sống mạnh mẽ của những người tiên phong Mỹ gốc Anh trong những khu rừng nguyên thủy ở Kentucky hoặc Ohio.

Khi chuyển từ môi trường tự nhiên sang môi trường con người, chúng ta cũng thấy điều tương tự. Một thách thức đã từng đánh bại một phản ứng, về sau lại được chứng minh rằng không phải là không thể vượt qua bởi một đáp trả thắng lợi của một địch thủ đến sau.

Chẳng hạn như, chúng ta hãy xét mối quan hệ giữa xã hội Hy Lạp cổ với những người man di Bắc Âu. Áp lực ở đây là tương hỗ, tác động qua lại lẫn nhau, nhưng chúng ta hãy tập trung chú ý vào áp lực của xã hội Hy Lạp cổ đặt lên người rợ. Khi nền văn minh này phát tán sâu dần vào nội địa của đại lục, thì lần lượt từng lớp người rợ phải đối mặt với một câu hỏi sinh tử: Liệu họ có thua trong cuộc va chạm với thế lực ngoại lai mạnh mẽ này và hứng chịu sự phân rã kết cấu xã hội của chính mình để rồi trở thành miếng mồi ngon và bị đồng hóa thành những tế bào của cơ thể xã hội Hy Lạp cổ? Hay nó sẽ cố cưỡng lại sự đồng hóa và bị kết nạp, cùng với một vài thành công nho nhỏ của cuộc kháng cự của nó, vào tầng lớp vô sản ngoại lai cứng đầu cứng cổ của xã hội Hy Lạp cổ, tầng lớp sẽ “tham dự tang lễ” của xã hội đó và ngấu nghiến xác chết của nó? Nói tóm lại, nó sẽ là xác chết hay là kẻ ăn xác chết? Thách thức này đã xảy đến đối với người Celt và người Teuton. Người Celt sau một thời gian dài đấu tranh đã suy vong; còn người Teuton sau đó đã đáp trả thành công.

Sự suy vong của người Celt là điều khá ngạc nhiên, vì họ đã biết tận dụng những điều kiện thuận lợi và có được một khởi đầu tốt. Họ đã được trao cho cơ hội từ một sai lầm chiến lược của người Etruria. Cộng đồng Hittite chuyển sang nền văn minh của đối thủ Hy Lạp cổ này trong khi khai phá vùng Tây Địa Trung Hải đã không chịu thỏa mãn với việc duy trì địa vị trên bờ biển phía tây nước Ý; những người tiên phong của họ hấp tấp tiến vào nội địa băng qua dãy Apennines và phân tán tản mát khắp vùng thung lũng sông Po. Tại đây họ đã tiêu tốn quá nhiều sức lực và kích động người Celt tiêu diệt họ. Kết quả là một cơn bão Celtic kéo dài khoảng hai thế kỷ và đưa những “dòng thác lũ” người Celt không chỉ vượt dãy Apennines đến La Mã (trong cuộc chinh phạt ngoại bang năm 390 trước CN), mà còn tới tận Macedonia (279-6 trước CN), Hy Lạp và sang phía đông tới Anatolia, nơi họ để lại dấu ấn và tên tuổi của mình là người “Galatia”. Hannibal đã liên minh với những kẻ chinh phục người Celt ở thung lũng sông Po, nhưng họ đã thất bại, và cơn bão Celtic đã kích thích một đáp trả ngoan cường của đế quốc La Mã. Tại biên giới phía tây của họ kéo dài từ Rimini tới sông Rhine và Tyre cũng như ở những tiền đồn phía đông trên sông Danube và Halys, người Celt đã bị tan rã, bị nuốt chửng và cuối cùng bị tiêu hóa bởi Đế chế La Mã.

Sự tan rã của lớp người Celt làm lớp người Teuton, vốn nằm ngay phía sau họ trong các lớp người man di Âu châu, phải đối mặt với cùng thách thức. Viễn cảnh của người Teuton hiện ra như thế nào đối với một sử gia thời Augustan, người thường hay nhớ lại sự sụp đổ hoàn toàn của một cơn bão Teuton trong tay người Marius và đã chứng kiến Caesar đập tan Ariovistus của người Teuton và nhổ rễ người Gaul? Ông ta dự đoán rằng người Teuton sẽ đi theo vết xe đổ của người Celt, và có lẽ còn gây ra ít khó khăn hơn cho quá trình đó; nhưng ông ta đã lầm. Biên giới La Mã chỉ vươn tới Elbe được một thời gian ngắn, sau đó thoái lui triệt để tới tận tuyến sông Rhine - Danube và dừng bước ở đó. Và chúng ta đã biết rằng, khi một đường biên giới giữa một nền văn minh với một cộng đồng người man di đứng yên, thì thời gian luôn luôn đứng về phía những người chưa được khai hóa. Người Teuton, không giống như người Celt, đã đề kháng được với các cuộc đột kích của nền văn minh Hy Lạp cổ, bất kể là do các chiến binh, thương nhân hay nhà truyền giáo thực hiện. Đến thế kỷ thứ năm sau CN, khi người Goth và người Vandal cướp bóc vùng Peloponnese và chiếm giữ Rome để đòi tiền chuộc và chiếm hữu xứ Gaul, Tày Ban Nha và châu Phi, thì thực tế đã quá rõ ràng là người Teuton đã thành công tại vị trí mà người Celt đã thất bại; và điều này chứng minh rằng, sau rốt, áp lực của nền văn minh Hy Lạp cổ không quá khắc nghiệt để một phản ứng khác đáp trả nó thành công có thể diễn ra sau đó.

Tương tự như vậy, sự xâm nhập của nền văn minh Hy Lạp cổ vào thế giới Syria cổ trên con tàu của Alexander Đại Đế bộc lộ một thách thức khó khăn cho xã hội Syria cổ. Liệu nó có phát triển lớn mạnh trước nền văn minh ngoại xâm và trục xuất được kẻ ngoại bang hay không? Đứng trước thách thức này, xã hội Syria cổ đã thực hiện một loạt nỗ lực đáp trả, và tất cả những nỗ lực này đều mang một đặc điểm chung. Trong mọi trường hợp cụ thể, phản ứng chống lại nền văn minh Hy Lạp cổ đều lấy tôn giáo làm phương tiện chuyển tải. Dù vậy vẫn có một khác biệt cơ bản giữa bốn phản ứng đầu với phản ứng cuối cùng. Những phản ứng của Bái hỏa giáo, Do Thái giáo, Thiên Chúa giáo Nestorian và Thiên Chúa giáo Monophysite thất bại; còn phản ứng của Hồi giáo thì thành công.

Các tín đồ Bái Hỏa giáo và Do Thái giáo đều cố gắng đấu tranh chống lại uy lực của nền văn minh Hy Lạp cổ với sự trợ lực từ các tôn giáo đã phổ biến trong thế giới Syria từ trước khi có sự xâm nhập của nền văn minh Hy Lạp. Với sức mạnh của Bái Hỏa giáo, người Iran ở lãnh địa phía đông của nền văn minh Syria đã đứng lên chống lại văn minh Hy Lạp và đánh bật nó, trong vòng hai thế kỷ kể từ cái chết của Alexander, ra khỏi mọi vùng lãnh thổ phía đông sông Euphrates. Tuy nhiên đến đó, phản ứng của Bái Hỏa giáo đã lên đến đỉnh điểm rồi lại thoái trào, kết quả là những vùng còn lại do Alexander xâm chiếm đã được người La Mã thu hồi về cho nền văn minh Hy Lạp cổ. Phản ứng của người Do Thái dưới triều Maccabees cũng không thành công trong nỗ lực hung bạo hơn nhiều nhằm giải phóng quê hương của họ ở miền Tây nền văn minh Syria, gần Địa Trung Hải, bởi một cuộc khởi nghĩa từ bên trong. Thắng lợi ngắn ngủi ở vùng Seleucids đã bị người La Mã trả thù. Trong cuộc đại chiến La Mã - Do Thái từ 66-70, cộng đồng người Do Thái ở Palestine đã bị nghiền nát, và “cảnh tượng tàn phá hãi hùng” mà Maccabees đã từng đánh bật khỏi đất thánh, đã quay trở lại khi Hadrian lập nên ở Jerusalem một khu định cư Aelia Capitolina.

Phản ứng của người Nestoria và Monophysite là những nỗ lực chống lại văn minh Hy Lạp cổ bằng một loại vũ khí mà nền văn minh xâm lược đã tự rèn cho bản thân nó từ thứ hợp kim pha trộn giữa văn minh Hy Lạp cổ và Syria cổ. Trong tôn giáo kết hợp của Thiên Chúa giáo nguyên thủy, cốt lõi của linh hồn tôn giáo Syria cổ được Hy Lạp hóa đến một mức độ phù hợp với linh hồn của văn minh Hy Lạp, và do đó không còn phù hợp với linh hồn của văn minh Syria nữa. Những người “dị giáo” Nestoria và Monophysite đều nỗ lực “phản Hy Lạp hóa” Thiên Chúa giáo, và cả hai đều thất bại với tư cách là kẻ chống lại sự xâm nhập của văn minh Hy Lạp cổ. Thiên Chúa giáo Nestoria bị đẩy lùi một cách nhục nhã qua khỏi bờ đông sông Euphrates. Còn Monophysite vẫn giữ được lãnh địa của mình ở Syria, Ai Cập và Armenia nhờ chinh phục được trái tim của tầng lớp nông dân chưa bao giờ bị Hy Lạp hóa; nhưng nó chẳng bao giờ tống khứ được sự thống trị của văn minh Cơ Đốc Chính thống và Hy Lạp cổ bên trong những bức tường thành phố.

