Mặc dù tính ổn định trong tư tưởng là một biểu hiện đặc trưng, nhưng không có nghĩa là không có yếu tố đa dạng ngay cả trong thiểu số thống trị. Tuy có thể làm cho các tân binh phát huy tinh thần đồng đội vốn rất khô khan, song khó lòng ngăn cản năng lực sáng tạo trong xây dựng chính quyền trung ương hay trường phái triết học. Chúng ta thấy đó chính là xu hướng tập hợp một số thành viên rời bỏ khỏi dạng người đặc trưng của mình.
Những dạng người đặc trưng là người theo chủ nghĩa quân phiệt và người khai khẩn hèn mọn hơn đi theo trong đoàn tùy tùng của anh ta. Không nhất thiết trích dẫn ví dụ từ lịch sử Hy Lạp. Chúng ta thấy dạng người theo chủ nghĩa quân phiệt trong con người Alexander và típ người khai khẩn trong con người Verres. Tuy nhiên, chính quyền trung ương La Mã tồn tại lâu là nhờ những người theo chủ nghĩa quân phiệt và người khai khẩn được vô số binh lính và công chức không tên tuổi đi theo, họ đã hóa giải những hành động xấu của thế hệ đi trước nhờ tạo điều kiện cho xã hội suy tàn phơi mình dưới ánh nắng yếu ớt của “những năm cuối cùng nhàn hạ”.
Ngoài ra, công chức La Mã không phải là dạng duy nhất và sớm nhất của thiểu số thống trị Hy Lạp trong vai trò vị tha. Vào thời của Severi, khi triều đại của Hoàng đế Marcus Aurelius là sự kiện trọn vẹn trong lịch sử La Mã, và khi các luật gia Stoic dịch tư tưởng Stoic sang các điều khoản luật La Mã, rõ ràng kỳ tích biến con sói La Mã thành chó giữ nhà là thành quả của triết học Hy Lạp. Nếu nhà cầm quyền La Mã có khả năng thực tiễn của thiểu số thống trị Hy Lạp, thì triết gia Hy Lạp vẫn là người dẫn giải cao quý hơn. Tìm lại, hoặc làm giảm nhẹ bằng mọi giá, hậu quả bi thảm của sự sụp đổ là sự nghiệp cả đời của triết gia Hy Lạp cũng như nhà cầm quyền La Mã; thành quả lao động của triết gia giá trị và lâu bền hơn của nhà cầm quyền, chỉ vì chúng ít liên kết thành kết cấu vật chất của đời sống xã hội đang tan rã. Trong khi nhà cầm quyền La Mã xây dựng chính quyền trung ương Hy Lạp, thì triết gia để lại kho tàng tri thức cho hậu thế.
Nếu mở rộng nghiên cứu sang lịch sử của các nền văn minh bị sụp đổ khác, chúng ta sẽ thấy những nét cao quý của chủ nghĩa vị tha xen lẫn với vẻ hèn hạ ác nghiệt của người theo chủ nghĩa quân phiệt và người khai khẩn. Ví dụ, các nho sĩ cai trị chính quyền trung ương Trung Quốc dưới triều đại nhà Hán (202 trước CN đến 221 sau CN) đã giành được tiêu chuẩn hầu hạ và tinh thần đồng đội ngang hàng với các công chức La Mã đương thời. Ngay cả Chinovnik cai quản chính quyền trung ương Cơ Đốc giáo Chính thống ở Nga trong suốt hai thế kỷ từ triều đại Peter Đại đế trở đi (người trở thành trò cười vì sự bất tài và tham nhũng) cũng không làm tròn nhiệm vụ duy trì đế quốc Mát-xcơ-va và đồng thời biến nó thành chính thể mới theo mẫu hình phương Tây. Ở xã hội Nhật Bản, trong suốt bốn thế kỷ trước khi Tokugawa lên chức mạc phủ, các đại danh phong kiến và samurai đã dốc hết tâm trí sức lực vào công cuộc đưa tình trạng hỗn loạn vào trật tự phong kiến; và mở đầu chương tiếp theo trong lịch sử Nhật Bản, họ đã nâng lên tầm cao hy sinh quên mình khi tình nguyện từ bỏ đặc quyền đặc lợi vì nhận thức thấy phải hy sinh để cho nước Nhật Bản giữ vững vị thế trong môi trường thế giới Âu hóa.
Phong cách cao thượng biểu lộ trong con người samurai là đức tính được kẻ thù của họ quy đều cho hai thiểu số thống trị khác, người Inca cai trị chính quyền trung ương Andean, và quý tộc Ba Tư thay mặt vua Achaemenid cai trị chính quyền trung ương Syria. Người Tây Ban Nha đi xâm chiếm Trung và Nam Mỹ dẫn chứng những đức tính của người Inca. Trong bức chân dung tóm tắt việc học của các cậu bé Ba Tư, người ta dạy chúng (5-20 tuổi) làm ba việc, và chỉ ba việc mà thôi: cưỡi ngựa, bắn tên và nói sự thật. Có một câu chuyện kể về đoàn tùy tùng của Xerxes trong cơn bão biển đã cúi rạp người trước chủ nhân rồi nhảy qua mạn tàu để làm nhẹ bớt tàu. Alexander Đại đế đã thể hiện bằng hành động trang nghiêm, chứ không phải lời nói suông, thái độ coi trọng người Ba Tư sau khi quen họ. Ngay sau khi biết người Ba Tư qua thử thách phản ứng của họ trước tai họa không chống lại được, ông đưa ra quyết định không chỉ xúc phạm người Macedonia mà còn làm tổn thương tình cảm của họ. Ông quyết định cho người Ba Tư cộng tác trong chính quyền đế quốc; ông đưa chính sách này vào thi hành một cách chu đáo. Ông lấy con gái nhà quý tộc Ba Tư làm vợ; ông mua chuộc hoặc hăm dọa các viên chức Macedonia để buộc họ theo gương ông. Người gợi lên lòng kính trọng khác thường từ thủ lĩnh kẻ thù truyền kiếp ắt được thiên phú nhiều những đức tính của “chủng tộc thống trị”.
Chúng ta vừa sắp xếp một loạt bằng chứng về năng lực sản sinh tầng lớp trị vì đáng ca tụng của thiểu số thống trị, và bằng chứng này đã được một số chính quyền trung ương xác nhận. Trong số 20 nền văn minh đã sụp đổ, không ít hơn 15 nền văn minh trải qua giai đoạn này trên con đường đi đến tan rã. Chúng ta có thể nhận diện chính quyền trung ương Hy Lạp trong Đế chế La Mã; Andean trong Đế chế Inca, Trung quốc thời nhà Tần và nhà Hán; Sumer trong Đế quốc Sumer và Akkad; Babylon trong Đế quốc tân Babylon của Nebuchadnezzar; Ai Cập thuộc triều đại thứ 11 và 12; Syria trong Đế quốc Achaemenian; Ấn Độ trong Đế quốc của dòng họ Mauryas, Ấn giáo trong Đế quốc của Moguls Đại đế; Nga Chính thống trong Đế quốc Mát-xcơ-va; chính quyền trung ương của chính thể Cơ Đốc giáo Chính thống trong Đế quốc Ottoman; và ở phương Đông, Đế quốc Mông Cổ ở Trung Quốc, và mạc phủ Tokugawa ở Nhật Bản.
Năng lực chính trị không phải là loại khả năng sáng tạo duy nhất của thiểu số thống trị. Chúng ta đã thấy thiểu số thống trị Hy Lạp không chỉ tạo ra chính quyền La Mã mà còn cả triết học Hy Lạp; và trong ít nhất ba trường hợp khác, chúng ta biết thiểu số thống trị đã nghĩ ra triết học.
Ví dụ, trong lịch sử xã hội Babylon, thế kỷ 8 trước CN chứng kiến sự khởi đầu cuộc chiến tranh kéo dài cả trăm năm giữa người Babylon và người Assyria cũng như bước tiến bộ lớn trong thiên văn học. Ở giai đoạn này, giới khoa học Babylon đã khám phá nhịp điệu tái diễn tuần hoàn vốn tài tình từ ngàn xưa trong luân chuyển giữa ngày và đêm, chu kỳ tròn khuyết của mặt trăng, và chu kỳ tính theo hệ mặt trời trong năm cũng thể hiện rõ trên quy mô lớn trong chuyển động của các hành tinh. Các vì sao được chứng minh là có mối liên kết chặt chẽ với mặt trời, mặt trăng và định tinh trên bầu trời; và khám phá lý thú của người Babylon có tác động giống như khám phá khoa học mới đây về khái niệm vũ trụ.
Người ta giả định trật tự bất biến bao trùm mọi chuyển động đã biết của vũ trụ cũng chi phối vạn vật nói chung: vật chất và tinh thần, vô tri vô giác và có sức sống. Nếu hồi xưa người ta xác định được chính xác ngày nhật thực hay đi qua của sao Kim, hoặc tiên đoán chắc chắn thời điểm xảy ra trong tương lai xa, thì liệu có bất hợp lý khi giả định rằng chuyện nhân thế cũng giống như thế thôi? Và vì vũ trụ bao hàm vạn vật hòa hợp với nhau, nên liệu có bất hợp lý khi giả định khuôn mẫu chuyển động mới của các vì sao là chìa khóa cho điều bí ẩn của vận may con người, người nắm đầu mối thiên văn học trong tay có thể tiên đoán vận số của người hàng xóm nếu một khi anh ta biết được ngày sinh? Dù hợp lý hay không, người ta vẫn cứ hăng hái giả định; do đó, khám phá khoa học đã sinh ra triết lý sai lầm về thuyết tiền định.
Nhờ vào sức cám dỗ gấp đôi, triết học Babylon vẫn tồn tại sau khi xã hội Babylon bị diệt vong vào thế kỷ cuối trước CN.
Chúng ta vừa dừng lại ở triết lý của người Babylon về thuyết tiền định bởi nó có sức thu hút lớn hơn bất kỳ triết học Hy Lạp nào khác. Mặt khác, hầu hết trường phái tư duy Hy Lạp có nét giống với triết học Ấn Độ và Trung Hoa. Thiểu số thống trị trong nền văn minh Ấn Độ đang tan rã đã sản sinh ra đạo Jains, đạo Phật nguyên thủy, đạo Phật biến thái, và triết lý Phật giáo. Còn thiểu số sáng tạo trong nền văn minh Sinic đang tan rã sản sinh ra đạo lý lễ nghĩa của Khổng giáo và sự thông thái ngược đời của Lão giáo.
(2) TẦNG LỚP BỊ TRỊ QUỐC NỘI
Nguyên mẫu Hy LạpKhi chúng ta chuyển từ thiểu số thống trị sang các tầng lớp bị trị, xem xét kỹ hơn các sự kiện sẽ giúp xác nhận tính đa dạng trong mỗi kiểu xã hội đang tan rã. Chúng ta còn thấy tầng lớp bị trị quốc nội và ngoại quốc ở những thái cực đối lập nhau. Trong khi tầng lớp bị trị ngoại quốc có phạm vi hoạt động hạn hẹp hơn thiểu số thống trị, tầng lớp bị trị quốc nội lại có phạm vi hoạt động rộng hơn rất nhiều. Trước tiên chúng ta hãy khảo sát phạm vi hoạt động rộng.
Nếu muốn lần theo quá trình hình thành tầng lớp bị trị quốc nội Hy Lạp từ những ngày đầu còn trong trứng nước, chúng ta có thể trích dẫn lời của sử gia Thucydides mô tả giai đoạn suy tàn của xã hội Hy Lạp với sự phân hóa xã hội trong giai đoạn đầu của nó, xuất hiện đầu tiên ở Corcyra:
“Khi cuộc đấu tranh giai cấp (stasis) tàn bạo ở Corcyra phát triển, và tạo ra ảnh hưởng sâu sắc do vai trò tiên phong trong vận động theo kiểu của nó, cuối cùng đã lan tràn khắp thế giới Hy Lạp. Ở mỗi quốc gia, đã xảy ra cuộc đấu tranh giữa lãnh đạo tầng lớp bị trị với những kẻ phản động trong nỗ lực tìm kiếm sự can thiệp của người Athen và người Lacedaemonia. Trong thời bình, họ không có cơ hội hay mong muốn nhờ vả người ngoại quốc; nhưng giờ đây đã có đấu tranh; và tinh thần tự nguyện ở mỗi phe đều dễ kiếm được liên minh đưa đến thất bại của phe đối lập và củng cố phe mình. Đấu tranh giai cấp trút hết tai ương này đến tai ương khác lên đầu các nước – chỉ cần tính con người vẫn không thay đổi, tai họa sẽ không ngừng ập tới, dẫu có thể trầm trọng hoặc vơi bớt theo những thay đổi liên tiếp của hoàn cảnh. Trong điều kiện thuận lợi của thời bình, cả quốc gia lẫn cá nhân đều biểu lộ sự biết điều, bởi bàn tay họ không bị lôgic của các sự kiện thúc ép; tuy nhiên, đấu tranh cướp dần cuộc sống bình thường và điều chỉnh tính khí của môi trường mới bằng vũ lực. Do đó, các nước bị tiêm nhiễm đấu tranh giai cấp, và chấn động sau mỗi lần bùng nổ có tác động chồng chất lên lần tiếp theo”.[1]
Tác động xã hội đầu tiên của tình trạng này là tạo ra lượng lớn dân đi đày “bị mất quyền công dân”. Trong giai đoạn phát triển của lịch sử Hy Lạp, cảnh ngộ khốn cùng như thế này hiếm khi xảy ra và được xem là không bình thường. Nỗ lực xui khiến phe thống trị trong mỗi thành phố độc lập có chủ quyền cho phép kẻ thù trở về nhà trong hòa bình của Alexander đã không vượt qua được điều xấu xa này; những người đi đày chỉ còn một chọn lựa trong tay là gia nhập đội quân đánh thuê; những người đi đày góp phần làm cho quân số dư thừa và đặt chiều hướng mới lên các cuộc đấu tranh. Tác động tàn phá của tinh thần chiến đấu được tăng thêm nhờ hiệu quả của sức mạnh kinh tế bị chiến tranh buông lỏng. Ví dụ, những cuộc chiến của Alexander và những người kế vị của ông ở Tây Nam Á đã tạo công ăn việc làm cho đám người Hy Lạp vô gia cư. Lính đánh thuê được trả công bằng vàng thoi bạc nén trong các kho báu của người Achaemenid; lượng tiền tệ gia tăng đột ngột đã phương hại đến tầng lớp nông dân và thợ thủ công. Giá cả tăng vọt, cách mạng tài chính đẩy một bộ phận từng hưởng phúc lợi tương đối trong xã hội vào tình trạng bần cùng. Hàng trăm năm sau, tác động bần cùng hóa lại tái diễn khi tầng lớp nông dân Ý bị buộc rời bỏ quê hương do thời hạn đi lính dài hơn. Hậu duệ bị bần cùng hóa của nông dân Ý chẳng còn biết trông cậy vào đâu ngoài việc theo nghề binh nghiệp mà cha ông đã đặt nặng lên vai họ.
Trong quá trình “diệt tận gốc” tàn bạo này, chúng ta không hề nghi ngờ là mình đang theo dõi quá trình hình thành tầng lớp bị trị quốc nội Hy Lạp – và nạn nhân của quá trình này trước đây thường là những nhà quý tộc. Tình trạng bần cùng là vấn đề về tâm trạng hơn là hoàn cảnh bên ngoài. Trong lần đầu tiên sử dụng thuật ngữ “tầng lớp bị trị”, chúng ta định nghĩa nó là thành phần trong xã hội tại giai đoạn nhất định trong lịch sử của xã hội đó. Dấu hiệu xác nhận thật sự của người vô sản không phải là dòng dõi nghèo hèn, mà là ý thức rằng đang bị tước quyền thừa kế địa vị do tổ tiên truyền lại trong xã hội.
Tầng lớp bị trị quốc nội Hy Lạp được tuyển từ những công dân tự do, và thậm chí từ tầng lớp quý tộc, của chính thể Hy Lạp đang tan rã; những thành viên mới này bị tước quyền thừa kế về mặt tinh thần; và dĩ nhiên thường kèm theo nghèo nàn về mặt tinh thần, cùng với bần cùng hóa trên bình diện vật chất. Những tầng lớp khác vô sản ngay từ đầu cũng sớm gia nhập đội quân này. Tầng lớp bị trị quốc nội Hy Lạp tăng lên theo các cuộc chinh chiến của người Macedonia, quét hết xã hội Syria, Ai Cập, và Babylon vào lưới của thiểu số thống trị Hy Lạp, những cuộc chinh phục sau này của người La Mã quét phân nửa tộc người rợ ở châu Âu và Bắc Phi.
Số người ngoại quốc không chủ tâm gia nhập tầng lớp bị trị quốc nội Hy Lạp ban đầu có thể may mắn hơn người vô sản gốc Hy Lạp ở một khía cạnh. Mặc dù bị tước quyền thừa kế về mặt tinh thần lẫn vật chất, nhưng họ chưa bị buộc rời bỏ quê hương. Tuy nhiên, đi theo gót chân quân xâm lược là nạn buôn bán nô lệ, và hai thế kỷ cuối trước CN chứng kiến toàn bộ dân cư dọc bờ biển Địa Trung Hải – cả người rợ phương Tây lẫn người phương Đông có học thức – đều bị bắt đóng góp nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động nô lệ ở Ý.
Tầng lớp bị trị quốc nội của xã hội Hy Lạp đang tan rã gồm ba thành phần rõ rệt: thành viên trong xã hội bị tước quyền thừa kế và buộc rời bỏ quê hương; thành viên bị tước quyền thừa kế một phần và xuất thân từ nền văn minh ngoại quốc và xã hội nguyên thủy bị chinh phục và khai thác chưa tận gốc; và người đến tuổi đi lính không những bị buộc rời bỏ quê hương mà còn biến thành nô lệ để làm việc tới chết ở những thuộc địa xa xôi hẻo lánh. Nỗi thống khổ của ba nhóm nạn nhân kể trên tuy khác nhau nhưng chung nỗi niềm bị tước đoạt quyền thừa kế và biến thành người bị xã hội ruồng bỏ.
Nói đến phản ứng trước số phận của những nạn nhân của sự bất công, chúng ta không khỏi ngạc nhiên khi biết một trong những phản ứng của họ là tỏ ra tàn bạo hơn kẻ áp bức bóc lột mình. Người Ai Cập nổi dậy chống lại chế độ bóc lột; người Do Thái nổi dậy chống lại chính sách Hy Lạp hóa của người La Mã, từ cuộc khởi nghĩa của Judas Maccabaeus vào năm 166 trước CN đến hy vọng hão huyền cuối cùng dưới thời lãnh đạo của Bar Kokaba vào năm 132-135 sau CN. Ngoài ra, còn có một loạt cuộc nổi dậy của nô lệ ở Sicily và Nam Ý, lên tới đỉnh cao khi đấu sĩ bỏ trốn Spartacus đi khắp bán đảo Ý và thách thức người La Mã từ năm 73 đến năm 71 trước CN.
Cơn bực tức không giới hạn trong tầng lớp bị trị ngoại quốc. Tầng lớp bị trị La Mã đã làm khuynh đảo chế độ quân phiệt La Mã trong các cuộc nội chiến, bạo lực chẳng thua gì Judas Maccabaeus hay Spartacus, nhất là vào năm 91-82 trước CN.
Tuy nhiên, bạo lực tự sát không phải là phản ứng duy nhất của tầng lớp bị trị quốc nội Hy Lạp. Còn một dạng phản ứng khác biểu hiện cao nhất trong đạo Cơ Đốc. Phản ứng ôn hòa, tức phi bạo lực, là biểu hiện quyết tâm ly khai mạnh mẽ chẳng kém gì phản ứng bạo lực. Ví dụ, những người tử vì đạo ôn hòa là tổ tiên tinh thần của tín đồ Pharise. Trong lịch sử tầng lớp bị trị phương Đông của thế giới Hy Lạp từ thế kỷ 2 trước CN trở đi, chúng ta thấy bạo lực và ôn hòa đều cố làm chủ tâm trí con người cho đến khi bạo lực lui gót và chỉ còn lại ôn hòa.
