Nghiên Cứu Lịch Sử Nhân Loại

Lượt đọc: 105 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 2 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH CÁC NỀN VĂN MINH
IV. CÂU HỎI CHƯA CÓ LỜI ĐÁP

❊ ❊ ❊

Hoa

Ngay khi tiếp cận vấn đề nguyên nhân và quá trình hình thành các xã hội văn minh, chúng ta nhận thấy danh sách 21 xã hội nói trên được chia thành hai nhóm. Trong số đó, 15 xã hội là hậu duệ của các xã hội tiền đề thuộc cùng chủng loại với nó, trong đó có những xã hội hậu duệ gần gũi với xã hội tiền đề của nó đến mức việc phân tách chúng biệt lập với nhau có thể gây tranh cãi. Ngược lại, một vài xã hội có mối quan hệ trực hệ rất lỏng lẻo khiến cho ý nghĩa ẩn dụ trong khái niệm “trực hệ” có thể khiến chúng ta đi lạc đường. Nhưng hãy bỏ qua chuyện này. Trên dưới 15 xã hội nói trên lập thành một nhóm phân biệt với 6 xã hội hình thành trực tiếp từ đời sống nguyên thủy còn lại như chúng ta đã thấy. Sự hình thành 6 xã hội này chính là tâm điểm chú ý của chúng ta hiện nay. Đó là các xã hội Ai Cập cổ, Sumer, Minoan, Sinic, Maya và Andean.

Vậy điểm khác biệt cơ bản giữa xã hội nguyên thủy và xã hội tiến hóa hơn là gì? Đó không phải là chuyện có hay không sự hiện diện của các tổ chức xã hội - vốn là phương tiện chuyển tải các mối quan hệ phi cá nhân giữa các cá thể, từ đó hình thành nên xã hội - bởi lẽ ngay cả những xã hội nguyên thủy nhỏ bé nhất cũng được xây dựng trên một nền tảng rộng lớn hơn so với phạm vi nhỏ hẹp của những mối ràng buộc cá nhân trực tiếp của một cá thể. Tổ chức là biểu tượng của tất cả xã hội và do đó là biểu tượng chung của cả xã hội nguyên thủy và xã hội tiến hóa hơn. Xã hội nguyên thủy có các tổ chức của chúng - đó là tôn giáo mang đặc trưng của nền nông nghiệp một vụ mùa; tín ngưỡng totem và chế độ ngoại hôn; những điều cấm kỵ, kết nạp và phân chia thứ bậc theo tuổi; ở một thời điểm nào đó trong cuộc đời thành lập các nhóm phân biệt theo giới tính. Một số tổ chức này chắc chắn là phức tạp và có thể tinh vi chẳng kém gì những đặc điểm của các xã hội văn minh.

Cũng không phải nền văn minh phân biệt với xã hội nguyên thủy bởi sự phân công lao động, vì chúng ta cũng có thể thấy ít nhất đã có những hình thức sơ đẳng của phân công lao động trong đời sống xã hội nguyên thủy. Các vị vua, phù thủy, thợ rèn hay người hát rong đều là các “chuyên gia” trong lĩnh vực của mình - mặc dù thực tế là Hephaestus - thần thợ rèn trong thần thoại Hy Lạp - bị què chân; và Homer - thi sĩ trong thần thoại Hy Lạp - bị mù, ngụ ý rằng sự chuyên môn hóa trong xã hội nguyên thủy là điều bất bình thường và có khuynh hướng giới hạn ở những người thiểu năng về một phương diện nào đó.

Một khác biệt cơ bản giữa nền văn minh với xã hội nguyên thủy theo như chúng ta đã biết (nhắc lại điều này rất quan trọng) là sự “ngụy trang” và “mô phỏng”. Bắt chước là đặc tính chung của tất cả đời sống xã hội, hoạt động của nó được tìm thấy ở cả xã hội nguyên thủy lẫn xã hội văn minh, trong mọi hoạt động xã hội, chẳng hạn như việc bắt chước kiểu cách của các minh tinh điện ảnh. Tuy nhiên, nó hoạt động theo nhiều hướng khác nhau trong hai hình thái xã hội. Ở xã hội nguyên thủy, như chúng ta đã biết, hành động bắt chước hướng về thế hệ đi trước và các tổ tiên đã qua đời. Những người đang đứng - tuy ta không nhìn thấy được họ - nhưng có thể cảm nhận được, sau lưng họ là những người cao tuổi tiếp trợ cho uy tín của họ. Do đó, trong xã hội nguyên thủy, sự ngụy trang hướng về quá khứ, các phép tắc và tập quán xã hội vẫn không thay đổi. Trái lại, trong xã hội thuộc tiến trình văn minh, sự bắt chước hướng về những cá nhân sáng tạo nắm quyền cai trị đối với những người thấp hơn, do họ là người khai phá. Trong những xã hội như vậy, “cái bánh tập quán” như Walter Bagehot gọi trong cuốn Tự nhiên và chính trị của ông, đã bị phá vỡ và xã hội rơi vào trạng thái vận động không ngừng để thay đổi và phát triển.