Một người Hy Lạp sống cùng thời với Hoàng đế Heraclius vào khoảng năm 630 sau CN đã chứng kiến thắng lợi của Đế chế La Mã phương Đông trong cuộc biểu dương sức mạnh gần nhất trước những người Sasanid Ba Tư và thắng lợi tương tự của Cơ Đốc Chính thống trước những kẻ dị giáo Nestoria và Monophysite, có thể vội vã tạ ơn Thiên Chúa đã ban cho bộ ba La Mã, Thiên Chúa giáo và văn minh Hy Lạp sức mạnh vô địch. Thế nhưng, đây chính là thời điểm phản ứng đáp trả thứ năm của nền văn minh Syria cổ đang treo lơ lửng. Bản thân Hoàng đế Heraclius cũng chẳng thể nào biết đến mùi vị thất bại cho tới khi ông chứng kiến Umar- kẻ hậu duệ của đại tiên tri Muhammad - tiến vào vương quốc của ông để hủy diệt, tuyệt đối và mãi mãi công trình Hy Lạp hóa các lãnh địa Syria cổ kể từ thời Alexander. Và như vậy, Hồi giáo đã thành công ở vị trí mà những giáo phái trước nó đã thất bại. Nó đã hoàn tất cuộc trục xuất nền văn minh Hy Lạp ra khỏi thế giới Syria cổ. Nó tái lập, qua các vương triều Ả Rập, chính quyền trung ương của xã hội Syria cổ mà Alexander đã đập tan một cách không thương xót, trước khi sứ mệnh của nó được thỏa mãn, đó là khi nó lật đổ Achaemenidae ở Ba Tư. Cuối cùng, Hồi giáo đã cung cấp cho xã hội Syria cổ một giáo hội trung ương bản địa và qua đó cho phép nó, sau nhiều thế kỷ bị đình chỉ hoạt động, thoát khỏi bóng đêm; còn Hồi giáo, nó đã trở thành cái nôi hình thành nên các nền văn minh mới là Ả Rập và Iran.

Những ví dụ vừa đề cập ở trên cho thấy, chúng ta vẫn chưa tìm được phương pháp đúng đắn để xử lý vấn đề của mình, đó là tìm một minh họa rõ ràng, trong đó có một thách thức được chứng minh là quá khắc nghiệt. Do vậy, chúng ta sẽ phải tiếp cận vấn đề này theo những con đường khác.

(2) SO SÁNH GIỮA BA GIỚI HẠN

Một phương pháp mới để tiếp cận vấn đề

Liệu ta có thể tìm ra một phương pháp tìm kiếm thay thế để có kết quả tốt hơn không? Chúng ta hãy thử tiến hành điều tra theo hướng ngược lại. Cho tới nay, chúng ta đều khởi đầu bằng việc khảo sát một thách thức đã từng đánh bại một phản ứng. Giờ đây, chúng ta hãy bắt đầu với những ví dụ, trong đó một thách thức tạo ra một nhân tố kích thích có hiệu quả và gây nên một phản ứng thành công. Ở nhiều phần trong chương trước, chúng ta đã phân tích nhiều ví dụ minh họa thuộc loại này và đã so sánh trường hợp đáp ứng thành công với những cái khác tương tự, trong đó một lực lượng, hoặc lực lượng khác tương tự phản ứng ít thành công hơn trước cùng một thách thức, hoặc một thách thức tương tự ít khắc nghiệt hơn. Giờ đây, chúng ta hãy xem xét lại một số phép so sánh ở khoảng giữa hai giới hạn và xem, liệu chúng ta có thể gia tăng số giới hạn của ta từ hai lên ba hay không.

Chúng ta hãy xem xét mỗi trường hợp dưới một tình huống lịch sử thứ ba, trong đó thách thức có độ khắc nghiệt cao hơn so với tình huống mà chúng ta đã khởi đầu. Nếu chúng ta thành công trong việc tìm ra một giới hạn thứ ba theo kiểu này, thì tình huống mà chúng ta đã khởi đầu - tức là tình huống có phản ứng đáp trả thành công - sẽ trở thành một giới hạn trung tâm nằm giữa hai thái cực. Tại hai thái cực này, độ khắc nghiệt tương ứng của thách thức sẽ nhỏ hơn và lớn hơn tại giới hạn trung tâm. Thế còn độ thành công của phản ứng đáp trả thì sao? Trong tình huống thách thức ít khắc nghiệt hơn chúng ta đã thấy là đáp ứng kém thành công hơn. Nhưng còn trong tình huống thứ ba, mà chúng ta vừa đưa ra thì sao? Ở đây, khi độ khắc nghiệt của thách thức đạt mức cao nhất, liệu chúng ta có thấy độ thành công của sự đáp trả cũng sẽ đạt tới đỉnh điểm hay không? Giả sử điều này là đúng, thì điều ngược lại, nghĩa là sự gia tăng độ khắc nghiệt của thách thức vượt quá giới hạn trung tâm sẽ không đi kèm với sự gia tăng độ thành công của phản ứng mà ngược lại, phản ứng sẽ suy sụp dần, có đúng hay không? Nếu điều này được chứng minh, thì chúng ta đã tìm ra được mối quan hệ tương tác giữa thách thức và phản ứng đáp trả, đó chính là chủ đề của một “quy luật suy giảm kết quả”; và chúng ta sẽ kết luận rằng, có một phạm vi trung tâm của độ khắc nghiệt mà tại đó, nhân tố kích thích đạt tới đỉnh điểm, và chúng ta sẽ gọi mức độ này là mức độ tối ưu, khác với mức độ tối đa là giới hạn cao nhất của tính khắc nghiệt của thách thức.

Na Uy- Iceland - Greenland

Chúng ta đã từng phát hiện rằng, chính tại Iceland, chứ không phải ở Na Uy, Thụy Điển hay Đan Mạch, nền văn minh Scandinavia đã đạt tới những thành tựu vĩ đại nhất cả trong văn học lẫn chính trị. Thành tựu của nó là phản ứng đáp trả một nhân tố kích thích kép, đó là nhân tố kích thích của cuộc di cư vượt đại dương và nhân tố kích thích của một xứ sở lạnh lẽo và cằn cỗi hơn so với nơi mà các nhà hàng hải Scandinavia này bỏ lại sau lưng. Bây giờ giả sử cùng thách thức này được lặp lại với độ khắc nghiệt nhân đôi; giả sử rằng những người Na Uy đã đi 500 dặm và đến định cư tại một xứ sở mà mức độ cằn cỗi so với Iceland còn hơn là Iceland so với Na Uy. Liệu tình trạng khắc nghiệt nhân đôi này có nuôi dưỡng nên một cộng đồng người Scandinavia xuất sắc gấp đôi trong văn học và chính trị so với người Iceland hay không? Câu hỏi này không phải chỉ là giả thuyết, vì những điều kiện mà chúng ta đặt ra đã thực sự được thỏa mãn khi những người Scandinavia vượt biển đổ bộ lên đảo Greenland. Và đáp án cho câu hỏi là hết sức rõ ràng. Nhóm định cư trên đảo Greenland đã thất bại thảm hại; sau khoảng thời gian khoảng nửa thiên niên kỷ, những người Greenland này đã dần dần bị đánh bại trong một trận chiến đầy bi kịch chống lại một môi trường tự nhiên quá khắc nghiệt ngay cả đối với họ.

Dixie - Massachusetts - Maine

Chúng ta đã từng so sánh độ khắc nghiệt của thách thức tự nhiên qua khí hậu khó khăn và đất đai sỏi đá của vùng New England với thách thức ít khắc nghiệt hơn ở Virginia và Carolina đối với những người thực dân Mỹ gốc Anh, và cũng chứng kiến, trong cuộc đấu tranh giành quyền kiểm soát tân lục địa, chính những người New England đã vượt trội so với các đối thủ của họ. Rõ ràng là ranh giới Mason và Dixon đã phản ứng mạnh mẽ với giới hạn phía nam của một khu vực thách thức tối ưu. Giờ đây, chúng ta phải tự hỏi rằng, liệu khu vực có nhân tố kích thích đỉnh cao này có một giới hạn khác ở phía bắc hay không, và ngay khi đưa ra câu hỏi chúng ta đã nhận được một câu trả lời khẳng định.

Giới hạn phía bắc của khu vực khí hậu tối ưu này trong thực tế đã chia nhỏ vùng New England; vì khi nhắc tới New England và vai trò của nó trong lịch sử nước Mỹ, thực ra chúng ta chỉ nghĩ tới ba trong số sáu tiểu bang của nó - đó là Massachusetts, Connecticut và đảo Rhode, chứ không phải New Hampshire, Vermont và Maine. Massachusetts vẫn luôn luôn là một trong những cộng đồng nói tiếng Anh dẫn đầu ở lục địa Bắc Mỹ. Trong thế kỷ 18, nó đóng vai trò đầu tàu trong cuộc kháng chiến chống chế độ thuộc địa của Anh, và bất chấp sự phát triển nhảy vọt của Hoa Kỳ kể từ thời kỳ đó, Massachusetts vẫn duy trì địa vị của nó trong lĩnh vực tri thức khoa học và một chừng mực nào đó trong cả các lĩnh vực công nghiệp và thương mại. Trái lại, Maine, mặc dù vốn là một phần của Massachusetts cho tới khi trở thành một tiểu bang độc lập vào năm 1820, luôn luôn đóng một vai trò không quan trọng, và tồn tại đến tận ngày nay như một viện bảo tàng sống - một di tích của New England thế kỷ 17 với các cư dân là tiều phu, người lái đò và thợ săn. Những đứa con của xứ sở khắc nghiệt ấy giờ đây bổ sung cho sinh kế ít ỏi của mình bằng cách làm “hướng dẫn viên” cho những khách tham quan Bắc Mỹ, đến để nghỉ ngơi ở tiểu bang miền quê này, chỉ vì Maine vẫn còn giữ nguyên dáng vẻ của nó từ thời kỳ mà nhiều thành phố khác vẫn chưa bắt đầu hình thành. Maine ngày nay là một trong những vùng lãnh thổ già nua nhất của Liên bang Hoa Kỳ và là vùng ít mang tính thành thị và ít phức tạp nhất.

