Vậy đâu là nguyên nhân suy tàn của các nền văn minh? Trước khi áp dụng phương pháp của riêng mình, liên quan tới việc sắp xếp lại các sự kiện lịch sử, chúng ta sẽ xem qua những giải pháp cụ thể dựa trên các lực lượng không thể lý giải hoặc những nhân tố khác nằm bên ngoài phạm vi tiến trình lịch sử của con người.
Một trong những bản tính yếu đuối cố hữu của loài người là họ luôn luôn quy thất bại của chính mình cho các lực lượng hoàn toàn vượt quá khả năng điều khiển của họ. Liệu pháp tinh thần này là một cứu cánh cho những tư tưởng nhạy cảm trong thời kỳ suy tàn và sụp đổ. Chẳng hạn, trong thời kỳ suy tàn và sụp đổ của nền văn minh Hy Lạp cổ, xã hội này đã trở thành nơi tập trung rất nhiều trường dạy triết học của các nhà hiền triết để giải thích tình trạng suy đồi xã hội mà họ cảm thấy tiếc nuối nhưng không thể ngăn chặn do sự lan tràn của tác động bất ngờ và không thể tránh khỏi của thuyết “vũ trụ lão hóa”. Đây là triết lý của Lucretius (De Rerum Natura, cuốn II, ll. 1144-1174) thuộc thế hệ cuối cùng trong thời kỳ loạn lạc của xã hội Hy Lạp. Đề tài tương tự cũng được tái hiện trong tác phẩm của một trong các Hồng Y thuộc Giáo hội Tây phương – thánh Cyprian – khi tôn giáo chung Hy Lạp cổ bắt đầu rạn nứt ba trăm năm sau đó. Ông viết:
“Bạn cần ý thức rằng xã hội của chúng ta giờ đây đã già nua. Nó không còn duy trì được thể trạng đã từng giúp nó phát triển, hoặc tinh thần hăng hái và quyết tâm đã từng giúp nó trở nên mạnh mẽ. … Những cơn mưa hạn chế trong mùa đông giúp nuôi dưỡng các hạt mầm, và đến mùa hè, nhiệt độ ấm áp sẽ cho một vụ mùa bội thu. … Đây là câu nói đã được truyền bá khắp trái đất; là quy luật của Thiên Chúa; có tồn tại sẽ có lúc chết, có tăng trưởng tất phải già đi”.
Nhà vật lý học hiện đại đã chạm tới cốt lõi của vấn đề trong lý thuyết nêu trên, bất chấp nền văn minh bất kỳ còn đang tồn tại được xét theo góc độ nào. Thực tế là các nhà vật lý hiện đại đã dự tính trước, trong một tương lai xa không thể hình dung, “sự già nua” của “đồng hồ vũ trụ” như hệ quả tất yếu của sự chuyển hóa bất khả kháng từ vật chất thành năng lượng, song tương lai, như chúng ta đã nói, là không thể đoán trước. Ngài James Jeans viết:
“Một quan điểm vô cùng ảm đạm cho tương lai của nhân loại, chúng ta hãy giả sử rằng trái đất chỉ có thể hy vọng tồn tại trong khoảng 2 tỉ năm nữa, một thời kỳ dài khoảng bằng tuổi của nó hiện nay. Nếu thu gọn toàn bộ thời gian tồn tại cho đến nay của trái đất là 70 năm, thì nhân loại, mặc dù được sinh ra trong một ngôi nhà đã 70 tuổi, nhưng bản thân nó mới chỉ được có ba ngày tuổi. … Chúng ta, những sinh vật hoàn toàn thiếu kinh nghiệm, vừa mới bước vào buổi bình minh của sự văn minh. … Đến một lúc nào đó, ánh sáng ban mai sẽ chìm dần vào ánh mặt trời chói chang buổi trưa, rồi nhường chỗ cho ánh hoàng hôn, báo trước đêm đen vô tận vĩnh cửu. Nhưng những đứa con của buổi bình minh chúng ta không cần phải bận tâm quá nhiều về buổi hoàng hôn còn quá xa trong tương lai”.[1]
