Nghiên Cứu Lịch Sử Nhân Loại

Lượt đọc: 105 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 5 SỰ TAN RÃ CỦA CÁC NỀN VĂN MINH
XVII. BẢN CHẤT CỦA SỰ TAN RÃ

❊ ❊ ❊

Hoa

Khi chuyển từ sự suy sụp sang quá trình tan rã của các nền văn minh, chúng ta phải đối mặt với câu hỏi như lúc chuyển từ giai đoạn hình thành sang phát triển của các nền văn minh. Sự tan rã là một vấn đề mới hay là hệ quả tự nhiên khó tránh khỏi của sự sụp đổ? Khi xem xét câu hỏi giai đoạn phát triển có phải là vấn đề mới hay không, chúng ta đi đến phát hiện một số nền văn minh “bị kìm hãm” đã giải quyết được vấn đề hình thành, nhưng bó tay trước vấn đề phát triển. Và giờ đây chúng ta gặp lại câu hỏi tương tự với lời giải đáp quả quyết. Sau khi sụp đổ, các nền văn minh trải qua giai đoạn kìm hãm và vào thời kỳ dài hóa thạch.

Giai đoạn mà chúng ta đã có dịp nghiên cứu trong lịch sử Ai Cập là một ví dụ điển hình về nền văn minh hóa thạch. Sau khi sụp đổ dưới những gánh nặng xây dựng kim tự tháp, rồi trải qua ba giai đoạn tan rã – thời kỳ bất ổn, chính quyền trung ương, và thời kỳ không vua - xã hội Ai Cập suy tàn thấy rõ đột ngột diệt vong. Nếu tính thời gian kể từ khoảnh khắc xã hội Ai Cập phản ứng mạnh trước kẻ xâm lược Hyksos vào đầu thế kỷ 16 trước CN đến khi xóa sạch dấu vết cuối cùng của nền văn hóa Ai Cập vào thế kỷ 5 sau CN, chúng ta thấy khoảng thời gian 2.000 năm dài bằng với các giai đoạn khai sinh, phát triển, sụp đổ, và tan rã của xã hội Ai Cập. Nửa khoảng thời gian còn lại, xã hội Ai Cập tuy tồn tại nhưng coi như đã chết. Trong suốt hơn hai thiên niên kỷ, nền văn minh từng một thời thịnh vượng đã phát triển chựng lại và bị kìm hãm. Trong thực tế, nó tồn tại nhờ hóa thạch.

Đây chưa phải là ví dụ duy nhất. Nếu xoay sang lịch sử xã hội phương Đông ở Trung Hoa (khoảnh khắc sụp đổ có thể cùng lúc với sự tan rã của nhà Tống vào cuối thế kỷ 9 sau CN), chúng ta có thể tìm thấy quá trình tan rã sau đó, từ thời kỳ bất ổn đến chính quyền trung ương, để rồi vực dậy trong giai đoạn này nhờ phản ứng đột ngột và quyết liệt chẳng kém gì người Ai Cập trước quân xâm lược Hyksos. Cuộc khởi nghĩa chống lại nhà Nguyên do Hung Wu (Hồng Vũ) (tức Chu Nguyên Chương, người sáng lập ra triều đại nhà Minh) lãnh đạo gợi nhớ lại cuộc nổi dậy của Amosis (người sáng lập ra triều đại thứ 18) chống lại “nhà nước” do Hyksos dựng lên trên phần đất vô thừa nhận của chính quyền trung ương Ai Cập không còn tồn tại nữa. Có một nét tương đồng trong tình hình diễn biến sau đó. Xã hội phương Đông đã kéo dài thời gian tồn tại dưới dạng hóa thạch thay vì sớm đi qua giai đoạn tan rã đến diệt vong bằng con đường chính quyền trung ương lâm vào thời kỳ không vua.