Giải thích sự tương phản này giữa Maine và Massachusetts như thế nào? Có vẻ như độ khắc nghiệt của môi trường New England đạt tới giới hạn tối ưu ở Massachusetts, đã tiếp tục gia tăng ở Maine tới một mức độ mà kết quả là giảm sút phản ứng của con người. Và nếu tiến hành nghiên cứu ở xa hơn nữa về phía bắc, chúng ta sẽ có thể xác nhận phỏng đoán này. New Brunswick, Nova Scotia và đảo Hoàng tử Edward là những khu vực lãnh thổ ít phồn vinh và ít năng động nhất của vùng tự trị Canada. Xa hơn nữa về phía bắc, “vùng đất mới” trong những năm gần đây đã buộc phải từ bỏ cuộc đấu tranh không cân sức để được tự đứng trên đôi chân của chính mình bằng cách đồng ý quy thuận chính quyền thực dân để đổi lấy sự viện trợ của nước Anh. Và lại xa hơn nữa về phía bắc, ở Labrador, chúng ta lại có những điều kiện tương tự như đã thấy ở những người Na Uy định cư ở Greenland - một thách thức tối đa, vượt xa giới hạn tối ưu, có thể được mô tả bằng từ “áp lực tối đa”.

Brazil - La Рlatа - Patagonia

Bờ biển Đại Tây Dương của Nam Mỹ rõ ràng cũng bộc lộ hiện tượng giống như vậy. Ví dụ như ở Brazil, phần lớn tài sản, thiết bị, dân số và sinh lực của dân tộc tập trung ở một bộ phận nhỏ trong vùng lãnh thổ khổng lồ nằm ở phía nam vĩ tuyến nam thứ 20 này. Hơn nữa, bản thân miền Nam Brazil vẫn kém văn minh hơn so với các khu vực ở xa hơn nữa về phía nam, ở cả hai bên cửa sông La Plata, đó là nước Cộng hòa Uruguay và bang Buenos Aires của Argentina. Đây là chứng cứ cho thấy rằng, dọc theo bờ biển Đại Tây Dương của Nam Mỹ, khu vực xích đạo không đấu tranh phản ứng mà hoàn toàn buông xuôi. Nhưng cũng có chứng cứ cho thấy, khí hậu ôn hòa ở cửa sông Rio de la Plata đạt tới mức độ tối ưu; vì nếu chúng ta đi dọc theo bờ biển xa hơn nữa về phía nam, chúng ta sẽ thấy một sự gia tăng “áp lực”, nhưng suy yếu dần trong phản ứng đáp trả khi chúng ta đi qua vùng cao nguyên cằn cỗi ở Patagonia. Nếu tiếp tục đi xa hơn nữa, chúng ta sẽ chứng kiến tình trạng còn tồi tệ hơn vì xung quanh chúng ta chỉ toàn là những người nguyên thủy sắp chết đói và khó khăn lắm mới có thể sống sót giữa sương giá và tuyết ở Tierra del Fuego.

Galloway - Ulster - Appalachia

Tiếp theo, chúng ta hãy xét một ví dụ minh họa trong đó thách thức không hoàn toàn là tự nhiên mà gồm có một phần là tự nhiên và một phần là con người.

Ngày nay, có một sự tương phản rõ ràng giữa Ulster và phần còn lại của Ireland. Trong khi miền Nam Ireland là một xứ sở nông nghiệp cổ điển thì Ulster là một trong những công xưởng bận rộn nhất trong thế giới Tây phương hiện đại. Belfast sánh ngang với Glasgow, Newcastle, Hamburg hoặc Detroit, và người Ulster hiện đại nổi tiếng về tính năng động cũng chẳng kém gì sự khó gần của họ.

Do phản ứng đáp trả thách thức nào mà người Ulster đã trở nên như vậy? Họ đã phản ứng đáp trả thách thức kép của cuộc di cư vượt biển từ Scotland, và của cuộc đấu tranh với các cư dân Ireland địa phương sau khi họ đã đến Ulster. Thành quả của phản ứng đáp trả này có thể nhìn thấy khi so sánh quyền lực và tài sản của Ulster ngày nay với cảnh nghèo nàn khiêm tốn ở những vùng lãnh thổ của Scotland gần biên giới với nước Anh và dọc theo vùng rìa thấp của “vành đai cao nguyên” - nơi những người định cư gốc Scotland ở Ulster đã được chiêu mộ vào đầu thế kỷ 17.[1]

Tuy nhiên, người Ulster hiện đại không phải là những đại diện còn tồn tại duy nhất của những người di cư ra hải ngoại này; vì những người Scotland tiên phong di cư sang Ulster sau này sinh ra các hậu duệ “Ireland gốc Scotland”, lại một lần nữa đã di cư từ Ulster sang Bắc Mỹ trong thế kỷ 18, và họ vẫn còn sống sót đến ngày nay trong những khu vực hẻo lánh của hệ thống Appalachian, một vùng cao nguyên chạy xuyên qua sáu tiểu bang của Hoa Kỳ từ Pennsylvania tới Georgia. Tác động của cuộc di dân thứ hai này là gì? Trong thế kỷ 17, các thần dân của vua James đã vượt kênh đào Thánh George và chạm trán với những người Ái Nhĩ Lan hoang dã thay vì những cư dân cao nguyên hoang dã. Vào thế kỷ 18, các con cháu của họ vượt Đại Tây Dương để trở thành những “chiến binh da đỏ” trong các khu rừng hẻo lánh ở châu Mỹ. Rõ ràng là thách thức ở châu Mỹ này khắc nghiệt hơn rất nhiều so với thách thức ở Ireland trong cả hai khía cạnh, tự nhiên lẫn con người. Song, sự gia tăng thách thức này có thúc đẩy một sự gia tăng phản ứng đáp trả không? Nếu so sánh người Ulster với người Appalachian ngày nay, hai thế kỷ sau khi họ phân ly, chúng ta sẽ thấy câu trả lời một lần nữa lại là phủ định. Người Appalachian hiện đại chẳng những không tiến bộ hơn so với người Ulster; mà họ còn không giữ nổi địa vị của mình và đã thoái hóa một cách tệ hại. Thực tế là các “cư dân miền núi” Appalachian hiện nay không hơn gì những người rợ. Họ đã quay trở lại với trạng thái mù chữ và mê muội với thuật phù thủy, phải vật lộn với sự bần cùng, bẩn thỉu và bệnh tật. Họ là bản sao ở châu Mỹ của những người rợ da trắng sau này của thế giới cũ - người Rifi, Albania, Kurd, Pathan và người Ainu nhiều lông; nhưng trong khi những nhóm người nói trên là tàn tích của người rợ thời cổ đại, thì người Appalachian tiêu biểu cho bi kịch của những con người đã đạt được sự văn minh nhưng rồi lại đánh mất nó.

Phản ứng đáp trả sự tàn phá của chiến tranh

Trong trường hợp người Appalachia gốc Ulster, thách thức mang cả hai khía cạnh tự nhiên lẫn con người, nhưng “quy luật suy giảm kết quả” cũng xuất hiệu rõ ràng không kém trong những ví dụ khác mà thách thức chỉ bao gồm khía cạnh con người. Ví dụ như, hãy xét những tác động của thách thức hình thành từ sự tàn phá của chiến tranh. Chúng ta đã từng ghi nhận hai trường hợp mà những thách thức khắc nghiệt loại này dẫn tới những phản ứng đáp trả thắng lợi: Athens đáp trả sự tàn phá do cuộc xâm lược của người Ba Tư bằng cách trở thành “tấm gương giáo dục cho toàn Hy Lạp cổ”, và nước Phổ đáp trả tàn phá từ cuộc xâm lược của Napoleon bằng cách trở thành nước Đức Bismarck. Liệu chúng ta có thể tìm được một thách thức đã được chứng minh là quá khắc nghiệt, trong đó những vết thương của sự tàn phá ngày một ung thối và cuối cùng dẫn đến tử vong hay không? Câu trả lời là có thể.

Sự tàn phá nước Ý do Hannibal gây ra, cũng như những vết thương khô héo khác, lúc đầu tưởng chừng là một phúc lành được ngụy trang. Những vùng đất trồng trọt bị tàn phá ở miền Nam Ý đã chuyển một phần thành các đồng cỏ, một phần thành các vườn nho và vườn ô-liu, nền kinh tế nông nghiệp mới, theo kiểu trồng trọt và chăn nuôi, được thực hiện bởi lực lượng lao động nô lệ thay thế cho các nông dân tự do, những người đã từng cày xới đất đai ở đây trước khi quân lính của Hannibal đốt hết nhà cửa của họ, cũng như trước khi cỏ dại và cây tầm xuân tấn công vào những cánh đồng hoang. Sự thay đổi từ ngành nông nghiệp lương thực sang ngành nông nghiệp thu hoa lợi, và từ người nông dân sang người sử dụng sức nô lệ mang tính cách mạng này đã làm gia tăng giá trị sản phẩm của vùng đất trong một thời gian. Nhưng điều nghiêm trọng là những khoảng trống để lại từ sự thay đổi đó là một thảm họa xã hội - sự suy giảm dân số ở khu vực nông thôn và sự hình thành một tầng lớp vô sản nghèo khó của những người cựu nông dân trong các thành phố. Nỗ lực loại trừ những thảm họa xã hội này được Gracchi thực hiện vào thế hệ thứ ba sau khi Hannibal rút lui khỏi nước Ý, chỉ càng làm trầm trọng thêm tình trạng khó khăn của dân chúng La Mã do việc hấp tấp thúc đẩy cuộc cách mạng chính trị trong khi chưa kiểm soát được cuộc cách mạng kinh tế. Mâu thuẫn chính trị đã châm ngòi cho cuộc nội chiến, và 100 năm sau chế độ của Tiberius Gracchus, người La Mã chấp thuận thành lập nền chuyên chính độc tài vĩnh viễn của Augustus như một phương thuốc quyết liệt hòng cứu chữa tình trạng tuyệt vọng của chính quyền. Như vậy, sự tàn phá nước Ý do Hannibal gây ra, không hề kích thích người La Mã như sự tàn phá vùng đất Attica của người Xerxes đã từng kích thích người Athens, mà ngược lại, nó đã gây cho họ một cú sốc và từ đó họ không bao giờ phục hồi được nữa. Sự trừng phạt gây ra do tàn phá, đã từng được chứng minh là một nhân tố kích thích khi được thực hiện dưới sức mạnh của người Ba Tư, đã trở thành một đòn chí tử dưới sự hung bạo của người Punic.