Nhưng nếu tự hỏi mình rằng điểm khác biệt này giữa xã hội nguyên thủy và xã hội phát triển cao hơn có tính chất lâu dài và căn bản hay không, thì chúng ta phải đưa ra câu trả lời phủ định. Lý do là, nếu chúng ta chỉ biết đến xã hội nguyên thủy trong một điều kiện cố định, ấy là bởi ta chỉ biết đến chúng từ sự quan sát trực tiếp diễn ra trong những giai đoạn lịch sử cuối cùng của chúng mà thôi. Tuy nhiên, dù bị những kết quả quan sát trực tiếp đánh lừa, vẫn có những lý do thuyết phục chúng ta tin rằng trong lịch sử xã hội nguyên thủy phải tồn tại những giai đoạn tiền đề, trong đó những xã hội này vận động nhiều hơn bất cứ một xã hội “văn minh” nào đã từng vận động. Chúng ta đã từng phát biểu rằng, xã hội nguyên thủy có tuổi thọ ngang với nhân loại, nhưng giờ phải nói lại cho đúng là chúng còn lớn tuổi hơn nhân loại. Lối sống xã hội và có tổ chức xã hội còn được tìm thấy ở một số loài động vật có vú khác chứ không phải chỉ ở con người, và rõ ràng là những loài này không thể tiến hóa thành người trừ khi chúng sống trong một môi trường xã hội. Bước tiến hóa từ người tiền sử thành người hiện đại vốn đã được hoàn tất này, diễn ra trong các xã hội nguyên thủy, trong những hoàn cảnh mà chúng ta không có tài liệu ghi chép lại. Đó là một biến đổi sâu sắc, một bước phát triển vĩ đại, hơn bất kỳ tiến trình nào khác mà loài người đã đạt được dưới các nền văn minh.

Xã hội nguyên thủy, như chúng ta đã biết nhờ vào sự quan sát trực tiếp, có thể ví như những người đang nằm ngủ vùi trên sườn của một ngọn núi, với một vách núi bên dưới và một vách núi bên trên chắn ngang; còn các nền văn minh có thể ví với bạn bè của những người ngủ say nọ vừa tỉnh giấc và bắt đầu leo lên bề mặt của vách núi phía trên; trong khi đó, chúng ta đóng vai trò là những người quan sát có tầm nhìn bị giới hạn bởi sườn núi và mép dưới của vách đá phía trên, và chỉ thấy một số người vượt lên trên đỉnh trong khi những thành viên khác vì lý do nào đó phải ở bên dưới. Lúc đầu có thể chúng ta có khuynh hướng phân tách hoàn toàn hai nhóm, tôn vinh những người leo lên là các vận động viên và coi những người còn nằm lại trên sườn núi là những kẻ thất bại; nhưng nghĩ kỹ lại, chúng ta thấy rằng sẽ khôn ngoan hơn nếu tạm thời “treo” lại phán xét đó.

Cuối cùng thì những người ngủ vùi kia cũng không thể nằm mãi được; vì họ vốn không được sinh ra trên sườn núi này, và chẳng có sức lực của một ai ngoại trừ chính họ có thể kéo họ lên khoảng bằng phẳng trên bề mặt của vách đá bên dưới. Mặt khác, các bạn của họ lúc bấy giờ cũng chỉ mới vừa rời khỏi sườn núi này và bắt đầu leo lên vách núi phía trên; vì không nhìn thấy được sườn núi phía trên, nên chúng ta không thể biết cuộc đua tiếp theo sẽ lên cao đến đâu hoặc gian khổ đến mức nào. Chúng ta chỉ biết rằng họ không thể dừng lại nghỉ trước khi tới sườn núi kế tiếp, dù cho nó nằm ở đâu. Vì thế, cho dù có thể đánh giá sức mạnh và kỹ thuật cũng như ý chí của từng vận động viên tại thời điểm hiện tại, chúng ta vẫn không thể quả quyết rằng liệu có ai trong số họ leo lên được tới sườn núi bên trên, vốn là mục tiêu nỗ lực trước mắt của họ hay không. Tuy nhiên, một điều chắc chắn là, một số người trong bọn họ sẽ không bao giờ lên được tới đó. Và chúng ta có thể thấy điều này, cứ mỗi vận động viên đang hăng hái leo lên thì có hai người (đại diện cho những nền văn minh đã suy tàn) rơi ngược trở xuống sườn núi và bỏ cuộc.