Có thể thêm vào hai ví dụ này những mảnh hóa thạch của các nền văn minh lẽ ra diệt vong: người theo đạo Jains (Kỳ Na) ở Ấn Độ, tín đồ Phật giáo ở Ceylon, Miến Điện, Thái Lan, Campuchia, tín đồ Phật giáo ở Tây Tạng và Mông Cổ, tất cả họ đều là những mảnh hóa thạch của nền văn minh Ấn Độ; người Do Thái, người Parsee, Nestoria và Monophysite là những mảnh hóa thạch của nền văn minh Syria.

Theo đánh giá của Macaulay, nền văn minh Hy Lạp cũng trải qua thời gian dài giống như vậy vào thế kỷ 3 và 4 sau CN.

“Tinh thần của hai quốc gia cổ đại nổi tiếng nhất này thật chẳng có ai bằng… Dường như người Hy Lạp và người La Mã chỉ ca tụng chính mình… Hậu quả là tính hẹp hòi và đơn điệu trong tư tưởng. Tinh thần của họ cằn cỗi và suy đồi… Chế độ chuyên quyền của các Caesar lấn át dần mọi bản sắc dân tộc, và đồng hóa các tỉnh hẻo lánh nhất của đế quốc với nhau. Cuối thế kỷ 3 sau CN, loài người lâm vào viễn cảnh ảm đạm đáng sợ… Cộng đồng đứng trước nguy cơ hứng lấy tai ương khủng khiếp hơn bất kỳ căn bệnh hủy hoại nào khác - trường tồn trong trạng thái bị tê liệt. Rất dễ chỉ ra nhiều điểm giống nhau giữa dân cõi trần và dân cõi trời, nơi đó người ta chẳng học hỏi hay gạt bỏ bất cứ điều gì; chính quyền, giáo dục, và toàn bộ quy tắc sống đều là nghi thức kiểu cách; tri thức quên nhân lên, tài năng bị chôn vùi, và kinh nghiệm chẳng bỏ phí hay tăng thêm. Qua hai cuộc đại cách mạng, một từ bên trong và một từ bên ngoài, tình trạng tê liệt này bị phá vỡ”.[1]

Xã hội Hy Lạp nhờ ơn giáo hội và người rợ mới có kết cuộc tương đối tốt đẹp. Thay vì bị diệt vong, nó củng cố đến mức độ khó nhận thấy thành trạng thái tê liệt của sự sống trong cái chết; và khả năng đây là định mệnh của xã hội phương Tây đã ám ảnh tâm trí của một nhà sử học lỗi lạc thuộc thế hệ chúng ta.

“Tôi nghĩ mối nguy trước mắt là chế độ chuyên quyền, mất tự do tín ngưỡng, và nhà nước chuyên chế. Do xung đột giữa các quốc gia hay giai cấp, có thể có tình trạng hỗn loạn tạm thời và cục bộ. Về cơ bản, tình trạng hỗn loạn không mạnh lắm, và trong thế giới hỗn loạn, bất cứ nhóm có tổ chức vững chắc nào cũng có thể phát huy quyền lực lên những nhóm còn lại. Và thay thế cho tình trạng hỗn loạn, thế giới sẽ đón chào nhà nước chuyên chế. Sau đó, thế giới đi vào giai đoạn “hóa thạch” tinh thần, những hoạt động cao hơn của tinh thần sẽ chết đi. Giai đoạn hóa thạch của Đế chế La Mã và Trung Hoa dường như ít cứng nhắc hơn do nhóm thống trị sẽ có phương tiện quyền lực khoa học mạnh hơn nhiều. Những cuộc xâm lăng của người rợ về lâu dài là phúc lành bởi chúng phá vỡ giai đoạn hóa thạch. Châu Âu trả giá bằng hàng ngàn năm sống trong thời kỳ man rợ mới thoát khỏi số phận giống như Trung Hoa. Những chủng tộc man rợ sẽ không đập tan nhà nước chuyên chế của thế giới tương lai”.