Phản ứng của người Trung Hoa trước thách thức của cuộc di dân

Chúng ta đã so sánh mức độ tác động khác nhau của các thách thức tự nhiên trên các nhóm di dân người Anh. Giờ đây, chúng ta hãy xét phản ứng của những người di dân Trung Hoa trước nhiều mức độ khác nhau của thách thức con người. Khi những người phu Trung Hoa di dân đến Mã Lai thuộc Anh hoặc Indonesia thuộc Hà Lan, họ được tưởng thưởng cho sự táo bạo của mình. Chấp nhận đương đầu với thử thách xã hội khi rời khỏi quê hương và gia nhập vào một môi trường xã hội xa lạ, họ được đền đáp bằng việc thoát khỏi môi trường kinh tế, trong đó họ bị vắt kiệt sức bởi các truyền thống xã hội lâu đời để gia nhập vào môi trường mới, trong đó họ được kích thích vươn lên, và không hiếm trường hợp họ đã tạo dựng được cơ đồ. Tuy nhiên, giả sử chúng ta gia tăng thử thách xã hội - vốn là cái giá của sự ưu đãi kinh tế. Giả sử như thay vì đưa họ tới Mã Lai hoặc Indonesia, chúng ta hãy đưa họ tới Úc hoặc California. Ở những “xứ sở của người da trắng” này, những người phu bạo gan của chúng ta, nếu có thể được dung nạp, sẽ phải trải qua một thử thách với độ khắc nghiệt lớn hơn rất nhiều. Không đơn thuần chỉ thấy mình là một người lạ ở một vùng đất lạ, họ còn phải chịu đựng sự trừng phạt có chủ tâm mà ở đó, ngay cả luật pháp cũng sẽ phân biệt đối xử đối với họ chứ không hỗ trợ như ở Mã Lai, nơi mà sự “bảo hộ chính thức người Trung Hoa” đã được ban hành bởi một chính quyền thực dân độ lượng. Liệu thử thách xã hội khắc nghiệt hơn này có khơi dậy một tiềm năng kinh tế mạnh mẽ tương xứng? Câu trả lời là không, bởi chúng ta sẽ thấy nếu so sánh mức độ phát đạt mà người Trung Hoa đã đạt được ở Mã Lai và Indonesia với những người đồng bào của họ di dân đến Úc và California.

Người Slav - người Achaea - người Teuton - người Celt

Tiếp theo, chúng ta hãy xem xét lại thách thức mà một nền văn minh đặt ra cho một cộng đồng người rợ: Đó là thách thức đặt ra cho hậu duệ của người rợ Âu châu do sự phát tán của nhiều nền văn minh vào sâu bên trong lục địa đã từng một thời tối tăm hoang sơ này.

Khi nghiên cứu hiện tượng này, sự chú ý của chúng ta dừng lại ở một ví dụ, trong đó thách thức đã kích hoạt một phản ứng đáp trả phi thường. Nền văn minh Hy Lạp cổ có lẽ chính là đóa hoa rực rỡ nhất trong trường hợp này, đã nở ra trong phản ứng đáp trả thách thức đến từ nền văn minh Minoan của người rợ Âu châu. Khi nền văn minh biển cả Minoan hình thành cũng như khi họ đặt chân lên bán đảo Hy Lạp, những người rợ Achaea trong nội địa đã không để bị tiêu diệt, khuất phục hoặc đồng hóa. Thay vào đó, họ đã thành công trong việc duy trì bản sắc của mình như một tầng lớp tách biệt của xã hội Minoan mà không quên học hỏi nghệ thuật của nền văn minh mà họ đang chứa chấp. Rồi họ vươn ra biển, thay thế các yếu tố đặc trưng của nền văn minh biển cả bằng các bản sắc văn hóa của chính mình, và từ đó trở thành các tổ tiên thật sự của nền văn minh Hy Lạp cổ. Vai trò tổ tiên nền văn minh Hy Lạp cổ của người Achaea đã được xác minh, như chúng ta từng được chứng kiến, bởi một thử nghiệm về tôn giáo. Các thần thánh trên đỉnh Olympus biểu hiện rất rõ những nét đặc trưng của cộng đồng người rợ, trong khi mọi di tích của tôn giáo Hy Lạp cổ thừa kế từ thế giới Minoan chỉ được tìm thấy, nếu có, trong những nhà thờ và hầm mộ nhỏ bên hông đền thờ của tôn giáo Hy Lạp cổ, hoặc trong một số nghi lễ thờ phượng, nghi lễ bí truyền, và tín ngưỡng bí mật ở địa phương.

Nhân tố kích thích trong ví dụ này được đánh giá qua sự lỗi lạc của văn minh Hy Lạp cổ; nhưng chúng ta cũng có thể đánh giá nó theo một hướng khác bằng cách so sánh vận mệnh của lớp người rợ Achaea này với vận mệnh của một lớp người rợ khác ở xa. Những người này vốn được che chở kỹ đến mức, gần như miễn nhiễm trước sự phát tán của bất kỳ một nền văn minh nào trong vòng 2000 năm sau khi người Achaea đón nhận thách thức từ văn minh Minoan và thực hiện phản ứng đáp trả lỗi lạc của mình. Đó là người Slav, vốn thu mình nằm gọn trong các đường ranh giới Pripet, khi những khu vực hẻo lánh này của lục địa hiện ra trước mắt con người do sự thoái lui của các chỏm băng. Tại đây, họ tiếp tục đời sống nguyên thủy của người rợ châu Âu hết thế kỷ này sang thế kỷ khác, và khi thời kỳ Völkerwanderung của người Teuton chấm dứt và bộ trường thiên tiểu thuyết Hy Lạp cổ mở đầu bằng thời kỳ Völkerwanderung của người Achaea, thì những người Slav này vẫn у như cũ.

Vào thời khắc sau chót của những người rợ Âu châu, người Slav cuối cùng cũng bị đánh bật khỏi khu vực hẻo lánh của mình bởi người du mục Avar, những người đã bị cám dỗ vượt qua giới hạn tự nhiên của thảo nguyên Á-Âu để phụ giúp người Teuton một tay trong việc cướp phá và làm sụp đổ Đế chế La Mã. Trong môi trường xa lạ của thế giới nông nghiệp, những đứa con lạc loài của thảo nguyên tìm cách điều chỉnh lối sống cũ cho phù hợp với những điều kiện mới. Ở thảo nguyên, người Avar sinh sống như những người chăn nuôi gia súc; còn trên vùng đất trồng trọt mà giờ đây họ đang xâm chiếm, các nhà chăn nuôi của chúng ta nhận thấy rằng, vật nuôi thích hợp nhất là những “nông nô con người”, và thế là họ trở thành những kẻ chăn nuôi người. Nếu như trước kia, họ thường hay tấn công và cướp bóc đàn gia súc của các bộ tộc du mục láng giềng để lấp đầy những vùng đồng cỏ mới chinh phục của mình, thì giờ đây, họ cũng muốn tìm một giống người nào đó để lấp đầy những lãnh địa thưa thớt dân cư của Đế chế La Mã đã rơi vào tay họ. Người Avar tìm thấy điều mình muốn ở người Slav, tập trung họ thành đàn, rồi nhốt họ vào một vành đai khổng lồ xung quanh đồng bằng Hungary, trong đó họ được phép tự dựng lều trại của mình. Đây chính là bước khởi đầu của quá trình những người Slav phương Tây tiên phong - tổ tiên của người Czech, người Slovak và người Nam Tư hiện nay - thực hiện vai trò muộn màng và nhục nhã của họ trong lịch sử.

Sự tương phản nói trên giữa người Achaea và người Slav cho thấy rằng, đối với một xã hội nguyên thủy, việc hoàn toàn miễn nhiễm trước thách thức đọ sức với các nền văn minh là một bất lợi cực kỳ nghiêm trọng. Thực tế đã chứng minh rằng, thách thức này có tác động kích thích khi mức độ khắc nghiệt của nó nằm trong một giới hạn nhất định nào đó. Nhưng giả sử chúng ta gia tăng độ khắc nghiệt của thách thức; giả sử chúng ta gia tăng mức độ năng lượng mà xã hội Minoan bức xạ lên một mức mạnh hơn, thì liệu bằng cách đó, chúng ta có gây ra được một phản ứng đáp trả mạnh mẽ hơn so với những người Achaea tổ tiên của nền văn minh Hy Lạp cổ không, hay là “quy luật suy giảm kết quả” sẽ lại một lần nữa được thể hiện? Trong trường hợp này, chúng ta không cần phải tự suy diễn, vì ở giữa người Achaea và người Slav còn có nhiều lớp người rợ khác chịu ảnh hưởng trước bức xạ của nhiều nền văn minh khác nhau với nhiều mức độ khác nhau. Những lớp người đó thì sao?