Vấn đề này nảy sinh ngay từ đầu; dân Do Thái hăng máu nhanh chóng từ bỏ phương cách ôn hòa của người tử vì đạo đầu tiên vào năm 167 trước CN; thành công vật chất trước mắt của “người trọng bạo lực” làm lóa mắt hậu thế tới mức những bạn đồng hành thân thiết nhất của Đức Chúa Giê-su gièm pha lời tiên tri của người về số mệnh của mình, để rồi phủ phục khi lời tiên tri trở thành sự thật. Vài tháng sau khi Chúa Giê-su bị đóng đinh trên thánh giá, Gamaliel đã để mắt tới các đồ đệ của Người vì họ có thể chứng minh có Chúa bên cạnh; mấy năm sau, đồ đệ của Gamaliel thuyết giảng về Chúa Giê-su bị đóng đinh lên thánh giá.
Chuyển biến từ phương cách bạo lực sang ôn hòa phải trả bằng cái giá đập tan mọi hy vọng vật chất; khổ hình của Chúa đã tác động lên các đồ đệ của Ngài cũng giống như khi người Do Thái Chính thống đứng trước sự tàn phá Jerusalem vào năm 70 sau CN. Một trường phái mới của Judas giáo được thể hiện qua phát biểu “quan niệm nước Chúa Trời là một trạng thái ngoại vật chất đang dần được chứng minh”.[2] Phương cách bạo lực của dân Do Thái giờ đây bị loại khỏi sách tiên tri của kinh Cựu ước và luật giáo hội. Phương pháp kiềm chế nỗ lực thực hiện ý nguyện của Chúa ở cõi trần gian này bằng bàn tay con người đã ăn sâu quá nhanh vào tín ngưỡng của người Do Thái tới mức ngày nay họ ngờ vực phong trào phục quốc và đứng ngoài công cuộc xây dựng nước nhà trong thế kỷ 20.
Nếu sự thay đổi thái độ này biến dân Do Thái Chính thống thành những con người cổ hủ, thì sự thay đổi thái độ của bạn đồng hành với Chúa Giê-su lại mở ra thắng lợi lớn hơn cho giáo hội Cơ Đốc. Trước thách thức ngược đãi và bức hại, giáo hội Cơ Đốc đã phản ứng bằng phương cách ôn hòa, và phần thưởng là sự cải tà quy chánh của thiểu số thống trị Hy Lạp và tộc người rợ thuộc tầng lớp bị trị ngoại quốc.
Đối thủ trực tiếp của đạo Cơ Đốc trong những thế kỷ đầu phát triển là tôn giáo thời ăn lông ở lỗ đội lốt mới: tôn sùng chính quyền trung ương Hy Lạp hiện thân trong con người Divus Caesar. Việc giáo hội Cơ Đốc nhẹ nhàng nhưng dứt khoát không cho tín đồ của mình sùng bái thần tượng, cho dù chỉ mang tính hình thức chiếu lệ, đã nhận một loạt hành động khủng bố, và cuối cùng buộc chính quyền Đế chế La Mã phải đầu hàng có điều kiện trước sức mạnh tinh thần. Cho dù được duy trì và áp đặt bằng tất cả sức mạnh của chính quyền, quốc giáo vẫn chiếm chỗ đứng khiêm nhường trong lòng người. Lòng tôn kính quốc giáo mà quan tòa La Mã ra lệnh cho người theo đạo Cơ Đốc phải thể hiện qua thực hiện nghi lễ đã đánh dấu bước bắt đầu và cũng là kết thúc của quốc giáo. Trong con mắt người sai gì làm đó và người không hiểu tại sao đạo Cơ Đốc cứ nài ép người ta hy sinh đời mình thay vì làm theo tục lệ cho xong, đạo này chẳng có gì hơn đạo kia. Các đối thủ có thực lực mạnh của đạo Cơ Đốc là một số “tôn giáo cao siêu hơn” bắt nguồn từ tầng lớp bị trị quốc nội Hy Lạp.
Các “tôn giáo cao siêu” có nguồn gốc từ nhóm người phương Đông trong tầng lớp bị trị quốc nội Hy Lạp. Đạo Cơ Đốc bắt nguồn từ người có gốc gác Syria. Phân nửa thế giới Ai Cập thờ phụng nữ thần Isis. Xã hội Hittite có công đóng góp vào việc thờ phụng Mẹ Cybele (xã hội này đã diệt vong đã lâu trên bình diện hoạt động xã hội ngoại trừ tôn giáo). Nếu truy tìm nguồn gốc của Mẹ, chúng ta thấy lúc đầu bà ở thế giới Sumer với cái tên là Ishtar, trước khi mang danh Cybele tại Pessinus, Dea Syra tại Hierapolis, hay Đất Mẹ trên thánh địa ở biển Bắc hay biển Baltic.
Khiếm khuyết của xã hội Minoan và di tích nền văn minh Hittite
Khi đi tìm lịch sử tầng lớp bị trị quốc nội ở các xã hội đang tan rã khác, chúng ta phải thú nhận rằng trong một số trường hợp bằng chứng sao mà hiếm hoi đến thế. Ví dụ, chúng ta chẳng biết gì về tầng lớp bị trị quốc nội của xã hội Maya. Trong trường hợp của xã hội Minoan, chúng ta bị cuốn hút trước khả năng mong manh về bảo tồn vết tích giáo hội chung Minoan trong vô vàn giáo hội thần bí xuất hiện trong lịch sử Hy Lạp từ thế kỷ 6 trước CN trở đi. Tuy nhiên, chúng ta không thể đoan chắc các đức tin và hành lễ thần bí đều bắt nguồn từ tôn giáo Minoan. Chúng ta cũng mù tịt về tầng lớp bị trị quốc nội của xã hội Hittite yểu mệnh. Chúng ta chỉ biết đống đổ nát của xã hội Hittite dường như đã bị xã hội Hy Lạp và Syria tiêu hóa dần, do đó phải tìm kiếm di tích xã hội Hittite trong lịch sử của hai xã hội ngoại quốc này.
Xã hội Hittite là một trong nhiều xã hội bị nước láng giềng xâu xé trước khi tan rã hết. Trong trường hợp như thế, tầng lớp bị trị quốc nội đương nhiên phải nhìn số phận xảy đến cho thiểu số thống trị bằng con mắt thờ ơ hay thậm chí sung sướng. Điển hình là thái độ của tầng lớp bị trị quốc nội ở chính quyền trung ương Andean khi quân xâm lược Tây Ban Nha đột nhiên tràn vào. Các orejone có lẽ là thiểu số thống trị nhân đức nhất mà xã hội đang tan rã đã tạo ra, song lòng nhân đức chẳng giúp ích gì cho họ vào giây phút thử thách đó. Đám người được hầu hạ chu đáo của họ đã ngoan ngoãn chấp nhận cho người Tây Ban Nha xâm chiếm.
Tầng lớp bị trị quốc nội Nhật Bản
Chúng ta có thể thấy rõ biểu hiện ly khai của tầng lớp bị trị quốc nội Nhật Bản trong lịch sử xã hội phương Đông, trải qua thời kỳ bất ổn và đi đến chính quyền trung ương trước khi xã hội phương Tây nuốt trọn nó. Nếu tìm kiếm biểu hiện ly khai của thị dân Hy Lạp bị buộc rời bỏ quê hương do các cuộc chiến tranh và cách mạng khởi đầu vào năm 431 trước CN, và người thấy lối thoát bất hạnh là làm lính đánh thuê, chúng ta sẽ thấy nét tương đồng trong kỵ binh thất nghiệp vô chủ, họ là những người bị ruồng bỏ trong thời kỳ bất ổn ở Nhật Bản. Một lần nữa, có thể giải thích những người bị khai trừ khỏi đẳng cấp trong xã hội Nhật Bản ngày nay là tàn dư vẫn chưa tiêu hóa được của người rợ Ainu (người bị buộc gia nhập tầng lớp bị trị quốc nội Nhật Bản khi quân La Mã sáp nhập người rợ châu Âu và Bắc Phi vào tầng lớp bị trị quốc nội Hy Lạp). Nhật Bản cũng có những “tôn giáo cao siêu” giống như Hy Lạp.
Những tôn giáo đó là Jōdō, Jōdo Shinshu, Hokke, và Zen, hết thảy chúng đều ra đời sau năm 1175 sau CN. Những tôn giáo này giống như của Hy Lạp ở chỗ chúng đều mang cảm hứng xa lạ. Ba trong số bốn tôn giáo tương tự như đạo Cơ Đốc ở mức độ giảng giải tính bình đẳng về giới. Khi thuyết giảng trước tầng lớp bị trị ngây thơ chất phác, các ông tổ của những tôn giáo này lược bỏ chữ Hán rồi viết chữ tương đối đơn giản bằng tiếng Nhật Bản. Vì mong muốn cứu rỗi linh hồn cho càng nhiều người càng tốt, các ông tổ tôn giáo đã quá xem nhẹ yêu cầu của mình. Một số cách thức hành lễ đặt rất ít yêu cầu đạo đức lên các môn đồ. Học thuyết chính của đạo Cơ Đốc về tha thứ tội lỗi nhiều lúc được các thủ lĩnh Cơ Đốc giáo giả danh lạm dụng và hiểu sai tới mức bị cáo buộc. Luther đã công kích việc bán đặc ân được che đậy dưới hình thức tế lễ cho sự ăn năn hối lỗi của người theo đạo Cơ Đốc, ông tách mình ra khỏi lời cáo buộc là xem đạo đức như là chuyện nhỏ.
Tầng lớp bị trị quốc nội dưới các chính quyền trung ương ngoại quốc
Sau khi thiểu số thống trị bản xứ bị lật đổ hay tiêu diệt, những sự kiện bên ngoài vẫn diễn ra như bình thường. Ba xã hội – Ấn giáo, Viễn Đông ở Trung Hoa, và Cơ Đốc giáo Chính thống ở Cận Đông – đều trải qua chính quyền trung ương trên con đường đi từ sụp đổ đến tan rã. Chúng nhận chính quyền trung ương như là món quà từ tay ngoại bang thay vì tự kiến thiết. Người Iran đã cung cấp chính quyền trung ương dưới hình hài Đế quốc Ot-toman cho nhánh chính của xã hội Cơ Đốc Chính thống, và Đế quốc Timurid (Mughal) cho thế giới Ấn giáo. Từ nền tảng này, người Anh tái thiết chế độ cai trị Mughal. Ở Trung Hoa, chính người Mông Cổ đã đóng vai trò kiến thiết, còn người Mãn Châu đảm nhận nhiệm vụ tái thiết trên nền tảng vững chắc hơn, việc làm mà trước đây người Anh đã thực hiện ở Ấn Độ.
Khi xã hội đang tan rã buộc phải dung nạp kiến trúc xa lạ nào đó để có được chính quyền trung ương, thì cũng chứng tỏ thiểu số thống trị quốc nội đã trở nên bất tài vô dụng; và hình phạt khó tránh khỏi cho tình trạng suy yếu này là sự tước quyền công dân đáng nhục nhã. Kẻ ngoại bang đến làm công việc của thiểu số thống trị tất nhiên vơ hết đặc quyền của thiểu số thống trị vào tay mình; và trong chính quyền trung ương do kẻ ngoại bang xây dựng nên, toàn bộ thiểu số thống trị quốc nội bị giáng xuống hàng thứ dân. Rõ ràng, trong tình cảnh như thế này, thiểu số thống trị trước đây bị nhầm lẫn nhục nhã với thứ dân, người mà họ từng một thời khinh miệt.
Trong xã hội Ấn giáo, có thể thấy rõ phản ứng bạo lực và ôn hòa đối chọi nhau giữa trường phái chiến đấu của các nhà cách mạng Bengali và bất bạo động của Mahatma Gandhi. Qua một số phong trào tôn giáo thể hiện hai khuynh hướng trái ngược nhau, chúng ta có thể đi đến kết luận về lịch sử kích động đấu tranh của tầng lớp vô sản. Ở đạo Sikh, chúng ta thấy thuyết hổ lốn hiếu chiến của Ấn Độ giáo và Hồi giáo; trong giáo phái Bramo-Samaj là thuyết hổ lốn phi bạo lực của Ấn Độ giáo và Cơ Đốc Tin Lành Tự Do.
Trong xã hội Sinic dưới thời nhà Thanh, chúng ta thấy trong phong trào Thái Bình Thiên Quốc (chi phối giai đoạn xã hội vào giữa thế kỷ 19) việc làm của giai cấp vô sản quốc nội giống như đạo Sikh trong tính chiến đấu, nhưng giống như giáo phái Bramo-Saimaj trong món nợ với Cơ Đốc Tin lành.
Trong chính thể Cơ Đốc giáo Chính thống, cuộc cách mạng “cuồng tín” tại Salonica vào thập niên 50 của thế kỷ 14 cho chúng ta cái nhìn thoáng qua về phản ứng bạo lực vào giờ khắc tăm tối nhất của thời kỳ bất ổn – trước khi quân xâm lược Ottoman biến xã hội Cơ Đốc giáo Chính thống thành chính quyền trung ương. Phản ứng ôn hòa tương ứng không đi quá xa, nhưng nếu tại thời điểm chuyển giao giữa thế kỷ 18 và 19, tiến trình Tây phương hóa không quá theo sát sự sụp đổ của Đế quốc Ottoman, thì đến ngày nay phong trào Bektashi có lẽ đã giành được thắng lợi trên khắp vùng Cận Đông.
Tầng lớp bị trị quốc nội Babylon và Syria
Nếu giờ chuyển sang thế giới Babylon, chúng ta sẽ thấy tầng lớp bị trị quốc nội ở vùng Tây Nam Á bị quân Assyria quấy phá vào thế kỷ 8 và 7 trước CN có tinh thần sục sôi khám phá tôn giáo chẳng kém gì khi sinh sống trên bờ biển Địa Trung Hải bị quân La Mã quấy phá sau đó khoảng 6 thế kỷ.
Nhờ tác động của quân Assyria, xã hội Babylon đang tan rã bành trướng về mặt địa lý theo hai hướng, do xã hội Hy Lạp đang tan rã bành trướng qua các cuộc chinh phạt của người Macedonia và người La Mã. Về phía Đông, người Assyria chinh phục một loạt xã hội nguyên thủy nhằm chặn trước người La Mã ở châu Âu; về phía Tây, họ chặn trước người Macedonia ở mặt giáp châu Á của Dardanelles nhờ chinh phục hai nền văn minh ngoại quốc; Syria và Ai Cập thật sự giống hệt hai trong bốn nền văn minh sau này được sáp nhập vào Hy Lạp sau những cuộc vận động của Alexander. Chẳng có nạn nhân ngoại quốc nào của chủ nghĩa quân phiệt Babylon không bị buộc rời bỏ quê hương.
Cưỡng bức trao đổi dân là công cụ rất có hiệu lực của Đế quốc Babylon nhằm bẻ gãy tinh thần của các dân tộc bị chinh phục, và hành động tàn bạo này không loại trừ một ai. Trong cuộc chiến huynh đệ tương tàn, các thế lực thống trị của thế giới Babylon không ngần ngại trả đũa lẫn nhau, và cộng đồng Samari-tan là công trình lưu đày dân cư từ nhiều thành phố của người Babylon đến Syria do bàn tay của người Assyria.
Tầng lớp bị trị quốc nội Babylon mang nét giống như tầng lớp bị trị quốc nội Hy Lạp về nguồn gốc và thành phần. Trong khi sáp nhập xã hội Syria vào tầng lớp bị trị quốc nội Hy Lạp sinh ra đạo Cơ Đốc từ đạo Do Thái, thì sự sáp nhập xã hội Syria vào tầng lớp bị trị quốc nội Babylon lại sinh ra đạo Do Thái từ tôn giáo nguyên thủy của cộng đồng địa phương mà xã hội Syria đã hội nhập.
Tuy đạo Do Thái và đạo Cơ Đốc có vẻ cùng thời và tương đương nhau tới mức có thể xem là sản phẩm của cùng giai đoạn trong lịch sử của hai xã hội ngoại quốc, nhưng dưới góc nhìn khác, chúng là những giai đoạn liên tục trong quá trình khai sáng tôn giáo. Đạo Cơ Đốc không sánh vai với đạo Do Thái, mặc dù chúng đều vượt trên tôn giáo nguyên thủy của dân Do Thái. Sự khai sáng vào sau thế kỷ 8 trước CN là giai đoạn duy nhất mà chúng ta có ghi chép về khoảng thời gian giữa đạo Cơ Đốc và thờ phụng nguyên thủy. Truyền thuyết trong kinh thánh thể hiện nhân vật Moses, và trước nhân vật Moses là nhân vật Abraham. Bất luận chúng ta có quan điểm như thế nào về tính xác thực lịch sử của những nhân vật mờ nhạt này, truyền thuyết đã đặt Abraham và Moses trong bối cảnh lịch sử giống như Mohammed và Chúa Giê-su. Moses xuất hiện đồng thời với thời kỳ suy tiêu tàn của “Tân đế quốc” ở Ai Cập, và Abraham xuất hiện đồng thời với những ngày cuối cùng của chính quyền trung ương Sumer, sau khi Hammurabi tái thiết trong khoảng thời gian ngắn ngủi. Cả bốn giai đoạn – thể hiện qua Abraham, Moses, Mohammed và Chúa Giê-su – minh họa mối quan hệ giữa sự tan rã của các nền văn minh với khởi đầu mới trong tôn giáo.
Sự hình thành tôn giáo cao siêu hơn đạo Do Thái đã để lại ghi chép rõ ràng và đầy đủ trong sách của Mohammed; và trong những ghi chép sống động này, chúng ta bắt gặp vấn đề đang gây tranh cãi: chọn lựa đối mặt với thử thách bằng phương cách bạo lực hay ôn hòa. Phương cách ôn hòa dần chiếm ưu thế hơn bạo lực trong trường hợp này; trong thời kỳ bất ổn, một khi đã qua giai đoạn cao trào, đáp trả đến cùng bằng bạo lực thậm chí chẳng mang lại hiệu quả gì. Sau khi ra đời ở Syria vào thế kỷ 8, tôn giáo mới cao siêu đã lớn mạnh ở Babylon giữa những con cháu bị lưu đày của một trong các dân tộc bị ngược đãi.
Cũng như nô lệ phương Đông bị lưu đày ở La Mã, người Do Thái bị lưu đày ở Babylon chống lại việc thích nghi dễ dàng với bản sắc của quân xâm lược.
“Nếu con quên người, hỡi Jerusalem, xin cho bàn tay phải của con quên đi sự khéo léo”.
“Nếu con không nhớ người, xin cho lưỡi của con dính chặt vào vòm miệng”.[3]
Nỗi nhớ nhà của những người đi đày không phải là dấu ấn tiêu cực: nó là hành động sáng tạo tích cực. Trong ánh sáng huyền ảo của cảnh mộng nhìn qua màn nước mắt, pháo đài sụp đổ hóa thân thành thành phố Jerusalem trên nền đá không cánh cổng địa ngục nào thắng nổi. Và đúng lúc ấy, những tù nhân không chiều theo ý thích của kẻ bắt giữ đã sáng tác giai điệu mới bằng nhạc cụ trong tim:
“Đến địa phận Babylon, chúng tôi ngồi xuống khóc khi nhớ đến người, Sion”.[4]
Và trong nước mắt, người Do Thái đã đạt tới sự khai sáng.