“Đối với nhà nước chuyên chế, nghiên cứu khoa học cứ tiếp tục mãi với những khám phá mới. Khoa học Hy Lạp không tìm được mảnh đất thích hợp. Khoa học tự nhiên thăng hoa dưới chế độ chuyên quyền. Nhóm thống trị chỉ lo thúc đẩy những gì làm tăng quyền lực của họ. Đó là cơn ác mộng ở phía trước nếu chúng ta không tìm cách chấm dứt tình trạng huynh đệ tương tàn hiện nay. Giáo hội Cơ Đốc có lẽ phải tử vì đạo trong nhà nước thế giới tương lai, nhưng vì nó ép buộc nhà nước thế giới La Mã phải quy phục Chúa Giê-su, nên một lần nữa, bằng con đường tử vì đạo, nó lại chế ngự nhà nước thế giới của tương lai”.[2]

Những suy nghĩ trên cho thấy sự tan rã của các nền văn minh đặt ra vấn đề cần nghiên cứu.

Khi nghiên cứu quá trình phát triển của các nền văn minh, chúng ta thấy có thể phân tích thành một chuỗi biểu diễn thách thức – phản ứng, và sở dĩ biểu diễn này tiếp nối biểu diễn khác là vì mỗi phản ứng không chỉ đáp lại thành công thách thức cụ thể mà còn là phương tiện khơi dậy thách thức mới, phát sinh từ tình huống mới do phản ứng thành công mang lại. Vì vậy, cốt lõi của bản chất phát triển của các nền văn minh là nhuệ khí đưa bên bị thách thức đi từ sự thăng bằng của phản ứng thành công đến mất thăng bằng thể hiện trong thách thức mới. Sự lặp lại hoặc trở lại của thách thức cũng ẩn chứa trong khái niệm về sự tan rã, nhưng trong trường hợp này, phản ứng thất bại. Hậu quả là thay cho một chuỗi thách thức khác với thách thức đã được giải quyết xong trước đó và đi vào quá khứ, chúng ta cứ gặp lại mãi thách thức cũ. Ví dụ, trong lịch sử chính trị quốc tế của thế giới Hy Lạp, kể từ cuộc cách mạng kinh tế thời So-lon đối đầu lần đầu tiên với xã hội Hy Lạp nhằm thiết lập trật tự thế giới chính trị, chúng ta thấy người Athens thất bại trong nỗ lực giải quyết vấn đề thông qua liên minh Dely đã dẫn đến nỗ lực giải quyết của Philip thông qua liên minh Corinth, và thất bại của Philip trước nỗ lực giải quyết của Augustus thông qua hòa bình kiểu La Mã. Sự lặp lại thách thức nằm trong chính bản chất của tình hình. Khi kết quả sau mỗi lần chạm trán liên tiếp là thất bại, chứ không phải thành công, thách thức không được đáp lại cứ đeo đẳng mãi cho đến khi nhận được phản ứng dở dang và chậm chạm, còn không thì nó đưa đến hủy diệt xã hội mà đã tỏ ra ứng phó kém hiệu quả.