Chúng ta đã thất bại trong việc phát hiện đối tượng trực tiếp cho cuộc tìm kiếm của mình, đó là điểm khác biệt lâu dài và cơ bản giữa xã hội nguyên thủy và nền văn minh, nhưng tình cờ chúng ta lại thấy một chút ánh sáng le lói ở cuối đường hầm, có thể giúp ích cho mục tiêu quan trọng nhất của cuộc điều tra hiện nay: Đó là quá trình hình thành tự nhiên các nền văn minh. Khởi đầu với việc theo dõi quá trình từ xã hội nguyên thủy sang nền văn minh, chúng ta đã phát hiện ra rằng điểm cốt lõi của quá trình này là sự chuyển hóa từ trạng thái thụ động sang trạng thái hoạt động tích cực. Công thức nói trên cũng được áp dụng cho quá trình hình thành các nền văn minh thông qua sự ly khai của giai cấp bị trị trong nước khỏi tầng lớp thống trị của nền văn minh tồn tại trước đó vốn đã đánh mất khả năng lãnh đạo. Những tầng lớp thống trị như vậy theo định nghĩa là thụ động; vì khi ta nói rằng lực lượng sáng tạo của một nền văn minh đang phát triển đã thoái hóa hoặc bị bào mòn thành tầng lớp thống trị của một nền văn minh đang suy tàn chẳng qua chỉ là một cách khác để nói rằng xã hội đó đã từ trạng thái năng động rơi vào trạng thái thụ động. Trái ngược với trạng thái thụ động này, sự ly khai của giai cấp bị trị là một phản ứng tích cực; và nhờ có phát hiện này chúng ta có thể thấy rằng, trong quá trình ly khai của giai cấp bị trị khỏi tầng lớp thống trị, một nền văn minh mới đã hình thành thông qua sự chuyển hóa xã hội từ trạng thái thụ động sang năng động, giống như quá trình tiến hóa đã sinh ra một nền văn minh từ một xã hội nguyên thủy. Sự hình thành tất cả các nền văn minh - dù có hay không có quan hệ với nhau - đều có thể được mô tả như phát biểu của Tướng Smuts: “Nhân loại một lần nữa đang vận động”.

Nhịp điệu thay đổi qua lại giữa hai trạng thái thụ động và năng động, giữa vận động rồi dừng lại rồi lại vận động, đã được lưu ý bởi nhiều nhà quan sát trong nhiều thời đại khác nhau như một yếu tố then chốt trong sự vận động tự nhiên của vũ trụ. Trong những hình ảnh tưởng tượng của mình, các nhà hiền triết của xã hội Trung Quốc cổ đại đã mô tả sự thay thế lẫn nhau này dưới khái niệm Âm và Dương, Âm là trạng thái thụ động còn Dương là trạng thái năng động. Đặc tính Âm của người Trung Quốc cổ đại đại diện cho mây đen che khuất mặt trời, trong khi đặc tính Dương đại diện cho vầng thái dương không bị mây che phủ đang tỏa sáng. Trong công thức của người Trung Hoa, Âm luôn luôn được đề cập trước, theo quan điểm của mình, chúng ta có thể thấy rằng nòi giống của chúng ta, sau khi leo lên tới “sườn núi” của người nguyên thủy 300 nghìn năm về trước, đã nghỉ lại ở đó trong vòng 98% thời gian trước khi bước vào trạng thái năng động - trạng thái Dương của nền văn minh hiện nay. Giờ đây chúng ta phải đi tìm nhân tố tích cực, dù nó là gì chăng nữa, đã thúc đẩy đời sống nhân loại một lần nữa bước vào trạng thái năng động. Và đầu tiên, chúng ta sẽ thám hiểm hai con đường để thấy rằng, hóa ra chúng là những ngõ cụt.

