Nghiên Cứu Lịch Sử Nhân Loại

Lượt đọc: 93 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
XV. SỰ MẤT KIỂM SOÁT ĐỐI VỚI MÔI TRƯỜNG

❊ ❊ ❊

Mặc dù đã chứng minh rằng các nền văn minh suy tàn không phải do hoạt động của các lực lượng vũ trụ nằm ngoài tầm kiểm soát của con người, song chúng ta vẫn phải tìm ra nguyên nhân thực sự gây nên những kết thúc bi kịch này; và trước tiên, hãy xem xét khả năng những sự suy tàn gây ra do mất kiểm soát đối với môi trường xã hội. Để giải quyết vấn đề này, chúng ta sẽ áp dụng một đặc điểm phân biệt đã đúc kết giữa hai dạng môi trường: tự nhiên và con người.

Phải chăng các nền văn minh sụp đổ do sự mất kiểm soát đối với môi trường tự nhiên? Ta có thể tính toán được mức độ kiểm soát đối với môi trường tự nhiên mà mỗi xã hội sở hữu qua trình độ kỹ thuật của nó, như chúng ta đã từng chỉ ra; và trong khi nghiên cứu vấn đề “phát triển”, chúng ta cũng đã xác định rằng, nếu xem hai đường cong, một đường đại diện cho sự biến thiên của trình độ văn minh, đường thứ hai đại diện cho sự biến thiên của trình độ kỹ thuật – chúng ta sẽ thấy hai đường cong nói trên không những không tương đồng mà còn hoàn toàn khác xa nhau. Chúng ta đã từng chứng kiến những trường hợp kỹ thuật phát triển, trong khi trình độ văn minh đứng yên hoặc thụt lùi và những trường hợp kỹ thuật giậm chân tại chỗ, trong khi trình độ văn minh thay đổi, theo cả hai chiều tiến bộ hoặc thoái bộ. Do vậy, chúng ta đã đi được một chặng dài trên con đường chứng minh rằng: Sự mất kiểm soát đối với môi trường tự nhiên không phải là tiêu chuẩn của sự suy tàn của các nền văn minh. Tuy nhiên, để hoàn thiện chứng cứ cho luận điểm của mình, chúng ta phải chỉ ra là, trong trường hợp sự suy tàn của một nền văn minh trùng hợp với sự tụt hậu kỹ thuật, thì sự kiện thứ hai không phải là nguyên nhân gây ra sự kiện thứ nhất. Chúng ta sẽ thấy rằng, thực ra sự tụt hậu kỹ thuật không phải là nguyên nhân, mà là một hệ quả hoặc triệu chứng của quá trình suy tàn.

Khi một nền văn minh đang trong quá trình suy tàn, đôi khi xảy ra trường hợp, một kỹ thuật cụ thể vốn đã từng khả thi và mang lại lợi nhuận trong giai đoạn xã hội phát triển, nay bắt đầu gặp phải các chướng ngại xã hội và bị sút giảm hiệu quả kinh tế; nếu nó trở nên hoàn toàn không còn có lợi nữa thì có thể nó sẽ bị từ bỏ một cách có chủ tâm. Trong trường hợp này, rõ ràng nó đóng vai trò hoàn toàn đối nghịch với nguyên nhân, bởi lẽ sự từ bỏ kỹ thuật này trong những điều kiện kể trên là do không còn khả năng áp dụng nó và sự mất khả năng áp dụng này chính là nguyên nhân gây ra sự suy sụp của nền văn minh.

Một ví dụ tiêu biểu là sự bỏ hoang các con đường La Mã ở Tây Âu, vốn rõ ràng không phải là nguyên nhân mà là hệ quả sụp đổ của Đế chế La Mã. Những con đường này trở nên hoang phế, không phải do thất bại về kỹ thuật, mà bởi vì cái xã hội cần đến chúng, và đã tạo ra chúng để đáp ứng các nhu cầu quân sự và thương mại của nó giờ đây đã tan rã. Và chúng ta cũng không thể quy trách nhiệm gây ra sự suy tàn và sụp đổ của nền văn minh Hy Lạp cổ cho sự thoái bộ về kỹ thuật đơn giản bằng cách mở rộng phạm vi từ một kỹ thuật làm đường đơn lẻ sang toàn bộ kỹ thuật của đời sống kinh tế.

“Cách giải thích sự suy tàn của thế giới Cổ đại theo nguyên nhân kinh tế cần phải bị bác bỏ hoàn toàn. … Sự đơn giản hóa nền kinh tế của đời sống cổ đại không phải là nguyên nhân của cái mà chúng ta gọi là sự suy tàn của thế giới Cổ đại, mà chỉ là một trong những khía cạnh của hiện tượng chung”.[1]

Hiện tượng chung ở đây là “sự thất bại trong cai trị và sự phá sản của tầng lớp trung lưu”.

Hệ thống đường giao thông La Mã hoang phế ít nhiều tương đồng với việc bỏ hoang hệ thống tưới cũ ở vùng tam giác phù sa thuộc đồng bằng sông Tigris–Euphrates. Vào thế kỷ thứ bảy sau CN, những công trình thủy lợi này đã bị bỏ mặc trong một khu vực rộng lớn ở miền Tây Nam Iraq sau khi chúng ngừng hoạt động do một cơn lũ, vốn dĩ chẳng gây nhiều thiệt hại nghiêm trọng hơn bao nhiêu so với cơn lũ khác đã từng đi qua trong suốt chặng đường hơn bốn nghìn năm. Sau đó, vào thế kỷ 13, toàn bộ hệ thống tưới của Iraq bị bỏ hoang phế. Vì sao giai cấp bị trị ở Iraq lại bỏ phế một hệ thống mà tổ tiên của họ đã duy trì thành công trong vòng hàng nghìn năm không có một trục trặc nào – một hệ thống mà cả sản lượng nông nghiệp lẫn sự duy trì dân số của quốc gia đều phụ thuộc vào đó? Bước thoái bộ về kỹ thuật này thực ra không phải là nguyên nhân mà chỉ là hệ quả của sự sụt giảm dân số và suy đồi về kinh tế, và những hiện tượng này lại do những nguyên nhân xã hội khác gây ra. Trong cả hai giai đoạn thế kỷ thứ 7 và thứ 13, nền văn minh Syria cổ đều xuống dốc không phanh ở Iraq, và hậu quả là một tình trạng chung quá bấp bênh, đến nỗi không một ai có khả năng đầu tư hoặc có động cơ để dồn sức lực vào công việc thủy lợi nữa. Trong thế kỷ thứ 7, nguyên nhân thực sự của thất bại kỹ thuật là cuộc đại chiến La Mã – Ba Tư từ 603–628, và hệ quả là những người Ả Rập Hồi giáo nguyên thủy lan tràn khắp Iraq; còn trong thế kỷ 13, cuộc xâm lược của người Mông cổ vào năm 1258 đã giáng cho xã hội Syria cổ một đòn kết liễu.

Chúng ta cũng thu được kết luận tương tự khi theo đuổi cuộc điều tra được gợi ra từ khi theo dõi Ceylon.[2] Ở Ceylon ngày nay, khu vực chứa những lăng mộ đổ nát của nền văn minh Ấn Độ cổ trùng khớp, không chỉ với một vùng hạn hán kéo dài, mà còn với cả khu vực ngày nay đang bị bệnh sốt rét hoành hành. Hệ thống cấp nước đã bị hư hại trầm trọng hiện nay, vẫn cung cấp đủ nước cho loài muỗi anopheles sinh sôi nảy nở trong khi hoàn toàn không thể sử dụng cho đồng ruộng, và đây đúng là câu chuyện kỳ lạ đối với nền văn minh cổ xưa này. Hoàn toàn không có dấu hiệu gì cho thấy bệnh sốt rét đã phổ biến ở khu vực này từ khi những người tiên phong của xã hội Ấn Độ cổ ở Ceylon kiến tạo nên hệ thống thủy lợi kỳ diệu của họ. Thực tế có thể chứng minh rằng, bệnh sốt rét là hệ quả từ sự hoang phế của hệ thống tưới, và do đó phải xuất hiện sau khi nó được xây dựng. Khu vực này của Ceylon bị bệnh dịch sốt rét là do sự hủy hoại của hệ thống nước tưới đã biến những kênh rạch nhân tạo thành một chuỗi ao tù nước đọng, đồng thời tiêu diệt tất cả các loài cá đã từng sống dưới những kênh rạch này và biến chúng thành thiên đường của bọ gậy (ấu trùng của loài muỗi).