Một ví dụ trong đó người rợ Âu châu đã bó tay trước một luồng bức xạ có sức tàn phá mãnh liệt đã từng được chúng ta đề cập. Chúng ta đã từng khảo sát người Celt cuối cùng đã bị tiêu diệt, khuất phục hoặc đồng hóa sau sự bột phát ngắn ngủi của phản ứng đáp trả nhân tố kích thích mà họ đã nhận được qua trung gian là người Etruria. Chúng ta cũng đã phân tích sự tương phản giữa thất bại của người Celt với thành công tương đối của người Teuton trong việc trụ vững trước ảnh hưởng của nền văn minh Hy Lạp cổ. Chúng ta đã nhấn mạnh rằng lớp người rợ Teuton, khác với lớp người Celt, đã đề kháng trước hành vi chia rẽ của nền văn minh Hy Lạp cổ một cách hiệu quả nhờ giành được một vị trí trong tầng lớp bị trị bên ngoài của thế giới Hy Lạp cổ và giải quyết xã hội này trong cơn hấp hối của nó bằng một đòn kết liễu. Nếu so sánh với người Celt thì phản ứng này của người Teuton là một thành công; nhưng khi so sánh thành tựu của họ với người Achaea, chúng ta thấy rằng chiến thắng của người Teuton đạt được với cái giá quá đắt. Họ tham gia vào cái chết của xã hội Hy Lạp cổ chỉ để nhận đòn kết liễu của chính mình, gây ra từ những kẻ ăn theo đối địch thuộc tầng lớp bị trị của xã hội quá cố. Thắng lợi trên chiến trường này không thuộc về tập đoàn chiến tranh Teuton mà thuộc về giáo hội Thiên Chúa giáo La Mã, cái nôi để tầng lớp bị trị của xã hội Hy Lạp cổ thành lập. Trước khi thế kỷ 17 khép lại, mọi thành viên của những tập đoàn chiến tranh của người ngoại đạo Aria hoặc Teuton đã cả gan xâm nhập vào đất La Mã đều bị cải đạo thành Thiên Chúa giáo hoặc bị quét sạch. Nền văn minh mới - hậu duệ của Hy Lạp cổ - liên hệ với nền văn minh tiền đề của nó thông qua tầng lớp bị trị trong nước, chứ không thông qua tầng lớp bị trị bên ngoài. Nền văn minh Cơ Đốc Tây phương về cơ bản là sáng tạo của giáo hội Thiên Chúa giáo - trái ngược với nền văn minh Hy Lạp cổ, về cơ bản là sáng tạo của cộng đồng người rợ Achaea.

Giờ đây, chúng ta hãy sắp xếp chuỗi thách thức của mình theo thứ tự tăng dần về độ khắc nghiệt. Người Slav miễn nhiễm trước mọi thách thức và rõ ràng là trường hợp kém cỏi nhất vì không được tiếp xúc với nhân tố kích thích nào. Thứ mà người Achaea nhận được, xét theo phản ứng đáp trả của họ, phải được coi là thách thức tối ưu. Người Teuton trụ vững được trước thách thức của nền văn minh Hy Lạp, nhưng sau đó suy vong trước thách thức của Thiên Chúa giáo. Người Celt, tiếp xúc với nền văn minh Hy Lạp cổ vào thời kỳ đầu của nó - trái với người Teuton tiếp xúc khi nó đã suy tàn - đã bị nó lấn át hoàn toàn. Người Slav và người Celt đã gặp phải những giới hạn cực - một bên miễn nhiễm một cách khô cứng, còn bên kia bị đè bẹp một cách dễ dàng. Người Achaea và người Teuton chiếm vị trí “giới hạn trung tâm” trong cuộc so sánh lần này - bao gồm tới bốn giới hạn thay vì ba; nhưng giới hạn trung tâm tối ưu thuộc về người Achaea.

(3) HAI NỀN VĂN MINH YỂU MỆNH

“Quân hậu tập” thời kỳ Völkerwanderung của người Teuton

Liệu chúng ta có thể xác định chính xác hơn vị trí mà quy luật suy giảm kết quả bắt đầu phát huy vai trò của nó trong chuỗi thách thức giữa các nền văn minh phát tán và cộng đồng rợ Âu châu hay không? Câu trả lời là có; vì còn hai ví dụ nữa mà chúng ta chưa đề cập đến. Đó là cuộc xung đột giữa giáo hội La Mã, mang tư cách là cha đẻ của xã hội Tây phương chúng ta, với nền văn minh Cơ Đốc Viễn Tây của “vành đai Celtic”, và cuộc xung đột giữa xã hội Tây phương của chúng ta vào thời kỳ đầu với xã hội Viễn Bắc hoặc Scandinavia của người Viking. Trong cả hai cuộc xung đột này, nền văn minh đối địch đều là “quân hậu tập” của người rợ vốn vẫn tồn tại ngoài vòng pháp luật của xã hội La Mã và đã trụ vững, chờ thời điểm đội quân tiên phong của người Teuton cắm lưỡi gươm kết liễu vào thể xác đang hấp hối của xã hội Hy Lạp cổ - để tiêu diệt và rồi bị tiêu diệt. Hơn nữa, cả hai đạo quân hậu tập này đều đạt tới một mức độ thành công, mặc dù là ngắn ngủi so với người Achaea, song vượt khá xa thành công của người Teuton và được xếp ngay dưới người Achaea trong bảng so sánh của chúng ta. Người Achaea thành công trong việc tạo ra một nền văn minh vĩ đại thay chân nền văn minh Minoan mà họ đã tấn công. Đội quân tiên phong của người Teuton tận hưởng “thời kỳ huy hoàng” ngắn ngủi trong cơn điên cuồng của sự hủy diệt, nhưng chẳng đạt được, hoặc hầu như chẳng đạt được, một giá trị tích cực nào. Trái lại, những người Cơ Đốc Viễn Tây và Viking Viễn Bắc đều đã sáng tạo ra được một nền văn minh, nhưng trong cả hai trường hợp, phôi thai của nó đều đã chết yểu trước một thách thức rõ ràng là quá mạnh đối với nó. Chúng ta đã từng nhiều lần ngụ ý về sự tồn tại của các nền văn minh yểu mệnh - các nền văn minh đã không được chúng ta đưa vào danh sách ban đầu của mình, vì bản chất của một nền văn minh được tìm thấy trong các thành tựu khi nó đã trưởng thành, trong khi những nền văn minh yểu mệnh đều bị “chết non”. Tiến trình biện luận của chúng ta giờ đây đã đưa tới một cơ hội, nó cho phép chúng ta phân tích hai nền văn minh trong số chúng.[2]

Nền văn minh Cơ Đốc Viễn Tây

Vành đai Celtic phản ứng lại Cơ Đốc giáo theo một cách rất riêng. Không như người Gothic cải đạo theo giáo phái Arian hoặc người Anglo-Saxon cải đạo thành Cơ Đốc giáo, những người Celt này không vồ vập tôn giáo lạ khi họ phát hiện ra nó. Thay vì để cho nó phá hoại nền văn hóa của mình, họ đã nhào nặn nó cho phù hợp với di sản xã hội của họ. “Chưa có một chủng tộc nào”, Renan phát biểu, “từng thể hiện sự độc đáo và sáng tạo như thế trong cách tiếp cận Cơ Đốc giáo”. Có lẽ chúng ta có thể nhận thấy điều này ngay cả với phản ứng của những người Celt theo Cơ Đốc giáo ở nước Anh trước luật lệ của La Mã. Tuy thông tin về họ rất ít, nhưng chúng ta biết rằng họ đã sinh ra Pelagius, một lãnh tụ dị giáo đã khuấy động cả thế giới Cơ Đốc trong thời của ông. Tuy nhiên, về lâu về dài, thứ còn quan trọng hơn cả giáo phái của Pelagius là công trình của người đồng hương và đồng thời với ông, Patrick, người đưa Cơ Đốc giáo vượt qua biên giới của thế giới La Mã để đến Ireland.

Cuộc Völkerwanderung vượt đại đương của người Anh (tức là cuộc xâm lược nước Anh của người Anglo-Saxon), đã giáng cho người Celt nước Anh một đòn chí mạng, và tạo ra triển vọng cho người Celt ở Ireland. Ảnh hưởng của nó đã làm cho Ireland thoát khỏi những lãnh địa cũ của La Mã ở Tây Âu - nơi một nền văn minh Cơ Đốc giáo mới, vẫn định hướng về La Mã đang phát triển, ngay sau khi hạt giống của Cơ Đốc giáo được gieo trồng ở đó, chính sự cô lập trong thời kỳ đầu này đã tạo cho nó khả năng thai nghén một “xã hội Cơ Đốc Viễn Tây” độc lập và riêng biệt, với hạt nhân là Ireland, hình thành đồng thời với sự hình thành của xã hội Cơ Đốc Tây phương đại lục non trẻ. Sự độc đáo của xã hội Cơ Đốc Viễn Tây này được thể hiện rõ trong tổ chức giáo hội, trong nghi lễ và tiểu sử các thánh, cũng như trong văn học và nghệ thuật của nó.

Trong vòng 100 năm sau sứ mệnh của thánh Patrick (có thể xác định thời gian trong khoảng 432-61), giáo hội Ireland không chỉ phát triển những điểm đặc biệt của nó mà còn nhận được sự ngưỡng mộ từ Thiên Chúa giáo đại lục. Điều này được chứng minh qua sự tiếp đón nồng nhiệt, khi thời kỳ phân ly đã qua, mà các nhà truyền giáo và học giả Ireland nhận được ở nước Anh và trên đại lục và qua sự háo hức của các sinh viên học sinh Anh và đại lục đối với các trường của Ireland. Thời kỳ nổi trội của văn minh Ireland kéo dài từ ngày thành lập trường dòng đại học ở Clonmacnois ở Ireland vào năm 548 cho tới ngày thành lập tu viện thánh James theo kiểu Ireland vào năm 1090. Nhưng sự truyền bá văn hóa không phải là hệ quả xã hội duy nhất của việc nối lại tiếp xúc giữa Cơ Đốc giáo ở đảo và Cơ Đốc giáo đại lục. Một hệ quả khác là một cuộc đấu tranh quyền lực. Hệ quả này quyết định nền văn minh tương lai của Tây Âu sẽ phát triển từ một bào thai Ireland hay La Mã; và trên mặt trận này người Ireland bị đánh bại từ rất lâu trước khi họ đánh mất uy thế văn hóa của mình.