(2) CHỦNG TỘC

Có vẻ như, nhân tố tích cực đã lôi nhân loại ra khỏi trạng thái Âm của các xã hội nguyên thủy vốn đang “ngủ quên trên sườn núi” 6000 năm qua để bước vào trạng thái Dương của các nền văn minh “leo lên vách núi” vốn phải được tìm kiếm ở một số con người đặc biệt hoặc môi trường đặc biệt, hoặc sự tương tác giữa hai yếu tố này đã gây ra sự biến đổi. Đầu tiên, chúng ta sẽ xem xét khả năng một trong hai nhân tố này có thể tự mình gánh vác trọng trách hay không, và điều này sẽ cho biết thứ mà chúng ta đang tìm kiếm. Có thể xem các nền văn minh hình thành từ ưu điểm của một hoặc một số chủng tộc cụ thể nào đó hay không?

Chủng tộc là khái niệm biểu thị sự sở hữu một số phẩm chất riêng biệt và có thể kế thừa trong các nhóm người cụ thể. Trong trường hợp này những thuộc tính chủng tộc khiến chúng ta quan tâm là các phẩm chất tâm lý hoặc tinh thần mà được cho là bẩm sinh trong một số xã hội nhất định. Tuy nhiên, ngành tâm lý học, và đặc biệt ngành tâm lý xã hội học là ngành nghiên cứu vẫn còn non trẻ; và tranh luận về vấn đề chủng tộc vẫn nổ ra hàng ngày, khi chủng tộc được đưa ra làm nhân tố phát sinh ra nền văn minh, tùy thuộc vào việc thừa nhận rằng có một mối tương quan giữa các phẩm chất tâm lý với những đặc điểm tự nhiên nhất định.

Đặc điểm tự nhiên phổ biến nhất được người phương Tây nhấn mạnh trong các lý thuyết về chủng tộc là màu da, trong đó cho rằng sự ưu việt về tinh thần và trí tuệ có mối tương quan tích cực với màu da, mặc dù có vẻ như điều đó không có thực về mặt sinh học. Tuy nhiên, lý thuyết về chủng tộc phổ biến nhất trong số các nền văn minh được thiết lập dựa trên một bức tượng điêu khắc hình một người tóc vàng, mắt xám, hộp sọ dài và da trắng, người homo leucodermaticus[1] theo cách gọi của người Bắc Âu, còn Nietzsche gọi là “người hung bạo tóc vàng”; và rõ ràng biểu tượng của người Teuton này đáng để chúng ta tìm hiểu.

Người Bắc Âu lần đầu tiên được đưa vào tác phẩm điêu khắc bởi một nhà quý tộc người Pháp, Comte de Gobineau, sống ở đầu thế kỷ 19 và sự sùng bái “người hung bạo tóc vàng” của ông ta gắn liền với những cuộc tranh luận nổ sau cuộc cách mạng Pháp. Khi tầng lớp quý tộc Pháp bị tước đoạt hết tài sản, bị đưa đi đày hoặc lên máy chém, bọn thông thái lởm trong hàng ngũ cách mạng - những kẻ chẳng bao giờ hài lòng trừ khi có thể trình diễn những sự kiện đánh dấu thời của chúng dưới chiêu bài cũ rích - đã tuyên bố rằng người Gaul, sau 14 thế kỷ bị khuất phục, giờ đây sẽ tống khứ những kẻ chinh phạt người Frank xưa kia trở về với vùng đất tăm tối ở bên kia sông Rhine, xuất phát điểm của họ trong thời kỳ Völkerwanderung, và giành lại quyền sở hữu đất đai của xứ Gaul vốn vẫn luôn luôn thuộc về người Gaul, bất chấp thời gian dài chiếm đóng của những kẻ man rợ.