Nhưng tại sao hệ thống nước tưới của xã hội Ấn Độ cổ lại bị bỏ hoang? Đó là do, những con đê bị phá vỡ và những kênh rạch dần hoang phế trong quá trình tàn phá liên miên của chiến tranh. Những công trình này bị phá hoại có chủ ý bởi những kẻ xâm lược xem đây là một con đường tắt để đạt được mục đích quân sự của mình; và những con người sinh ra trong chiến tranh chẳng còn tâm trí và nhiệt huyết để sửa chữa một thiệt hại đã giáng xuống đầu họ quá nhiều lần và có vẻ như chắc chắn sẽ còn giáng xuống nữa. Như vậy, sự thoái bộ của nhân tố kỹ thuật, trong trường hợp này, một lần nữa chỉ là một mắt xích phụ và ít quan trọng trong xâu chuỗi nguyên nhân và tác động xã hội.

Chương ảm đạm này của lịch sử văn minh Ấn Độ cổ ở Ceylon có hình ảnh gần gũi với một giai đoạn trong lịch sử văn minh Hy Lạp. Chúng ta cũng tìm thấy một số vùng lãnh thổ, nơi mà nền văn minh giờ đây đã tiêu vong từng sống cuộc đời lỗi lạc của nó và bộc lộ nguồn năng lượng sống mạnh mẽ nhất kể từ khi những đầm lầy đầy muỗi truyền bệnh sốt rét được cải tạo. Đầm lầy Copaic, mới được một công ty Anh tháo nước cải tạo lại vào năm 1887, sau khi đã đóng vai trò là một vùng “rừng thiêng nước độc” trong ít nhất 2000 năm, đã từng là những cánh đồng nuôi sống các công dân Orchomenos giàu có. Đầm lầy Pomptine, được cải tạo và tổ chức tái định cư dưới chế độ Mussolini sau một thời gian dài tiêu điều, đã từng nuôi dưỡng nhiều thành phố của người Volscian và các khu thuộc địa Latinh. Thực ra có những dấu vết gợi ý rằng “sự đánh mất nhuệ khí” (như cách nói của Giáo sư Gilbert Murray), tâm điểm của sự suy tàn của xã hội Hy Lạp cổ là do bệnh sốt rét tấn công lên các vùng lãnh thổ quê hương của nó. Nhưng có lý do để tin rằng, ở những khu vực này, cũng như ở Ceylon, bệnh sốt rét hoành hành đã không bắt đầu trước khi nền văn minh đang ngự trị đi qua thời kỳ đỉnh cao của nó. Một chuyên gia hiện đại[3] đã đưa ra kết luận rằng, trong xã hội Hy Lạp, bệnh sốt rét không được địa phương hóa cho tới sau chiến tranh Peloponnese; và ở Latium bệnh dịch đã không chiếm được thế thượng phong cho tới sau chiến tranh Hannibal. Thật lố bịch nếu cho rằng, người Hy Lạp thời hậu-Alexander và người La Mã thời Scipio và Caesar bị hạn chế bởi kỹ thuật kém hiệu quả nên không thể tiếp tục đương đầu với những vấn đề tưới tiêu của các đầm lầy Copaic và Pomptin – những vấn đề vốn đã được giải quyết gọn ghẽ bởi tổ tiên có kỹ thuật lạc hậu hơn họ rất nhiều. Lời giải thích cho sự tương phản có thể được tìm thấy không phải trên bình diện kỹ thuật mà là xã hội. Chiến tranh Hannibal và những cuộc nội chiến liên miên của Đế chế La Mã trong hai thế kỷ tiếp theo đã gây ra một tác động phân hóa sâu sắc đời sống xã hội của người Ý. Nền văn minh và kinh tế nông nghiệp đầu tiên bị xói mòn, và cuối cùng bị quét sạch bởi tác động dồn nén của một loạt nguyên nhân: đó là sự tàn phá do Hannibal gây ra; sự động viên liên tục tầng lớp nông dân vào phục vụ trong quân đội; cuộc cải cách ruộng đất thay thế các đồn điền quy mô nhỏ của tiểu nông bằng các đồn điền quy mô lớn sử dụng sức lao động của nô lệ; và một đợt di cư khổng lồ từ nông thôn tới các thành phố ký sinh. Sự kết hợp những tệ nạn xã hội nói trên là quá đủ để giải thích sự rút lui của con người và ưu thế của loài muỗi trong suốt bảy thế kỷ giữa thế hệ của Hannibal và thế hệ của thánh Benedict ở nước Ý.

Giống như Hy Lạp, sự cộng gộp của các tệ nạn xã hội tương tự, từ sau cuộc chiến tranh Peloponnese, đã bộc lộ hậu quả vào thời Polybius (206 – 128 trước CN) với một mức độ sụt giảm dân số nghiêm trọng hơn bất cứ lần sụt giảm dân số nào diễn ra sau này ở Ý. Trong một phát biểu nổi tiếng, Polybius đã mô tả sự hạn chế số lượng gia đình và cả số lượng các thành viên trong đó – do sự sẩy thai hoặc hủ tục giết trẻ con – là nguyên nhân căn bản của sự suy đồi về xã hội và chính trị của Hy Lạp ở thời của ông. Như vậy, rõ ràng là không có một thất bại kỹ thuật nào có thể giải thích lý do vì sao các vùng đồng ruộng Copaic và Pomptine bị bỏ mặc để tự biến mình từ một vựa lúa thành một ổ muỗi.

Chúng ta sẽ đi tới những kết luận tương tự nếu chuyển từ kỹ thuật khảo sát áp dụng trong thực tiễn sang những kỹ năng nghệ thuật: kiến trúc, điêu khắc, hội họa, thư pháp và văn học. Chẳng hạn như vì sao phong cách kiến trúc Hy Lạp cổ không được sử dụng từ thế kỷ thứ tư tới thứ bảy sau CN? Vì sao người Thổ Ottoman từ bỏ bảng mẫu tự Ả Rập vào năm 1928? Vì sao hầu như mọi xã hội ngoài Tây phương hiện nay đều đã từ bỏ phong cách truyền thống của mình trong trang phục và nghệ thuật? Và để khởi đầu, chúng ta cũng có thể đặt vấn đề về chính mình qua câu hỏi, vì sao những phong cách truyền thống của chúng ta trong các nghệ thuật âm nhạc, khiêu vũ, hội họa và điêu khắc đang dần dần bị từ bỏ trong đại bộ phận thế hệ hiện nay.

Trong trường hợp của chúng ta, phải chăng nguyên nhân là sự tụt hậu trong kỹ năng nghệ thuật? Phải chăng chúng ta đã quên những quy luật của nhịp điệu, đối âm, phối cảnh và tỉ lệ đã được người Ý và những thiểu số sáng tạo khác khám phá ra trong các chương thứ hai và thứ ba của lịch sử chúng ta? Rõ ràng là không phải. Xu hướng thịnh hành từ bỏ các truyền thống nghệ thuật của chúng ta không phải là kết quả của sự tụt hậu kỹ thuật; nó là sự từ bỏ có chủ ý một phong cách đang đánh mất sức hấp dẫn của mình đối với thế hệ hiện nay, bởi lẽ thế hệ này không còn gieo trồng sự nhạy cảm mỹ học của họ trên những luống đất cũ của truyền thống Tây phương. Chúng ta đã cố ý gạt bỏ ra khỏi tâm hồn mình các bậc thầy đã từng có ảnh hưởng quen thuộc đối với tổ tiên chúng ta; và trong khi chúng ta bị bao bọc trong sự tự mãn của lỗ hổng tinh thần do chính chúng ta tạo ra, thì một tinh thần Phi châu nhiệt đới trong nghệ thuật âm nhạc, khiêu vũ và tạc tượng đã tạo ra một “liên minh ma quỷ” với một tinh thần “giả Byzantine” trong nghệ thuật hội họa và phù điêu, đã vào định cư dưới mái nhà của chúng ta nơi nó được nhận xét là bóng bẩy và thẩm mỹ. Sự suy đồi không phải có nguồn gốc từ kỹ thuật mà là từ tinh thần. Qua việc từ bỏ truyền thống nghệ thuật của chính xã hội Tây phương chúng ta để đạt tới một trạng thái rỗng tuếch và cằn cỗi, rồi lại vồ vập những nghệ thuật ngoại lai và nguyên thủy của Dahomey và Benin như thể chúng là những tặng vật quý báu của thiên nhiên hoang dã, chúng ta đã tự thú trước mọi người rằng, chúng ta đã đánh mất tài sản thừa kế tinh thần của mình. Sự từ bỏ nghệ thuật truyền thống hiển nhiên là hệ quả của một dạng suy đồi về tinh thần của nền văn minh Tây phương; và nguyên nhân sự suy đồi này rõ ràng là không thể tìm thấy trong một hiện tượng vốn là một trong các kết quả của nó.