Tuy nhiên, những người Tây phương hiện đại tán thành cách giải thích theo thuyết định mệnh về sự suy tàn của các nền văn minh, trong đó không cố gắng liên kết vận mệnh của con người với vận mệnh của toàn bộ vũ trụ tự nhiên thành một tổng thể. Họ thay thế quy luật lão hóa và cái chết với một bước sóng ngắn hơn, cùng với nó, họ khẳng định quyền hạn trên toàn bộ vương quốc sự sống của hành tinh này. Spengler – người chuyên sử dụng phương pháp thiết lập phép ẩn dụ, rồi đưa ra các luận điểm dựa trên đó, như thể nó là một quy luật dựa trên những sự kiện có thật đã được chứng kiến – đã khẳng định rằng tất cả mọi nền văn minh đều trải qua cùng một chuỗi thời kỳ như toàn thể nhân loại. Nhưng tài hùng biện của ông trong đề tài này cũng chẳng giúp đi tới được kết quả nào, và chúng ta đã biết rằng các xã hội không hề giống các quần thể sinh vật. Theo những quy ước chủ quan thì các xã hội là “môi trường nghiên cứu lịch sử”. Nói cho dễ hiểu, chúng là điểm chung giữa những lĩnh vực hoạt động riêng của một số cá nhân con người; những người này là các sinh thể sống nhưng không thể dựng nên những cái bóng khổng lồ của chính mình rồi sau đó thổi vào thể xác hão huyền đó hơi thở của sự sống. Năng lượng của tất cả cá nhân con người, được gọi là “thành viên” của một xã hội, là lực lượng then chốt tạo ra lịch sử của xã hội đó, kể cả thời gian tồn tại của nó. Cho rằng mọi xã hội đều có một thời gian tồn tại được xác định từ trước là điều ngốc nghếch không kém so với quan niệm mọi vở kịch đều có số chương, hồi bằng nhau.
Như vậy, chúng ta có thể bác bỏ lý thuyết cho rằng, sự suy tàn diễn ra khi mỗi nền văn minh đã đi gần hết vòng đời sinh trưởng của nó, vì các nền văn minh là những thực thể không thuộc về đề tài của quy luật sinh học. Nhưng còn có một lý thuyết khác cho rằng, vì lý do nào đó không giải thích được, phẩm chất sinh học của các cá nhân mà mối quan hệ tương hỗ giữa chúng cấu thành nên nền văn minh bỗng suy giảm một cách bí ẩn sau một số thế hệ nhất định hoặc không nhất định; có nghĩa là kinh nghiệm của nền văn minh về lâu về dài là một quá trình hoại sinh từ bản chất và không thể thay đổi.
Aetas parentum, peior avis, tulit
Nos nequiores, mox daturos
Progeniem vitiosiorem.[2]
Quan điểm này đã thực sự đặt cái cày trước con trâu, và gây ra lầm lẫn giữa tác động của sự suy sụp xã hội với nguyên nhân của nó. Bởi lẽ, trong giai đoạn xã hội suy tàn, các thành viên của xã hội đó có thể có vẻ như tự thu nhỏ lại thành những người tí hon, hoặc những kẻ què quặt, trái ngược với tầm vóc và hoạt động hoành tráng của tổ tiên họ trong thời kỳ xã hội phát triển, và việc quy kết sự què quặt đó cho sự thoái hóa là một chẩn đoán sai lầm. Di sản sinh học của thế hệ sau cũng không khác gì so với những người tiên phong, và tất cả công lao cũng như thành tựu của những người tiên phong vốn vẫn nằm trong tầm với của các hậu duệ của họ. Nguyên do đã kìm hãm sự phát triển của những đứa con yếu đuối không phải là sự tê liệt trong các khả năng tự nhiên mà là một sự suy sụp di sản xã hội, đã ngăn cản họ tìm kiếm các hoạt động xã hội hiệu quả và sáng tạo cho những khả năng còn nguyên vẹn của mình.