Trong phản ứng của người đến tuổi đi lính Syria thuộc tầng lớp bị trị, rõ ràng có sự tương đồng rất gần giữa lịch sử Babylon và lịch sử Hy Lạp; tuy nhiên, phản ứng trước thách thức của người Babylon không những bắt nguồn từ nạn nhân thuộc nền văn minh ngoại quốc mà còn cả từ nạn nhân người rợ. Trong khi người rợ châu Âu và Bắc Phi bị quân La Mã chinh phục không tự khám phá tín ngưỡng mà đơn thuần chấp nhận hạt giống được gieo bởi người vô sản gốc phương Đông, thì người rợ Iran dưới ách đô hộ của người Assyria đã sinh ra Zarathustra, người sáng lập đạo thờ lửa. Có nhiều tranh cãi về cuộc đời của Zarathustra, và chúng ta không biết chắc khám phá tín ngưỡng của ông có phải là phản ứng độc lập trước thách thức của người Assyria hay không, hay tiếng nói của ông chỉ là tiếng vọng của những giáo đồ Do Thái bị bỏ lại trong “thành phố của người Medes”. Tuy nhiên, bất luận hai “tôn giáo cao siêu” đã có quan hệ ban đầu như thế nào, đạo thờ lửa và đạo Do Thái đều cùng lớn mạnh.
Khi sự lật đổ của người Assyria đánh dấu chấm dứt giai đoạn bất ổn ở Babylon và thế giới Babylon chuyển thành chính quyền trung ương dưới hình hài Đế quốc Tân Babylon, đạo Do Thái và đạo thờ lửa giành nhau đặc quyền thiết lập giáo hội chung trong khuôn khổ chính trị này.
Chính quyền trung ương Tân Babylon tỏ ra yểu mệnh do với chính quyền trung ương La Mã. Trong vòng không đầy một thế kỷ, Đế quốc Tân Babylon đã rơi vào tay người Medes và người Ba Tư, và Đế quốc Achaemenian này mang nét chính trị của người Iran và nét văn hóa của người Syria. Vai trò của thiểu số thống trị và tầng lớp bị trị quốc nội bị đảo ngược.
Trong hoàn cảnh này, đạo Do Thái và đạo thờ lửa có lẽ đã mong một chiến thắng chắc chắn và mau lẹ hơn; nhưng 200 năm sau, vị thần vận mệnh lại đưa bước ngoặt bất ngờ khác vào quá trình diễn biến các sự kiện. Giờ đây, ngài trao vương quốc của người Medes và người Ba Tư vào tay của quân xâm lược Macedonia. Cuộc xâm lăng của xã hội Hy Lạp lên xã hội Syria đã phá tan chính quyền trung ương Syria trước khi nó kịp phát huy vai trò; thêm vào đó, hai tôn giáo cao siêu từng một thời truyền bá yên lành dưới sự che chở của người Achaemenid giờ đi vào con đường đổi nhiệm vụ tôn giáo của mình lấy vai trò chính trị. Họ trở thành chiến sĩ của nền văn minh Syria trong cuộc đấu tranh chống lại nền văn hóa Hy Lạp xâm lược. Đạo Do Thái khó tránh bị đào thải vì những hy vọng hão huyền, và nó thực sự gục ngã trước sức mạnh vật chất của nhà thờ La Mã trong cuộc chiến tranh giữa người La Mã và người Do Thái vào các năm 66-70, 115-117, và 132-135 sau CN. Đạo thờ lửa tiếp tục cuộc đấu tranh trong điều kiện bình đẳng hơn vào thế kỷ 3 sau CN. Dưới chế độ quân chủ Sasanian, nó tìm được vũ khí mạnh hơn cho cuộc vận động chống Hy Lạp, và người Sasanidae làm tiêu hao dần sức mạnh của Đế chế La Mã trong suốt 400 năm đấu tranh, đỉnh cao là chiến tranh giữa người La Mã và người Ba Tư năm 572-591 và 603-628 sau CN. Cường quốc Sasanian tỏ ra không đủ sức làm tròn nhiệm vụ trục xuất văn hóa Hy Lạp ra khỏi châu Á và châu Phi, còn đạo thờ lửa phải trả giá đắt chẳng kém gì dân Do Thái do dốc hết sức làm chuyện chính trị. Ngày nay, cũng như người Do Thái, các tín đồ đạo thờ lửa sống dưới hình thức “cộng đồng người Do Thái”; và những tôn giáo vẫn còn nắm giữ thành viên thưa thớt của cả hai cộng đồng đã mất đi thông điệp truyền đến loài người, và hóa thành cổ vật của xã hội Syria diệt vong.
Văn hóa ngoại lai không chỉ làm trệch “tôn giáo cao siêu” sang con đường chính trị mà còn chia rẽ chúng. Sau khi đạo Do Thái và đạo thờ lửa biến thành công cụ đấu tranh chính trị, những người tu hành Syria náu mình giữa các thành phần trong dân, và phản ứng với thách thức của người Hy Lạp một cách ôn hòa; tôn giáo Syria tìm sự diễn đạt mới cho quan điểm và tinh thần vốn bị đạo Do Thái và đạo thờ lửa thoái thác. Sau khi làm mê hoặc những nhà chinh phục Hy Lạp trong thế giới Syria thông qua sức mạnh phi bạo lực, đạo Cơ Đốc chia thành ba nhóm đạo – Thiên Chúa giáo liên minh với văn hóa cổ Hy Lạp, và hai dị giáo nắm vai trò đấu tranh chính trị của đạo thờ lửa và đạo Do Thái nhưng không đạt thêm thành công mang tính quyết định nào trên bước đường đẩy văn hóa Hy Lạp ra khỏi Syria.
Tuy nhiên, thất bại liên tiếp không làm nản lòng các đối thủ của văn hóa cổ Hy Lạp. Nỗ lực lần thứ ba đã đem lại thắng lợi; và chiến thắng về mặt chính trị của xã hội Syria trước văn hóa cổ Hy Lạp đạt được nhờ tôn giáo khác nữa có nguồn gốc Syria. Cuối cùng, đạo Hồi đã lật đổ Đế chế La Mã ở Tây Nam Á và Bắc Phi, và tạo nên giáo hội trung ương cho chính quyền trung ương Syria được tái thiết.
Tầng lớp bị trị quốc nội ở các xã hội Ấn Độ và Sinic
Cũng như Syria, xã hội Ấn Độ trải qua quá trình tan rã và bị Hy Lạp xâm phạm thô bạo; trong trường hợp này, thách thức tương tự khơi dậy phản ứng tương tự.
Vào thời điểm xã hội Ấn Độ và Hy Lạp giao nhau lần đầu tiên, xã hội Ấn Độ đang trên con đường đi đến chính quyền trung ương, và từ lâu thiểu số thống trị đối đầu với thử thách của sự tan rã bằng cách tạo ra hai trường phái triết học: đạo Jains và đạo Phật; tuy nhiên, không có bằng chứng cho thấy tầng lớp bị trị quốc nội đã sản sinh “tôn giáo cao siêu”. Vua Açoka (trị vì chính quyền trung ương Ấn Độ từ năm 273 đến 232 trước CN) đã cố làm cho người hàng xóm Hy Lạp đi theo triết học của mình nhưng thất bại. Sau này, chính Phật giáo đã lôi kéo được địa phận xa xôi hẻo lánh nhưng rộng lớn của thế giới Hy Lạp thời hậu Alexander.
Tuy nhiên, đến khi trải qua biến đổi to lớn từ triết học cũ của các môn đồ cũ của Siddhārtha Gautama[5] sang tôn giáo mới của phái Đại thừa, Phật giáo mới phản pháo thành công.
“Phái Đại thừa thật sự là tôn giáo mới, khác xa Phật giáo sơ khai tới mức nó thể hiện nhiều điểm giao với tôn giáo Bà La Môn sau này… Người ta chưa nhận thức đầy đủ cuộc cách mạng triệt để nào đã biến đổi Phật giáo khi tinh thần mới đạt đến chỗ hoàn thiện vào những thế kỷ đầu sau CN. Chúng ta thấy lời giáo huấn vô thần mang tính triết lý về con đường đi đến giải thoát cuối cùng trong tuyệt diệt và thờ tại tâm đấng sáng tạo ra con người – chúng ta thấy nó bị thế chỗ bằng đấng tối cao, bao quanh là vô số thánh thần; tôn giáo mang tính sùng đạo cao độ, chuộng nghi thức và biên chép, với lý tưởng cứu rỗi linh hồn của muôn loài, cứu rỗi bằng ơn Đức Phật và Bồ tát, cứu rỗi không nằm trong tuyệt diệt, mà nằm trong sự sống vĩnh hằng – lịch sử tôn giáo chỉ mới vừa chứng kiến sự cắt đứt giữa cái cũ và cái mới trong giới hạn của điều tiếp tục đòi hỏi sự truyền lại từ cùng một người sáng lập tôn giáo”.[6]
Phật giáo đạt tới thời kỳ rực rỡ nhất ở đông bắc thế giới Hy Lạp thực chất là “tôn giáo cao cấp” của Ấn Độ so với các tôn giáo cùng thời khác đang xâm lấn xã hội Hy Lạp. Tôn giáo cá nhân mang nét đặc trưng rõ rệt của phái Đại thừa có nguồn gốc từ đâu? Chất men mới làm thay đổi sâu sắc tinh thần Phật giáo xa lạ với nét đặc trưng bản xứ của triết học Hy Lạp và Ấn Độ. Nó là thành quả của tầng lớp bị trị quốc nội Ấn Độ hay là tia lửa bắt cháy từ ngọn lửa Syria đã nhen nhóm đạo thờ lửa và đạo Do Thái? Có thể viện dẫn bằng chứng biện hộ cho một trong hai quan điểm trên, song chúng ta không thật sự rơi vào thế phải chọn lựa giữa chúng. Chỉ cần nói rằng khi Phật giáo ra đời, lịch sử tôn giáo trong xã hội Ấn Độ đi theo con đường giống như xã hội Syria.
Vì “tôn giáo cao cấp” đi ra từ trong lòng xã hội để cảm hóa thế giới bị Hy Lạp hóa, phái Đại thừa rõ ràng là bản sao của đạo Cơ Đốc ở Ấn Độ; và với điểm mấu chốt này trong tay, chúng ta dễ dàng nhận diện bản sao của những tia sáng khác được lăng kính Hy Lạp làm nhiễu xạ ánh sáng tôn giáo Syria tới. Nếu xem xét “hóa thạch” của nhà nước tiền Hy Lạp của xã hội Syria đã tồn tại trong người dân Do Thái và tín đồ đạo thờ lửa, chúng ta sẽ tìm thấy điều muốn tìm trong Phật giáo theo phái Đại thừa ngày nay ở Sri-Lanka, Miến Điện, Thái Lan, và Campuchia; cũng như xã hội Syria phải chờ đạo Hồi xuất hiện để đặt tay vào tôn giáo có khả năng làm công cụ trục xuất hữu hiệu nền văn hóa Hy Lạp, chúng ta thấy tinh thần Hy Lạp bị trục xuất hoàn toàn khỏi xã hội Ấn Độ nhờ vào phong trào tôn giáo chống Hy Lạp của Ấn Độ giáo hậu Phật giáo.
Lịch sử phái Đại thừa tương ứng với đạo Cơ Đốc ở chỗ cả hai đều tìm địa bàn hoạt động trong thế giới Hy Lạp, thay vì thay đổi tôn giáo của xã hội không phải Hy Lạp. Tuy nhiên, trong lịch sử phái Đại thừa còn tiếp một chương không song song với lịch sử Cơ Đốc giáo. Đạo Cơ Đốc sau khi có chỗ trong xã hội Hy Lạp suy tàn vẫn tồn tại để cung cấp tôn giáo cho hai nền văn minh mới, nền văn minh của chúng ta và nền văn minh Cơ Đốc giáo Chính thống đã sáp nhập vào Hy Lạp. Trái lại, phái Đại thừa đã vượt ra khỏi vương quốc Bactria qua các vùng cao nguyên Trung Á đến thế giới Sinic suy tàn, và trở thành giáo hội trung ương của tầng lớp bị trị quốc nội Trung Hoa.
Di sản của tầng lớp bị trị quốc nội Sumer
Hai xã hội, Babylon và Hittite, sáp nhập vào xã hội Sumer, nhưng trong trường hợp này, chúng ta không thể khám phá bất cứ giáo hội trung ương nào sản sinh trong lòng tầng lớp bị trị quốc nội Sumer và truyền lại cho các nền văn minh được sáp nhập. Xã hội Babylon dường như đã kế tục tôn giáo của thiểu số thống trị Sumer, và tôn giáo Hittite có lẽ cũng bắt nguồn từ đó. Dẫu vậy, chúng ta biết rất ít về lịch sử tôn giáo của thế giới Sumer. Chúng ta chỉ có thể nói rằng nếu tục thờ thần Tammuz và thần Ishtar thật sự là của tầng lớp bị trị quốc nội Sumer, thì hành động sáng tạo này đã sớm thất bại trong chính xã hội Sumer, và chỉ đơm hoa kết trái ở nơi khác.
Các nam thần và nữ thần Sumer có những sự nghiệp và chuyến đi trước mắt họ, và một nét lý thú trong lịch sử về các vị thần là thay đổi tầm quan trọng tương đối. Trong phiên bản thờ song thần của người Hittite, hình nữ thần có vẻ nhỏ lại và làm lu mờ hình thần đóng vai con trai hay người tình đối với nàng. Đứng bên Cybele-Ishtar, Attis-Tammuz bị thu nhỏ tới mức tầm thường; và trong điện thờ đứng tách biệt theo hướng Tây Bắc, Nerthus-Ishtar dường như đứng uy nghi một mình. Nhưng trong chuyến hành trình hướng Tây Nam đến Syria và Ai Cập của song thần, Tammuz ngày càng quan trọng, còn Ishtar lu mờ dần. Người Atargati thờ từ thần Bambyce đến thần Ascalon dường như đã là Ishtar đòi được tôn trọng do đóng vai bạn tình của Attis. Ở Ai Cập, Osiris-Tammuz làm lu mờ vợ kiêm em gái Isis, đến phiên Isis làm lu mờ Osiris khi liên tiếp giành được quyền lực trong trái tim của tầng lớp bị trị quốc nội Hy Lạp. Phiên bản về lòng trung thành của người Sumer (trong đó thần hấp hối, chứ không phải nữ thần khóc thương, là hình ảnh tập trung vào lòng mộ đạo của người thờ cúng) dường như đã truyền bá đến các tộc người rợ ở Scandinavia, nơi Balder-Tammuz được mệnh danh là “chúa tể”, còn Nanna vẫn giữ tên riêng của “thánh mẫu” của người Sumer.
(3) TẦNG LỚP BỊ TRỊ QUỐC NỘI CỦA THẾ GIỚI PHƯƠNG TÂY
Liệu những hiện tượng đặc trưng có tái diễn trong lịch sử phương Tây hay không? Khi đi tìm bằng chứng về sự tồn tại của tầng lớp bị trị phương Tây, chúng ta bắt gặp vô số điều đáng hổ thẹn.Xã hội phương Tây đã nhờ đến một trong những nguồn tuyển mộ trên quy mô lớn cho tầng lớp bị trị quốc nội. Nguồn nhân lực của không ít hơn 10 nền văn minh đang sụp đổ bị cưỡng bách tới xã hội phương Tây trong suốt 400 năm qua; quá trình tiêu chuẩn hóa đã làm lu mờ những đặc trưng từng một thời giúp phân biệt dân hỗn tạp với nhau. Xã hội chúng ta không thỏa mãn với việc săn tìm tính “văn minh” cho riêng mình. Nó còn vây bắt gần hết các xã hội nguyên thủy còn sống sót; một số bộ lạc như người Tasmania và hầu hết bộ lạc thổ dân Bắc Mỹ đã diệt vong, trong khi số khác như những người da đen ở châu Phi phải cố xoay xở để tồn tại, và ngăn dòng sông Niger cho chảy vào Hudson và sông Congo cho chảy vào Mississippi – giống như hành động tương tự của con quái vật Tây phương này khi chắn dòng sông Dương Tử cho chảy vào Eo biển Malacca. Nô lệ da đen bị đưa lên tàu sang châu Mỹ, culi người Tamil hay Trung Hoa phải lên tàu đến các bờ biển của Ấn Độ Dương là bản sao của nô lệ đi từ bờ biển Địa Trung Hải đến các nông trại và đồn điền ở Ý vào hai thế kỷ cuối trước CN.
Trong tầng lớp bị trị phương Tây còn một đạo quân người ngoại quốc khác bị mất định hướng tinh thần nhưng không bị đuổi khỏi quê cha đất tổ. Trong cộng đồng đang tìm cách thích ứng với nhịp sống của nền văn minh ngoại quốc, cần một tầng lớp xã hội đóng vai trò như “cái biến áp”; và giới trí thức ra đời – thường rất đột ngột và giả tạo – theo nhu cầu trên. Giới trí thức là tầng lớp sĩ quan liên lạc đã học được các thủ đoạn nhà nghề của nền văn minh xâm lược đến mức cho phép cộng đồng của họ trụ vững trong môi trường xã hội chiều theo áp đặt của nền văn minh xâm lược thì sống, còn theo truyền thống địa phương thì chết.
Những tân binh đầu tiên của giới trí thức này là sĩ quan quân đội và sĩ quan hải quân, người đã học được nhiều mưu chước của xã hội áp bức nhằm cứu nước Nga của Peter Đại đế khỏi gót giày xâm lược của người Thụy Điển, hoặc nước Thổ Nhĩ Kỳ và Nhật Bản bản sau này khỏi quân Nga. Kế đến là các nhà ngoại giao, người đã học được cách điều đình với chính quyền phương Tây. Tiếp đến nữa là các nhà buôn. Và cuối cùng, như là chất men thấm sâu vào đời sống xã hội, giới trí thức hình thành những típ người đặc trưng: thầy giáo học bí quyết giảng dạy các môn học Tây phương, công chức chọn hành nghề công chính theo lối Tây, luật sư kiếm cách áp dụng phiên bản bộ luật Napoleon theo thủ tục tố tụng của Pháp.
Giới trí thức là dấu hiệu chứng tỏ hai nền văn minh đã giao nhau, và nền văn minh này đang bị hút vào tầng lớp bị trị quốc nội của nền văn minh kia. Còn một sự thật khác trong đời sống của giới trí thức là giới trí thức sinh ra trong bất hạnh.
Tầng lớp sĩ quan liên lạc gánh chịu nỗi bất hạnh của con lai bị cả hai gia đình ruồng bỏ. Giới trí thức bị chính người thân ghét bỏ và khinh miệt vì sự tồn tại của họ trên cõi đời là điều sỉ nhục đối với gia đình. Họ khiến gia đình nhớ lại nền văn minh ngoại quốc đáng căm ghét nhưng không sao tránh xa được. Giới trí thức không có tình thương nào để mất nơi quê nhà, và cũng chẳng được danh giá gì khi sang quốc gia khác để học hỏi kiểu cách của họ. Trong những ngày đầu liên kết về mặt lịch sử giữa Ấn Độ và Anh, giới trí thức Ấn giáo là chủ đề nhạo báng của người Anh. Người Ấn Độ càng thạo tiếng Anh bao nhiêu, người Anh càng cười nhạo tính không hợp nhau tinh tế của những lỗi khó tránh len vào bấy nhiêu; và sự chế nhạo như thế mang tính xúc phạm ngay cả với ý tốt. Vì vậy, giới trí thức đi theo định nghĩa tầng lớp bị trị là “nằm trong” hai xã hội; trong chương đầu tiên của lịch sử, họ tự an ủi mình là một bộ phận không thể thiếu được của cả hai xã hội, và thậm chí sự an ủi đó cũng bị cướp đi theo thời gian. Do quy luật cung cầu trong đó sức người là hàng hóa, giới trí thức đến hồi chịu cảnh khủng hoảng thừa và thất nghiệp.