Khi nghiên cứu quá trình phát triển của các nền văn minh, chúng ta mở đầu bằng việc tìm kiếm tiêu chí phát triển trước khi nỗ lực phân tích quá trình này, và sẽ theo đúng như thế trong nghiên cứu quá trình tan rã. Sau khi xác định là không tìm thấy tiêu chí phát triển trong chế ngự môi trường vật chất và con người, chúng ta có thể giả định rằng việc mất quyền chế ngự không nằm trong căn nguyên của sự tan rã. Thật vậy, bằng chứng cho thấy việc chế ngự môi trường đi đôi với tan rã hơn là phát triển. Chủ nghĩa quân phiệt (đặc trưng chung của sụp đổ và tan rã) thường làm tăng sức chế ngự của xã hội lên những xã hội đang tồn tại khác và lên sức mạnh thiên nhiên. Trong quá trình đi xuống của nền văn minh bị sụp đổ, có lẽ có phần đúng trong câu nói của nhà triết học Heracleitus: “Chiến tranh là cha đẻ của tất cả”, và do ước tính thô thiển sự thịnh vượng qua quyền lực và của cải, nên hay xảy ra chuyện người dân lầm tưởng chương mở đầu thời kỳ suy tàn bi thảm của xã hội là chương đỉnh cao trong quá trình phát triển. Tuy nhiên, sớm muộn gì cũng tới giai đoạn vỡ mộng; xã hội chia rẽ triền miên ắt dẫn đến chiến tranh tiêu phí của cải tài nguyên và con người. Ví dụ, sức người sức của giành được qua những cuộc chiến chinh của Alexander đã đổ vào cuộc nội chiến của những người kế vị Alexander, và sức người sức của giành được qua những cuộc chinh phục của quân La Mã vào thế kỷ 2 trước CN đã đổ vào cuộc nội chiến vào thế kỷ cuối trước CN.

Phải tìm kiếm tiêu chí cho quá trình tan rã ở chỗ khác; thường có thể truy ra đầu mối qua sự chia rẽ bất hòa trong lòng xã hội đang ngày càng chế ngự môi trường sống. Đây đúng là điều chúng ta mong đợi; chúng ta đã phát hiện tiêu chí và căn nguyên cơ bản của sự sụp đổ là những mối bất hòa nội bộ mà qua đó xã hội mất đi khả năng tự quyết.

Phân hóa xã hội (thể hiện một phần qua mối bất hòa) chia rẽ xã hội bị sụp đổ theo hai chiều khác nhau. Phân hóa theo chiều dọc giữa các cộng đồng bị phân biệt về mặt địa lý, và phân hóa theo chiều ngang giữa các tầng lớp tuy hòa hợp về mặt địa lý nhưng bị phân biệt về mặt xã hội.

Nói về phân hóa theo chiều dọc, chúng ta thấy sự hiếu chiến là nguyên nhân chính của hành động tự sát. Tuy nhiên, phân hóa theo chiều dọc không phải là biểu hiện đặc thù nhất của mối bất hòa do sự sụp đổ của nền văn minh gây ra; suy cho cùng, xã hội phân hóa thành các cộng đồng mang nặng tính chất địa phương là đặc trưng chung cho xã hội loài người, bất kể văn minh hay mọi rợ, và chiến tranh giữa các nước chỉ là hành động lạm dụng phương tiện tự hủy diệt vốn nằm trong tầm tay của bất kỳ xã hội nào. Trái lại, phân hóa xã hội theo chiều ngang không chỉ là nét đặc thù của các nền văn minh mà còn là hiện tượng xảy ra vào thời điểm sụp đổ, và là dấu hiệu của giai đoạn sụp đổ và tan rã, trái ngược với sự thiếu vắng nó trong giai đoạn hình thành và phát triển.

Chúng ta đã bắt gặp kiểu phân hóa theo chiều ngang khi ngược dòng thời gian về thời giáo hội Cơ Đốc xung đột với một số tộc người rợ ở Tây Âu thuộc biên giới phía bắc Đế chế La Mã. Hai thể chế này được thành lập bởi nhóm xã hội không thuộc xã hội phương Tây và chỉ có thể mô tả bằng xã hội khác đi trước xã hội chúng ta: nền văn minh Hy Lạp. Chúng ta mô tả người sáng lập giáo hội Cơ Đốc là tầng lớp bị trị quốc nội, còn người thành lập các tộc người rợ là tầng lớp bị trị ngoại quốc xã hội Hy Lạp.