Lý thuyết không vững chắc về nguyên nhân thoái hóa chủng tộc của sự suy sụp xã hội, đôi khi được hỗ trợ bởi quan điểm cho rằng: Trong suốt thời kỳ rối ren giữa đợt phân rã cuối cùng của xã hội cũ và sự ra đời của một xã hội mới hậu duệ, có một giai đoạn Völkerwanderung diễn ra thường xuyên, trong đó dân chúng sống trong mái nhà chung của hai xã hội hậu duệ được xem như một sự kết hợp của “dòng máu mới”. Theo lôgic chủng tộc, người ta cho rằng, sự tiếp cận lực lượng sáng tạo mà nền văn minh mới thể hiện trong tiến trình phát triển là món quà dành cho “dòng máu mới” này từ “nguồn gốc thuần chủng” của một “chủng tộc người rợ nguyên thủy”; và như vậy có thể phỏng đoán là, sự mất mát sức mạnh sáng tạo trong đời sống nền văn minh của xã hội tiền nhiệm hẳn phải do một căn bệnh thiếu máu hoặc nhiễm trùng máu của chủng tộc mà không gì ngoài một sự pha trộn của dòng máu khỏe mạnh mới có thể cứu chữa được.
Hỗ trợ cho quan điểm này là một ví dụ minh họa được dẫn ra từ lịch sử nước Ý. Nó chỉ ra rằng các cư dân Italy bộc lộ sức mạnh sáng tạo xuất sắc trong bốn thế kỷ cuối trước CN, và một lần nữa trong suốt một giai đoạn kéo dài khoảng sáu thế kỷ từ thế kỷ 11 – 16, và rằng hai giai đoạn này được tách biệt bởi một thiên niên kỷ suy đồi, kiệt quệ và phục hồi, trong đó có những thời điểm tưởng chừng như người Ý đã đánh mất các ưu điểm của họ vĩnh viễn. Những sự thăng trầm rõ rệt này trong lịch sử nước Ý là không thể giải thích, theo lời những người phân biệt chủng tộc, nếu không phải là do sự pha trộn dòng máu mới của những người Goth và Lombard xâm lược lãnh thổ Ý suốt khoảng thời gian giữa hai thời kỳ thành tựu rực rỡ mà người Italy đã đạt được. Liều thuốc thần diệu này đã tạo ra, sau nhiều thế kỷ ấp ủ, sự tái sinh hay sự phục hưng của nước Ý. Chính vì thiếu dòng máu tươi mới này nên Italy mới ốm yếu và suy đồi dưới thời Đế chế La Mã, sau thời kỳ phát tiết năng lượng điên cuồng trong những ngày tháng của nền cộng hòa La Mã. Nguồn năng lượng đã bùng lên thành hành động cùng với sự trưởng thành của nền cộng hòa, không nghi ngờ gì là sản phẩm của một sự pha trộn trước đó giữa dòng máu tốt của người rợ trong suốt thời kỳ Völkerwanderung tiền đề của nền văn minh Hy Lạp cổ.
Phương pháp giải thích lịch sử Ý theo chủng tộc đến thế kỷ thứ 16 có một vẻ bề ngoài hợp lý chừng nào chúng ta còn chưa vượt qua giới hạn thời gian đó. Nhưng nếu tiếp tục lướt đôi mắt quan sát của mình từ thế kỷ 16 tới ngày nay, thì chúng ta sẽ thấy rằng, sau một thời gian dài yếu ớt nữa qua hai thế kỷ 17 và 18, Italy lại trải qua một giai đoạn phục sinh khác, trong thế kỷ 19, kịch tính đến nỗi cái tên giờ đây được sử dụng “Risorgimento” (phong trào thống nhất Ý thế kỷ XIX), rõ ràng là dành riêng cho sự lặp lại kinh nghiệm của nước Ý thời Trung cổ. Và sự pha trộn nào của dòng máu tốt của người rợ là tiền đề cho sự bùng phát năng lượng Ý lần gần đây nhất? Câu trả lời dĩ nhiên là “Không có”. Lịch sử đã chứng minh nguyên nhân chính trực tiếp của Risorgimento Italy thế kỷ 19 là “cú hích” và thách thức tác động lên nước Ý do sự chinh phục và chiếm đóng tạm thời của cuộc cách mạng Pháp và quân đội Pháp dưới thời Napoleon.