Công ty Đông Ấn thiếu quá nhiều người biết đọc biết viết, hay Mehmed Ali thiếu quá nhiều thợ đóng tàu và công nhân nhà máy người Ai Cập. Bắt tay vào việc nhào nặn vô tội vạ ra giới trí thức bao giờ cũng dễ hơn là chấm dứt quá trình đó; sự khinh miệt trong tầng lớp sĩ quan liên lạc lợi dụng đi lính được bù đắp bằng uy tín trong con mắt của người có đủ tư cách đầu quân. Số ứng cử viên tăng lên vì tỷ lệ với cơ hội tuyển dụng họ, và giới trí thức hạt nhân ban đầu ngày càng bị khỏa lấp bởi tầng lớp trí thức ăn không ngồi rồi và nghèo túng. Đám “cử nhân thi hỏng” tăng cường vào nhóm thư ký người Ấn giáo; giới trí thức ở địa vị xã hội sau chịu nỗi cay đắng nhiều hơn giới trí thức ở địa vị xã hội trước. Thực vậy, nỗi bất hạnh của giới trí thức tăng theo diễn tiến của thời gian. Giới trí thức Nga đã trút hết thù hận chất chứa trong cuộc cách mạng năm 1917. Giới trí thức Bengali bộc lộ phong cách bạo lực cách mạng chưa từng thấy ở các vùng khác trên đất Anh-Ấn, nơi mãi đến 50 hay 100 năm sau giới trí thức địa phương mới ra đời.
Hạt giống xã hội này không giới hạn phát triển trên mảnh đất địa phương. Về sau, nó xuất hiện trong lòng thế giới phương Tây và vùng ven bán Âu hóa. Tầng lớp trung và hạ lưu được học hành đến nơi đến chốn là trụ cột của đảng Phát-xít ở Ý và đảng Quốc xã ở Đức vào thế kỷ 20. Động lực dân chủ đưa Mussolini và Hitler lên nắm quyền phát sinh từ nỗi bực tức của giai cấp trí thức vô sản này.
Thực ra, chúng ta không phải chờ đến thế kỷ này mới thấy giai cấp vô sản quốc nội phương Tây được lấy thêm từ các mô tế bào địa phương của xã hội phương Tây; trong xã hội phương Tây cũng như trong xã hội Hy Lạp, nó không phải là dân ngoại quốc duy nhất bị nô dịch hóa. Chiến tranh tôn giáo vào thế kỷ 16 và 17 đã kéo theo sự trừng phạt hoặc trục xuất tín đồ Công giáo tại mỗi quốc gia có quyền lực rơi vào tay của phe Tin Lành, và trừng phạt hoặc trục xuất tín đồ Tin Lành tại mỗi quốc gia có quyền lực rơi vào tay của phe Công giáo; vì vậy, hậu duệ của người Pháp theo đạo Tin Lành đi tứ tán từ Phổ đến Nam Phi, và hậu duệ của người Ai-len theo đạo Công giáo đi khắp nơi từ Áo đến Chi lê. Sự mệt mỏi và hoài nghi khi chiến tranh tôn giáo kết thúc đã không ngăn được tai họa. Từ cách mạng Pháp trở đi, tình trạng cân bằng chính trị bắt đầu bị khuấy động, và hàng đoàn người đi đày mới bị buộc rời bỏ quê hương: dân di cư quý tộc Pháp năm 1789, dân di cư tự do châu Âu năm 1848, dân di cư Bạch Nga năm 1917, dân di cư dân chủ Ý và Đức năm 1922 và 1933, dân di cư Do Thái và Áo năm 1938, và hàng triệu nạn nhân chiến tranh năm 1939-1945.
Ở Sicily và Ý vào thời kỳ Hy Lạp gặp bất ổn, dân tự do bị buộc rời bỏ nông thôn chạy lên thành phố do cách mạng kinh tế trong chỉ đạo nông nghiệp: thay công việc trồng trọt sinh nhai quy mô nhỏ bằng sản xuất đại trà hàng hóa nông nghiệp nhờ sử dụng nô lệ đồn điền. Trong lịch sử phương Tây cận đại, thảm họa xã hội này đã lặp lại y chang trong cuộc cách mạng kinh tế nông thôn thay đồn điền bông do nô lệ da đen làm việc bằng trồng trọt kết hợp của dân da trắng tự do ở “vành đai bông” thuộc Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Tầng lớp cặn bã da trắng bị giáng xuống hàng giai cấp vô sản mang phẩm chất của tầng lớp cặn bã tự do ở Ý; cuộc cách mạng kinh tế nông thôn ở Bắc Mỹ, cùng với chế độ nô lệ da đen và tình cảnh bần cùng của dân da trắng, chỉ là ứng dụng nhanh không thương xót cuộc cách mạng kinh tế nông thôn trải dài suốt 3 thế kỷ trong lịch sử nước Anh. Nước Anh tuy không đưa ra lao động nô lệ, nhưng họ đã bắt chước người La Mã và chặn trước người quản lý đồn điền và người làm nghề chăn nuôi Mỹ bằng cách thủ tiêu tầng lớp nông dân tự do vì lợi ích kinh tế của chính thể đầu sỏ, biến đất cày thành đồng cỏ và đất công thành đất có rào vây quanh. Tuy nhiên, cuộc cách mạng kinh tế nông thôn phương Tây thời cận đại không phải là nguyên nhân chính khiến dân nông thôn đổ lên thành phố. Động lực chủ yếu là cách mạng công nghiệp nông thôn thay thế lao động thủ công bằng máy hơi nước.
Khi cách mạng công nghiệp nổ ra lần đầu tiên trên đất Anh cách đây khoảng 150 năm, lợi nhuận dường như quá lớn tới mức những người cấp tiến chào đón và tôn sùng sự thay đổi này. Tuy bị chỉ trích là triển khai làm việc nhiều giờ cho thế hệ công nhân nhà máy đầu tiên, kể cả phụ nữ và trẻ em, nhưng những người ca ngợi cách mạng công nghiệp tin tưởng rằng có thể xóa bỏ tệ nạn nhất thời này. Kết quả là lời tiên tri lạc quan này đã trở thành sự thật, song phúc lành của thiên đường nơi hạ giới đang mất đi tác dụng trước sự nguyền rủa khuất sau đánh giá của người lạc quan cũng như kẻ bi quan. Lao động trẻ em được xóa bỏ, lao động phụ nữ giảm đi, giờ làm việc ngắn lại, điều kiện sống và làm việc cải thiện trông thấy. Tuy nhiên, thế giới giàu lên nhờ máy móc công nghiệp bị bóng ma thất nghiệp làm lu mờ. Mỗi khi người vô sản thị thành nhận “của bố thí”, anh ta lại nhớ mình “nằm trong” xã hội.
Chừng đó cũng đủ cho thấy tầng lớp vô sản quốc nội được lấy từ nhiều nguồn trong xã hội phương Tây cận đại. Giờ chúng ta phải đặt câu hỏi là liệu tính bạo lực và ôn hòa có lại xuất hiện trong phản ứng của giai cấp vô sản phương Tây trước thử thách hay không; và nếu bộc lộ cả hai tâm trạng, thì tâm trạng nào đang lấn át.
Tính chiến đấu trong tầng lớp cặn bã của xã hội phương Tây bộc lộ rõ ngay lập tức. Không nhất thiết phải liệt kê những cuộc cách mạng đẫm máu cách đây 150 năm; nhưng khi chúng ta xoay sang tìm kiếm bằng chứng về tinh thần ôn hòa mang tính xây dựng và phản kháng, thì buồn thay, còn lâu mới tìm được dấu vết. Đúng là nhiều người chịu những điều xấu xa – nạn nhân bị khủng bố về tôn giáo hay chính trị, nô lệ châu Phi bị lưu đày, người tù bị lưu đày, giai cấp nông dân bị buộc rời bỏ quê hương – ở thế hệ thứ hai hay thứ ba (nếu không phải ở thế hệ thứ nhất) đã vươn lên trong hoàn cảnh mới. Điều này chứng minh khả năng khôi phục của nền văn minh. Đây là giải pháp cho vấn đề trốn tránh chọn lựa giữa phản ứng bạo lực và ôn hòa bằng cách thoát khỏi chính điều kiện sống vô sản. Khi tìm kiếm những người tiêu biểu cho phản ứng ôn hòa, chúng ta chỉ bắt gặp “tín đồ phái Quaker”, tín đồ thuộc giáo phái rửa tội lại tị nạn ở Moravia, và tín đồ dòng Menno; và ngay cả những loại người này cũng sẽ vuột qua tay chúng ta bởi họ đã thôi làm thành viên của giai cấp vô sản.
Ở thế hệ tín đồ Quaker đầu tiên, tính bạo lực đã gây ra sự trừng phạt tàn ác cho các thành viên của giáo phái ở Anh và Massachusetts. Tuy nhiên, tính bạo lực này đã nhanh chóng được thay bằng tính ôn hòa, và nó trở thành nguyên tắc sống đặc trưng của tín đồ phái Quaker; hội tín đồ Quaker như thể đóng vai trò kinh điển của phái Cơ Đốc giáo nguyen thủy ở thế giới phương Tây. Cho dù chẳng bao giờ tách rời nguyên tắc ôn hòa, song từ lâu tín đồ Quaker đã đi ra khỏi con đường vô sản và là nạn nhân của chính đức tính của mình. Họ giành được thành công về mặt vật chất trong sự thù hận; phần nhiều thành công trong kinh doanh của họ là nhờ những quyết định ghê gớm không phải vì lợi nhuận mà vì mệnh lệnh của lương tâm. Họ không chủ tâm tiến bước tới điện thờ sự thịnh vượng vật chất khi từ dưới quê lên thành phố, không phải vì họ tối mắt trước những món lợi nơi thị thành, mà do bởi đây dường như là phương cách hiển nhiên nhất để hòa giải nỗi bất bình về chuyện đóng thuế thập phân cho Tân giáo với nỗi khó chịu về chuyện chống lại người thu thuế bằng bạo lực. Về sau, khi người ủ rượu bia phái Quaker chuyển sang chế biến cacao do phản đối chất làm say, và chủ hiệu bán lẻ dán giá cố định lên hàng hóa do ngại thay đổi giá lúc mặc cả, họ đã liều vận may cho lòng trung thực của mình. Nhưng trong trường hợp này, họ chỉ chứng minh được chân lý của câu tục ngữ “trung thực là cách xử sự tốt nhất”; và vì lẽ ấy, họ loại lòng trung thực ra khỏi danh sách tôn giáo vô sản. Khác với các ông tổ truyền đạo, họ chẳng bao giờ là người truyền giáo nhiệt thành. Họ vẫn là một hội chọn lọc, và nguyên tắc thôi làm thành viên của hội nếu kết hôn với người ngoài đã giúp giữ vững số lượng thành viên đầy đủ phẩm chất.
Tuy khác với tín đồ phái Quaker về nhiều mặt, nhưng lịch sử của hai nhóm tín đồ thuộc giáo phái rửa tội lại có một nét giống đáng lưu ý. Sau khởi đầu đầy bạo lực, họ theo nguyên tắc ôn hòa, và sớm tách khỏi giai cấp vô sản.
Tầng lớp bị trị quốc nội Trung Hoa đã tìm ra tôn giáo trong phái Đại thừa vốn là biến hóa của triết lý Phật giáo trước đây. Trong chủ nghĩa cộng sản, chúng ta có ví dụ nổi tiếng về triết học phương Tây cận đại đã biến đổi thành tôn giáo vô sản theo con đường bạo lực.
Karl Marx tự xưng mình là học trò của nhà triết học Hegel, và áp dụng phương pháp biện chứng của Hegel vào các hiện tượng kinh tế chính trị ở thời của ông. Tuy nhiên, các yếu tố biến chủ nghĩa cộng sản thành sức mạnh dễ bùng nổ không phải là sáng tạo của Hegel; chúng bắt nguồn từ lòng ngoan đạo của tổ tiên – đạo Cơ Đốc vẫn chảy trong huyết quản của mỗi người dân phương Tây. Và những yếu tố như thế có thể bắt nguồn từ đạo Do Thái, cha đẻ “hóa thạch” của đạo Cơ Đốc đã được cộng đồng người Do Thái bảo tồn và phát huy thông qua mở cửa khu người Do Thái và giải phóng dân Do Thái phương Tây. Marx đặt giai cấp vô sản quốc nội của thế giới phương Tây vào địa vị dân Do Thái, và tưởng tượng vương quốc của Chúa cứu thế là nền chuyên chính vô sản; nhưng đặc trưng nổi bật nhất của sách khải huyền của người Do Thái lại lộ qua bề ngoài sáo mòn.
Tuy nhiên, giai đoạn tôn giáo trong cuộc cách mạng của chủ nghĩa cộng sản có vẻ như chóng tàn. Chủ nghĩa cộng sản dân tộc của Stalin dường như đã đánh bại chủ nghĩa cộng sản thế giới của Trotsky trên chiến trường Nga. Liên xô không còn là xã hội ngoài vòng pháp luật, và trở lại là Đế chế Nga dưới thời Peter hay Nicholas: cường quốc chọn đồng minh và kẻ thù trong dân bất kể những cân nhắc mang tính ý thức hệ. Và nếu nước Nga chuyển sang “phe hữu”, các nước láng giềng chuyển sang “phe hữu”. Chuyện đầu voi đuôi chuột của Đức Quốc xã và phát-xít Ý cho thấy cấu trúc xã hội của tất cả các quốc gia trong tương lai gần rất có thể mang tính dân tộc xã hội chủ nghĩa. Chế độ tư bản và chế độ cộng sản dường như vẫn tiếp tục song hành, và có thể mang tên khác nhau cho cùng một sự vật. Nếu thế, chúng ta phải quyết định chủ nghĩa xã hội đã để mất viễn cảnh làm tôn giáo vô sản mang tính cách mạng: thứ nhất, bị giáng từ phương thuốc trị bách bệnh cho mọi người xuống làm chủ nghĩa dân tộc cục bộ, và thứ hai, nó đồng hóa mình với các nhà nước khác trong thế giới đương thời nhờ xấp xỉ với kiểu tiêu chuẩn mới nhất.
Tuy bằng chứng về giai cấp vô sản quốc nội trong lịch sử thế giới phương Tây cận đại chí ít cũng phong phú bằng lịch sử của nền văn minh khác, song có ít bằng chứng trong lịch sử phương Tây đặt nền móng cho giáo hội trung ương vô sản. Chúng ta sẽ giải thích sự thật này như thế nào?
Chúng ta vừa so sánh nhiều nét tương đương giữa xã hội phương Tây và xã hội Hy Lạp, song có một khác biệt cơ bản. Xã hội Hy Lạp không tiếp quản giáo hội chung từ xã hội Minoan. Tình trạng ngoại giáo mang tính địa phương khiến nó sụp đổ vào thế kỷ 5 trước CN cũng là điều kiện khiến nó ra đời. Thế nhưng ngoại giáo mang tính địa phương chưa chắc là tình trạng đầu tiên, cho dù nó gần là tình trạng hiện tại của nền văn minh chúng ta, có thời tự xưng là Cơ Đốc giáo phương Tây. Vả lại, quá trình bỏ đạo diễn ra rất chậm và gian truân, và chưa chắc chúng ta tiến hành triệt để như ý muốn; suy cho cùng, giũ sạch truyền thống thật chẳng dễ chút nào. Khi Descartes, Voltaire, Marx, Machiavelli, Hobbes, Mussolini, và Hitler cố sức loại Cơ Đốc giáo ra khỏi đời sống phương Tây, chúng ta vẫn nghi ngờ hành động thanh lọc đó chỉ hữu hiệu một phần. Dòng máu Cơ Đốc giáo vẫn chảy trong huyết quản của người phương Tây, và khó có thể thanh lọc tới mức xã hội phương Tây không còn theo tôn giáo nào.
Hơn nữa, trong xã hội chúng ta nơi đâu cũng có yếu tố Cơ Đốc giáo. Thành phần Cơ Đốc giáo trong chủ nghĩa cộng sản dường như có ý vận dụng việc chống Cơ Đốc giáo trong triết học phương Tây cận đại. Các nhà tiên tri chống Âu hóa ôn hòa Tolstoy và Gandhi chẳng bao giờ làm ra vẻ che đậy cảm nghĩ của mình về Cơ Đốc giáo.
Giữa những người bị tước quyền thừa kế và dễ đứng trước thử thách gia nhập vào đội quân vô sản quốc nội phương Tây, xấu số nhất là người da đen châu Phi bị đày sang châu Mỹ làm nô lệ. Chúng ta thấy họ giống như những nô lệ nhập cư từ bờ biển Địa Trung Hải tràn vào La Mã suốt hai thế kỷ cuối trước CN, và nô lệ đồn điền người Phi gốc Mỹ đã đáp lại thách thức khủng khiếp của xã hội bằng phản ứng tôn giáo. Khi so sánh hai giới nô lệ nhập cư, chúng ta chú trọng vào nét tương đồng, nhưng có một khác biệt quan trọng không kém. Nô lệ nhập cư Ai Cập, Syria, và Anatolia tìm nguồn an ủi trong tôn giáo của mình; còn nô lệ người Phi xoay sang tôn giáo cha truyền con nối của chủ nô để tìm nguồn an ủi.
Chúng ta lý giải sự khác biệt này như thế nào? Khác biệt một phần nằm trong lai lịch xã hội của hai giới nô lệ này. Nô lệ đồn điền La Mã phần nhiều lấy từ dân phương Đông có học thức uyên thâm, con cái họ có hy vọng gìn giữ di sản văn hóa của tổ tiên; trong khi đó, đạo ông bà của nô lệ da đen người Phi không còn đủ sức chống chọi lại nền văn minh ưu việt hơn hẳn của chủ nô da trắng. Điều này chỉ mới giải thích một phần sự khác biệt; muốn giải thích trọn vẹn, chúng ta phải xét tới khác biệt về văn hóa giữa hai giới chủ nô.
Nô lệ phương Đông ở La Mã thật sự chẳng còn chỗ nào khác để tìm nguồn an ủi ngoài di sản tôn giáo bản địa của mình, bởi các chủ nô La Mã sống xa rời đời sống tinh thần. Trong trường hợp của họ, người ta sẽ tìm thấy tinh hoa trong di sản của nô lệ, chứ không phải chủ nô; còn ở phương Tây, tài sản tinh thần, của cải vật chất, và quyền lực đều nằm trong tay của thiểu số thống trị trông coi nô lệ.
Tuy nhiên, sở hữu tài sản tinh thần là một chuyện, và truyền bá nó lại là chuyện khác; càng suy xét thấu đáo, chúng ta càng ngạc nhiên khi thấy chủ nô Cơ Đốc giáo đi phát cho nạn nhân ngoại đạo của mình món ăn tinh thần mà họ đã gắng sức dâng cho ma quỷ qua hành động biến đồng loại thành nô lệ. Làm thế nào mà người truyền giáo của chủ nô đánh động được con tim của nô lệ? Sức mạnh tinh thần hẳn đã truyền sức sống cho đạo Cơ Đốc nên nó mới lôi kéo được người theo đạo trong hoàn cảnh như thế. Và vì tôn giáo không có chỗ trú chân trên trái đất ngoại trừ trong tâm trí con người, nên ắt phải có người theo đạo Cơ Đốc trong thế giới không tin vào đạo Cơ Đốc.
Trong chuyện người nô lệ đổi sang tôn giáo của chủ nô, chúng ta thấy sự phân hóa tương tự giữa giai cấp vô sản quốc nội và thiểu số thống trị đang được đạo Cơ Đốc hàn gắn trong xã hội phương Tây; và sự cải đạo của người da đen gốc Mỹ chỉ là một trong số nhiều chiến thắng của hoạt động truyền giáo Cơ Đốc ngày nay. Ở thế hệ thoát khỏi chiến tranh, dòng nhựa sống lại tuôn chảy qua những người theo đạo Cơ Đốc phương Tây; hình ảnh này cho thấy chương tiếp theo trong lịch sử phương Tây có lẽ không theo lối mòn của chương cuối trong lịch sử Hy Lạp. Thay vì chứng kiến tôn giáo mới đâm chồi nảy lộc từ mảnh đất cày của giai cấp vô sản quốc nội để nó kế thừa tàn dư của nền văn minh đã sụp đổ và đến hồi tan rã, có lẽ chúng ta sống được đến ngày xem nền văn minh không tự thoát khỏi gục ngã do mắc kẹt vào vòng tay của đạo ông bà mà nó hoài công đẩy ra. Trong biến cố đó, nền văn minh đang lung lay chống đỡ nổi sự say sưa chiến thắng trước tạo hóa có thể được hoãn bản án bước chân lên con đường κόρος – ὕβρις – ἄτη; hoặc dịch ngôn ngữ Hy Lạp này sang hình tượng Cơ Đốc giáo, nước Cơ Đốc giáo phương Tây bỏ đạo có thể nhận được ơn tái sinh dưới hình thức nền cộng hòa Cơ Đốc giáo lý tưởng hơn phấn đấu trước đây.