Việc từ bỏ bảng mẫu tự Ả Rập gần đây của người Thổ để thay thế bằng bảng mẫu tự Latinh cũng được giải thích theo những lý lẽ tương tự. Mustafa Kemal Ataturk và các môn đệ của ông đã tiến hành Tây phương hóa triệt để ngay trong lòng thế giới Hồi giáo của họ. Họ đã đánh mất niềm tin vào truyền thống của mình, và vì vậy đã khước từ trung gian văn học, phương tiện truyền bá của nó. Một cách giải thích tương tự cũng có thể được vận dụng trong trường hợp từ bỏ những loại chữ viết truyền thống khác của các nền văn minh đang hấp hối trước kia: chẳng hạn như chữ viết tượng hình ở Ai Cập và chữ viết hình nêm ở Babylon. Khuynh hướng thủ tiêu hệ chữ viết Trung Hoa cổ đại hiện nay cũng có thể được nhận rõ ở Trung Quốc và Nhật Bản.

Một ví dụ thú vị về việc thay thế kỹ thuật này bằng kỹ thuật khác là sự từ bỏ phong cách kiến trúc Hy Lạp cổ để thay thế bằng phong cách Byzantine mới lạ hơn. Trong trường hợp này, các kiến trúc sư của một xã hội đang hấp hối đã từ bỏ sơ đồ tương đối đơn giản của kết cấu hình cột để thử chinh phục một thách thức khó khăn trong việc hoàn thiện một tòa nhà hình chữ thập với mái vòm hình tròn, cho nên chắc chắn không thể có chuyện thất bại về mặt năng lực kỹ thuật. Làm sao có thể tin rằng các kiến trúc sư Ionian, những người đã giải quyết thành công những vấn đề về kết cấu của nhà thờ Haghia Sophia cho Hoàng đế Justinian, lại không thể xây dựng được một đền thờ Hy Lạp cổ nếu đó là ý muốn của bậc cầm quyền – và của chính họ? Justinian và các kiến trúc sư của ông áp dụng một phong cách mới, bởi phong cách cũ đã trở nên khó chịu đối với họ do mối liên quan giữa nó với những gì còn lại của một quá khứ chết chóc và đang thối rữa.

Dường như kết luận cuối cùng từ cuộc điều tra của chúng ta là, sự từ bỏ một phong cách nghệ thuật truyền thống là dấu hiệu cho thấy nền văn minh liên quan với phong cách đó đã bị rạn nứt từ lâu và giờ đây đang tan rã. Cũng như sự từ bỏ một kỹ thuật đã được chúng ta xác minh, đây là hệ quả của sự suy tàn, chứ không phải là nguyên nhân.

(2) MÔI TRƯỜNG CON NGƯỜI

Trước đây, khi xem xét đề tài này trong bối cảnh các nền văn minh phát triển, chúng ta thấy rằng, mức độ kiểm soát môi trường con người mà một nền văn minh bất kỳ sở hữu ở một giai đoạn bất kỳ trong lịch sử của nó, hầu như không thể đo lường qua mức độ bành trướng địa lý. Từ việc nghiên cứu các ví dụ, chúng ta cũng biết rằng sự bành trướng địa lý thường đi kèm với sự tan rã xã hội. Nếu điều này đúng, có vẻ như hoàn toàn không chắc chắn rằng nguyên nhân của sự suy tàn và tan rã này có thể được tìm thấy theo chiều hướng ngược lại – tức là chiều hướng sút giảm quyền kiểm soát đối với môi trường con người, được đo lường bằng một sự xâm lấn thành công của các lực lượng con người từ bên ngoài. Tuy nhiên, quan điểm này được mở rộng trong trường hợp các nền văn minh lụi tàn – giống như xã hội nguyên thủy – là kết quả các cuộc công kích thành công của thế lực bên ngoài; một đại diện tiêu biểu của quan điểm này là Edward Gibbon trong tác phẩm Lịch sử suy tàn và sụp đổ của Đế chế La Mã. Toàn bộ đề tài được mô tả chỉ trong một câu duy nhất, trong đó Gibbon tổng kết câu chuyện của ông qua sự hồi tưởng: “Tôi mô tả thắng lợi của người rợ và tôn giáo”. Xã hội Hy Lạp cổ –với hiện thân là Đế chế La Mã đã đạt tới giai đoạn cực thịnh của mình vào thời kỳ Antonines – được miêu tả là bất ngờ thảm bại trước một cuộc tổng công kích diễn ra đồng thời từ hai kẻ thù bên ngoài tấn công vào hai mặt trận khác nhau: người rợ Bắc Âu xuất phát từ “vùng đất hoang” phía bắc sông Danube và sông Rhine; cùng với giáo hội Cơ Đốc giáo nổi lên từ những vùng lãnh thổ Đông phương bị nô dịch hóa nhưng không bao giờ bị đồng hóa.

Gibbon chẳng bao giờ nghĩ rằng, thời kỳ Antonines không phải là mùa hè chói lọi mà chỉ là “thu muộn” trong lịch sử Hy Lạp cổ. Mức độ ảo tưởng của ông bị tố cáo bởi chính tựa đề công trình đồ sộ của ông. Sự suy tàn và sụp đổ của Đế chế La Mã! Một tác giả lịch sử lấy tên gọi như vậy cho tác phẩm của mình và bắt đầu câu chuyện từ thế kỷ thứ hai sau CN, thì chắc chắn nó được khởi đầu từ một điểm rất gần đoạn kết thúc của câu chuyện thật. Bởi lẽ “môi trường nghiên cứu lịch sử” mà Gibbon quan tâm không phải là Đế chế La Mã mà là nền văn minh Hy Lạp cổ, và so với sự tan rã của nó thì bản thân Đế chế La Mã chỉ là một triệu chứng có tầm cỡ khổng lồ mà thôi. Khi toàn bộ câu chuyện được xem xét, Đế chế La Mã suy sụp mau chóng sau thời kỳ Antonines chẳng còn có vẻ gì đáng ngạc nhiên nữa. Trái lại, nếu như Đế chế La Mã còn tồn tại được mới là đáng ngạc nhiên; bởi lẽ Đế chế này đã bị kết án tử từ trước khi nó được thành lập.[4] Nó bị kết án tử, bởi lẽ chính quyền trung ương này thành lập không gì khác hơn là sự tập trung sức lực để níu kéo, nhưng không thể ngăn chặn mãi mãi, những rạn nứt không thể cứu vãn của xã hội Hy Lạp cổ.

Nếu Gibbon kể cho chúng ta câu chuyện dài này kể từ điểm bắt đầu của nó thì hẳn ông đã phát hiện ra rằng “thắng lợi của người rợ và tôn giáo” không phải là bước ngoặt của quá trình suy tàn, mà chỉ là đoạn kết của nó, cũng không phải là nguyên nhân gây ra sự suy tàn mà chỉ là một hiện tượng quen thuộc kèm theo sự kết thúc quá trình phân hủy tan rã kéo dài. Hơn nữa, ông sẽ biết rằng, nói cho cùng giáo hội và người rợ chiến thắng không phải là các thế lực từ bên ngoài, mà thực sự là những đứa con của gia đình Hy Lạp cổ đã ly khai khỏi thiểu số cầm quyền trong thời kỳ loạn lạc kéo dài từ sự sụp đổ của Periclean tới sự tập hợp của Augustan. Thực ra, nếu Gibbon đưa cuộc điều tra của ông về điểm khởi đầu thực sự của vở bi kịch này, thì hẳn ông đã đưa ra một phán xét khác. Hẳn ông đã thuật lại rằng xã hội Hy Lạp cổ là một kẻ tự sát, tuy cố gắng ngăn chặn những hậu quả nghiêm trọng của cuộc công kích chính bản thân nó, nhưng cuối cùng đã nhận đòn kết liễu từ chính những đứa con bị bạc đãi và đã ly khai của nó vào thời điểm, tình trạng chỗ băng bó của Augustan trải qua thế kỷ thứ ba đã trầm trọng trở lại và bệnh nhân rõ ràng đang chết dần do hậu quả của những vết thương trầm trọng mà nó đã tự gây ra cho mình.

Trong những hoàn cảnh kể trên, nhà điều tra lịch sử của chúng ta sẽ không tập trung chú ý vào đoạn kết nữa, mà sẽ cố gắng xác định chính xác thời gian và cách thức mà kẻ tự sát đã lần đầu tiên đặt đôi bàn tay bạo lực lên chính bản thân nó. Về thời điểm chính xác thì có lẽ đó là thời điểm bùng nổ cuộc chiến tranh Peloponnesus vào năm 431 trước CN – một biến động xã hội mà Thucydides, thông qua lời của một nhân vật trong vở bi kịch của ông, đã gọi là thời điểm “khởi đầu của những tai ương khủng khiếp đối với Hy Lạp”. Về việc các thành viên của xã hội Hy Lạp đã tự biến mình thành tội phạm phá hoại như thế nào, ông ta có thể nêu ra vai trò ngang nhau của hai tệ nạn song sinh là chiến tranh giữa các chính quyền địa phương và chiến tranh giữa các tầng lớp trong xã hội. Theo chân Thucydides, ông ta có thể nêu ra những ví dụ rõ ràng của cả hai tệ nạn nói trên, đó là đòn trừng phạt khủng khiếp mà người Athens giáng xuống những kẻ bại trận Melian và cuộc chiến phe phái khủng khiếp không kém diễn ra ở Corcyra. Dù trong trường hợp nào, ông ta cũng sẽ xác nhận rằng “đòn chí mạng” được tung ra sớm hơn sáu trăm năm so với giả thuyết của Gibbon, và rằng bàn tay sát nhân chính là bàn tay của nạn nhân chứ không phải ai khác.