Ta cũng không gặp khó khăn gì để giải thích sự lớn mạnh của nước Ý vào đầu thiên niên kỷ thứ hai, và cả sự suy tàn trước đó của nó trong hai thế kỷ cuối trước CN theo lý thuyết “phi chủng tộc”. Giai đoạn suy tàn vừa đề cập rõ ràng là sự báo ứng dành cho chủ nghĩa quân phiệt La Mã vốn đã đem tới cho nước Ý đủ mọi thứ tệ nạn xã hội khủng khiếp theo sau chiến tranh Hannibal. Giai đoạn xã hội Ý bắt đầu hồi phục suốt thời kỳ quá độ “hậu Hy Lạp cổ”, có thể xem là công trình của các cá nhân sáng tạo thuộc chủng tộc Italy già nua, cụ thể là Thánh Benedict và Giáo hoàng Gregory vĩ đại, những người đã không chỉ tái sinh một nước Ý trẻ trung thời Trung cổ mà còn là cha đẻ của nền văn minh Tây phương mới. Ngược lại, khi nghiên cứu các vùng lãnh thổ của nước Ý bị chiếm đóng bởi người Lombard mang “dòng máu tinh khiết”, chúng ta thấy trong danh sách không có Venice và Romagna, cũng như các khu vực khác đóng vai trò quan trọng trong phong trào Phục hưng nước Ý, mà chỉ có những thành phố kém quan trọng hơn rất nhiều, cụ thể là: Pavia, Benevento và Spoleto, những thành phố nằm ngay trung tâm quyền lực của người Lombard. Như vậy, nếu muốn đánh bóng cho thuyết chủng tộc trong lịch sử Ý thì chúng ta có thể dễ dàng đưa ra chứng cứ chứng minh dòng máu Lombard là một liều thuốc độc chứ không phải là thần dược.
Chúng ta có thể đánh bật những người theo thuyết chủng tộc ra khỏi cứ điểm quan trọng nhất của họ trong lịch sử Italy bằng cách đưa ra một cách giải thích phi chủng tộc cho sự lớn mạnh của nền cộng hòa La Mã. Nó có thể được giải thích là một phản ứng đáp trả đối với thách thức do chiến lược thực dân của Hy Lạp và Etruria gây ra. Liệu những người bản xứ ở bán đảo Italy có bỏ qua cơ hội chọn lựa giữa sự diệt vong, nô dịch hóa hoặc đồng hóa trước áp lực do những người Hy Lạp áp đặt lên đồng bào của họ ở đảo Sicily và người Etruria áp đặt lên những người bản xứ ở Umbria? Hay là họ sẽ giữ lấy bản sắc của mình trước những kẻ xâm lược bằng cách điều chỉnh nền văn minh Hy Lạp cổ cho hòa hợp với họ và nhằm phục vụ cho mục đích của riêng họ (giống như Nhật Bản đã từng chấp nhận văn minh Tây Âu), và qua đó tự mình trưởng thành, sánh ngang với Hy Lạp và Etruria về mức độ hiệu quả? Người La Mã đã quyết định chọn phản ứng sau cùng, và với lựa chọn này, không bao lâu sau họ đã trở thành tác giả tạo ra thành công vĩ đại của chính họ.
Đến giờ, chúng ta đã bác bỏ ba cách giải thích theo thuyết “định mệnh” về sự suy tàn của các nền văn minh: lý thuyết cho rằng đó là do sự “chạy chậm lại” của bộ máy đồng hồ trong vũ trụ hoặc do sự lão hóa của trái đất; lý thuyết cho rằng nền văn minh, cũng như một cơ thể sống, có một vòng đời, một khoảng thời gian sống được những quy luật sinh học tự nhiên quy định; và lý thuyết cho rằng sự suy tàn là do các thành viên trong một nền văn minh thoái hóa chất lượng, kết quả của khoảng cách quá xa về phả hệ của họ với những tiền nhân “văn minh”. Chúng ta vẫn còn phải khảo sát thêm một lý thuyết nữa, thường được gọi là thuyết “lịch sử xoay vần”.