Cuộc tranh đua được đẩy lên tới đỉnh điểm trong thế kỷ thứ bảy qua cuộc chiến giữa các môn đồ dòng thánh Augustine ở Canterbury và các môn đồ dòng thánh Columba ở Iona để giành quyền cải đạo cho người Ăng-lê ở Northumbria - cuộc đọ sức đầy kịch tính của họ diễn ra trong Đại hội tôn giáo Whitby (năm 664) và quyết định của vua Northumbria là chọn thánh Wilfrid, nhà vô địch của La Mã. Chiến thắng của La Mã được ấn định gần như ngay lập tức khi Theodore xứ Tarsus được phái tới từ đại lục với tư cách là Tổng giám mục xứ Canterbury để thành lập Giáo hội của nước Anh theo hệ thống giáo phận La Mã và tòa Tổng giám mục được đặt ở Canterbury và York. Trong vòng nửa thế kỷ tiếp theo, tất cả các cộng đồng trên vành đai Celtic - người Pict, người Ái Nhĩ Lan, người xứ Wales, người Breton và cuối cùng là bản thân người Iona - đều lần lượt chấp nhận lễ cạo đầu và phương pháp tính ngày lễ Phục sinh của La Mã, vốn đã từng là những điểm gây tranh cãi quyết liệt ở Whitby. Nhưng vẫn còn những khác biệt khác vẫn không biến mất hoàn toàn cho tới tận thế kỷ 12.

Kể từ Đại hội tôn giáo Whitby trở đi, nền văn minh Viễn Tây bắt đầu bị cô lập và suy tàn. Nó đã phải đương đầu với các cuộc tấn công khốc liệt của người Viking lên đất Ireland trong thế kỷ thứ 9 sau CN, khi không một tu viện Ái Nhĩ Lan nào thoát được nạn hỏa thiêu. Theo những gì chúng ta đã được biết, không có một công trình tiếng Latinh nào được ghi chép lại ở Ireland trong thế kỷ thứ chín, mặc dù vào thời điểm đó trình độ học vấn của những người Ireland tiên phong trên đại lục đang đạt tới đỉnh cao. Thách thức của Scandinavia, vốn thực sự là nguyên nhân tiến bộ của nước Anh và nước Pháp vì nó kích thích người Anh và người Pháp ở giới hạn tối ưu, đã thử thách Ireland trong tình trạng cô lập mới của nó với độ khắc nghiệt quá mức đến nỗi, tuy Ireland giành được chiến thắng, nhưng phải trả một cái giá quá đắt trong cuộc xâm lược thất bại dưới tay Brian Boru xứ Clontarf. Tai ương cuối cùng là việc người Anglo-Norman mở cuộc chinh phạt Ireland dưới triều vị vua Angevin - Henry II, được Giáo hoàng ban phép - vào khoảng giữa thế kỷ 12. Thay vì thành lập một nền văn minh mới của riêng mình, thì số phận của chính những nhà truyền giáo tiên phong ở vành đai Celtic lại nằm trong tay những đối thủ đã cướp của họ quyền có một sáng tạo độc lập. Trình độ học vấn của người Ái Nhĩ Lan đã đóng góp vào sự tiến bộ của nền văn minh Tây phương đại lục khi các học giả Ái Nhĩ Lan, trong lúc chạy khỏi Ireland để trốn tránh các cuộc tổng tấn công của người Scandinavia, đã tham gia phục vụ phong trào Phục hưng Carolingian, trong đó Johannes Scotus Erigena - nhà nghiên cứu Hy Lạp cổ - nhà triết học và thần học người Ireland - chắc chắn là tên tuổi vĩ đại nhất.

Nền văn minh Scandinavia

Chúng ta đã thấy rằng, trong cuộc chạy đua giữa La Mã và Ireland để giành quyền trở thành người sáng lập nền văn minh Tây phương mới, La Mã chỉ thành công nhờ trò phỗng tay trên, và trong khi nền văn minh Cơ Đốc Tây phương non trẻ vẫn còn thơ ấu và yếu ớt, sau một thời gian nghỉ xả hơi ngắn ngủi, nó đã phải tham gia một cuộc tranh giành kịch liệt thứ hai vẫn chỉ vì giải thưởng nói trên - lần này là cuộc xung đột với “đội quân hậu tập” của người Teuton, những người rợ Bắc Âu đã náu mình chờ thời cơ ở Scandinavia. Hoàn cảnh giờ đây nguy cấp hơn nhiều. Cuộc thi đấu diễn ra trên cả hai lĩnh vực quân sự lẫn văn hóa, và hai nhóm tranh đua vừa mạnh hơn vừa khác biệt nhiều hơn so với hai bào thai Ireland và La Mã của nền văn minh Cơ Đốc Tây phương hai thế kỷ trước.

Lịch sử của người Scandinavia và của người Ái Nhĩ Lan, trước khi họ lần lượt giao đấu với nền văn minh Cơ Đốc Tây phương, gần như chạy song song với nhau, khi cả hai đều tận hưởng một giai đoạn cách ly với đối thủ tương lai của chúng. Người Cơ Đốc Ireland bị cách ly do sự xâm nhập của những kẻ ngoại đạo Anglo-Saxon vào nước Anh. Còn người Scandinavia bị cách ly khỏi Cơ Đốc giáo La Mã trước khi thế kỷ thứ sáu sau CN khép lại do sự xen vào giữa của những kẻ ngoại đạo người Slav trôi dạt khắp nơi dọc theo bờ phía nam của biển Baltic từ dãy Niemen tới dãy Elbe, trong khoảng trống để lại sau cuộc di cư của người rợ Teuton khỏi lãnh địa này vì họ bận tham gia vào cuộc Völkerwanderung thời hậu Hy Lạp cổ trong khi người Scandinavia vẫn còn đang ở quê nhà. Như vậy là người Ireland bị cách ly khỏi người Cơ Đốc giáo và người Scandinavia bị cách ly khỏi người Teuton đều do các mũi tấn công của những người rợ xâm lược. Tuy vậy vẫn có một sự khác biệt cơ bản. Trong khi sự phát tán của Đế quốc La Mã mà đã được nhen nhóm từ trước ở những người Ái Nhĩ Lan, thì trước cuộc xâm lăng của người Anglo-Saxon, nhân tố đã nhóm lên đốm lửa Cơ Đốc giáo để rồi sau này bùng cháy trong giai đoạn cách ly, người Scandinavia vẫn chỉ thuần túy là những kẻ ngoại đạo.

Cuộc Völkerwanderung của người Scandinavia, cũng như mọi cuộc Völkerwanderung khác, là phản ứng đáp trả của một xã hội man rợ trước tác động của một nền văn minh, trong trường hợp này hiện thân qua đế chế Charlemagne. Đế chế này được xác nhận là một thất bại vì nó quá đồ sộ nhưng lại chưa trưởng thành. Nó là một kiến trúc thượng tầng chính trị quá nhiều tham vọng được sắp xếp một cách khinh suất trên những nền tảng xã hội và kinh tế thô sơ; và minh họa rõ nhất cho tình trạng không cân xứng của nó là kỳ tích của cuộc chinh phạt xứ Saxony của Charlemagne. Vào năm 772, khi Charlemagne quyết định đưa Saxony vào vòng cương tỏa của Cơ Đốc giáo La Mã bằng một cuộc chinh phạt quân sự, ông đã tạo ra mâu thuẫn trầm trọng với chính sách thâm nhập hòa bình, được dẫn dắt bởi các nhà truyền giáo Ireland và Anh trong một thế kỷ trước đó, đã giúp bành trướng các đường biên giới của xã hội Cơ Đốc giáo một cách hiệu quả bằng cách cải đạo cho người Bavaria, Thuringia, Hessia và Frisia. Cuộc chiến kéo dài 30 năm giữa những người Cơ Đốc dòng Franco và người Saxon đã vượt quá sức chịu đựng của xã hội Tây phương non trẻ, và đánh thức trong tâm hồn người Scandinavia một cơn bão man rợ - đã từng một lần được đánh thức trong tâm hồn người Celt khi cuộc bành trướng nhiều tham vọng của người Etruria bị chặn đứng dưới chân dãy Alps.