Bây giờ, nếu chuyển hướng cuộc điều tra của mình sang trường hợp một số nền văn minh mà giờ đây chắc chắn đã chết hoặc đang hấp hối, chúng ta sẽ nhận được phán xét tương tự.

Ví dụ, trong quá trình suy tàn và sụp đổ của nền văn minh Sumer, “thời hoàng kim của Hammurabi” (như được gọi trong Lịch sử cổ đại Cambridge) đại diện cho một thời kỳ “thu muộn” còn trễ hơn so với thời kỳ Antonines của xã hội Hy Lạp; bởi lẽ Hammurabi là Diocletian thay vì là Trajan trong lịch sử Sumer. Theo đó, chúng ta không nên cho rằng, kẻ đã hạ sát nền văn minh Sumer là những người rợ ở bên kia biên giới tràn xuống từ “vương quốc Bốn Mùa” trong thế kỷ thứ 18 trước CN, mà khám phá ra rằng thủ phạm là những cú sốc chết người trong những sự kiện xảy ra từ 900 năm trước đó: cuộc chiến tranh giai cấp giữa Urukagina xứ Lagash và giới tu sĩ địa phương với kẻ đã tiêu diệt chủ nghĩa quân phiệt Urukagina là Lugalzaggisi; những tai ương trong quá khứ đó chắc chắn là thời điểm khởi đầu thời kỳ loạn lạc của nền văn minh Sumer.

Trong quá trình suy tàn và sụp đổ của xã hội Trung Quốc cổ đại, “chiến thắng của người rợ và tôn giáo” được đại diện bởi sự thành lập những chính quyền của người du mục Á–Âu, thừa kế chính quyền trung ương Trung Hoa cổ đại ở đồng bằng Hoàng Hà vào khoảng năm 300, và bởi những cuộc xâm lấn đồng thời của Phật giáo Đại thừa, một trong những tôn giáo của tầng lớp bị trị nội địa ở những vùng lãnh thổ phía tây bắc của xã hội Trung Hoa cổ. Nhưng những chiến thắng này, cũng như những chiến thắng của “người rợ và tôn giáo” trước Đế chế La Mã, chỉ là thắng lợi của các tầng lớp bị trị ngoại lai và nội địa của xã hội đang hấp hối, và chúng chẳng đóng vai trò gì hơn là chương cuối của toàn bộ câu chuyện. Bản thân chính quyền trung ương Trung Hoa cổ là đại diện cho một nỗ lực tập hợp xã hội sau thời kỳ loạn lạc, trong đó cơ thể xã hội Trung Hoa bị phân rã thành từng mảnh nhỏ qua cuộc chiến tranh “huynh đệ tương tàn” giữa một số chính quyền địa phương trước đó đã cấu tạo nên xã hội Trung Hoa. Thời điểm định mệnh tương ứng với năm 431 trước CN của xã hội Hy Lạp là năm 479 trước CN, thời điểm được xem là khởi đầu của giai đoạn thường được gọi là thời “Chiến Quốc”. Tuy nhiên, có lẽ thời điểm quy ước này trễ hơn khoảng 250 năm so với sự kiện thực, và được chọn làm thời điểm khởi đầu của “thời kỳ loạn lạc” của xã hội Trung Hoa cổ đại đơn giản vì đó cũng là thời điểm Khổng Phu Tử qua đời.

Đối với xã hội Syria cổ, khi khảo sát thời kỳ “thu muộn” dưới vương triều Abbasid ở Baghdad và chứng kiến “chiến thắng của người rợ và tôn giáo” qua những cuộc xâm lược của người du mục Thổ Nhĩ Kỳ và cuộc cải đạo của họ sang Hồi giáo bản xứ, chúng ta cần nhớ lại một điểm đã vạch ra từ trước trong nghiên cứu này. Đó là quá trình suy tàn và sụp đổ đã tạm thời ngừng lại trong vòng một nghìn năm do cuộc xâm lấn của nền văn minh Hy Lạp, và rằng vương triều Abbasid chỉ đơn thuần tiếp nối xâu chuỗi lịch sử Syria cổ tại nơi mà Đế chế Achaemenid đã bỏ dở vào thế kỷ thứ tư trước CN. Do đó chúng ta phải đưa cuộc điều tra của mình lùi về thời kỳ loạn lạc của xã hội Syria trước khi Cyrus mở đầu Đế chế Achaemenid.

Điều gì đã gây nên sự suy tàn của một nền văn minh, vốn đã chứng minh được thiên tài sáng tạo và thể hiện được sức sống của nó trong suốt thời kỳ phát triển (đã trình bày vắn tắt ở phần trước) qua ba khám phá tuyệt diệu về đơn thần giáo, bảng chữ cái và Đại Tây Dương? Nếu chỉ nhìn thoáng qua, dường như cuối cùng chúng ta cũng gặp một ví dụ chắc chắn về một nền văn minh bị hạ bệ bởi ảnh hưởng của thế lực con người từ bên ngoài. Chẳng phải nền văn minh Syria đã sụp đổ dưới cơn mưa đòn nhừ tử của chủ nghĩa quân phiệt Assyria trong những thế kỷ thứ chín, tám và bảy trước CN đó sao? Vẻ bề ngoài là như vậy; nhưng sự khảo sát tường tận hơn cho thấy rằng, khi người Assyria tiến xuống như con sói tiến vào chuồng cừu, thì thế giới Syria đã là một chuồng cừu vô chủ. Nỗ lực trong thế kỷ thứ 10 trước CN nhằm thống nhất bằng phương tiện chính trị các nhóm người Do Thái, Phoenicia, Aramean và Hittite phân bố ở khu vực kênh đào nối liền hai thế giới Babylon và Ai Cập, dưới quyền lãnh đạo của người Do Thái, đã thất bại; và kết quả là, cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn bùng nổ trong lòng xã hội Syria đã tạo cho người Assyria cơ hội của họ. Sự sụp đổ của nền văn minh Syria đã được hẹn giờ, không phải từ lần đầu tiên Asshurnazirpal vượt sông Euphrates vào năm 876 trước CN, mà là khi đế chế của vua Solomon tan rã sau cái chết của người đã khai sinh ra nó vào năm 937 trước CN.

Tương tự, người ta thường cho rằng nền văn minh Cơ Đốc Chính thống với hiện thân chính trị “Byzantine” của nó – chính “Đế chế La Mã Tây phương” này là một đoạn kết dài dòng của Gibbon – đã bị người Thổ Nhĩ Kỳ Ottoman tiêu diệt. Người ta cũng thường nói thêm rằng, những người Thổ Hồi giáo này chỉ giáng đòn kết liễu vào một xã hội đã bầm dập nghiêm trọng dưới sự xâm lấn của nền văn minh Cơ Đốc Tây phương, ngụy trang dưới cái tên cuộc Thập tự chinh thứ tư, đã khiến cho đất Byzantium không có bóng dáng của Hoàng đế Byzantine trong hơn nửa thế kỷ (1204-1261). Nhưng cuộc đột kích của người Latinh này, cũng như những người kế vị Thổ Nhĩ Kỳ của họ, có nguồn gốc từ bên ngoài đối với xã hội nạn nhân của nó; và, nếu hài lòng chấm dứt cuộc điều tra ở đây, chúng ta sẽ phải quay trở lại với kết luận “bị sát hại” đối với danh sách những cái chết mà đến nay chúng ta vẫn luôn chẩn đoán là tự sát. Tuy nhiên, chúng ta có thể thấy rằng bước ngoặt sinh tử trong lịch sử Cơ Đốc Chính thống không phải là cuộc tấn công của người Thổ Nhĩ Kỳ trong các thế kỷ 14 và 15, không phải cuộc đột kích của người Latinh trong thế kỷ 13, và cũng không phải cuộc chinh phạt thủ phủ Anatolia trong cơn bão người Thổ xâm lược (Saljuq) trước đó vào thế kỷ 11, mà là một sự kiện thuần túy nội bộ xảy ra trước tất cả những sự kiện nói trên: cuộc đại chiến giữa hai đế chế La Mã (phương Đông) và Bulgaria từ năm 977-1019. Cuộc xung đột huynh đệ tương tàn giữa hai thế lực lớn của thế giới Cơ Đốc Chính thống lần này không chịu dừng lại, cho tới khi một bên bị xóa sổ khỏi bản đồ chính trị, còn bên kia cũng nhận lãnh những vết thương chí mạng đến nỗi, ta có đầy đủ lý do để cho rằng, nó không bao giờ có thể phục hồi.