Phát minh lý thuyết “lịch sử xoay vần” này trong lịch sử nhân loại là một hệ quả tất yếu của khám phá thiên văn học vĩ đại, có lẽ được thực hiện trong xã hội Babylon vào một thời điểm nào đó giữa hai thế kỷ 8 và 6 trước CN. Đó là lý thuyết cho rằng, ba chu kỳ rõ ràng và quen thuộc – chu kỳ ngày đêm, chu kỳ tháng âm lịch và chu kỳ “năm mặt trời” – không phải là những ví dụ duy nhất của sự lặp lại theo chu kỳ trong chuyển động của những vật thể trên trời; rằng còn có một sự kết hợp lớn hơn trong những chuyển động của các tinh tú bao trùm toàn bộ các hành tinh cùng với trái đất, mặt trăng và mặt trời; và rằng thứ “âm nhạc vũ trụ” này, được thể hiện qua sự hòa âm của dàn hòa tấu vũ trụ, luôn luôn xoay tròn, hết cung này đến cung khác, trong một chu kỳ vĩ đại mà so với nó thì một năm mặt trời chỉ như một hạt cát trong sa mạc. Kết luận rút ra là sự sinh và diệt hàng năm của thực vật, rõ ràng chịu sự điều khiển của chu kỳ mặt trời, có hiện tượng tương ứng là chu kỳ sinh và diệt của tất cả mọi thứ trong vòng đời vũ trụ.
Phương pháp diễn giải lịch sử nhân loại theo khái niệm các chu kỳ này rõ ràng là đã mê hoặc Plato (Thời gian, 21 E-23 C, và Chính trị, 269 C-273 E), và học thuyết tương tự lại xuất hiện ở một trong những đoạn nổi tiếng nhất trích từ tập thơ Đức Mẹ đồng trinh, bài thứ tư:
Ultima Cumaei venit iam carminis aetas;
Magnus ab integro saeclorum nascitur ordo.
Iam redit et virgo, redeunt Saturnia regna,
Iam nova progenies caelo demittitur alto …
Alter erit tum Tiphys et altera quae vehat Argo
Delectos heroas; erunt etiam altera bella
Atque iterum ad Troiam magnus mittetur Achilles.[3]
Đức Mẹ đồng trinh sử dụng thuyết chu kỳ để tô điểm cho bài hát ca ngợi chủ nghĩa lạc quan lấy cảm hứng từ hòa ước Augustan của thế giới Hy Lạp cổ. Nhưng còn lời chúc tụng “những trận chiến ngày xưa sẽ được tái diễn” thì sao? Vì sao nhiều cá nhân đã đạt được những thành tựu đáng kể và có được cuộc sống hạnh phúc lại khẳng định chắc nịch rằng họ không muốn sống lại như thế một lần nữa, và rằng “lịch sử tự do” đáng giá hơn là một “điệp khúc” lặp đi lặp lại? Câu hỏi này, chưa được Đức Mẹ đồng trinh đề cập, đã được Shelley giải đáp trong đoạn cuối của vở Hy Lạp, bắt đầu bằng một sự hồi tưởng theo kiểu Đức Mẹ đồng trinh và kết thúc bằng những lời của Shelley:
Thời vĩ đại của thế giới lại bắt đầu,
Những năm tháng hoàng kim quay trở lại,
Trái đất tựa như một con rắn thay da
Lớp áo tang mùa đông được cởi bỏ:
Những nụ cười và niềm tin le lói
Như những mảnh vụn của giấc mộng vỡ tan …
Con tàu Argo lại hiên ngang rẽ sóng,
Trên chất đầy chiến lợi phẩm thật oai hùng;
Và chàng Orpheus lại cất cao tiếng hát,
Lại yêu thương, lại khóc hận, lại chết đi;
Và Ulysses một lần nữa ra đi
Calypso trở về quê hương trên bãi biển.
Ôi truyền thuyết thành Troy đành chấm dứt,
Nếu danh sách Tử Thần không thể đổi thay –
Hay cơn mê cuồng trong hoan lạc của Laian
Khi bình minh mọc trên tự do mới chớm
Dù quái thú nhân sư có một ngày tái xuất
Bí ẩn về cái chết của Thebes đã mãi mãi bị vùi sâu …
Ôi, thôi! Lẽ nào hận thù và chết chóc lại quay về?