Cuộc bành trướng của người Scandinavia từ thế kỷ 8 tới 11 đã vượt xa cuộc bành trướng của người Celt từ thế kỷ thứ 5 tới 3 trước CN về cả phạm vi lẫn cường độ. Sự xâm chiếm thế giới Hy Lạp cổ do người Celt thực hiện đã giúp họ giang rộng đôi cánh, bên phải đến trung tâm Tây Ban Nha và bên trái đến thủ phủ của vùng Tiểu Á vốn đã bị thu hẹp dưới các hoạt động của người Viking, những người cũng đã đe dọa xã hội Cơ Đốc Chính thống cũng như Cơ Đốc Tây phương bằng cách vươn cánh trái tới Nga và cánh phải tới Bắc Mỹ. Một lần nữa, khi người Viking tìm cách tiến lên dọc theo sông Thames, sông Seine và sông Bosphorus qua Luân Đôn, Paris và Constantinople, hai nền văn minh Cơ Đốc giáo đã lâm vào hoàn cảnh hiểm nghèo còn hơn cả nền văn minh Hy Lạp cổ khi người Celt tạm thời làm chủ Rome và Macedonia. Và lại một lần nữa, nền văn minh yểu mệnh Scandinavia đã bắt đầu úa tàn ở Iceland trước khi vẻ đẹp lạnh giá của nó bị tan chảy trước hơi thở nóng bỏng của Cơ Đốc giáo - đã vượt xa nền văn minh Celtic còn phôi thai cả hai mặt thành tựu lẫn triển vọng, mà di tích của nó đã được phát hiện bởi các nhà khảo cổ hiện đại.[3]

Một kết quả hiển nhiên của phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu này là những sự kiện lịch sử giống nhau có thể tái diễn trong những hoàn cảnh khác nhau. Chúng ta đã mô tả thách thức gây ra bởi những cuộc xâm lược của người Scandinavia đối với người Anh và Pháp, đồng thời chứng minh rằng họ đã vượt qua thách thức đó bằng cách kết thành một khối thống nhất, và hơn thế nữa, cải tạo những người Scandinavia định cư và kết nạp những người này vào nền văn minh của họ. Như vậy, sau sự diệt vong của nền văn minh Cơ Đốc Celtic, các con cháu của nó đã góp phần làm phong phú thêm cho Cơ Đốc giáo La Mã, để rồi người Norman trở thành mũi nhọn của cuộc xâm lược Latinh hai thế kỷ sau. Thực tế là, một sử gia đã mô tả cuộc Thập tự chinh lần thứ nhất là một cuộc viễn chinh của những người Viking đã được cải đạo Cơ Đốc. Chúng ta cũng đã trình bày về tầm quan trọng của Iceland trong đời sống của nền văn minh Scandinavia và nghiên cứu những kết quả khác có thể xảy ra, nếu những người ngoại giáo Scandinavia cân bằng được thành tựu với người Achaea, và sau khi chôn cất nền văn minh Cơ Đốc giáo của chúng ta, thành lập nền văn minh ngoại giáo của họ trên khắp Tây Âu với tư cách là hậu duệ duy nhất của nền văn minh Hy Lạp cổ trong khu vực đó. Chúng ta vẫn còn phải phân tích cuộc chinh phục và sự suy tàn của nền văn minh Scandinavia ngay trên quê hương của nó.

Cuộc chinh phục này được thực hiện bằng cách thừa kế chiến thuật mà Charlemagne đã vứt bỏ. Phòng tuyến tự vệ của nền văn minh Cơ Đốc Tây phương được dẫn dắt, dĩ nhiên, bởi những hàng rào quân sự, nhưng ngay khi phòng tuyến quân sự của Tây phương chặn đứng được mũi tiến công quân sự của người Scandinavia, thì người Tây phương lập tức quay trở lại với chiến thuật thâm nhập hòa bình. Sau khi cải đạo cho những người Scandinavia định cư trên đất Thiên Chúa giáo, và nhờ đó quyến rũ được họ từ bỏ lòng trung thành đối với quê hương, xã hội Cơ Đốc Tây phương đã áp dụng chiến thuật đó đối với cả những người Scandinavia ở lại quê nhà. Và đến thời điểm này, một trong những ưu điểm nổi bật của người Scandinavia đã giúp đẩy nhanh sự suy vong của họ - đó là khả năng lĩnh hội quá xuất sắc: một đặc điểm đã được một học giả Cơ Đốc Tây phương đương thời lưu ý và trình bày trong vài câu thơ chẳng lấy gì làm hay của ông: “Họ dễ dàng tiếp nhận các tập quán và ngôn ngữ của những kẻ gia nhập vào những tiêu chuẩn đạo đức của họ, và kết quả là tạo thành một chủng tộc đơn nhất”.[4] Điều đáng ngạc nhiên là, chúng ta phát hiện ra những vị vua Scandinavia, đã tỏ ra thần phục Charlemagne và thể hiện khuynh hướng này qua việc đặt tên cho các con trai của họ là Karlus hoặc Marnus, ngay cả trước khi họ cải đạo theo Cơ Đốc giáo. Nếu trong cùng giai đoạn này, Muhammad và Umar trở thành những cái tên được các vua chúa Cơ Đốc Tây phương ưa chuộng, thì chúng ta có thể kết luận chắc chắn rằng trào lưu mới này báo trước vận chẳng lành cho nền văn minh Cơ Đốc Tây phương trong cuộc đấu tranh quyết liệt với nền văn minh Hồi giáo.

Trong các vương quốc của người Scandinavia là Nga, Đan Mạch và Na Uy, tình trạng cải đạo sang Cơ Đốc giáo diễn ra tràn lan trên số đông dân chúng bởi sắc lệnh chuyên quyền của ba vị hoàng tử người Scandinavia trị vì cùng thời vào gần cuối thế kỷ thứ mười. Ở Na Uy, lúc đầu đã xảy ra một cuộc phản kháng dữ dội, nhưng ở Đan Mạch và Nga sự thay đổi được chấp nhận với tính thụ động rõ ràng. Và như vậy, xã hội Scandinavia không chỉ bị chinh phục mà còn bị chia cắt, một phần cho xã hội Cơ Đốc Chính thống, vốn đã dự phần trong cuộc tấn công của người Viking, cũng như trong cuộc phản công tôn giáo và văn hóa theo sau.

“Các sứ thần hoặc thương nhân [vương quốc Scandinavia] của Nga thường so sánh sự sùng bái các tượng thần bằng gỗ với sự mê tín thanh nhã của Constantinople. Họ nhìn ngắm một cách ngưỡng mộ mái vòm nhà thờ thánh Sophia: những bức tranh sống động vẽ các thánh thần và các thánh tử đạo, số lượng các bệ thờ, số lượng và lễ phục của các tu sĩ, vẻ hoành tráng và trật tự của các buổi lễ; họ được khai sáng bởi không khí yên tĩnh trang nghiêm và những bài thánh ca du dương; và không khó khăn gì để thuyết phục họ rằng có một dàn hợp xướng của các thiên thần giáng thế mỗi ngày từ trên thiên đàng để góp phần làm tăng thêm lòng mộ đạo của các tín đồ Cơ Đốc giáo”.[5]

Cuộc cải đạo của chính bản thân Iceland theo sau gần như lập tức trong năm 1000, và đó là khởi điểm của sự kết thúc nền văn minh Iceland. Thực tế là các học giả Iceland về sau đã chuyển các câu chuyện kể dân gian Saga thành các bản ghi chép, sưu tập thơ Eddic và tạo ra các bản tóm tắt cổ điển của thần thoại Scandinavia, bảng phả hệ và luật lệ đều được cung cấp những di sản của một người Cơ Đốc giáo như một thành viên của nền văn minh Bắc Âu; họ thực hiện công việc của mình trong khoảng từ 150 tới 250 năm sau cuộc cải đạo. Nhưng nền học vấn hoài cổ này là kỳ tích cuối cùng của thiên tài Iceland. Chúng ta có thể nêu ra sự tương phản trong vai trò của thơ Homer trong lịch sử Hy Lạp cổ. Đó cũng là một công trình của “nền học vấn hoài cổ” vào thời đó chưa được “Homer” chuyển thể thành thơ cho tới khi thời kỳ anh hùng đã truyền cảm hứng cho nó. Nhưng thiên tài Hy Lạp cổ, sau khi thực hiện các thiên anh hùng ca, đã tiếp tục gặt hái những thành tựu quan trọng không kém trong các lĩnh vực khác, trong khi thành tựu của thiên tài Iceland đã cạn kiệt sau khi đạt tới đỉnh cao “Homer” của nó vào khoảng năm 1150-1250.

(4) TÁC ĐỘNG CỦA HỒI GIÁO LÊN CÁC HỆ PHÁI CƠ ĐỐC GIÁO

Để kết thúc phần này của cuộc nghiên cứu, chúng ta hãy khảo sát tác động của Hồi giáo lên các hệ phái Cơ Đốc giáo, để xem liệu nó có bổ sung thêm cho các phép “so sánh ba giới hạn” mà đến lúc này, các độc giả đã khá quen thuộc hay không. Trong những ví dụ trước, chúng ta đã từng lưu ý rằng, thách thức từ Hồi giáo đã kích khởi một phản ứng đáp trả tối ưu. Thách thức mà người Frank gặp phải trong thế kỷ thứ tám sau CN đã kích thích một cuộc phản công kéo dài nhiều thế kỷ, không chỉ trục xuất các tín đồ Hồi giáo ra khỏi bán đảo Iberia, mà còn vượt xa mục tiêu ban đầu, đưa người Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha vượt biển đến tất cả các lục địa trên thế giới. Trong trường hợp này, chúng ta cũng có thể nhận thấy hiện tượng đã từng bắt gặp khi xem xét sự thất bại của các nền văn minh Viễn Tây và Scandinavia. Trước khi hoàn toàn bị nhổ rễ và tiêu diệt, văn minh Hồi giáo Iberia đã bị địch thủ mà sau này sẽ chiến thắng nó lợi dụng. Các học giả Tây Ban Nha Hồi giáo đã vô tình góp phần xây dựng nên dinh thự triết học của các triết gia Cơ Đốc Tây phương trung cổ, và một số công trình của triết gia Hy Lạp cổ Aristotle đã đến được với thế giới Cơ Đốc Tây phương lần đầu tiên thông qua các bản dịch tiếng Ả Rập. Ngoài ra, nhiều ảnh hưởng “phương Đông” lên nền văn minh Tây phương thường được cho là do sự xâm nhập của những người Thập tự chinh ở Syria đến các lãnh địa thực ra cũng đến từ bán đảo Iberia Hồi giáo.