Điều tra tiếp, chúng ta thấy hai tầng lớp bị trị này xuất hiện thông qua hành động ly khai khỏi xã hội Hy Lạp vào thời kỳ bất ổn (xã hội Hy Lạp không còn tỏ ra sáng tạo nữa mà đã suy tàn); nghiên cứu tiếp nữa, chúng ta còn thấy sự thay đổi trong tính chất thống trị trong xã hội Hy Lạp đã dấy lên phong trào ly khai. Thiểu số sáng tạo từng một thời kêu gọi lòng trung thành tự nguyện từ đa số không sáng tạo nhờ tài mê hoặc giờ đây đã chiếm được ngôi vị “thiểu số thống trị”. Thiểu số thống trị giữ vững vị thế đặc quyền đặc lợi bằng vũ lực, và hành động ly khai là phản ứng trước sự chuyên chế này. Tuy nhiên, đập tan ý định ly khai không phải là thành tích duy nhất của thiểu số thống trị. Thiểu số thống trị còn để lại đài kỷ niệm của mình dưới hình hài Đế chế La Mã; Đế chế La Mã không những hình thành trước cả giáo hội hay các tộc người rợ; sự hiện diện đầy quyền lực của nó trong thế giới nảy sinh các thể chế vô sản còn là một nhân tố trong quá trình phát triển của giáo hội và các tộc người rợ. Chính quyền trung ương này giống như chiếc mai rùa khổng lồ; và trong khi giáo hội núp bóng, các tộc người rợ huấn luyện chiến binh của mình bằng cách mài móng vuốt lên mặt ngoài của chiếc mai rùa.

Sau cùng, chúng ta đã có cái nhìn rõ nét hơn về mối quan hệ nhân quả giữa sự mất phương tiện sáng tạo của thiểu số sáng tạo và sự mất phương tiện thu hút đa số qua việc mê hoặc thay vì vũ lực. Và ở đây, chúng ta vạch đúng mưu chước vận động xã hội của thiểu số sáng tạo, trong đó chúng ta thấy điểm yếu trong quan hệ giữa thiểu số và đa số ở giai đoạn phát triển. Sự xa rời giữa thiểu số và đa số (cuối cùng dẫn đến đoạn đầu ly khai của tầng lớp bị trị) là hệ quả của sự phá vỡ liên kết vốn chỉ được duy trì nhờ phương tiện bắt chước ngay cả trong giai đoạn phát triển; bắt chước đã không thành khi các lãnh tụ khoe tài sáng tạo, vì ngay cả trong giai đoạn phát triển, liên kết bắt chước luôn mong manh do tính hai mặt khôn lường – hành động trả thù của kẻ thiếu thiện ý – vốn là một phần bản chất của phương tiện cơ học.

Chúng ta đã có trong tay những tuyến điều tra kiểu phân hóa theo chiều ngang; và có lẽ cách hứa hẹn nhất để theo đuổi tiếp quá trình điều tra là kéo những tuyến điều tra lại với nhau rồi mở rộng chúng.

Bước đầu tiên là điều tra kỹ hơn ba thành phần phân hóa – thiểu số thống trị, tầng lớp bị trị quốc nội và ngoại quốc – trong xã hội bị sụp đổ khi phân hóa theo chiều ngang phá nát cơ cấu xã hội. Sau đó, chúng ta sẽ chuyển từ thế giới vĩ mô sang thế giới vi mô và khám phá khía cạnh bổ sung của quá trình tan rã. Thoạt đầu, hai tuyến điều tra này sẽ dẫn chúng ta đến khám phá ngược đời về quá trình tan rã đến kết cuộc trái ngược với tự nhiên – nghĩa là tan rã đến “sống lại”.

Khi phân tích xong, chúng ta sẽ thấy thay đổi về chất trong quá trình tan rã trái ngược hoàn toàn với quá trình phát triển. Trong quá trình phát triển, một số nền văn minh trở nên khác biệt với nhau. Ngược lại, chúng ta thấy tác động về lượng của quá trình tan rã là sự tiêu chuẩn hóa.