Có thể tái sinh tôn giáo được không? Nếu đặt ra câu hỏi của Nicodemus: “Liệu một ‘con người’ có thể lần thứ hai chui vào bụng mẹ để được sinh ra hay không?”, chúng ta sẽ nhận được câu trả lời của thầy của cậu: “Chính thế, chính thế, ta cho con biết, trừ phi con người được sinh ra từ nước và linh hồn, bằng không anh ta không thể được vào nước Chúa Trời”.[7]
(4) TẦNG LỚP BỊ TRỊ NGOẠI QUỐC
Tầng lớp bị trị ngoại quốc ra đời do hành động ly khai khỏi thiểu số thống trị trong nền văn minh đã sụp đổ, và phân hóa dẫn đến ly khai; trong khi tầng lớp bị trị quốc nội vẫn tiếp tục sống chung với thiểu số thống trị, thì tầng lớp bị trị ngoại quốc xa lánh khỏi thiểu số thống trị.Biên giới là dấu hiệu cho thấy ly khai; miễn là nền văn minh vẫn phát triển, nó không có biên giới cứng nhắc, ngoại trừ trên mặt trận xung đột với nền văn minh khác. Xung đột giữa hai hay nhiều nền văn minh sinh ra hiện tượng mà chúng ta sẽ có dịp nghiên cứu trong phần sau;[8] hiện tại, chúng ta chỉ lưu tâm đến tình huống trong đó nền văn minh chẳng dành sự khai hóa nào khác ngoài lối sống xã hội của loài người nguyên thủy cho nước láng giềng. Nếu nền văn minh đang phát triển, rất khó phân định biên giới. Giả sử đặt mình vào trung tâm phát triển của nền văn minh và tiếp tục đi ra cho đến khi thấy mình nằm trong môi trường hoàn toàn nguyên thủy, chúng ta khó lòng ngừng lại nói: “Nền văn minh kết thúc ở đây và chúng ta vào thế giới nguyên thủy”.
Khi thiểu số sáng tạo phát huy thành công vai trò của mình trong đời sống của nền văn minh đang phát triển, và tia lửa mà họ nhóm lên “tỏa sáng đến hết các nơi trong nhà”, ánh sáng đó không bị các bức tường nhà chặn lại, sự thật là không có bức tường hay ánh sáng nào che mắt được người ngoài. Theo bản chất của sự vật, ánh sáng chiếu xa tới điểm ảo. Những thay đổi này cực nhỏ, và không thể phân định tia sáng le lói cuối cùng của thời kỳ xa xưa tắt dần đi tại ranh giới nào. Dẫu các nền văn minh là thành tựu tương đối mới của loài người, nhưng sức mang của nền văn minh đang phát triển quá lớn tới mức từ lâu chúng đã lan khắp xã hội nguyên thủy. Đi bất cứ đâu, chúng ta cũng không thể khám phá ra xã hội nguyên thủy nào thoát hẳn khỏi ảnh hưởng của nền văn minh khác. Ví dụ, năm 1935, người ta phát hiện ra xã hội chưa ai biết tới ở Papua,[9] xã hội này nắm giữ kỹ thuật canh tác nông nghiệp vốn xưa kia thuộc sở hữu của nền văn minh vô danh nào đó.
Ảnh hưởng lan tràn của các nền văn minh còn lại của thế giới nguyên thủy làm cho chúng ta phải chú ý khi đánh giá hiện tượng này dưới góc độ xã hội nguyên thủy. Còn như xem xét nó dưới góc độ nền văn minh, chúng ta sẽ chẳng mấy ấn tượng trước sức suy yếu của ảnh hưởng này. Ngay sau khi phát hiện ra ảnh hưởng của nghệ thuật Hy Lạp ở nước Anh vào thế kỷ cuối trước CN hoặc trên quan tài bằng đá được chạm khắc ở Afghanistan vào thế kỷ đầu sau CN, chúng ta thấy đồng tiền của người Anh nom như bức tranh biếm họa gốc Macedonia và quan tài bằng đá của người Afghanistan là sản phẩm kém chất lượng của “ngành đồ họa phục vụ thương mại”.
Sức mê hoặc đã khơi dậy tài bắt chước; trong quá trình phát triển của nền văn minh, sức mê hoặc được thiểu số sáng tạo vận dụng đã giữ cho căn nhà khỏi bị những người láng giềng tấn công và chia cắt – những người láng giềng này là xã hội nguyên thủy. Ở bất cứ nơi nào nền văn minh đang phát triển tiếp xúc với xã hội nguyên thủy, thiểu số sáng tạo sẽ thu hút tài bắt chước của mình và của đa số không sáng tạo. Nhưng nếu đây là mối quan hệ bình thường giữa nền văn minh và xã hội nguyên thủy, thì miễn là nền văn minh đang phát triển, sự thay đổi sâu sắc sẽ bắt đầu khi nền văn minh sụp đổ và tan rã. Thiểu số sáng tạo từng giành được lòng trung thành tự nguyện nhờ tài mê hoặc được thay bằng thiểu số thống trị chuyên dựa vào vũ lực. Những bộ tộc nguyên thủy láng giềng không còn bị mê hoặc nữa; những môn đệ hèn kém của nền văn minh đang phát triển từ bỏ địa vị môn đệ và trở thành tầng lớp bị trị ngoại quốc. Dẫu “nằm trong” nền văn minh giờ đây bị sụp đổ, nhưng họ không còn “thuộc về” nó nữa.[10]
Có thể phân tích sự tỏa chiếu của nền văn minh thành ba yếu tố – kinh tế, chính trị, và văn hóa – và với điều kiện xã hội đang trong giai đoạn phát triển, cả ba yếu tố này dường như tỏa chiếu với sức mạnh như nhau. Tuy nhiên, ngay khi nền văn minh ngừng phát triển, sức mê hoặc về văn hóa cũng bay đi. Sức tỏa chiếu về kinh tế và chính trị có thể tiếp tục tăng nhanh hơn bao giờ hết, sự mở mang của các tôn giáo giả danh là đặc trưng nổi bật của nền văn minh bị sụp đổ. Nhưng do yếu tố văn hóa là cốt lõi của nền văn minh, còn yếu tố kinh tế chính trị chỉ là biểu hiện tương đối tầm thường của cuộc sống, nên chiến thắng ngoạn mục nhất về mặt kinh tế chính trị mang tính nhất thời không trọn vẹn.
Nếu xem xét sự thay đổi này theo lập trường của các bộ tộc nguyên thủy, chúng ta sẽ nói rằng họ thôi bắt chước nghệ thuật gìn giữ hòa bình của nền văn minh bị sụp đổ, song vẫn tiếp tục bắt chước những cải tiến trong kỹ nghệ, quân sự, và chính trị, không phải vì muốn vươn lên vị thế độc tôn – dẫu từ lâu là khát vọng của họ – mà là nhằm tự bảo vệ mình hiệu quả hơn trước vũ lực đến nay đã lộ rõ.
Trong nghiên cứu nói trên về kinh nghiệm và phản ứng của tầng lớp bị trị ngoại quốc, chúng ta thấy con đường bạo lực đã cuốn hút họ như thế nào, và họ cũng gieo vạ cho bản thân ra sao. Những kẻ phản bội khó tránh vong mạng dưới gươm đao; chỉ khi theo chủ trương ôn hòa, tầng lớp bị trị quốc nội mới có cơ hội bắt giữ kẻ đi chinh phục. Nếu chọn phản ứng bằng bạo lực, tầng lớp bị trị ngoại quốc lại không ở vào thế bất lợi như thế. Trong khi toàn bộ tầng lớp bị trị quốc nội nằm trong tay của thiểu số thống trị, thì tầng lớp bị trị nước ngoài rất có thể nằm ngoài phạm vi trấn áp của thiểu số thống trị. Trong cuộc giao tranh này, nền văn minh bị sụp đổ bảo đảm dùng đến vũ lực. Những thành viên ở gần của tầng lớp bị trị ngoại quốc rất có thể bị chế ngự và bổ sung vào tầng lớp bị trị quốc nội, song sẽ đến mức chiều dài giao thông đối trọng với tính vượt trội về sức mạnh quân sự của thiểu số thống trị.
Đến giai đoạn này sẽ kéo theo sự thay đổi trọn vẹn trong bản chất tiếp xúc giữa nền văn minh và người rợ láng giềng. Với điều kiện là nền văn minh đang phát triển, nội thổ sẽ được vùng đệm rộng lớn che chở. Ngược lại, khi nền văn minh sụp đổ và rơi vào phân hóa, và khi mối thù địch giữa thiểu số thống trị với tầng lớp bị trị ngoại quốc đã lắng xuống thành chiến tranh hầm hào, chúng ta thấy vùng đệm biến mất. Chuyển tiếp về mặt địa lý từ văn minh sang tình trạng man rợ giờ đây không còn từ từ nữa mà rất đột ngột. Vùng đệm được thay bằng chiến tuyến. Qua chiến tuyến này, thiểu số thống trị và tầng lớp bị trị ngoại quốc đối đầu với nhau bằng vũ lực; và chiến tuyến này là rào chắn mọi trao đổi mang tính xã hội ngoại trừ kỹ thuật quân sự – hàng hóa trao đổi dành cho chiến tranh chứ không phải dành cho hòa bình giữa người cho và người nhận.
Hiện tượng xã hội đi theo sau khi cuộc chiến này lắng dịu dọc chiến tuyến sẽ còn thu hút sự chú ý của chúng ta.[11] Những lý lẽ trên cũng đủ cho thấy cán cân lực lượng chắc chắn nghiêng theo hướng có lợi cho người rợ.
Trường hợp của Hy Lạp
Giai đoạn phát triển của lịch sử Hy Lạp là minh họa phong phú về vùng đệm bao bọc nội thổ của nền văn minh đang phát triển mạnh. Về phía lục địa châu Âu, tinh hoa của thần Hellas được che chở đến Thessaly và Aetolia, đến phiên những vùng này được Macedonia và Epirus che chở khỏi tình trạng man rợ của Thrace và Illyria. Về phía Tiểu Á, Caria, Lydia, và Phrygia đại diện cho những vùng mang nét Hy Lạp giảm dần ở nội địa của các thành phố Hy Lạp dọc bờ biển châu Á. Ở biên giới châu Á này, chúng ta thấy văn hóa Hy Lạp hớp hồn người rợ xâm lược ngay từ lần đầu tiên. Sức ảnh hưởng này mạnh tới mức xung đột giữa người thân Hy Lạp và người chống Hy Lạp được đưa lên hàng đầu trên chính trường Lydia; và cho dù đánh bại Pantaleo (người ủng hộ Hy Lạp và khao khát lên làm vua Lydia), Croesus (người theo phe chống Hy Lạp) vẫn quá bất lực trước trào lưu thân Hy Lạp tới mức ông nổi tiếng là thần bảo hộ của các đền thờ Hy Lạp.
Ngay cả trong nội địa ngoại quốc, các mối quan hệ hòa bình và chuyển tiếp dần hình như đã thành quy luật. Văn hóa Hy Lạp lan nhanh ở nội địa Magna Graecia thuộc Ý.
Ở ven rìa thế giới Hy Lạp đang trong giai đoạn phát triển, chúng ta dường như thấy hình bóng Orpheus đang làm say mê người rợ, và thậm chí xui khiến họ dạo lại khúc nhạc mê hồn của ông trên nhạc cụ thô sơ đến tai các bộ tộc nguyên thủy hơn nữa. Tuy nhiên, hình ảnh bình dị này biến đi trong nháy mắt khi nền văn minh Hy Lạp sụp đổ. Vì cung đàn lỗi nhịp, người nghe dường như giật mình thức tỉnh và trở lại bản tính hoang dã tự nhiên, giờ đây họ lao mình vào các kỵ binh lộ diện sau lớp vỏ hiền lành.
Tầng lớp bị trị ngoại quốc phản ứng rất dữ dội và hiệu quả trước sự sụp đổ của nền văn minh Hy Lạp ở Magna Graecia, nơi người Bruttia và Lucania bắt đầu đánh chiếm hết thành phố Hy Lạp này đến thành phố Hy Lạp khác. Vài người sống sót trong các cộng đồng của Magna Graecia kêu gọi các tướng lĩnh đánh thuê của mẫu quốc cứu họ khỏi bị đẩy xuống biển. Và sự tăng viện được chăng hay chớ này vô ích tới mức người rợ đã tràn qua eo biển Messina trước khi kết thúc bất ngờ nhờ sự can thiệp của người bà con La Mã của người Osci. Quân La Mã đã giải cứu Magna Graecia cùng toàn bộ bán đảo Ý bằng cách tấn công sau lưng người Osci và áp đặt hòa bình chung lên người rợ Ý cũng như người Hy Lạp gốc Ý.
Trận tuyến giữa văn hóa Hy Lạp và tình trạng man rợ bị xóa sạch; về sau, những thắng lợi liên tiếp của quân La Mã đã mở rộng lãnh địa của thiểu số thống trị Hy Lạp đến tận lục địa châu Âu và Tây Bắc Phi. Tuy nhiên, bành trường quân sự đã không phá bỏ được trận tuyến chống tình trạng man rợ, trái lại còn đẩy chúng đi xa hơn. Chúng ổn định trong suốt mấy thế kỷ; nhưng xã hội không ngừng tan rã cho đến khi người rợ tháo cũi xổ lồng.
Trong phản ứng của tầng lớp bị trị ngoại quốc trước sức ép của thiểu số thống trị Hy Lạp, liệu chúng ta có phân biệt được dấu hiệu phản ứng ôn hòa và phản ứng bạo lực; và công nhận tầng lớp bị trị ngoại quốc là có hoạt động sáng tạo hay không.
Trong trường hợp của Hy Lạp, ban đầu câu trả lời dường như phải là phủ định. Chúng ta có thể nhận xét người rợ chống Hy Lạp theo nhiều quan điểm và cách nhìn. Là Ariovistus, anh ta bị Caesar loại ra khỏi chiến trường; là Arminius, anh ta tự mình chống lại Augustus; là Odavacer, anh ta trả thù Romulus Augustuslus. Nhưng trong chiến tranh, có ba chọn lựa loại trừ lẫn nhau: thất bại, bất phân thắng bại, và chiến thắng; và trong mỗi chọn lựa, bạo lực ngự trị và tính sáng tạo không được chuộng. Tầng lớp bị trị quốc nội cũng chọn bạo lực trong phản ứng ban đầu, còn tính ôn hòa thường đòi hỏi thời gian và nỗ lực khó nhọc mới phát huy được uy lực.
Về vấn đề ôn hòa, chúng ta có thể cảm nhận mực độ khác biệt nhất định trong tính hung bạo của các tộc người rợ. Năm 410 sau CN, Visigoth Alaric cướp phá thành La Mã ít tàn nhẫn hơn kẻ phá hoại các công trình văn hóa vào năm 455. Tính ôn hòa của Alaric đã được thánh Augustine kể lại:
“Hành động tàn bạo của người rợ này thể hiện quá nhẹ trong biến cố chỉ định nhà thờ cung cấp phòng rộng làm nơi ẩn nấp và ra lệnh tại chốn tôn nghiêm này là mọi người không được để gươm giáo tác động và đem tù nhân đi. Trong thực tế, nhiều tù nhân đã được kẻ thù mềm lòng đưa tới nhà thờ để thả tự do, trong khi kẻ thù nhẫn tâm không lôi tù nhân nào ra để bắt làm nô lệ”.[12]
Đoạn văn trên là bằng chứng về sự thay đổi từ bạo lực sang ôn hòa trong bản sắc của tầng lớp bị trị ngoại quốc Hy Lạp, và dưới ánh sáng của điều này, chúng ta có thể nhận ra dấu hiệu của tính sáng tạo trong tâm hồn của người rợ.
Trên mặt trận châu Âu, người rợ xâm lược thuộc thế hệ đó là giáo đồ theo phái Arianism, và dù ban đầu đổi sang phái Arianism thay vì Công giáo là kết quả của sự tình cờ, nhưng lòng trung thành sau này của họ vào phái Arianism là kết quả của sở thích có chủ tâm. Từ đó trở đi, phái Arianism là biểu hiện của sự phân biệt xã hội với dân bị chinh phục. Phái Arianism của đa số nhà nước Giéc-manh thuộc Đế chế La Mã đã kiên gan bám trụ suốt thời gian dài trong thời kỳ không vua, 375-675 sau CN. Giáo hoàng Gregory vĩ đại (590-604 sau CN) được xem là người sáng lập ra nền văn minh mới của người theo đạo Cơ Đốc phương Tây, và góp phần làm cho nữ hoàng Lombard, Theodolinda, theo đạo Công giáo. Người Frank chuyển thẳng từ ngoại giáo sang Công giáo, chọn lựa giúp họ tồn tại qua thời kỳ không vua, và xây dựng nhà nước trở thành nền móng chính trị cho nền văn minh mới.
Tuy phái Arianism trở thành biểu hiện phân biệt của các tộc người rợ, nhưng những người rợ khác lại thể hiện tính độc đáo nào đó trong đời sống tôn giáo của mình. Ở biên giới đảo Anh, những người rợ đổi sang đạo Công giáo đã rập khuôn lại đạo Công giáo cho phù hợp với di sản của mình, và ở biên giới hướng về địa phận Ả Rập của thảo nguyên Afrasian, người rợ thể hiện tính độc đáo ở mức độ cao hơn. Trong tinh thần sáng tạo của Muhammad, đạo Do Thái và đạo Cơ Đốc chuyển hóa thành sức mạnh tinh thần trong tôn giáo cao siêu mới của dân theo đạo Hồi.
Đó không phải là những phản ứng tôn giáo đầu tiên của các bộ tộc nguyên thủy. Tôn giáo nguyên thủy thực chất là tín ngưỡng phồn thực dưới lốt vỏ này hay lốt vỏ khác. Cộng đồng nguyên thủy chủ yếu tôn thờ khả năng sinh sản, thể hiện trong sinh con đẻ cái và sản xuất hoa màu. Tôn thờ sức mạnh hủy diệt xếp vào thứ yếu hoặc không có. Nhưng vì tôn giáo của người nguyên thủy luôn phản ánh trung thực hoàn cảnh xã hội, nên cách mạng tôn giáo tất yếu xảy ra khi đời sống xã hội bị xáo trộn dữ dội dưới tác động của xã hội bên ngoài vừa gần gũi vừa thù địch; và đây là diễn biến khi cộng đồng nguyên thủy không còn thấy hình bóng Orpheus với tiếng đàn mê ly mà thay vào đó là sự đối chọi lỗ mãng với mối thù địch của thiểu số thống trị thuộc nền văn minh vừa sụp đổ.
Trong trường hợp này, cộng đồng nguyên thủy biến thành một bộ phận của tầng lớp bị trị ngoại quốc, và trong hoàn cảnh đó có sự nghịch chuyển tầm quan trọng tương đối giữa tín ngưỡng phồn thực và hủy diệt trong đời sống cộng đồng người rợ. Giờ đây, chiến tranh trở thành công việc đầy hấp dẫn của cộng đồng; và khi chiến tranh sinh lợi, thì làm sao nữ thần ái tình có thể hy vọng chống đỡ nổi thần chiến tranh? Chúng ta đã bắt gặp tầng lớp bị trị ngoại quốc Achaean tôn thờ những thần thánh thuộc dòng giống man rợ trong tất cả các vị thần trên núi Olympus. Trước khi đổi sang phái Arianism hay Công giáo, người rợ Giéc-manh bên ngoài biên giới châu Âu của Đế chế La Mã cũng thờ phụng các vị thần giống thế.