Khi Ottoman Padishah Mehmed II chinh phạt Constantinople vào năm 1453, nền văn minh Cơ Đốc Chính thống vẫn chưa bị kết liễu. Và một nghịch lý đáng ngạc nhiên đã xảy ra, khi kẻ chinh phục ngoại quốc đã cung cấp cho nạn nhân của mình một nhà nước trung ương. Mặc dù giáo hội Cơ Đốc của Haghia Sophia đã trở thành một thánh đường Hồi giáo, song nền văn minh Cơ Đốc Chính thống vẫn tiếp tục sống nốt quãng đời còn lại của nó, rất giống với nền văn minh Ấn giáo vẫn sống sót dưới một chính quyền trung ương khác của người Thổ Nhĩ Kỳ được thành lập bởi Mughal Akbar một thế kỷ sau, và tiếp tục tồn tại dưới chế độ thuộc địa Anh. Nhưng rồi quá trình phân rã và sự khởi đầu thời kỳ Völkerwanderung đã khiến nó rơi vào phần Đế chế Thổ Ottoman trùng khớp với lãnh thổ của xã hội Cơ Đốc Chính thống. Người Hy Lạp, người Serb, và người Albania rõ ràng là đã có những hành động xâm lấn trước khi thế kỷ 18 kết thúc. Vì sao những động thái xâm lược này không đưa tới kết quả là một “chiến thắng của người rợ và tôn giáo” như chúng ta đã thấy trong giai đoạn cuối của xã hội Hy Lạp cổ, Trung Hoa cổ và những xã hội khác?

Câu trả lời là, bước tiến dữ dội của cuộc bành trướng không thể ngăn cản thuộc nền văn minh Tây phương đã thay chân những kẻ thừa kế người rợ yểu mệnh của xã hội Cơ Đốc Chính thống. Thắng lợi của văn minh Tây phương, chứ không phải chiến thắng của người rợ và tôn giáo, là tiến trình đã thực sự làm tan rã Đế chế Ottoman. Ngay khi mới nổi lên, thay vì dưới hình thức tự nhiên của các chính quyền người rợ theo “phong cách thời kỳ anh hùng”, các chính quyền kế vị của Đế chế Ottoman đã được nhào nặn dưới áp lực của văn minh Tây phương thành những hình ảnh mô phỏng các chính quyền dân tộc của phương Tây, vốn đang trong giai đoạn tái lập dựa trên nền tảng của chủ nghĩa dân tộc. Trong một số trường hợp, chính quyền kế vị mới phôi thai của người rợ đã biến thái trực tiếp thành một chính quyền dân tộc kiểu mới theo mô hình của phương Tây – chẳng hạn như Serbia và Hy Lạp. Trái lại, những cộng đồng người rợ nào chịu quá ít tác động từ bức xạ Tây phương sẽ không thể bước qua ranh giới của chủ nghĩa dân tộc Tây phương và sẽ phải trả giá bằng hình phạt “lỡ tàu”. Người Albania trong thế kỷ 19 đã bị người Hy Lạp, Serb và Bulgar cướp đoạt di sản, mà trước đó một thế kỷ có lẽ còn nổi trội hơn chính họ, và vừa kịp thành công trong việc tham gia cộng đồng dân tộc Tây phương trong thế kỷ 20 với một di sản hầu như không đáng kể.

Như vậy, trong lịch sử xã hội Cơ Đốc Chính thống, cảnh cuối không phải là “chiến thắng của người rợ và tôn giáo”, mà là chiến thắng của một nền văn minh ngoại lai đã nuốt chửng toàn bộ xã hội đang hấp hối và tái tổ chức kết cấu của nó theo nhu cầu xã hội của mình.

Đến đây, chúng ta đang đứng tại một ngã rẽ trước cách thức một nền văn minh đánh mất bản sắc của nó. “Chiến thắng của người rợ và tôn giáo”, nghĩa là xã hội đang hấp hối bị nện cho vỡ vụn bởi một cuộc nổi dậy về tôn giáo – một cuộc bài trừ thánh tượng – do giai cấp bị trị ngoại lai hoặc nội bộ thực hiện, để rồi một trong hai lực lượng nổi dậy này có thể dành thắng lợi và dẫn đến một xã hội mới khai sinh. Trong sự kiện này xã hội cũ bị hủy diệt, mặc dù nó vẫn có thể tồn tại một cách gián tiếp, thông qua mối quan hệ mà chúng ta đã biết có tên gọi là “tiền thân và hậu duệ”. Ở ngã rẽ bên kia, khi xã hội cũ không bị đập tan ra thành từng mảnh để nhường đường cho kẻ kế vị, mà bị nuốt chửng và đồng hóa bởi một trong những nền văn minh đồng thời với nó, sự mất mát bản sắc dân tộc này rõ ràng là triệt để hơn về mặt này nhưng lại kém triệt để hơn về mặt khác. Các cộng đồng mà xã hội đang hấp hối dự phần có thể giúp nó tránh được những cơn vật vã khổ sở của sự phân rã xã hội; chúng có thể chuyển từ thể xác xã hội cũ sang cơ thể xã hội mới mà không phải phá vỡ hoàn toàn sự liền lạc của lịch sử, chẳng hạn như người Hy Lạp hiện đại đã tự biến đổi mình thành một trong các dân tộc trong thế giới Tây phương sau khi trải qua đời sống của một hạt kê (thành viên trong hệ thống tự trị của Đế chế Ottoman) trong thế giới Ottoman trong vòng bốn thế kỷ. Tuy nhiên, theo một quan điểm khác, sự mất mát bản sắc trong trường hợp này là triệt để hơn; vì xã hội bị sáp nhập vào một xã hội khác chỉ bảo tồn được sự liền lạc trong kết cấu vật chất của nó với cái giá là đánh mất hoàn toàn cơ hội tạo ra một xã hội hậu duệ có thể đại diện cho nó trong thế hệ kế tiếp, như xã hội của chúng ta đại diện cho xã hội Hy Lạp cổ, xã hội Ấn giáo đại diện cho xã hội Ấn Độ cổ hoặc xã hội Viễn Đông đại diện cho xã hội Trung Hoa cổ đại.

Ví dụ cụ thể tiêu biểu cho quá trình diệt vong thông qua đồng hóa là sự sáp nhập nhánh chính của xã hội Cơ Đốc Chính thống vào cơ thể xã hội của nền văn minh Tây phương chúng ta. Nhưng chúng ta cũng có thể thấy rằng, tất cả các nền văn minh hiện còn tồn tại khác đều đang đi trên con đường tương tự. Đây là lịch sử hiện tại của phân nhánh Cơ Đốc Chính thống ở Nga; của các xã hội Hồi giáo và Ấn giáo; và của cả hai nhánh của xã hội Viễn Đông. Nó cũng đúng với ba xã hội bị giam hãm – Eskimo, du mục và Polynesia – tất cả chúng đều đang trong quá trình sáp nhập vào nền văn minh Tây phương. Chúng ta cũng có thể thấy rằng, một số nền văn minh hiện nay đã suy tàn cũng đánh mất bản sắc của chúng theo con đường tương tự. Tiến trình Tây phương hóa, bắt đầu với việc thôn tính xã hội Cơ Đốc Chính thống vào cuối thế kỷ 17, đã chuyển hướng sang hai xã hội Mexic và Andes ở Tân Thế Giới từ cách đây gần hai thế kỷ, và trong cả hai trường hợp này, quá trình có vẻ như đã được hoàn tất trong thực tế. Xã hội Babylon đã bị sáp nhập vào xã hội Syria cổ trong thế kỷ cuối trước CN, và xã hội Ai Cập cổ bị hấp thu vào cùng thể xác xã hội Syria trong vài thế kỷ sau đó. Sự đồng hóa xã hội Ai Cập – nền văn minh có tuổi thọ dài nhất và kết cấu vững chắc nhất từng được thấy trong lịch sử – của xã hội Syria có lẽ là kỳ tích đặc biệt nhất của quá trình đồng hóa xã hội từ xưa đến nay.

Nếu giờ đây liếc mắt qua nhóm các nền văn minh đang trong quá trình bị đồng hóa bởi nền văn minh Tây phương, chúng ta sẽ thấy rằng tiến trình này đang diễn ra ở những nhịp độ khác nhau trên những phương diện khác nhau.

Trên phương diện kinh tế, tất cả các nền văn minh này đều đã bị phong tỏa trong mạng lưới các mối quan hệ với hệ thống công nghiệp Tây phương hiện đại của chúng ta, vốn đã bành trướng khắp những khu vực có thể cư ngụ trên thế giới.