Khuynh hướng dẫn tới tiêu chuẩn hóa tỏ ra rõ rệt hơn khi chúng ta xem xét mức độ đa dạng mà nó phải vượt qua. Khi đi vào giai đoạn tan rã, nền văn minh bị sụp đổ kéo theo những khuynh hướng cực kỳ đa dạng – hướng tới nghệ thuật hay hướng tới máy móc – mà chúng đã đạt được trong quá trình phát triển. Và chúng còn khác biệt tiếp qua những sụp đổ ập xuống vào những thời kỳ khác nhau. Ví dụ, nền văn minh Cơ Đốc giáo Chính thống sụp đổ khi nổ ra cuộc đại chiến giữa La Mã và Bungary năm 977 sau CN; trong khi đó, nền văn minh anh em (tức của chúng ta đây) không ngờ lại phát triển lâu hơn mấy thế kỷ và có lẽ chưa sụp đổ. Nếu các nền văn minh anh em trải qua những chiều dài phát triển khác nhau, điều đó chứng tỏ sự phát triển của các nền văn minh không được tiền định theo cùng khoảng thời gian; thực vậy, chúng ta không tìm được lý do nào giải thích tại sao nền văn minh không tiếp tục phát triển mãi một khi đã vào giai đoạn này. Những xem xét làm rõ nét khác biệt giữa các nền văn minh rất nhiều và sâu sắc. Tuy nhiên, chúng ta thấy quá trình tan rã lúc nào cũng tuân theo một khuôn mẫu – phân hóa theo chiều ngang chia rẽ xã hội thành ba thành phần như đã đề cập, và mỗi thành phần tạo ra một thể chế đặc trưng: chính quyền trung ương, giáo hội chung và tộc người rợ.

Có lẽ chúng ta phải ghi nhận những thể chế này cũng như người sáng tạo ra chúng nếu nghiên cứu toàn diện sự tan rã của các nền văn minh. Những thể chế này còn hơn cả sản phẩm của quá trình tan rã. Chúng đóng vai trò trong quan hệ giữa nền văn minh này với nền văn minh khác; và khi nghiên cứu giáo hội chung, chúng ta buộc đặt ra câu hỏi giáo hội có thật sự được bao hàm hết trong cơ cấu lịch sử các nền văn minh hay không, hay phải xem chúng là đại diện cho hình thái khác trong xã hội.

Đây có lẽ là một trong những câu hỏi quan trọng nhất mà nghiên cứu lịch sử đặt ra cho chúng ta, song còn lâu mới nghiên cứu tới.

(2) PHÂN HÓA VÀ PHỤC SINH

Nhà tư tưởng người Đức gốc Do Thái, Kark Marx (1818-1883) đã vẽ nên bức tranh lớn về sự ly khai của tầng lớp bị trị và đấu tranh giai cấp. Sở dĩ sách khải huyền của người duy vật theo học thuyết Marx gây ấn tượng lớn đối với nhiều triệu con người là nhờ một phần vào tính chiến đấu; “bản sơ phát” này là bộ phận nòng cốt trong triết học chung về lịch sử, và cũng là lời kêu gọi đấu tranh mang tính cách mạng. Liệu sự hoan nghênh công thức đấu tranh giai cấp của những người theo học thuyết Marx có phải là dấu hiệu cho thấy xã hội phương Tây đã đặt chân lên con đường tan rã hay không là câu hỏi choán lấy tâm trí chúng ta khi đi vào nghiên cứu viễn cảnh nền văn minh phương Tây. Chúng ta khen ngợi Marx vì những lý do khác nữa: thứ nhất, ông là người dẫn giải kinh điển về cuộc đấu tranh giai cấp trong thời đại chúng ta; và thứ hai, công thức của ông theo khuôn mẫu sách khải huyền truyền thống của người theo đạo Cơ Đốc, người Do Thái, và tín đồ đạo thờ lửa trong ảo tưởng về kết cuộc êm ả.