“Tôn giáo cao siêu” là khám phá vẻ vang của tầng lớp bị trị quốc nội, và gắn liền với hoạt động sáng tạo trong lĩnh vực nghệ thuật. “Tôn giáo thấp kém” của tầng lớp bị trị ngoại quốc có thể hiện là thành quả nghệ thuật tương ứng hay không?
Câu trả lời chắc chắn là một lời khẳng định; ngay khi hình dung các vị thần trên núi Olympus, chúng ta sẽ thấy họ bởi họ được miêu tả sinh động trong thiên anh hùng ca của Homer. Thiên sử thi này gắn liền với tôn giáo. Trong thực tế, sử thi là sản phẩm đặc thù nhất về những phản ứng của tầng lớp bị trị ngoại quốc. Không có thiên sử thi của nền văn minh nào bi tráng bằng của Homer.
(5) TẦNG LỚP BỊ TRỊ BÊN NGOÀI CỦA THẾ GIỚI PHƯƠNG TÂY
Khi chuyển sang lịch sử quan hệ giữa thế giới phương Tây của chúng ta với các xã hội nguyên thủy, chúng ta có thể nhận ra một thời kỳ đầu, khi, tương tự như xã hội Hy Lạp cổ trong giai đoạn phát triển, Cơ Đốc Tây phương lôi kéo được nhiều tín đồ nhờ vào sức quyến rũ của nó. Dấu hiệu rõ ràng nhất của những cuộc cải đạo thời kỳ đầu này là sự đầu hàng của các thành viên của nền văn minh Scandinavia yểu mệnh, những người cuối cùng đã hoàn toàn bị xóa sổ – ở cái nôi nguyên thủy của họ tại vùng viễn bắc cũng như ở những vùng định cư xa xôi thuộc Iceland, và bị cầm tù trên đất của người Cơ Đốc ở Danelaw và Normandy – trước sức mạnh tâm linh của nền văn minh mà họ đã từng vùi dập bằng vũ lực. Cuộc cải đạo của người du mục Magyar và “người rừng” Ba Lan cũng mang tính tự nguyện, mặc dù giai đoạn bành trướng đầu tiên của nền văn minh Tây phương còn được đánh dấu bởi những hành động xâm lược vượt xa những cuộc chinh phục và trục xuất các nhóm người nguyên thủy láng giềng vốn được coi là cốt lõi của thời kỳ đầu nền văn minh của người Hy Lạp. Chúng ta có các cuộc Thập tự chinh của Charlemagne chống lại người Saxon, và vào hai thế kỷ sau, là những cuộc Thập tự chinh của người Saxon chống lại người Slav ở khu vực giữa sông Elbe và sông Oder; và những hành động tàn bạo này lại được tái hiện với một tầm cỡ king khủng hơn, qua sự tuyệt diệt của người Phổ phía trên sông Vistula vào các thế kỷ 13 và 14, dưới tay các hiệp sĩ Teutonic.Câu chuyện kể trên cũng được lặp lại ở vùng biên giới Tây Bắc của nền văn minh Cơ Đốc. Chương đầu tiên là cuộc cải đạo hòa bình cho người Anh của một nhóm truyền giáo đến từ Rome, nhưng tiếp ngay sau đó là sự áp bức những người Cơ Đốc Viễn Tây bằng một loạt động thái, mở đầu là quyết định của Hội đồng tôn giáo Whitby năm 664 sau C.N., và đỉnh cao là cuộc xâm lược vũ trang xứ Ireland của vua Henry II của nước Anh, với sự chấp thuận của Giáo hoàng vào năm 1171. Và đây vẫn chưa phải là đoạn kết của câu chuyện. Thói quen “khủng bố”, vốn đã tiêm nhiễm vào người Anh từ khi họ gây hấn với thành phần còn lại của vành đai Celtic ở cao nguyên Scotland và vùng đầm lầy Ireland, đã được đem theo qua Đại Tây Dương và áp dụng với các thổ dân Bắc Mỹ.
Trong cuộc bành trướng của nền văn minh Tây phương của chúng ta trên khắp hành tinh trong những thế kỷ gần đây, sức thúc đẩy của sự mở rộng cơ thể xã hội đã trở nên quá mạnh mẽ, và sự chênh lệch về tài nguyên giữa nó với các xã hội địch thủ nguyên thủy là cực lớn, nên sự vận động này sẽ không thể bị chặn đứng cho tới khi nào nó vươn tới, không phải là một trạm dừng bất ổn định, mà là một ga cuối dưới hình thức một ranh giới tự nhiên. Trong cuộc tấn công tập hậu của xã hội Tây phương vào các xã hội nguyên thủy trên phạm vi toàn thế giới này, những hành động hủy diệt, trục xuất, hay nô dịch hóa đã trở thành quy luật, và vận động cải đạo chỉ là một ngoại lệ. Thật vậy, chúng ta có thể đếm trên đầu ngón tay những xã hội nguyên thủy đã được xã hội phương Tây hiện đại cho phép hội nhập. Đó là những người sống ở vùng cao nguyên Scotland, một trong những dân tộc “người rợ” hoang dã hiếm hoi được lưu truyền vào thế giới Tây phương hiện đại; đó là người Maori ở New Zealand; và người Araucania sống trong vùng nội địa “man rợ” của tỉnh Chile thuộc chính quyền trung ương Andees, những đối tượng mà người Tây Ban Nha phải xử lý từ sau cuộc chinh phạt Đế chế Inca.
Trường hợp điển hình nhất là lịch sử hội nhập của người Scotland cao nguyên sau khi những người rợ da trắng này thất bại trong nỗ lực cuối cùng chống lại những người Jacobite vào năm 1745; vì việc lấp hố sâu ngăn cách về mặt xã hội giữa một tiến sĩ Johnston hoặc một nhà văn Horace Walpole với những chiến binh rợ đã từng đưa hoàng tử Charlie đến Derby có lẽ cũng khó khăn không kém so với hố sâu ngăn cách giữa những người châu Âu định cư ở New Zealand hoặc Chile với người Maori hay Araucania. Ngày nay, cháu chắt của các chiến binh “lông lá” của Hoàng tử Charlie xưa kia rõ ràng tuân theo cùng một chuẩn mực xã hội với các hậu duệ của những người Scotland đồng bằng và người Anh “đội tóc giả và đánh phấn”, những người đã dành thắng lợi ở vòng chung kết của cuộc xung đột mới chỉ kết thúc cách đây 200 năm; đến nỗi những ký ức căn bản nhất về cuộc xung đột cũng đã bị sửa đổi trong các câu chuyện thần thoại. Người Scot gần như đã thuyết phục được người Anh, nếu không phải là chính bản thân họ, tin rằng vải sọc vuông của vùng cao nguyên – các công dân Edinburg vào năm 1700 sau CN coi nó không khác gì chiếc mão kết bằng lông chim trên đầu các thủ lĩnh da đỏ trong mắt các công dân Boston – là quốc phục của toàn bộ xứ Scotland; và những người làm bánh kẹo vùng đồng bằng ngày nay đang bày bán “kẹo cứng Edinburgh” trong những chiếc hộp bọc vải sọc vuông.
Việc những người rợ kiên cường như vậy tồn tại trong thế giới Tây phương ngày nay được coi là di sản của các nền văn minh ngoài Tây phương chưa bị hấp thu hoàn toàn vào xã hội này. Trong số đó, vùng biên giới tây bắc Ấn Độ mang một tầm quan trọng và có sức thu hút cực kỳ đối với dân chúng của xứ đạo Tây phương đã gánh vác trách nhiệm cung cấp chính quyền trung ương cho nền văn minh Ấn giáo đang tan rã.
Trong thời kỳ rối ren của nền văn minh Ấn giáo (khoảng 1175-1575 sau CN), đường biên giới này đã bị thủ lĩnh của các đoàn quân cướp bóc người Thổ Nhĩ Kỳ và Iran vượt qua hết lần này đến lần khác. Nó được hàn kín lại một thời gian nhờ sự thành lập chính quyền trung ương của thế giới Ấn giáo đại diện bởi Đế chế Mughal. Đế chế này tan rã sớm vào đầu thế kỷ 18 sau CN, và khi đó, những người rợ tràn vào – để tranh dành quyền sở hữu cái xác của xã hội cũ với người Maratha, những người đóng vai chính trong phản ứng quân sự chống lại một chính quyền trung ương ngoại xâm của nền văn minh Ấn giáo – là người Afghanistan và người Rohilla thuộc Đông Iran; đến khi công trình của Akbar được tái hiện dưới bàn tay của những người ngoại bang khác và chính quyền trung ương của nền văn minh Ấn giáo được tái lập dưới hình hài chính quyền đô hộ Anh quốc, vùng biên giới Tây Bắc này vẫn tỏ ra là lá chắn hữu hiệu nhất mà những người Anh xây dựng đế chế ở Ấn Độ phải vượt qua. Nhiều chính sách biên giới khác nhau đã được đem ra áp dụng, song đều không mang lại kết quả như ý muốn.
Chọn lựa đầu tiên của những người Anh xây dựng Đế chế là chinh phục và thôn tính ngay lập tức toàn bộ cửa ngõ Đông Iran của thế giới Ấn giáo cho tới đường ranh giới xa nhất của Đế chế Mughal, nơi nó tiếp giáp với các chính quyền thừa kế Uzbeg của nó ở lưu vực Oxus-Jaxartes và với Đế chế Safawī ở phía Tây Iran. Những cuộc thăm dò đầy mạo hiểm do Alexander Burnes thực hiện, từ năm 1831 trở đi, được tiếp nối bằng một bước đi thậm chí còn liều lĩnh hơn, đó là gửi một đội quân Anh-Ấn đến Afghanistan vào năm 1838; thế nhưng, nỗ lực đầy tham vọng này nhằm tìm một giải pháp “chuyên chế” cho vấn đề đường biên giới Tây-Bắc đã có kết cục thật bi thảm. Say sưa với thắng lợi của lần đầu chinh phục thành công toàn bộ đất Ấn Độ, miền Đông-Nam của vùng lòng chảo Ấn hà, từ năm 1799 đến 1818, những người Anh xây dựng đế chế đã đánh giá quá cao sức mạnh của bản thân và đánh giá quá thấp sự phản kháng mãnh liệt và hiệu quả của những người rợ hoang dã đang nổi cơn thịnh nộ trước cuộc xâm lược của họ. Kết quả là chiến dịch đã kết thúc, vào năm 1841-2, bằng một thảm họa tệ hại hơn nhiều so với thảm họa của người Ý ở cao nguyên Abyssinian năm 1896.
Kể từ thất bại Ấn Độ này, tham vọng chinh phục lâu dài các vùng cao nguyên của người Anh không bao giờ được nối lại, và những thay đổi chính sách biên giới kể từ cuộc chinh phục Panjab năm 1849 mang ý nghĩa chiến thuật nhiều hơn là chiến lược. Ở đây, thực ra chúng ta thấy một trạm dừng với cùng trật tự chính trị như ở vùng biên giới sông Rhine - sông Danube của Đế chế La Mã trong những thế kỷ đầu sau CN. Nếu và khi nào tầng lớp thiểu số thống trị Anh-Ấn chịu đầu hàng trước tín ngưỡng của tầng lớp bị trị bên trong xã hội Ấn giáo và từ bỏ công việc dã tràng xe cát của họ, sẽ rất thú vị khi chúng ta được chứng kiến tầng lớp bị trị đã được giải phóng này, những người đang sống ngay trên quê hương họ, tự phát hiện ra khả năng giải quyết vấn đề biên giới Tây Bắc.
Nếu giờ đây chúng ta đặt ra câu hỏi rằng liệu những tầng lớp bị trị bên ngoài do xã hội Tây phương của chúng ta tạo ra tại nhiều địa điểm khác nhau trên thế giới trong các giai đoạn khác nhau của lịch sử có bị kích thích bởi những thử thách để hình thành những hoạt động sáng tạo trong các lĩnh vực thơ ca và tôn giáo hay không, chúng ta sẽ nhớ đến thành quả sáng tạo chói lọi của những người rợ ở vành đai Celtic và vùng Scandinavia mà nỗ lực khai sinh các nền văn minh của riêng họ đã sớm bị dập tắt do thất bại trong cuộc đấu tranh với nền văn minh non trẻ Cơ Đốc Tây phương. Những cuộc đọ sức nói trên đã từng được trình bày trong nghiên cứu này ở một phần khác, vì vậy chúng ta có thể chuyển ngay sang xem xét những tầng lớp bị trị bên ngoài do sự bành trướng của xã hội Tây phương tạo ra trong thời kỳ cận đại. Khi tiến hành khảo sát phạm vi rộng lớn này, chúng ta chỉ nhận thấy một ví dụ duy nhất về hoạt động sáng tạo của người rợ trong mỗi lĩnh vực mà chúng ta đang tìm kiếm.
Trong lĩnh vực thi ca, chúng ta có thể ghi nhận dòng thơ ca “anh hùng” bắt đầu đâm hoa kết trái vào thế kỷ 16 và 17 của người rợ Bosniak sống bên ngoài biên giới Đông-Nam của vương triều Danube Hapsburg. Ví dụ này cuốn hút bởi ban đầu nó có vẻ như là một ngoại lệ đối với quy luật các tầng lớp bị trị bên ngoài của một nền văn minh đang tan rã không có xu hướng chịu kích thích để sáng tạo thơ ca “anh hùng” cho đến khi nền văn minh đang xét trải qua chính quyền trung ương và rơi vào một thời kỳ quá độ tạo ra cơ hội cho một cuộc Völkerwanderung của người rợ. Tuy nhiên, theo quan điểm của London hoặc Paris, vương triều Danube Hapsburg chẳng qua chỉ là một trong nhiều thế lực địa phương trong một thế giới Tây phương đang bị chia rẽ về mặt chính trị, mang đầy đủ tất cả các đặc điểm và diện mạo của một chính quyền trung ương Tây phương trong con mắt của thần dân của nó cũng như của dân chúng các nước láng giềng và thù địch bên ngoài xã hội Tây phương – đối với những quốc gia này, nó đóng vai trò như một tấm áo giáp hay một chiếc khiên che chở cho toàn bộ cơ thể xã hội của nền văn minh Tây phương trong khi những thành viên đang được che chở của xã hội đó vẫn chưa đánh giá đúng lợi ích của sứ mệnh toàn cầu của nó.
Người Bosniak là “quân hậu tập” của những người rợ lục địa châu Âu vốn trước đây đã phải trải qua một kinh nghiệm bất thường – và cũng đau đớn bất thường – đó là bị kẹt giữa hai làn đạn của hai nền văn minh ưa gây hấn, đó là Cơ Đốc Tây phương và Cơ Đốc Chính thống. Ảnh hưởng của nền văn minh Cơ Đốc Chính thống, vốn là nền văn minh đầu tiên vươn tới được với người Bosniak, đã bị họ từ chối dưới hình thức Chính thống, và chỉ còn cách nép mình dưới vỏ bọc ly giáo của giáo phái Bogomil. Dị giáo này đã gây cho họ tình cảm thù địch đối với cả hai nền văn minh Cơ Đốc giáo, và trong hoàn cảnh đó, họ đã chào đón sự xuất hiện của Hồi giáo Osmanli, từ bỏ giáo phái Bogomil, và “Thổ Nhĩ Kỳ hóa” về mặt tôn giáo. Về sau, dưới sự bảo vệ của Đế chế Ottoman, những người Nam Tư đã cải đạo theo Hồi giáo này, sống trên lãnh thổ Ottoman trong vùng biên giới Ottoman – Hapsburg, giữ vai trò tương tự như những người tị nạn Nam Tư theo Cơ Đốc giáo sống bên phía Hapsburg. Hai nhóm người Nam Tư đối lập này cùng hành nghề cướp bóc, một bên lấy mục tiêu là Đế chế Ottoman, còn bên kia nhắm vào vương triều Hapsburg; và trên cùng mảnh đất biên giới lắm chiến chinh này, hai trường phái thơ ca “anh hùng” độc lập, cả hai đều được sang tác bằng ngôn ngữ Serbo-Croat, đã trưởng thành và đơm hoa kết trái bên cạnh nhau, và dường như hoàn toàn không chịu ảnh hưởng của nhau.
Ví dụ về hoạt động sáng tạo của tầng lớp bị trị bên ngoài trong lĩnh vực tôn giáo của chúng ta đến từ một địa điểm hoàn toàn khác, đó chính là vùng biên giới của Hoa Kỳ trên đất của người da đỏ vào thế kỷ 19.
Thật đáng ngạc nhiên khi những người thổ dân da đỏ ở Bắc Mỹ có thể thực hiện được một phản ứng tôn giáo sáng tạo trước thách thức của cuộc xâm lược của người châu Âu, trong khi chúng ta đã chứng kiến họ hầu như liên tục phải “chạy rông” kể từ thời điểm những người định cư Anh đầu tiên đặt chân lên đất đai của họ cho tới 280 năm sau, khi nỗ lực phản kháng vũ trang cuối cùng của người da đỏ bị bẻ gãy trong cuộc chiến của người Sioux vào năm 1890; và điều đáng ngạc nhiên hơn nữa là phản ứng tôn giáo của người da đỏ mang một đặc trưng khá ôn hòa. Chúng ta trông đợi người da đỏ hoặc là sáng tạo ra một thứ ngoại giáo dựa trên hình ảnh của chính họ – một thứ tôn giáo Olympus hoặc Asgard của người Iroquois - hoặc là tiếp thu những yếu tố giàu tính chiến đấu nhất trong giáo phái Tin Lành Calvin của những kẻ đang tấn công họ. Ấy vậy mà, một loạt các nhà tiên tri, từ tiên tri Delaware vô danh của năm 1762 cho tới Wovoka vào khoảng năm 1885 ở Nevada, đều rao giảng Phúc âm theo một cách khác hẳn. Họ chủ trương hòa bình, và thúc giục các môn đồ từ bỏ mọi “cải tiến” kỹ thuật đã giành được từ tay những kẻ thù da trắng của họ, bắt đầu từ việc sử dụng súng ống.[13] Họ tuyên bố rằng, nếu nghe theo những lời dạy bảo của họ, người da đỏ sẽ được dành cho một cuộc sống sung sướng ở một thiên đàng hạ giới, ở đó họ sẽ được hội ngộ với linh hồn của các tổ tiên họ và rằng nước Chúa của người da đỏ sẽ không thể bị chinh phục bằng rìu chiến, cũng như súng đạn. Chúng ta không thể nói kết quả của việc chấp nhận và làm theo những lời thuyết giảng như vậy sẽ như thế nào; nó tỏ ra quá cao siêu và hà khắc đối với các chiến binh người rợ, nhưng trong ánh sáng yếu ớt lập loè ở đường chân trời tối tăm và lạnh lẽo này chúng ta bắt gặp một hình bóng thoáng qua của bản ngã tự nhiên trong tâm hồn của người nguyên thủy.
Tuy vậy, đối với một vài cộng đồng người rợ cổ còn có tên trên bản đồ, cơ hội tồn tại duy nhất của họ là chấp nhận các chiến thuật của người Abotrite và người Lithuania, những người trong chương Trung cổ của lịch sử bành trướng của nền văn minh Tây phương chúng ta, đã tiên liệu trước và tránh được các hậu quả của vũ lực bằng cách tự nguyện ngả theo nền văn minh của một xã hội xâm lấn mà rõ ràng là họ không đủ sức chống cự. Trong những tàn dư ngày nay của một thế giới người rợ cổ vẫn còn tồn tại hai pháo đài vững chắc của nền văn minh của người rợ; trong mỗi pháo đài đó, vị thủ lĩnh người rợ vẫn đang cố sức cứu vãn một tình thế có lẽ chưa đến nỗi tuyệt vọng bằng cách mở một cuộc phản công mạnh mẽ về mặt văn hóa.