Cuộc tấn công thế giới Cơ Đốc Tây phương của Hồi giáo trên khắp bán đảo Iberia và vượt qua dãy Pyrenees thực ra không ghê gớm như vẻ bề ngoài của nó, do chiều dài của đường ranh giới tiếp xúc giữa hai bên và việc nguồn gốc động lực của Hồi giáo nằm ở Tây Nam châu Á, và không khó khăn gì để tìm ra một góc khác có các đường ranh giới tiếp xúc ngắn hơn và cuộc tấn công của Hồi giáo tỏ ra dữ dội hơn nhiều. Vùng lãnh thổ đó là cao nguyên Anatolia, vào thời kỳ đó là thành lũy của nền văn minh Cơ Đốc Chính thống. Trong giai đoạn đầu của cuộc tấn công, những kẻ xâm lược người Ả Rập đã tìm được cách vô hiệu hóa “Rum” (cách họ gọi La Mã) và áp đảo hoàn toàn xã hội Cơ Đốc Chính thống bằng cách tràn qua cao nguyên Anatolia để đánh vào thủ phủ của nó. Constantinople trụ vững trước cuộc vây hãm bất thành của người Hồi giáo lần đầu năm 673-7, và lần thứ hai năm 717-8. Ngay cả sau thất bại của lần vây hãm thứ hai, khi đường biên giới giữa hai thế lực đã ổn định dọc theo dãy núi Taurus, những gì còn lại của vùng lãnh thổ Anatolia thuộc Cơ Đốc Chính thống trước kia vẫn thường xuyên bị người Hồi giáo cướp bóc hai lần mỗi năm.

Nền văn minh Cơ Đốc Chính thống đáp trả lại áp lực này bằng một thủ đoạn chính trị; và phản ứng đáp trả này đem lại thành công trước mắt, vì nó giúp cầm chân người Ả Rập ở vùng vịnh. Tuy nhiên, về lâu về dài, nó không thích hợp do những tác động xấu của nó lên đời sống và sự phát triển của xã hội Cơ Đốc Chính thống. Thủ đoạn nói trên là sự tái hiện một “hồn ma” của Đế chế La Mã trong thế giới Cơ Đốc Chính thống được vua xứ Syria là Leo thực hiện, khoảng hai thế hệ trước nỗ lực tương tự bất thành (và do đó không có ý nghĩa gì lớn) của Charlemagne ở phương Tây. Tác động thảm khốc nhất của Leo là sự bành trướng của chính quyền Byzantine, dưới sự góp sức của Giáo hội Chính thống, và hậu quả là cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn kéo dài hàng trăm năm giữa một bên là Đế quốc La Mã miền Đông với bên kia là Đế chế Bulgaria cùng các Giáo trưởng của mình. Vết thương nội chiến này đã gây ra cái chết của nền văn minh Cơ Đốc Chính thống trong hình thái ban đầu và ngay tại quê nhà của nó. Những sự kiện nói trên đủ cho thấy rằng, thách thức gây ra do tác động của nền văn minh Hồi giáo lên nền văn minh Cơ Đốc Chính thống là quá khắc nghiệt, khác với thách thức của nó đối với nền văn minh Cơ Đốc Tây phương.

Chúng ta có thể tìm được một trường hợp mà tác động của Hồi giáo không gây ra nhân tố kích thích do thiếu độ khắc nghiệt hay không? Câu trả lời là có; vì những kết quả này được nhìn thấy ở Abyssinia hiện nay, Cộng đồng Cơ Đốc Monophysite sinh sống ở vùng đất Phi Châu hẻo lánh này đã trở thành một trong những “kỳ quan xã hội” của thế giới: đầu tiên là do sự tồn tại mong manh của nó, khi gần như bị cô lập khỏi các cộng đồng Cơ Đốc giáo khác, kể từ lúc người Ả Rập Hồi giáo chinh phục Ai Cập từ 13 thế kỷ trước; và thứ hai là do mức độ văn minh thấp kém dị thường của nó. Mặc dù Abyssinia Cơ Đốc giáo được thừa nhận, với khá nhiều ngần ngại, là một thành viên của Liên minh quốc tế (tiền thân của Liên Hiệp Quốc), song nó là một điển hình của tình trạng lộn xộn và tính man rợ: tình trạng lộn xộn giữa phong kiến và bộ lạc; và tính man rợ thể hiện qua việc buôn bán nô lệ. Thực ra, ngoài Liberia, quang cảnh của Abyssinia - một nhà nước châu Phi - vẫn duy trì sự độc lập hoàn toàn của mình có lẽ là minh họa tốt nhất có thể tìm thấy khi phần còn lại của Phi châu đều bị phân chia giữa các thế lực Âu châu.

Nghiên cứu đã cho thấy các đặc trưng của Abyssinia - sự tồn tại của tính độc lập và sự trì trệ của mức độ văn minh của nó - cả hai đều có cùng một nguyên nhân: tính bất khả xâm phạm của vùng cao nguyên hẻo lánh mà “hóa thạch” này nằm lọt thỏm trong đó. Đợt sóng Hồi giáo và đợt sóng mạnh hơn nữa của nền văn minh Tây phương hiện đại của chúng ta đã quét tới chân núi và vỡ tan trước khi kịp nhấn chìm vĩnh viễn phần đỉnh núi.

Cơ hội cho những đợt sóng thù địch nói trên tràn tới vùng cao nguyên là rất hiếm hoi, và chỉ trong thời gian rất ngắn ngủi, Abyssinia bị đe dọa bởi cuộc chinh phạt của Hồi giáo trong nửa đầu của thế kỷ 16, khi các cư dân Hồi giáo ở khu vực đồng bằng ở bờ Hồng Hải uy hiếp người Abyssinia với ưu thế về vũ khí; nhưng những vũ khí mới mà người Somali mua được của người Osmanli đã đến được tay người Abyssinia từ đất Bồ Đào Nha vừa kịp lúc để cứu họ thoát cảnh diệt vong. Sau đó, khi đến lượt người Bồ Đào Nha gây rắc rối qua việc cố gắng cải đạo người Abyssinia từ Monophysite sang Thiên Chúa giáo, thì phiên bản Cơ Đốc giáo Tây phương này đã bị cấm và tất cả những người khách phương Tây đều bị trục xuất ra khỏi quốc gia vào thập niên 1630 - cùng thời kỳ với một chính sách tương tự của người Nhật Bản.

Cuộc thám hiểm Abyssinia của người Anh vào năm 1868 được xác nhận là một thành công hoàn toàn song lại không có những bước đi tiếp theo – khác với “cuộc khai phá Nhật Bản” của hải quân Mỹ 15 năm trước đó. Tuy nhiên, đến thời kỳ “tranh giành Phi châu” vào những năm cuối của thế kỷ 19, một số thế lực châu Âu lại tìm cách kiểm soát Abyssinia, và Ý là người ra tay trước tiên. Lần này vai trò của người Bồ Đào Nha cách đó hai thế kỷ rưỡi được người Pháp đảm đương, họ đã cung cấp cho Hoàng đế Menelik súng trường, giúp ông giáng cho những người Ý xâm lược một thất bại nặng nề ở Adowa vào năm 1896. Khi người Ý - được hỗ trợ một cách độc ác bởi chủ nghĩa man rợ mới - quay trở lại hiện trường với một quyết tâm mãnh liệt hơn vào năm 1935, có vẻ như đã tới thời điểm họ thành công trong việc kết liễu thành trì cổ đại Abyssinia cũng như hình thành triển vọng về sự che chở chung cho một thế giới Tây phương đau khổ. Nhưng chỉ trong vòng bốn năm kể từ ngày tuyên bố thành lập Đế chế Italia ở Ethiopia, việc tham gia thế chiến 1939-45 của Mussolini đã buộc người Anh - vốn vẫn tránh né việc hỗ trợ cho Abyssinia trong các năm 1935-6 để bảo vệ Liên minh Quốc tế - phải tự bảo vệ mình bằng cách trao cho Abyssinia sự hỗ trợ giống như người Pháp và người Bồ Đào Nha đã cung cấp cho nó trong những tình thế khẩn cấp trước kia.

Bốn cuộc ngoại xâm là tất cả những gì mà người Abyssinia phải đối mặt trong suốt 16 thế kỷ, kể từ khi họ chấp nhận Cơ Đốc giáo, và ba thách thức đầu bị đẩy lùi quá nhanh trước khi có thể gây ra một nhân tố kích thích. Nói cách khác thì kinh nghiệm của họ là một trang giấy trắng, và có thể được sử dụng để bác bỏ quan điểm cho rằng dân tộc này hạnh phúc khi không có lịch sử. Lịch sử của nó chỉ bao gồm một ít hành vi bạo lực đơn điệu và vô nghĩa chống lại một nền tảng “bất khả xâm phạm”, có thể nói, nó “miễn nhiễm” trước những kinh nghiệm đau đớn, hay nói cách khác, có tính “trơ” trước nhân tố kích thích.[6] Vào năm 1946, mặc dù những nỗ lực quả cảm nhằm thay đổi điều đó đã được Hoàng đế Haile Selassie và các sĩ quan có tư tưởng tự do của ông thực hiện, song chúng ta vẫn còn phải chờ xem liệu cuộc ngoại xâm lần thứ tư đối với Abyssinia có mang lại tác động kích thích nhiều hơn chút nào so với những thách thức trước đó hay không.

❀ ❀ ❀

[1] Chúng ta sẽ thấy rằng, khái niệm “Galloway” được đưa vào tiêu đề của đoạn này không mô tả đầy đủ về toàn bộ khu vực của những người thực dân Ulster.

[2] Trong phần trên chúng tôi sẽ băng ngang qua những nhóm khác: nền văn minh bị bắt giữ. Nó sẽ tìm ra những nạn nhân, không chết non, nhưng bị tê liệt non trẻ. Nó là nền văn minh đến từ khi sinh ra, nhưng thất bại, giống như chốn thần tiên của trẻ con (ví dụ: Peter Pan), từ sự trưởng thành.

[3] Văn hóa La Tēne, đó là tên điểm mà dòng nước chảy ra từ hồ Neuchâtel nơi mà mạch nước đầu tiên vẫn còn khi nó được khám phá.

[4] Moribus et lingua, quoscumque venire videbant,

[5] Trích Gibbon, E.: Lịch sử suy tàn và sụp đổ của Đế chế La Mã, ch. LV.

[6] Để thấy những hình mẫu lý tưởng về mặt triết học của tính “miễn nhiễm” và tính “trơ”, xem phần sau.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 29 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.