Thôi! Lẽ nào con người lại chém giết lẫn nhau?
Thôi! Đừng uống cạn những cặn bã đắng cay
Của lời tiên tri xót xa thảm thiết!
Thế giới muốn đoạn tuyệt cùng quá khứ, –
Có thể cuối cùng nó được yên giấc ngàn thu!
Nếu quy luật của Vũ trụ quả thật như câu mỉa mai Plus ça change plus c’est la même chose, thì chẳng lấy gì làm ngạc nhiên khi nhà thơ phải khóc, theo tinh thần Phật giáo, đó là để thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi, có thể là điều hay khi nó chỉ đơn thuần dẫn dắt các vì sao di chuyển theo quỹ đạo, nhưng sẽ trở thành sự đơn điệu không thể chịu đựng nổi đối với bước chân nhân loại chúng ta.
Có lý do nào, ngoài những ảnh hưởng mơ hồ của quỹ đạo các vì sao, buộc chúng ta phải tin vào sự vận động theo chu kỳ của lịch sử nhân loại không? Chẳng phải chính chúng ta, trong khi tiến hành nghiên cứu này, đã cổ vũ cho một giả thuyết như thế hay sao? Tất cả những sự vận động từ trạng thái Âm sang trạng thái Dương, thách thức sang phản ứng, thoái lui sang trở lại, tiền bối sang hậu duệ mà chúng ta đã làm sáng tỏ thì thế nào? Chẳng lẽ chúng không phải là các biến thể của đề tài đã được nhắc đi nhắc lại không biết bao nhiêu lần từ đầu chương này đến giờ, “Lịch sử tự lặp lại chính nó” hay sao? Dĩ nhiên, trong sự vận động của tất cả các lực lượng dệt nên mạng lưới lịch sử nhân loại, rõ ràng là có một vài nhân tố tự lặp lại. Tuy vậy, con thoi vẫn chạy tới lui liên tục trên khung cửi thời gian lần này dệt ra một tấm thảm mà trên đó rõ ràng là có sự phát triển của mẫu thiết kế chứ không chỉ đơn giản là sự lặp lại vô tận của cùng một kiểu mẫu. Điều này chúng ta đã được chứng kiến nhiều lần. Hình ảnh ẩn dụ “bánh xe cuộc đời” (hay “vòng luân hồi”) bản thân nó đã cho chúng ta một minh họa về sự lặp lại diễn ra đồng thời với tiến trình. Phải thừa nhận rằng chuyển động của “bánh xe” là lặp đi lặp lại một cách tương đối nếu so với trục bánh xe, nhưng chiếc bánh xe chỉ được chế tạo và lắp ráp gắn liền với trục bánh xe nhằm tạo ra động năng cho cả chiếc xe mà cái bánh xe chỉ là một bộ phận trong đó. Và thực tế là chiếc xe, chính là lý do tồn tại của cái bánh xe, chỉ có thể di chuyển nhờ vào chuyển động xoay tròn quanh trục của bánh xe không có nghĩa là bản thân chiếc xe chỉ có thể chạy quanh một vòng tròn cố định.