Đấu tranh giai cấp nhất định nổ ra trong cuộc cách mạng vô sản tất thắng; tuy nhiên, đỉnh cao của cuộc đấu tranh cũng là điểm kết thúc của nó; chiến thắng của giai cấp vô sản sẽ mang tính quyết định cuối cùng, và “nền chuyên chính vô sản” (thành quả gặt hái được trong giai đoạn hậu cách mạng) không phải là thể chế trường tồn. Đến lúc nào đó, một xã hội mới không giai cấp sẽ đủ lớn mạnh để bỏ qua nền chuyên chính. Thực vậy, ở đỉnh cao hưng thịnh, chế độ mới trong thiên niên kỷ Mác-xít sẽ bỏ qua nền chuyên chính vô sản cùng những chỗ nương tựa khác cho thể chế, kể cả nhà nước.

Mối quan tâm đến thuyết mạt thế của người theo học thuyết Marx nằm ở việc cái bóng chính trị mỏng manh của niềm tin tôn giáo biến mất đã vẽ ra tiến trình mà đấu tranh giai cấp hay phân hóa theo chiều ngang trong xã hội bị sụp đổ có xu hướng đi theo. Trong hiện tượng tan rã, lịch sử hé lộ đúng lúc sự vận động từ chiến tranh đến hòa bình; từ dương sang âm; và từ cố tình hủy hoại báu vật đến tạo mới.

Bản thân phân hóa là sản phẩm của hai vận động tiêu cực do ham mê xấu xa gây ra. Thứ nhất, thiểu số thống trị tìm cách nắm giữ địa vị đặc quyền đặc lợi thông qua vũ lực. Giai cấp vô sản đáp lại sự bất công bằng oán giận, nỗi sợ hãi bằng lòng căm hờn, bạo lực bằng bạo lực. Tuy nhiên, toàn bộ vận động kết thúc trong hành động sáng tạo tích cực: chính quyền trung ương, giáo hội chung, và tộc người rợ.

Khi thấu hiểu sự vận động nói chung, chúng ta thấy phải mô tả nó là phân hóa và sống lại. Và suy cho cùng, ly khai là một cách rút lui, nên chúng ta có thể mô tả vận động phân hóa và sống lại là một trường hợp của hiện tượng đã nghiên cứu ở mục “rút lui và trở về”.

Thoạt nhìn, biến thể mới của rút lui - trở về có vẻ khác với những ví dụ vừa nghiên cứu trước đó. Chúng có phải là thành tựu của cá nhân hoặc thiểu số sáng tạo hay không? và đa số (đối lập với thiểu số thống trị) có phải là giai cấp vô sản ly khai hay không? Mặc dù ly khai là tác phẩm của đa số, nhưng hành động thiết lập giáo hội chung là công trình của thiểu số sáng tạo trong đa số vô sản. Đa số không sáng tạo trong trường hợp này gồm thiểu số thống trị và tầng lớp bị trị còn lại. Trong giai đoạn phát triển, thành tựu sáng tạo của thiểu số sáng tạo chẳng bao giờ là sản phẩm của toàn thể thiểu số, mà luôn của nhóm này hay nhóm kia trong thiểu số đó. Trong giai đoạn phát triển, đa số không sáng tạo bao gồm những thường dân dễ bị tác động bắt chước theo người lãnh đạo; trong giai đoạn tan rã, đa số không sáng tạo gồm một số thường dân dễ bị tác động (số tầng lớp bị trị còn lại) và thiểu số thống trị kiên quyết đứng ngoài vòng.

❀ ❀ ❀

[1] Macaulay, Lord: Luận về lịch sử.

[2] Tiến sĩ Edwyn Bevan, trong một bức thư gửi cho tác giả.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 29 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.