Những kẻ hợm mình đã được chứng kiến

Ngọn đèn điện của phương Tây, và kéo đến tôn thờ.[5]

Trên bình diện chính trị cũng vậy, những đứa con của tất cả các nền văn minh đang hấp hối này đều ra sức tìm kiếm cơ hội được kết nạp làm hội viên của câu lạc bộ chính quyền Tây phương thông qua nhiều cánh cửa khác nhau. Tuy nhiên, trên phương diện văn hóa thì chưa có được xu hướng đồng nhất tương ứng. Trong nhánh chính của xã hội Cơ Đốc Chính thống, tầng lớp ra’iyeh (gia súc người) của Đế chế Ottoman – người Hy Lạp, người Serb, người Ruman, người Bulgar – đã chào đón viễn cảnh nền văn hóa đi cùng với hệ thống chính trị và kinh tế của Tây phương bằng cả hai tay; và các nhà lãnh đạo hiện nay của những chủ nhân xưa kia của họ, tức là người Thổ Nhĩ Kỳ, cũng noi theo gương họ. Nhưng những trường hợp này có vẻ chỉ là ngoại lệ. Người Ả Rập, Ba Tư, Ấn Độ, Trung Quốc và ngay cả người Nhật Bản đều chỉ chấp nhận văn hóa Tây phương với một tinh thần tỉnh táo và với những hạn chế về đạo đức, nếu như họ chịu chấp nhận nó. Đối với người Nga cũng vậy, đặc điểm mập mờ trong phản ứng của họ trước thách thức đến từ phương Tây đã được trình bày trong một phần trước và trong những ngữ cảnh khác (xem trang 239-40).

Theo quan điểm này, khuynh hướng hợp nhất toàn thế giới trong một bộ khung Tây phương trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị và văn hóa có lẽ đã được chứng minh là chưa tiến xa và cũng chưa đảm bảo thành công cuối cùng như vẻ bề ngoài của nó. Mặt khác, bốn trường hợp của các xã hội Mexic, Andean, Babylon và Ai Cập cũng đủ cho thấy, sự mất mát bản sắc thông qua đồng hóa có thể triệt để chẳng kém gì thông qua quá trình phân hủy như kết cục của các nền văn minh Hy Lạp cổ, Ấn Độ cổ,Trung Hoa cổ, Sumer, và Minoan. Do đó, giờ đây chúng ta lại chuyển sự chú ý của mình vào điều ngay từ đầu vốn là mục tiêu của phần này và khảo sát xem số phận mà các xã hội nói trên đã hoặc đang phải trải qua – đó là sự sáp nhập và đồng hóa bởi một xã hội láng giềng – có phải là nguyên nhân thực sự của sự suy tàn, hay – như đã thấy trong trường hợp nhóm các nền văn minh còn lại mà chúng ta đã phân tích – sự suy tàn đã diễn ra từ trước khi tiến trình sáp nhập và đồng hóa bắt đầu. Nếu đi tới kết luận thứ hai, chúng ta sẽ hoàn tất cuộc điều tra hiện nay và sẽ có thể đưa ra tuyên bố rằng sự mất quyền kiểm soát đối với môi trường của một xã hội, bất kể là môi trường tự nhiên hay con người, đều không phải là nguyên nhân chính dẫn tới sự suy tàn mà chúng ta đang tìm kiếm.

Chẳng hạn, chúng ta đã thấy rằng, nhánh chính của xã hội Cơ Đốc Chính thống không đánh mất bản sắc của mình trong quá trình hấp thu cho tới khi chính quyền trung ương của nó đi vào thời kỳ quá độ, và rằng sự rạn nứt thực sự bắt đầu từ chiến tranh La Mã–Bulgaria diễn ra từ 800 năm trước khi bất kỳ dấu hiệu Tây phương hóa nào xuất hiện. Khoảng dừng thời gian giữa sự suy tàn và quá trình hấp thu của xã hội Ai Cập cổ còn dài hơn rất nhiều, vì chúng ta có lý do để xem thời điểm bắt đầu quá trình suy tàn của nó là giai đoạn chuyển tiếp từ triều đại thứ năm sang triều đại thứ sáu, vào khoảng năm 2424 trước CN, khi những tội lỗi của các “vì vua xây kim tự tháp” đã báo ứng vào các hậu duệ của họ và cấu trúc chính trị bất cân đối của “vương triều cũ” bị sụp đổ. Trong trường hợp xã hội Viễn Đông, thời gian gián đoạn giữa thời điểm xuất hiện vết rạn đầu tiên và thời điểm bắt đầu quá trình hấp thu không dài bằng lịch sử Ai Cập nhưng dài hơn lịch sử xã hội Cơ Đốc Chính thống, vì sự rạn nứt trong xã hội Viễn Đông bắt đầu tại thời điểm mục nát của nhà Tống vào phần tư cuối của thế kỷ IX, và kết quả là sự khởi đầu của một thời kỳ loạn lạc theo sau là các vương triều thừa kế chính quyền trung ương của người rợ. Triều đại đầu tiên của những vương triều thừa kế này là Đế chế Mông Cổ do Qubilay Khan thành lập, trong tình thế kém thuận lợi hơn so với những phiên bản tương tự của một nền thống trị du mục như Akbar ở xã hội Ấn giáo và Mehmeh – Kẻ chinh phục ở xã hội Cơ Đốc Chính thống. Người Trung Hoa, hành động theo đúng nguyên tắc timeo Danaos et dona ferentes (‘Người Hy Lạp đáng sợ ngay cả khi họ đem lại lợi lộc’), đã tống khứ người Mông Cổ như người Ai Cập trục xuất người Hykso. Vương triều Mãn Châu (tức nhà Thanh) đã đến và đi trước khi sân khấu được chuẩn bị cho lớp kịch Tây phương hóa.

Ở Nga và Nhật Bản, ảnh hưởng của nền văn minh Tây phương diễn ra sớm hơn nhiều trong giai đoạn suy tàn của các nền văn minh, được đại diện bởi hai nước ngày nay là những thế lực lớn đã được Tây phương hóa; nhưng trong cả hai trường hợp, những vết rạn nứt đều đã thành hình, từ thời Sa hoàng Romanov và Tokugawa Shogun, tạo tiền đề cho Peter Đại đế và các nhà cải cách “Minh Trị” của Nhật Bản tự biến mình thành các chính quyền dân tộc – thành viên của cộng đồng Tây phương – sau khi chính quyền trung ương của chúng đã tồn tại được hơn hai trăm năm trong trường hợp của Nga và hơn ba trăm năm trong trường hợp Nhật Bản. Trong những trường hợp này, sẽ ít có ý kiến cho rằng, những thành tựu của Peter Đại đế và các nhà “Minh Trị” Nhật Bản nên được xem là một phần của quá trình suy tàn. Trái lại, những thành quả của họ thành công đến nỗi, nhiều nhà quan sát có thể sẽ coi đó là bằng chứng cho thấy, các xã hội đã chủ động trải qua – và trải qua thành công – thách thức này mà không gặp phải rủi ro nào, hẳn vẫn còn trong năng lượng sống của sự phát triển. Phản ứng của người Nga và người Nhật rõ ràng đã cung cấp một hình ảnh tương phản sâu sắc với sự thiếu hiệu quả của người Osmanli, Ấn Độ, Trung Hoa, Aztec và người Inca trong việc đương đầu với cùng thách thức. Thay vì trải qua một tiến trình Tây phương hóa cưỡng bức dưới bàn tay của những người láng giềng Tây phương – người Ba Lan, Thụy Điển, Đức, hoặc Mỹ – người Nga và Nhật Bản đã tự nguyện trải qua quá trình thay đổi xã hội dưới bàn tay của chính họ, và nhờ đó có thể gia nhập cộng đồng dân tộc Tây phương với tư cách là những thế lực lớn thay vì những quốc gia thuộc địa hoặc những “mối quan hệ không lấy gì làm dễ chịu”.

Cũng nên lưu ý rằng, vào những năm đầu thế kỷ 17, gần một trăm năm trước Peter Đại đế và hai thế kỷ rưỡi trước cuộc cải cách “Minh Trị”, cả Nga lẫn Nhật Bản đều từng kinh qua và cự tuyệt một nỗ lực của Tây phương nhằm hấp thu chúng theo những kiểu cách quen thuộc. Tác động của phương Tây lên nước Nga dưới hình thức một cuộc xâm lược và chiếm đóng thành phố Moscow của những thế lực láng giềng phương Tây của Nga là Liên bang Ba Lan – Lithuania, viện cớ là hỗ trợ cho người xứng đáng được ngồi lên ngai vàng của nước Nga, “ngụy vương Dmitri”. Trong trường hợp Nhật Bản, tác động đến dưới một hình thức cao siêu hơn qua cuộc cải đạo cho vài trăm ngàn người Nhật sang Thiên Chúa giáo do các nhà truyền giáo Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha thực hiện. Và hoàn toàn có khả năng là thiểu số tín đồ Cơ Đốc giáo nhiệt tình này được trông chờ sẽ dành quyền thống trị nước Nhật với sự hỗ trợ của hạm đội Tây Ban Nha neo đậu ở Philippine. Nhưng người Nga đã đánh đuổi người Ba Lan, trong khi người Nhật xua đuổi “hiểm họa da trắng” bằng cách trục xuất tất cả các nhà truyền giáo và thương nhân Tây phương, và cấm người phương Tây từ đó trở đi không được đặt chân lên đất đai Nhật Bản – chỉ dành ngoại lệ cho một số thương nhân Hà Lan dưới những điều kiện nghiệt ngã – và sau đó diệt trừ cộng đồng người Nhật theo Thiên Chúa giáo bằng phương pháp khủng bố tàn khốc. Sau khi giũ bỏ được “vấn đề Tây phương”, cả người Nga lẫn người Nhật đều tưởng rằng họ chỉ còn việc rút vào chiếc vỏ ốc của mình và “sống hạnh phúc mãi mãi”. Khi bánh xe thời gian cho thấy thực tế không như họ nghĩ, thì họ đã thực hiện những phản ứng tích cực mà chúng ta đã phân tích ở trên.