Sự phối hợp hai chuyển động khác nhau nói trên – chuyển động toàn thể theo chiều tịnh tiến được sinh ra dựa trên một chuyển động xoay tròn của một bộ phận – có lẽ là cốt lõi của cái mà chúng ta gọi là sự nhịp nhàng; và chúng ta có thể thấy vai trò tương tự của các lực lượng, không chỉ trong lĩnh vực phương tiện giao thông và các máy móc hiện đại mà cả trong nhịp điệu của các cơ thể sống. Chu kỳ thường niên của các mùa, dẫn tới chu kỳ thoái lui và trở lại của thực vật, đã tạo ra tiềm năng tiến hóa cho vương quốc thực vật. Cái vòng luẩn quẩn chào đời, sinh sôi nảy nở, rồi chết đi tạo ra tiềm năng tiến hóa cho tất cả mọi loài động vật cấp cao đang muốn tiến hóa thành người. Phương tiện giao thông thay thế đôi chân cho phép con người đi khắp mặt đất; hoạt động bơm nhịp nhàng của hai lá phổi và trái tim cho phép một động vật sống hết cuộc đời của nó; khuôn nhạc và khổ thơ tứ tuyệt cho phép nhạc sĩ và thi sĩ trình bày các giai điệu của mình. Bản thân “thời kỳ vĩ đại” trên thế gian này, có lẽ vốn là nguồn gốc của toàn bộ hệ thống triết học theo chu kỳ, giờ đây không còn có thể nhầm lẫn với chuyển động cuối cùng và trọn vẹn của cả một bầu trời đầy sao, trong đó thái dương hệ của chúng ta chỉ nhỏ bé như một hạt cát dưới cái nhìn qua những viễn vọng kính cực mạnh của thiên văn học Tây phương hiện đại. “Bản hòa tấu” lặp đi lặp lại của vũ trụ cứ nhỏ dần, nhỏ dần, cho đến khi chỉ còn nghe được phần nhạc đệm của tiếng “bass Alberti”[4] trong một vũ trụ đang mở rộng liên tục với những chòm sao đang lùi dần như tên bắn vào không gian sâu thẳm.
Như vậy là, sự phát hiện những vận động lặp theo chu kỳ trong cuộc phân tích của chúng ta về tiến trình văn minh không bao gồm bản thân tiến trình đó. Trái lại, nếu có bất kỳ kết luận thỏa đáng nào được rút ra từ tính chu kỳ của những vận động thành phần này, thì đó là chuyển động tổng thể mà chúng đem lại không phải là chuyển động lặp mà là chuyển động tịnh tiến. Nhân loại không phải là Ixion vĩnh viễn bị gắn chặt vào bánh xe, cũng không phải là Sisyphus mãi mãi phải vần tảng đá lên đỉnh núi để rồi bất lực nhìn nó lăn trở xuống.
Đây là thông điệp cổ vũ lòng can đảm dành cho chúng ta - những đứa con của nền văn minh Tây phương khi ngày nay chúng ta chỉ còn có một mình - với toàn những nền văn minh ốm yếu chung quanh. Có vẻ như thần chết bình đẳng rồi cũng sẽ đặt bàn tay băng giá lên nền văn minh của chúng ta. Nhưng các nền văn minh tử vong không phải do số phận, hoặc vì “nguyên nhân tự nhiên”, và vì vậy nền văn minh đang còn sống của chúng ta chưa chắc sẽ phải chết để “đoàn tụ với các ‘anh em’ khác”. Mặc dù có tới 16 nền văn minh đã bị diệt vong, và 9 nền văn minh khác đang hấp hối, song chúng ta - nền văn minh thứ 26 - không nhất thiết phải bi quan về những con số thống kê đó. Đốm lửa thần thánh của sức mạnh sáng tạo vẫn còn sống trong tâm hồn chúng ta và nếu chúng ta biết cách khơi nó lên thành ngọn lửa, thì chu kỳ của các vì sao cũng không thể đánh bại nỗ lực của chúng ta nhằm đạt tới mục tiêu tiến hóa của nhân loại.
❀ ❀ ❀
[1] Ngài James Jeans: Eos: hoặc những khía cạnh rộng hơn của thuyết vũ trụ, trang 12-13, 83-4.
[2] Horace: Tụng ca, cuốn III, bài thứ VI, khổ thơ cuối cùng. Đoạn thơ được tạm dịch như sau (chủ yếu là dịch nghĩa):
[3] Dịch nghĩa: “Thời đại trước trong lời tiên đoán của tiên tri Cumaean đã đến; các thời kỳ vĩ đại lại được tái sinh với luồng sinh khí mới. Đức Mẹ đồng trinh và thời hoàng kim đang trở lại; một chủng tộc mới sắp được gửi xuống từ Thiên đàng. … Sẽ lại có một Tiphys và một Argo khác để chở những đấng anh hùng được lựa chọn. Những trận chiến ngày xưa sẽ được tái diễn và một lần nữa chàng Achilles vĩ đại sẽ được gửi đến thành Troy”.
[4] Một nhạc cụ trong dàn nhạc đệm bằng đàn phím phổ biến vào thế kỷ 18.