Ở Đông Bắc Iran, có vẻ như vấn đề về biên giới Tây Bắc Ấn Độ cuối cùng đã được giải quyết, không phải do bất cứ hành động quyết liệt nào chống lại người rợ hoang dã bên phía Ấn Độ của khu vực biên giới Ấn Độ – Afghanistan, mà do quá trình Tây phương hóa tự nguyện của bản thân Afghanistan. Vì nếu nỗ lực của người Afghanistan đạt được thành công, một trong những tác động của nó sẽ là đưa các tộc người rợ bên phía Ấn Độ vào giữa hai làn đạn, và khiến cho họ không thể trụ lại nổi tại vị trí đó. Phong trào Tây phương hóa ở Afghanistan được vua Amanallah (1919-1929 sau CN) khởi xướng với một nhiệt huyết cấp tiến quá mức, đã khiến hoàng gia truất phế ông khỏi ngai vàng; tuy nhiên, thất bại cá nhân của Amanallah không đáng kể bằng thực tế là sự chững lại này không đánh dấu chấm hết cho phong trào. Đến năm 1929, quá trình Tây phương hóa đã đi quá xa khiến cho người dân Afghanistan phải chịu đựng phản ứng man rợ không thương tiếc của Bacha-i-Sakka; và dưới chế độ của vua Nadir và người kế vị của ông, quá trình Tây phương hóa được nối lại một cách kín đáo.
Tuy nhiên, người lãnh đạo một pháo đài của nền văn minh man rợ theo xu hướng Tây phương hóa nổi tiếng nhất là ‘Abd-al-‘Aziz Āl Sa‘ūd, vua xứ Najd và Hijaz: một chiến binh và là một chính trị gia, người vào năm 1901 đã nổi lên từ một cuộc lưu đày chính trị từ khi ông mới sinh ra cho tới khi ông vươn lên làm chủ toàn bộ vùng phía tây của sa mạc Rub’-al-Khāli và phía bắc vương quốc Yamani của San‘ā. Với tư cách một thủ lĩnh người rợ, sự sáng suốt của Ibn Sa‘ūd có thể so sánh với Visigoth Atawulf. Ông nhận thức rõ uy lực của kỹ thuật khoa học phương Tây hiện đại, và đã chứng tỏ sự quan tâm tới những ứng dụng của chúng – giếng phun, xe ô tô và máy bay – những thứ mang lại hiệu quả đặc biệt trên thảo nguyên Trung Ả Rập. Nhưng trên hết, ông đã nhận ra nền tảng thiết yếu cho lối sống phương Tây là luật pháp và trật tự.
Một khi đã loại bỏ bằng cách này hay cách khác vùng đất khó nuốt cuối cùng khỏi bản đồ văn minh của một thế giới Tây phương hóa, liệu chúng ta đã có thể tự chúc mừng vì đã chứng kiến ngày tàn của tình trạng man rợ hay chưa? Việc thủ tiêu hoàn toàn tình trạng man rợ của các tầng lớp bị trị bên ngoài chẳng đem lại niềm hoan hỉ nhỏ nhoi nào, vì chúng ta đã chứng minh rằng sự sụp đổ của rất nhiều nền văn minh trong quá khứ hoàn toàn không phải do tác động của các yếu tố bên ngoài, mà luôn luôn do một hành động tự sát.
“Chúng ta bị phản bội bởi chính những điều dối trá bên trong”.[14] Những người rợ cổ có lẽ đã bị quét sạch khỏi cõi đời qua sự thủ tiêu “vùng đất hoang” cuối cùng còn lại phía bên kia các đường biên giới hiện nay đã được dời tới những giới hạn tự nhiên cuối cùng ở mọi phía của thế giới. Tuy nhiên, thắng lợi chưa từng có tiền lệ này chẳng mang lại lợi lộc gì cho chúng ta nếu như người rợ, trong thời khắc diệt vong của họ ở phía bên kia các đường biên giới, đã phá được vòng vây và tái xuất ngay trong lòng chúng ta. Và ngày nay phải chăng đó chính là nơi chúng ta tìm thấy người rợ đang bày binh bố trận? “Các nền văn minh cổ bị hủy diệt dưới tay những người rợ ngoại xâm; còn chúng ta đang nuôi dưỡng những người rợ của chính mình”.[15] Chẳng phải chúng ta đã chứng kiến tận mắt, trong thế hệ của mình, sự thành lập những tập đoàn quân sự man rợ mới ở hết quốc gia này tới quốc gia khác – và những quốc gia đó nằm ngay tại trung tâm của xã hội Cơ Đốc giáo, chứ không phải ở những vùng ven? Còn gì khác ngoài tinh thần của người rợ trong đầu óc của các thành viên Fascii di Combattimento và Sturmabteilungen (đảng Phát-xít ở Ý và Đức)? Chẳng phải họ đã được nhồi nhét rằng họ là những đứa con vô thừa nhận của xã hội này và rằng, với tư cách một đảng phái có mối thù cần phải trả đối với xã hội, họ được quyền chinh phục “một chỗ ở mặt trời” cho bản thân mình bằng cách sử dụng bạo lực tàn nhẫn? Và chẳng phải đó chính là học thuyết mà thủ lĩnh của các tập đoàn quân sự thuộc các tầng lớp bị trị bên ngoài – những Genseric và Attila – luôn tuyên bố trước các binh sĩ của mình khi dẫn họ đến cướp bóc một thế giới nào đó, do những sai lầm của chính nó, đã đánh mất năng lực tự bảo vệ? Rõ ràng chính màu áo đen, chứ không phải màu da đen, là biểu tượng của chủ nghĩa man rợ trong cuộc chiến Italo-Abyssinia năm 1935-6, và kẻ man rợ mặc áo đen là điềm gở tồi tệ hơn nhiều so với người rợ da đen mà hắn đàn áp. Kẻ man rợ mặc áo đen là điềm gở vì hắn chủ tâm phạm tội ác chống lại ánh sáng văn minh mà hắn đã được thừa hưởng, và hắn là mối đe dọa vì, để thực hiện tội ác của mình, hắn đã nắm trong tay những công nghệ và kỹ thuật được thừa hưởng và tự do chuyển hướng chúng từ phục vụ Chúa Trời sang phục vụ Quỷ Vương. Tuy nhiên, khi đi đến kết luận này, chúng ta vẫn chưa đào sâu tới gốc rễ của vấn đề, bởi lẽ chúng ta chưa đặt ra câu hỏi chủ nghĩa man rợ mới ở Itali này bắt nguồn từ đâu.
Mussolini từng có lần tuyên bố rằng ông ta “nghĩ cho nước Ý như những người Anh vĩ đại nhất đã xây dựng nên Đế quốc Anh nghĩ cho nước Anh, và như những người thực dân Pháp quan tâm lo lắng cho nước Pháp”.[16] Trước khi bác bỏ một cách khinh bỉ bức tranh nhạo báng những kỳ tích của tổ tiên chúng ta do người Ý vẽ ra, chúng ta phải nhận thức rằng một bức biếm họa có thể lại là một chân dung chính xác. Trong khi tỏ vẻ ghê tởm trước những kẻ tân man rợ Itali đã rời bỏ con đường văn minh, chúng ta buộc phải thú nhận sự hiện diện một số đặc điểm của chúng ở những biểu tượng được khâm phục nhất nước Anh – các vị anh hùng Clive, Drake và Hawkins.
Nhưng liệu chúng ta có phải theo đuổi câu hỏi thúc bách này xa hơn nữa? Phải chăng chúng ta đã quên tự nhắc nhở mình rằng, với những chứng cứ thu được trong chương này, các thiểu số thống trị chính là những kẻ gây hấn đầu tiên trong cuộc chiến giữa họ và các tầng lớp bị trị bên ngoài? Chúng ta phải nhớ rằng biên niên sử về cuộc chiến giữa “nền văn minh” và “chủ nghĩa man rợ” này hầu như hoàn toàn là do những người thuộc phe “văn minh” ghi chép. Do vậy mà bức tranh kinh điển thể hiện giai cấp bị trị bên ngoài mang ngọn lửa man rợ và chết chóc đến lãnh thổ của một nền văn minh “hiền lành” không hề có ý định tấn công họ có lẽ không phản ánh đúng sự thật, mà chỉ thể hiện nỗi oán hận của phe “văn minh” vì phải hứng chịu một cuộc phản công do chính mình tự khơi mào. Những lời bình phẩm về người rợ, do những kẻ tử thù của họ phác họa nên, có lẽ đã bị phóng đại quá mức thực tế:
Cet animal est très méchant:
Quand on l’attaque, il se défend![17]
(Loài dã thú này vô cùng hung dữ:
Nếu bị tấn công, nó sẽ tự vệ!)
(6) NHỮNG ẢNH HƯỞNG NGOẠI LAI VÀ BẢN XỨ
Mở rộng tầm nhận thứcNgay từ đầu nghiên cứu này, sau khi trải qua cuộc tranh luận dựa trên ví dụ của lịch sử Anh quốc, về quan điểm lịch sử của một quốc gia không thể được khảo sát một mình độc lập với những thực thể cùng loại với nó, chúng ta đã giả định những nhóm cộng đồng có quan hệ họ hàng, mà chúng ta gọi là các xã hội – và chúng ta cũng đã tìm ra một nhánh hình thái xã hội cụ thể được gọi là các nền văn minh – là “lĩnh vực nghiên cứu dễ hiểu”. Nói cách khác, chúng ta giả định rằng quá trình tồn tại của một nền văn minh là do nó tự quyết định, do đó có thể được nghiên cứu độc lập, mà không đòi hỏi sự công nhận vai trò thường trực của các thế lực xã hội từ bên ngoài. Giả định này được đưa ra từ cuộc nghiên cứu của chúng ta về quá trình hình thành và phát triển của các nền văn minh, và cho đến lúc này, nó vẫn chưa bị bác bỏ trong cuộc nghiên cứu quá trình sụp đổ và tan rã của chúng. Bởi lẽ, mặc dù một xã hội đang tan rã có thể bị phân chia thành nhiều mảnh nhỏ, song mỗi mảnh vỡ này đều mang cùng chất liệu như khối cấu trúc trước đó. Ngay cả tầng lớp bị trị bên ngoài cũng được hình thành từ những thành phần nằm trong phạm vi ảnh hưởng của xã hội đang tan rã. Tuy nhiên, cuộc nghiên cứu về các mảnh vụn xã hội trong quá trình tan rã – và điều này không chỉ đúng với tầng lớp bị trị bên ngoài mà với cả các tầng lớp bị trị bên trong và thiểu số thống trị – thường đòi hỏi chúng ta xem xét đến các tác nhân ngoại lai cũng như các tác nhân bản xứ.
Thực tế đã rõ là, mặc dù việc định nghĩa xã hội như một “phạm vi nghiên cứu dễ hiểu” có thể được chấp nhận hầu như không cần phải thẩm định gì thêm chừng nào xã hội đó còn trong quá trình phát triển, song định nghĩa này chỉ còn có thể duy trì một cách hạn chế khi chúng ta bước sang giai đoạn tan rã. Mặc dù sự sụp đổ của các nền văn minh đúng là do chúng tự đánh mất khả năng tự quyết từ bên trong, chứ không phải do tác động từ bên ngoài, song quá trình tan rã và sụp đổ mà một nền văn minh trải qua không còn hoàn toàn “dễ hiểu” nếu không tham khảo đến những tác nhân và vận động ngoại lai. Khi nghiên cứu đời sống của một nền văn minh trong giai đoạn tan rã, “phạm vi nghiên cứu dễ hiểu” rõ ràng đã được mở rộng hơn so với phạm vi của xã hội đơn lẻ đang xét. Điều này có nghĩa rằng, trong quá trình tan rã, chất liệu của cơ thể xã hội có khuynh hướng không chỉ phân chia thành ba thành phần như chúng ta đã nghiên cứu mà còn nối lại khả năng tự do kết hợp với những thành phần đến từ những cơ thể xã hội khác. Do đó chúng ta thấy rằng nền tảng mà chúng ta chọn để đặt chân lên từ đầu nghiên cứu này, vốn đến nay vẫn tỏ ra rất vững chắc, giờ đây đang trượt dần ngay dưới chân chúng ta. Ở đầu nghiên cứu, chúng ta đã chọn các nền văn minh làm đối tượng nghiên cứu chỉ vì chúng trình bày diện mạo của một “phạm vi dễ hiểu”, cho phép chúng ta nghiên cứu chúng một cách phân lập. Giờ đây chúng ta thấy mình đang di chuyển từ quan điểm này sang một quan điểm khác mà chúng ta sẽ phải chọn lựa khi khảo sát những va chạm giữa các nền văn minh.[18]
Trong khi chờ đợi, đây là thời điểm thuận tiện để chúng ta phân lập và so sánh những ảnh hưởng riêng của các ảnh hưởng ngoại lai và bản xứ có thể bắt gặp trong vận động của nhiều mảnh vụn được tạo thành từ cơ thể xã hội đang tan rã. Chúng ta sẽ phát hiện rằng, đối với công trình của thiểu số thống trị và tầng lớp bị trị bên ngoài, ảnh hưởng ngoại lai có xu hướng dẫn đến sự bất hòa và hủy diệt, trong khi đối với thành quả của tầng lớp bị trị bên trong, nó có khuynh hướng tạo nên những tác động hoàn toàn trái ngược của sự hài hòa và sáng tạo.
Tầng lớp thiểu số thống trị và tầng lớp bị trị bên ngoài
Chúng ta đã chứng kiến các chính quyền trung ương thường được tầng lớp thiểu số thống trị bản xứ cung cấp cho xã hội mà họ đã phục vụ một cách kiêu căng và độc đoán. Những người xây dựng đế quốc bản xứ này có thể là cư dân ở những khu vực biên giới của thế giới đã được họ ban cho hòa bình qua trò bịp bợm thống nhất chính trị; nhưng nguồn gốc này tự thân nó không tuyên bố rằng họ mang màu sắc ngoại lai trong ý thức văn minh của mình. Tuy nhiên, chúng ta cũng ghi nhận những trường hợp sự suy đồi đạo đức của tầng lớp thiểu số thống trị diễn ra quá nhanh, đến mức, tại thời điểm chín muồi để xã hội đang tan rã bước vào giai đoạn chính quyền trung ương, không còn chút tàn dư nào của tầng lớp thiểu số thống trị còn sở hữu những phẩm chất của những bậc xây dựng đế chế. Trong những trường hợp như vậy, nhiệm vụ cung cấp một chính quyền trung ương thường là hết sức cấp thiết. Một số nhà xây dựng đế quốc đến từ bên ngoài sẽ bước vào lấp khoảng trống và thực hiện nhiệm vụ lẽ ra phải do người bản xứ tự tay thực hiện.
Tất cả các chính quyền trung ương, dẫu là ngoại lai hay bản xứ, đều có khuynh hướng được chấp nhận với lòng tri ân và nhẫn nhục, nếu không phải là một cách hăng hái; rõ ràng chúng là một sự tiến bộ, theo ý nghĩa vật chất, so với những thời kỳ rối ren đi trước chúng. Nhưng theo thời gian, người ta nhận ra rằng “vị vua mới không phải là Joseph”; nói theo ngôn ngữ bình dân, thời kỳ rối ren và ký ức về những nỗi kinh hoàng của nó đã lùi dần vào dĩ vãng, và hiện tại – trong đó chính quyền trung ương đã bành trướng ra khắp mọi miền lãnh thổ của xã hội – được phán xét như một thực thể độc lập bất kể bối cảnh lịch sử của nó. Đến giai đoạn này, vận mệnh của các chính quyền trung ương bản xứ và ngoại quốc bắt đầu tách rời. Chính quyền trung ương bản xứ, dù cho giá trị thực sự của nó là gì chăng nữa, cũng có khuynh hướng ngày càng được thần dân chấp nhận và xem là cơ cấu xã hội khả dĩ duy nhất dành cho đời sống của họ. Ngược lại, chính quyền trung ương ngoại lai càng ngày càng mất lòng dân. Thần dân ngày càng cảm thấy bị xúc phạm bởi những đặc trưng ngoại lai của nó và ngày càng nhắm mắt làm ngơ trước những điều hữu ích mà chính quyền trung ương ngoại lai đã và có thể là vẫn đang phục vụ họ.
Một bộ đôi rõ ràng nhất để minh họa cho sự tương phản này là Đế chế La Mã cung cấp chính quyền trung ương bản xứ cho thế giới Hy Lạp cổ, và chính quyền đô hộ thuộc Anh cung cấp chính quyền trung ương ngoại lai thứ hai cho nền văn minh Ấn giáo. Rất nhiều lời trích dẫn có thể được nêu ra để minh họa cho tình yêu và sự tôn kính của thế hệ thần dân cuối cùng của Đế chế La Mã dành cho thể chế này, ngay cả khi nó không còn đảm đương nhiệm vụ của mình một cách hiệu quả và đang trên đà tan rã hiển nhiên. Có lẽ dẫn chứng mạnh mẽ nhất là một đoạn trong bài thơ De Consulatu Stilichonis viết dưới thể thơ sáu âm tiết tiếng Latinh của nhà thơ Claudian xứ Alexandria vào năm 400 sau CN.
Người (Đế chế La Mã) – kiêu hãnh hơn mọi kẻ chinh phạt –
Thật nhẹ nhàng người chinh phục bằng trái tim;
Người là mẹ chứ không là bà chủ, biến nô lệ thành những đứa con
Và người ôm trọn mọi dân tộc vào lòng.
Kẻ nào chưa được sống dưới sự cai trị của người,
Quyền lợi tối thượng của hắn có đạt được trong ngày hôm nay?[19]
Ta có thể dễ dàng chứng minh chính quyền đô hộ thuộc Anh, về nhiều khía cạnh, tỏ ra là một thể chế rộng rãi hơn và thậm chí có thể là nhân đạo hơn so với Đế chế La Mã, song nó khó lòng tìm được một Claudian trong mọi thần dân của nó trong xã hội Ấn giáo.
Nếu xem xét lịch sử của những chính quyền trung ương ngoại lai khác, chúng ta sẽ thấy những đợt sóng thù địch tương tự tràn ngập trong lòng thần dân của chúng. Chính quyền trung ương ngoại lai Syria do Cyrus áp đặt lên xã hội Babylon bị ghét cay ghét đắng cho đến tận thời điểm nó kết thúc hai thế kỷ tồn tại của mình vào năm 331 trước CN. Các tu sĩ Babylon đã chuẩn bị sẵn từ lâu để hân hoan chào đón nhà chinh phục ngoại bang Alexander xứ Macedon; cũng như trong thời đại chúng ta, những người theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan ở Ấn Độ đã chào đón một “Clive mới” đến từ Nhật Bản. Trong xã hội Cơ Đốc Chính thống, Đế chế đại Ottoman đã được các môn đồ người Hy Lạp của nhà sáng lập vương quốc Ottoman trên bờ châu Á của biển Marmara chào đón trong phần tư đầu của thế kỷ 14 sau CN, và trở thành đích nhắm bất đắc dĩ của những người Hy Lạp theo chủ nghĩa dân tộc vào năm 1821 sau CN Năm thế kỷ trôi qua đã tạo ra trong lòng người Hy Lạp một sự thay đổi tình cảm, hoàn toàn trái ngược với sự thay đổi của người xứ Gaul từ “kinh hãi La Mã” của Vercingetorix thành “yêu mến La Mã” của Sidonius Apollinaris.