Dù vậy, vẫn có những dấu hiệu không thể nhầm lẫn cho thấy, trước khi chiếc tàu Bồ Đào Nha đầu tiên bơi đến Nagasaki hoặc chiếc tàu Anh đầu tiên cập cảng Archangel (một tín hiệu của Tây phương trước khi diễn ra cuộc xâm lược Moscow của người Ba Lan), cả nền văn minh Viễn Đông ở Nhật Bản lẫn nền văn minh Cơ Đốc Chính thống ở Nga đều đã bắt đầu rạn nứt.

Trong lịch sử Nga, “thời kỳ loạn lạc” thật sự, theo nghĩa vẫn được sử dụng từ đầu nghiên cứu này, không phải là thời kỳ vô chính phủ trong những năm đầu thế kỷ 17 như nghĩa ban đầu do chính người Nga đặt ra. Đó đơn thuần là một thời gian “nghỉ giải lao” giữa giai đoạn thứ nhất và giai đoạn thứ hai của chính quyền trung ương Nga, tương ứng với thời kỳ vô chính phủ trong thế kỷ thứ ba ở thế giới Hy Lạp cổ giữa thời kỳ Antonines và giai đoạn cai trị của Diocletian. Giai đoạn này trong lịch sử nước Nga tương ứng với giai đoạn giữa chiến tranh Peloponnese và Đế chế Augustan trong lịch sử Hy Lạp cổ, và như vậy, đại diện cho thời kỳ rối ren, theo cách hiểu của chúng ta, là giai đoạn tai ương kéo theo sự thành lập chính quyền trung ương Nga thông qua hợp nhất hai chế độ Muscovy và Novgorod vào năm 1478. Tương tự, thời kỳ loạn lạc trong lịch sử Nhật Bản chính là hai giai đoạn phong kiến Kamakura và Ashikaga kéo theo giai đoạn hợp nhất và bình định được thực hiện bởi Nobunaga, Hideyoshi và Ieyasu; và khoảng thời gian gộp chung cả hai giai đoạn này, theo những thời điểm quy ước là từ năm 1184 tới 1597.

Nếu đây thực sự là thời kỳ loạn lạc của Nga và Nhật Bản, thì trong cả hai trường hợp, chúng ta đều phải tiến hành nghiên cứu xem, họ bị thúc đẩy bởi một hành động tự sát hay do hoạt động của một địch thủ từ bên ngoài. Trong trường hợp nước Nga, cách lý giải phổ biến rằng sự suy tàn diễn ra đồng thời với thời kỳ Trung cổ của phương Tây là do cuộc tấn công của người du mục Mông Cổ đến từ thảo nguyên Á–Âu. Nhưng chúng ta đã khảo sát và phủ nhận trong các trường hợp khác – chẳng hạn như trường hợp nhánh lớn hơn của xã hội Cơ Đốc Chính thống – ý kiến cho rằng người du mục thảo nguyên Á–Âu đóng vai trò thủ phạm trong nhiều mảnh ghép của lịch sử mà họ có tham gia. Chẳng lẽ khả năng tương tự, nghĩa là xã hội Cơ Đốc Chính thống đã tự tiến đến cột mốc suy tàn do hành động của chính nó, không thể xảy ra ở Nga, trước khi người Mông Cổ vượt sông Volga vào năm 1238? Một câu trả lời khẳng định cho câu hỏi nêu trên được gợi ra từ sự tan rã của công quốc Kiev thuộc Nga thành một loạt chính quyền thừa kế đấu tranh lẫn nhau trong thế kỷ 12 sau CN.

Trong trường hợp Nhật Bản, mọi chuyện rõ ràng hơn nhiều. Ở đây, sự suy tàn không thể quy cho cuộc tấn công của người Mông Cổ mà người Nhật Bản đã đẩy lùi thành công ra khỏi các bờ biển của họ vào năm 1281. Và khi nghiên cứu nguyên nhân của chiến thắng lịch sử này, chúng ta phát hiện rằng, mặc dù không thể phủ nhận việc họ được hưởng lợi từ vị trí địa lý của đảo quốc quê hương, song đóng vai trò lớn hơn trong chiến thắng này vẫn là tính hiệu quả trong quân sự mà người Nhật đã phát triển qua những cuộc chiến giữa các sứ quân trong thời kỳ loạn lạc đã trui rèn họ trong hơn một trăm năm nếu tính đến thời điểm ấy.

Trong lịch sử các xã hội Ấn giáo, Babylon và Andean, tiến trình hấp thu bởi một xã hội ngoại lai đã xảy ra rất bất ngờ, cũng như trong trường hợp của Nga và Nhật Bản, khi các xã hội suy tàn đang trong giai đoạn chính quyền trung ương. Tuy nhiên, trong ba trường hợp này, tiến trình có diễn biến thảm khốc hơn, và các xã hội suy tàn phải chịu đựng một cuộc chinh phạt quân sự từ bên ngoài. Trong lịch sử xã hội Ấn giáo, trước cuộc chinh phạt của nước Anh là cuộc chinh phạt của người Thổ Nhĩ Kỳ Hồi giáo, diễn ra rất lâu sau thời đại “Mogul vĩ đại”, rồi đến các cuộc xâm lược từ 1191-1204, và cuộc chinh phạt đến từ bên ngoài đầu tiên này, cũng như các lần xâm lược về sau của người Mughal và người Anh, gây nên tác hại trầm trọng là do xã hội Ấn giáo lúc bấy giờ vốn đã rơi vào tình trạng hỗn loạn thường xuyên.

Xã hội Babylon bị hấp thu vào xã hội Syria cổ sau khi chính quyền trung ương của nó, đế chế Nebuchadnezzar, bị chinh phục bởi Hoàng đế Cyrus xứ Ba Tư. Kể từ thời điểm đó trở đi, nền văn minh Babylon đã lùi bước dần trước văn minh Syria, với chính quyền trung ương đầu tiên là Đế chế Achaemenia; nhưng nguyên nhân suy tàn của xã hội Babylon chính là do sự lan tràn trước đó của chủ nghĩa quân phiệt Assyri.

Đối với xã hội Andean, thực tế rõ ràng và hiển nhiên là Đế chế Inca bị tiêu diệt dưới tác động của những người Tây Ban Nha xâm lược, và nếu người ở thế giới Tây phương không tìm được đường băng qua Đại Tây Dương, thì Đế chế Inca hẳn sẽ tồn tại thêm nhiều thế kỷ nữa. Nhưng Đế chế Inca sụp đổ không đồng nhất với nền văn minh Andean suy tàn, và giờ đây, kiến thức về lịch sử Andean đủ để chúng ta nhận thức rằng, sự suy tàn đã diễn ra từ trước đó rất lâu và sự bành trướng về mặt quân sự cũng như chính trị của Đế chế Inca, trong thế kỷ trước cuộc chinh phạt của người Tây Ban Nha, không hề đồng nhất với sự bành trướng văn hóa của nền văn minh Andean, vốn là một hiện tượng bất ngờ trong quá trình suy tàn của nó.

Nền văn minh Mexic cũng đã suy sụp từ trước lúc người Tây Ban Nha bắt đầu tiến hành xâm lược nó, đó là khi Đế chế Aztec, mặc dù đang trên con đường trở thành chính quyền trung ương của xã hội, nhưng vẫn chưa hoàn tất các cuộc chinh phạt của mình. Chúng ta có thể thấy rõ sự khác biệt khi nói rằng, xã hội Andean bị chinh phục trong thời kỳ Antonine còn xã hội Mexic thì trong thời kỳ Scipio; nhưng “thời kỳ Scipio” là một dạng của thời kỳ loạn lạc và vì vậy, theo định nghĩa, là thời kỳ tiếp theo của giai đoạn suy tàn trước đó.