Một ví dụ nổi bật nữa của hiện tượng leo thang lòng căm ghét đối với những người xây dựng đế chế thuộc một nền văn minh ngoại lai là lòng thù hận của người Trung Hoa đối với những nhà chinh phục Mông Cổ đã cung cấp một chính quyền trung ương cho thế giới Viễn Đông, vốn đang rất cần đến nó, và lòng thù hận này thể hiện một sự tương phản đáng ngạc nhiên so với sự kiên nhẫn chịu đựng trong suốt hai thế kỷ rưỡi ách thống trị của người Mãn Châu của cùng xã hội này trong giai đoạn về sau. Lời lý giải cho việc này là người Mãn Châu vốn là một dân tộc hoang sơ của thế giới Viễn Đông chưa từng bị tiêm nhiễm nền văn minh ngoại lai, trong khi tính man rợ của người Mông Cổ đã được giảm bớt, dù không nhiều, do đôi chút màu sắc của nền văn minh Siria bắt nguồn từ những người Cơ Đốc Nestoria tiên phong và do tư tưởng phóng khoáng sẵn sàng thu nhận sự phục vụ của những người có tài bất chấp gốc gác của họ. Lý lẽ giải thích cho việc chế độ của người Mông Cổ không được người dân Trung Hoa ưa chuộng này đã được Marco Polo trình bày rõ ràng qua những sự kiện va chạm nảy lửa giữa thần dân Trung Hoa với các chiến binh Cơ Đốc Chính thống và các bậc cầm quyền Hồi giáo của Khả Hãn Mông Cổ.
Có lẽ một chút hương vị của nền văn minh Sumer đã khiến các Hyksos trở nên không thể chịu đựng nổi đối với thần dân Ai Cập của họ, trong khi cuộc xâm lược của người Libya hoàn toàn man rợ được người Ai Cập chấp nhận không chút oán giận. Trong thực tế, chúng ta có thể đánh bạo lập ra một quy luật xã hội chung cho hiện tượng những người rợ xâm lược tự thể hiện mình không chịu tác động của bất cứ một nền văn minh ngoại lai nào có khuynh hướng tồn tại được lâu dài, trong khi những người đã bị tiêm nhiễm màu sắc ngoại lai hoặc dị giáo từ trước cuộc Völkerwanderung của họ đều khó lòng tránh khỏi số phận bị trục xuất, hoặc diệt vong.
Trước tiên chúng ta hãy đề cập tới những người rợ thuần chủng: người Arya, người Hittite và người Achaea, mỗi dân tộc này đều tự phát minh ra các vị thần man rợ của chính mình trong thời gian tạm trú của họ trước ngưỡng cửa của một nền văn minh, và vẫn theo đuổi nghi lễ thờ cúng man rợ này sau khi đã xâm nhập vào nền văn minh đó. Họ cũng thành công, bất chấp “sự ngu dốt vô địch” của mình, trong việc thành lập các nền văn minh mới: Ấn Độ cổ, Hittite, và Hy Lạp cổ. Tương tự, người Frank, người Anh, người Scandinavia, người Ba Lan, và người Magyar cải đạo từ ngoại giáo sang Cơ Đốc giáo Tây phương đã đảm bảo được cho mình cơ hội đóng một vai trò đầy đủ, thậm chí là dẫn dắt trong công cuộc xây dựng nền văn minh Cơ Đốc Tây phương. Trái lại, người Hyksos thờ cúng thần Set đã bị trục xuất khỏi thế giới Ai Cập, và người Mông Cổ cũng bị trục xuất khỏi Trung Hoa.
Một ngoại lệ duy nhất đối với quy luật của chúng ta có lẽ được thể hiện qua trường hợp của những người Ả Rập Hồi giáo nguyên thủy. Đây là nhóm người rợ thuộc tầng lớp bị trị bên ngoài của xã hội Hy Lạp cổ, những người đã đạt được thành công rực rỡ trong cuộc Völkerwanderung đi kèm với sự tan rã của xã hội này bất chấp thực tế là họ đã bám víu vào một thứ tôn giáo bắt chước theo nền văn minh Syria thay vì chấp nhận Cơ Đốc giáo Nhất thể của thần dân trong những vùng lãnh thổ mà họ giành được từ tay Đế chế La Mã. Nhưng vai trò anh hùng của người Ả Rập Hồi giáo nguyên thủy thực sự là một biệt lệ. Qua việc ngẫu nhiên chinh phục được toàn bộ Đế chế Sasania trong quá trình thực hiện cuộc tổng tấn công thắng lợi nhằm vào các vùng lãnh thổ phương Đông của Đế chế La Mã, chính quyền man rợ thừa kế Đế chế La Mã mà người Ả Rập đã dựng nên trên đất đai Syria đã tự biến mình thành sự khôi phục chính quyền trung ương của xã hội Syria vốn đã sớm yểu mệnh trước đó hàng nghìn năm, khi Đế chế Achaemenidae bị Alexander lật đổ; và với sứ mệnh chính trị mới vô cùng vĩ đại này, người Ả Rập Hồi giáo đã, gần như tình cờ, mở ra một chân trời mới cho bản thân Hồi giáo.
Do đó, lịch sử Hồi giáo dường như chỉ là một trường hợp đặc biệt và không làm mất giá trị các kết quả chung của cuộc thẩm tra của chúng ta. Về tổng quát, chúng ta có thể kết luận rằng, đối với các tầng lớp bị trị bên ngoài và thiểu số thống trị, ảnh hưởng ngoại lai là một cản ngại bởi nó là nguồn gốc dồi dào gây ra những sự va chạm và thất bại của họ khi họ phải đối mặt với hai mảnh vụn còn lại của xã hội đang tan rã.
Tầng lớp bị trị bên trong
Trái ngược với những khám phá về các tầng lớp thiểu số thống trị và bị trị bên ngoài, chúng ta sẽ thấy đối với tầng lớp bị trị bên trong, nguồn cảm hứng ngoại lai không phải là một lời nguyền mà là một phúc lành ban cho người nhận một sức mạnh dường như là siêu phàm trong việc bắt giữ những kẻ chinh phục và thúc đẩy kết cục vốn là vận mệnh của họ. Luận điểm này có thể được kiểm chứng qua một cuộc nghiên cứu kỹ lưỡng những “tôn giáo cao cấp” và các giáo hội trung ương vốn là công trình đặc trưng của tầng lớp bị trị bên trong. Cuộc nghiên cứu của chúng ta về đề tài này cho thấy uy quyền của các tôn giáo và giáo hội nói trên phụ thuộc vào sự hiện diện, và tỉ lệ đóng góp của những tia lửa ngoại lai trong sức sống tinh thần của chúng.
Ví dụ, việc thờ cúng thần Osiris, vốn là “tôn giáo cao cấp” của tầng lớp bị trị Ai Cập cổ, có thể bắt nguồn, như chúng ta đã thấy, từ một nguồn gốc ngoại lai là nghi lễ thờ cúng thần Tammuz của nền văn minh Sumer; và các “tôn giáo cao cấp” đa dạng cạnh tranh nhau quyết liệt của tầng lớp bị trị bên trong xã hội Hy Lạp đều có thể truy ra nguồn gốc ngoại lai một cách chắc chắn. Đối với nghi lễ thờ thần Isis, tia lửa ngoại lai đến từ nền văn minh Ai Cập; nghi lễ thờ thần Cybele có nguồn gốc từ xã hội Hittite; Cơ Đốc giáo và Mithra giáo bắt nguồn từ Syria; Phật giáo Đại thừa có nguồn gốc từ nền văn minh Ấn Độ cổ. Bốn “tôn giáo cao cấp” đầu tiên trong số kể trên được sáng tạo ra bởi người dân Ai Cập, Hittite, và Syria bị buộc phải gia nhập tầng lớp bị trị bên trong của xã hội Hy Lạp qua các cuộc chinh phạt của Alexander; và tôn giáo thứ năm cũng được người dân Ấn Độ sáng tạo trong hoàn cảnh tương tự, vào thế kỷ thứ hai trước CN, qua các cuộc chinh phạt của hoàng tử xứ Bactria thuộc Hy Lạp là Euthydemus, thực hiện ở thế giới Ấn Độ cổ. Mặc dù khác nhau sâu sắc về bản chất tâm linh, song ít ra cả năm tôn giáo nói trên đều có chung một đặc điểm bề ngoài là có nguồn gốc từ ngoại quốc.
Kết luận của chúng ta vẫn không bị lung lay ngay cả khi xem xét những trường hợp nỗ lực chinh phục một xã hội của một tôn giáo cao cấp đem lại kết quả không thành công. Chẳng hạn như nỗ lực sớm bị bỏ dở của nhánh Hồi giáo Shi‘ah trong việc trở thành giáo hội trung ương của xã hội Cơ Đốc Chính thống dưới chế độ của Đế chế Ottoman, và nỗ lực bất thành của Thiên Chúa giáo hòng chiếm lấy vị trí giáo hội trung ương của xã hội Viễn Đông – ở Trung Hoa trong suốt thế kỷ cuối của Minh triều và thế kỷ đầu của Thanh triều (Vương triều Mãn Châu), và ở Nhật Bản vào thời điểm chuyển tiếp từ thời kỳ rối ren sang chế độ Tokugawa Shogun. Hồi giáo Shi‘ah ở Đế chế Ottoman và Thiên Chúa giáo ở Nhật Bản bản đều đi chệch hướng khỏi những cuộc chinh phục tâm linh tương lai của họ do bị lợi dụng – hoặc ta có thể nghi ngờ rằng họ bị lợi dụng – vào những mục đích chính trị không chính đáng. Thất bại của Thiên Chúa giáo ở Trung Hoa được quy cho việc Giáo hoàng từ chối cho phép các nhà truyền giáo tiếp tục công trình của họ nhằm chuyển các biệt ngữ của Cơ Đốc giáo sang ngôn ngữ truyền thống của triết học và nghi lễ của nền văn minh Viễn Đông.
Chúng ta có thể kết luận rằng một tia lửa ngoại lai đóng vài trò rất hữu ích và không hề cản trở sự thành công trong công trình cải đạo của “tôn giáo cao cấp”; và lý do giải thích việc này không cần phải tìm kiếm ở đâu xa. Một tầng lớp bị trị bên trong, căm thù và xa lánh xã hội đang tan rã mà nó đang ly khai, bằng cách tìm kiếm một ánh sáng mới, và đây chính là thứ mà tia lửa ngoại lai có thể đem lại; chính sự mới mẻ khiến nó trở nên hấp dẫn. Nhưng, trước khi có thể trở nên hấp dẫn, chân lý mới phải được làm cho dễ hiểu; và chừng nào công việc thiết yếu này còn chưa được hoàn tất, chân lý mới sẽ bị hạn chế sức lôi cuốn tiềm tàng của nó. Chiến thắng của Giáo hội Cơ Đốc trong Đế chế La Mã có thể đã không thành hiện thực nếu các vị đứng đầu Giáo hội, từ thánh Paul trở đi, không dồn hết tâm huyết, trong suốt bốn hoặc năm thế kỷ đầu tiên sau CN, vào việc biên dịch học thuyết Cơ Đốc giáo sang các khái niệm của triết học Hy Lạp, vào việc xây dựng hệ thống thứ bậc chức sắc của Cơ Đốc giáo theo đúng khuôn mẫu của nền dân chính La Mã; vào việc nhào nặn các lễ nghi theo hình mẫu của thần thoại Hy Lạp; và thậm chí biến những lễ hội phi tôn giáo thành các nghi lễ của Cơ Đốc giáo, và biến những nghi thức tôn thờ các bậc anh hùng thành tôn thờ các thánh của Cơ Đốc giáo. Rõ ràng cơ hội tương tự đã bị bỏ lỡ do các mệnh lệnh của tòa thánh Vatican gửi đến những nhà truyền giáo ở Trung Hoa; và quá trình cải đạo của thế giới Hy Lạp có lẽ đã chẳng thể dành được thành công ngay sau những cuộc hành trình đầu tiên của các nhà truyền giáo Thiên Chúa lên đất của người ngoại đạo, nếu các đối thủ của thánh Paul giành được chiến thắng trong các cuộc hội nghị và xung đột được mô tả trong tác phẩm Hành động của các tông đồ và trong những bức thư đầu tiên của thánh Paul.
Tập hợp các “tôn giáo cao cấp” có vẻ nhận được nguồn cảm hứng từ bản xứ bao gồm Do Thái giáo, Bái Hỏa giáo, và Hồi giáo – ba tôn giáo tìm được chỗ đứng của mình trong thế giới Syria và cũng lấy cảm hứng từ chính khu vực này – và cả Ấn giáo, tôn giáo mang đậm màu sắc của nền văn minh Ấn Độ cổ trong cả cảm hứng lẫn trong phạm vi hoạt động. Ấn giáo và Hồi giáo phải được coi là hai ngoại lệ đối với “quy luật” của chúng ta, nhưng Do Thái giáo và Bái Hỏa giáo sẽ chứng tỏ mình là những minh họa cho quy luật đó. Những công dân của nền văn minh Syria đã khai sinh ra Do Thái giáo và Bái Hỏa giáo, trong khoảng từ thế kỷ thứ 8 đến thế kỷ thứ 6 trước CN, là những người đã bị ép buộc gia nhập vào tầng lớp bị trị bên trong của xã hội Babylon bằng vũ lực của quân đội của tầng lớp thống trị thiểu số của xã hội này, quân đội Assyria. Chính hành động gây hấn đó của xã hội Babylon đã khơi dậy các phản ứng tôn giáo dưới hình thức Do Thái giáo và Bái Hỏa giáo trong tâm hồn của những người Syria đang phải chịu đựng thử thách. Qua nghiên cứu này chúng ta đã xác định rõ Do Thái giáo và Bái hỏa giáo là những tôn giáo ra đời từ những cuộc di dân cưỡng bách của người Syria vào tầng lớp bị trị bên trong của xã hội Babylon. Thực sự Do Thái giáo thành hình là nhờ được “tưới nước của Babylon”, cũng như Cơ Đốc giáo thành hình trong các giáo đoàn của thánh Paul trong thế giới Hy Lạp cổ.
Nếu quá trình tan rã của nền văn minh Babylon kéo dài ngang với nền văn minh Hy Lạp và cũng trải qua mọi giai đoạn giống hệt như nền văn minh đó, thì quá trình hình thành và phát triển của Do Thái giáo và Bái Hỏa giáo sẽ xuất hiện trong lịch sử Babylon giống như quá trình hình thành và phát triển của Cơ Đốc giáo và Mithra giáo trong lịch sử xã hội Hy Lạp cổ. Quang cảnh tưởng tượng của chúng ta không trở thành hiện thực là do lịch sử Babylon khép lại quá sớm. Nỗ lực xây dựng chính quyền trung ương cho xã hội Babylon của người Chaldaea tan thành mây khói; và những người Syria bị cưỡng bức gia nhập tầng lớp bị trị bên trong của xã hội này không chỉ có cơ hội phá tan xiềng xích mà còn đảo ngược vị trí với những kẻ chinh phục Babylon bằng cách bắt giữ và cầm tù cả thể xác lẫn linh hồn họ. Người Iran biến cải theo văn minh Syria, chứ không phải văn minh Babylon, và Đế chế Achaemenid do Cyrus thành lập đóng vai trò chính quyền trung ương của xã hội Syria. Chính trong hoàn cảnh này, Do Thái giáo và Bái Hỏa giáo đã xuất hiện với tư cách là tôn giáo của nền văn minh Syria với nguồn cảm hứng từ bản xứ. Giờ đây chúng ta có thể thấy rằng, cội nguồn của chúng là tôn giáo của một tầng lớp bị trị bên trong của xã hội Babylon, và như vậy nguồn cảm hứng đến từ nền văn minh Syria cổ của chúng cũng là một nguồn cảm hứng ngoại lai.
Nếu “tôn giáo cao cấp” nhận được cảm hứng từ bên ngoài – và chúng ta đã chứng minh đây là một quy luật chỉ có hai ngoại lệ đáng lưu ý – thì rõ ràng là chúng ta sẽ không thể hiểu được bản chất của tôn giáo đó nếu không xét tới sự va chạm của ít nhất là hai nền văn minh: nền văn minh có tầng lớp bị trị bên trong đã khai sinh ra tôn giáo mới, và (các) nền văn minh đã truyền (những) nguồn cảm hứng cho nó. Sự thật này đòi hỏi chúng ta phải chuyển hướng triệt để; vì nó đòi hỏi chúng ta từ bỏ nền tảng xây dựng nên nghiên cứu này từ trước tới giờ. Từ trước đến giờ chúng ta làm việc với khái niệm về các nền văn minh; và chúng ta vẫn giả định rằng bất cứ một nền văn minh đơn lẻ nào cũng sẽ đủ điều kiện cung cấp một “phạm vi nghiên cứu” khả thi, dễ hiểu và phân lập với bất kỳ hiện tượng xã hội nào diễn ra bên ngoài ranh giới không gian và thời gian của xã hội cụ thể đang được xem xét. Nhưng giờ đây chúng ta thấy mình quay trở lại với vấn đề được nêu ở những trang đầu tiên của Nghiên cứu này và bị vướng vào cùng chiếc lưới mà chúng ta đã tự tin trùm lên đầu các sử gia tuyên bố rằng họ có thể “hiểu được” lịch sử của một quốc gia biệt lập. Từ thời điểm này trở đi, chúng ta sẽ phải vượt ra ngoài những giới hạn mà cho đến giờ chúng ta chỉ làm việc bên trong phạm vi của chúng.
❀ ❀ ❀
[1] Thucydides: Cuốn III, chương 82.
[2] Burkitt, F.C: Sách Khải huyền của Do Thái và Cơ Đốc giáo, trang 12.
[3] Ps. Cxxxvii. 5-6.
[4] Ps. Cxxxvii. 1.
[5] Có một vấn đề gây tranh cãi, mà có thể sẽ không bao giờ được trả lời thỏa đáng, về triết lý Phật giáo – được mô tả trong đoạn tiếp theo trích từ công trình của một học giả người Nga – đó là Phật giáo Đại thừa là sự truyền thụ chân thật hay xuyên tạc giáo huấn cá nhân của bản thân Siddhartha Gautama. Một số học giả cho rằng đến nay, khi chúng ta đã biết lờ mờ về những giáo huấn cá nhân của Đức Phật qua hệ thống triết lý thể hiện trong các kinh điển Tiểu thừa, chúng ta có thể đoán rằng bản thân Đức Phật không hề hoài nghi về tính thực tế và sự vĩnh cửu của linh hồn, và rằng cõi Niết bàn, vốn là mục tiêu tu hành của Ngài là một trạng thái diệt trừ tận gốc, không phải bản thân sự sống, mà là những dục vọng luôn luôn đeo bám và ám ảnh cuộc sống của con người, ngăn cản một cuộc sống trọn vẹn. – A.J Toynbee.
[6] Stcherbatsky, Th.: Khái niệm cõi Niết bàn của Phật giáo, trang 36.
[7] John III. 4-5.
[8] Trong những tập chưa được xuất bản của nghiên cứu này.
[9] Times, 14-08-1936, và Hides, J.G: Papuan vùng đất tuyệt vời.
[10] Khi dùng từ “nằm trong”, chúng ta không muốn nói đến sự tồn tại bên trong về mặt địa lý – bởi nếu mang nghĩa đó, rõ ràng là chúng đã chẳng phải là “ngoại quốc” – mà là một trạng thái quan hệ tích cực với nền văn minh đang xét.
[11] Trong những tập chưa được xuất bản của nghiên cứu này.
[12] Thánh Augustine: De Civitate Dei, cuốn I, chương 7.
[13] Rõ ràng ở đây là một hình ảnh tương đồng với lời vận động swadeshi ở Ấn Độ. (Biên tập viên)
[14] Meredith, G.: Nấm mồ của tình yêu.
[15] Inge, W.R.: Quan điểm về sự tiến bộ, trang 13.
[16] Mussolini phát biểu trong một cuộc trả lời phỏng vấn với nhà báo Pháp M. de Kerillis, được trích dẫn trên tạp chí The Times, số ra ngày 1/8/1935.
[17] ‘Théodore P.K.’: La Ménagerie.
[18] Trong những tập chưa được phát hành.
[19] Bản dịch của A.Knox, trong tập Quá trình sáng tạo Tây Âu, C.R.L. Fletcher, trang 3.