Ngược lại, trong thế giới Hồi giáo, khuynh hướng Tây phương hóa chiếm thế thượng phong trước khi bất kỳ chính quyền trung ương Hồi giáo nào xuất hiện, và các chính quyền thành viên của nó – Ba Tư, Iraq, Ả Rập Saudi, Ai Cập, Syria, Lebanon và phần còn lại – hiện nay đang thực hiện công việc tồi tệ (đối với xã hội này) khi thành lập và duy trì các “mối quan hệ xấu xa” với cộng đồng các dân tộc Tây phương. Động thái thành lập chủ nghĩa Liên Hồi trên bình diện quốc tế có vẻ như đã bị bỏ dở.

Nhiều nền văn minh khác, bao gồm một số đã trưởng thành, cùng với các nền văn minh bị giam hãm và thậm chí yểu mệnh, cũng đáng được xem xét. Nhưng trong các nền văn minh trưởng thành, một số chẳng hạn như Minoan, Hittite và Maya, chúng ta có quá ít kiến thức về chúng để có thể giải đoán bất cứ hiện tượng gì, nên có lẽ là quá hấp tấp nếu rút ra kết luận; các nền văn minh bị giam hãm không đem lại kết quả nào cho cuộc nghiên cứu hiện nay, vì theo định nghĩa, chúng là các nền văn minh đã được hình thành nhưng không có sự phát triển tiếp theo; còn các nền văn minh yểu mệnh thì không làm sáng tỏ được bản chất của vấn đề.

(3) MỘT KẾT LUẬN PHỦ ĐỊNH

Chúng ta có thể đưa ra một kết luận thỏa đáng từ cuộc nghiên cứu vừa tiến hành, đó là nguyên nhân suy tàn của các nền văn minh chưa được tìm thấy trong sự mất kiểm soát đối với môi trường con người –được tính toán dựa trên mức độ xâm lấn của các thế lực con người từ bên ngoài lên đời sống của một xã hội bất kỳ mà chúng ta có thể điều tra quá trình suy tàn của nó. Trong tất cả các trường hợp đã khảo sát, tác động lớn nhất mà một kẻ thù từ bên ngoài có thể gây ra là giáng đòn kết liễu cho kẻ tự sát. Khi sự xâm lấn diễn ra dưới hình thức một cuộc tấn công bạo lực, trong bất kỳ giai đoạn nào của một nền văn minh ngoại trừ thời kỳ cuối cùng khi nó đang ở trạng thái mục nát, thì tác động thông thường lên đời sống của cộng đồng bị tấn công không phải là hủy diệt mà là kích thích tích cực. Xã hội Hy Lạp cổ đã được kích thích, từ cuộc tấn công của người Ba Tư diễn ra vào đầu thế kỷ thứ năm trước CN, và đã đạt được mức độ thăng hoa cao nhất trong thiên tài sáng tạo của nó. Xã hội Tây phương được kích thích bởi những cuộc tấn công của người Na Uy và người Magyar vào thế kỷ IX, giúp nó thực hiện những kỳ tích của lòng dũng cảm và nghệ thuật chính trị, dẫn đến kết quả là sự thành lập các vương quốc Anh, Pháp và sự tái thiết Đế chế La Mã Thần thánh của người Saxon. Các chính quyền thành phố kiểu trung cổ ở Bắc Ý đã được kích thích bởi những cuộc đột kích của vương triều Hohenstaufen; nước Anh và Hà Lan hiện đại bởi các cuộc tấn công của Tây Ban Nha; và xã hội Ấn giáo được trẻ lại bởi cuộc công kích của người Ả Rập Hồi giáo nguyên thủy vào thế kỷ thứ VIII.

Những ví dụ kể trên đều thuộc trường hợp cộng đồng bị tấn công vẫn còn đang trong giai đoạn phát triển; nhưng chúng ta có thể nêu ra một vài ví dụ, trong đó cuộc tấn công từ bên ngoài tạo ra kích thích nhất thời cho một xã hội sau khi xã hội này đã rạn nứt do sự kém cỏi của chính nó. Ví dụ phổ biến nhất là phản ứng lặp đi lặp lại của xã hội Ai Cập trước kích thích này; phản ứng của người Ai Cập đã được kích thích và tái kích thích trong suốt hai nghìn năm; và đoạn kết quá dài này của lịch sử Ai Cập được mở ra khi xã hội Ai Cập bước ra khỏi giai đoạn chính quyền trung ương và bước vào một thời kỳ quá độ mà người ta cho rằng sẽ khởi đầu quá trình tan rã mau chóng. Trong giai đoạn này, xã hội Ai Cập cổ được kích thích để đẩy lùi những kẻ xâm lược Hyksos, và khá lâu sau đó là những lần bùng nổ năng lượng liên tiếp để trục xuất bọn cướp biển, người Assyria và người Achaemenid, và cuối cùng là sự kháng cự kiên cường và thành công trước quá trình Hy Lạp hóa Ai Cập.

Một chuỗi phản ứng tương tự trước các đòn tấn công và áp lực từ bên ngoài cũng được thể hiện trong lịch sử nền văn minh Viễn Đông ở Trung Quốc. Sự trục xuất người Mông Cổ của nhà Minh là hình ảnh tương tự như sự trục xuất người Hykso của người Theban đã sáng lập “tân đế chế”, và sự kháng cự lại quá trình Hy Lạp hóa của xã hội Ai Cập tương ứng với động thái chống Tây phương hóa của người Trung Hoa qua cuộc nổi dậy của Nghĩa Hòa Đoàn vào năm 1900. Nỗ lực lật ngược tình thế bằng cách mượn vũ khí của chế độ cộng sản Nga, đã đưa cuộc chiến đến một kết cục bi thảm hơn, đó là thất bại năm 1925-7.

Ghi chú của biên tập viên.[6] Một số độc giả có thể sẽ cảm thấy rằng, trong những chương vừa qua, để bảo vệ luận điểm của mình, tác giả đã nhiều lần cho thời điểm “suy sụp” (hay “suy tàn”) diễn ra sớm hơn một cách bất hợp lý trong lịch sử của một số nền văn minh. Cảm giác này, nếu có, có thể là do hiểu lầm sinh ra từ sự mập mờ trong ý nghĩa của khái niệm “suy sụp”. Khi chúng ta nói về một người đang trải qua tình trạng suy sụp về sức khỏe, thì điều đó hàm nghĩa là, trừ khi sự suy sụp này được khắc phục bởi một sự phục hồi sau đó, bằng không thì cuộc sống năng động của ông ta sẽ kết thúc. Thực tế là chúng ta sử dụng từ “suy sụp” trong cách nói thông thường rất gần với nghĩa của khái niệm “tan rã” hoặc “phân hủy” của tác giả Toynbee. Nhưng khái niệm “suy sụp” trong nghiên cứu này không hẳn mang ý nghĩa như vậy; nó hàm nghĩa sự kết thúc hay chấm dứt giai đoạn phát triển. Vẫn biết những so sánh tương tự với đời sống hữu cơ sẽ luôn gây hiểu lầm khi trình bày về các xã hội, nhưng độc giả có thể nhớ rằng, đời sống của một sinh vật hữu cơ chấm dứt tương đối sớm. Khác biệt giữa một sinh thể hữu cơ và một xã hội, như tác giả đã phác họa trong chương trước, đó là sinh thể hữu cơ có tuổi thọ được quy định bởi bản chất tự nhiên của nó, trong khi lịch sử cho thấy không có giới hạn về tuổi thọ của các nền văn minh. Nói cách khác, một xã hội không bao giờ chết “vì nguyên nhân tự nhiên”, hay “chết già”, mà luôn luôn chết vì tự sát hoặc bị sát hại - và gần như luôn luôn vì nguyên nhân đứng trước, như chương này đã cho thấy. Tương tự, sự chấm dứt giai đoạn phát triển, vốn là sự kiện tự nhiên trong cuộc sống của một sinh thể hữu cơ, lại là sự kiện “phi tự nhiên” gây ra do tội ác hoặc sai lầm trong xã hội; và tác giả Toynbee đã áp dụng khái niệm “suy sụp” cho tội ác hoặc sai lầm đó trong nghiên cứu này. Chúng ta sẽ thấy rằng, khi khái niệm được sử dụng theo nghĩa nói trên, một số thành tựu và sản phẩm tốt đẹp, chói lọi và nổi tiếng nhất trong lịch sử của một nền văn minh có thể đến sau thời điểm suy sụp và thực ra là hệ quả của nó.

❀ ❀ ❀

[1] Rostovtzeff, M.: Lịch sử xã hội và kinh tế của Đế chế La Mã, trang 302-5 và 482-5.

[2] Để đọc đoạn trao đổi trước đây về đề tài này dưới một khía cạnh khác, xem trang 81-2.

[3] Jones, W.H.S: Bệnh sốt rét và lịch sử Hy Lạp.

[4] Trường hợp độc đáo của Đế chế Ai Cập, vẫn tồn tại hàng thế kỷ sau khi tưởng chừng như nó đã chết, được trình bày ở trang 31-3.

[5] Bridges, R.: Chứng cứ của kỳ quan, Cuốn I, II. 594-5.

[6] Biên tập viên của báo tiếng Anh.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 29 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.