Đáp lại những lời nhảm nhí này, Gobineau đưa ra một câu chuyện còn nhảm nhí hơn. “Tôi chấp nhận sự nhận diện chủng tộc của các ngài”, ông ta đáp. “Chúng ta hãy đồng ý rằng quần chúng của nước Pháp xuất thân từ người Gaul và tầng lớp quý tộc từ người Frank; cả hai chủng tộc đều thuần chủng; đồng thời có một sự tương quan rõ ràng và vĩnh cửu giữa các đặc điểm tự nhiên và tâm lý của họ. Các ngài có thực sự nghĩ rằng người Gaul đại diện cho người văn minh còn người Frank thì đại diện cho những kẻ man rợ không? Nguồn gốc của nền văn minh mà người Gaul các ngài đạt được bắt nguồn từ đâu? Từ La Mã. Và điều gì khiến La Mã vĩ đại? Chính là sự pha trộn của dòng máu Bắc Âu đang chảy trong huyết mạch người Frank chúng tôi đây. Những người La Mã đầu tiên - cũng như những người Hy Lạp, hay người Achaea ở Homer đầu tiên - là những kẻ chinh phạt tóc vàng có nguồn gốc từ phương bắc hùng mạnh đã thành lập lãnh địa của họ trên đất đai của những thổ dân nhu nhược ở vùng Địa Trung Hải yếu ớt. Tuy nhiên, theo thời gian, dòng máu của họ đã bị pha trộn và chủng tộc của họ đã bị suy yếu; sức mạnh và vinh quang của họ đã suy tàn. Đã đến thời điểm một nhánh khác của những người chinh phạt tóc vàng tiến xuống từ phương bắc để tái thiết lập nhịp đập của nền văn minh, và trong số đó có người Frank”.

Cách giải thích buồn cười của Gobineau về chuỗi các hiện tượng thực tế đó hoàn toàn khác hẳn với những gì chúng ta đã xem xét trong bản tóm tắt nguồn gốc của các nền văn minh Hy Lạp cổ và sau đó là Tây phương. Câu chuyện chính trị khôi hài của ông ta được dựng lên với vẻ hợp lý từ một khám phá đương thời mà Gobineau đã mau chóng lợi dụng. Đó là khám phá về việc gần như tất cả các ngôn ngữ còn đang tồn tại ở Âu châu, cùng với tiếng Hy Lạp và tiếng Latinh, những ngôn ngữ đang tồn tại ở Ba Tư và Bắc Ấn cũng như tiếng Iran cổ và tiếng Sanskrit cổ, đều có liên quan với nhau như là các thành viên của một đại gia đình ngôn ngữ khổng lồ. Điều này dẫn tới kết luận hợp lý là phải có một thứ ngôn ngữ “Aryan” hoặc “Ấn-Âu” nguyên thủy và ban sơ, từ đó tất cả thành viên đã biết trong gia đình ngôn ngữ mới ra đời. Một kết luận sai lầm nữa là những người sử dụng các ngôn ngữ họ hàng đó cũng có mối quan hệ tự nhiên ở cùng mức độ với bản thân các ngôn ngữ, và rằng tất cả họ đều có chung nguồn gốc từ một chủng tộc “Aryan” hoặc “Ấn-Âu” nguyên thủy đã bành trướng, chinh phạt và chiếm đóng, từ đông sang tây và từ bắc xuống nam. Nguồn gốc của chủng tộc này, một chủng tộc đã sinh ra các vị thánh tôn giáo như Zarathustra và Đức Phật, các thiên tài nghệ thuật của Hy Lạp, các thiên tài chính trị của La Mã, và trên đỉnh điểm của nó là các nhà quý tộc của chúng ta! Và như vậy, chủng tộc này chịu trách nhiệm về mọi thành tích của nền văn minh nhân loại!

Câu chuyện mà gã người Pháp lanh mồm lẹ miệng khởi đầu đã được phụ họa bởi những nhà ngữ văn người Đức ù lì, họ đã cải tiến thế giới Ấn-Âu thành Ấn-Đức và định vị ngôi nhà nguyên thủy của chủng tộc tưởng tượng này nằm trong vùng lãnh thổ của vua Phổ. Không lâu sau khi cuộc chiến 1914-18 bùng nổ, Houston Stewart Chamberlain, một người Anh phải lòng nước Đức, đã viết một cuốn sách nhan đề Những nền móng của thế kỷ 19, trong đó ông ta bổ sung Dante và Chúa Jesus vào danh sách những người thuộc chủng tộc Ấn-Đức.

Người Mỹ cũng có mục đích sử dụng của riêng họ đối với cụm từ “người Bắc Âu”. Hoảng sợ trước vô số người nhập cư Nam Âu trong suốt một phần tư thế kỷ trước năm 1914, các tác giả như Madison Grant và Lothrop Stoddard đã yêu cầu hạn chế nhập cư và coi đó là con đường duy nhất để duy trì - không phải các tiêu chuẩn xã hội Mỹ mà là sự thuần khiết của phân nhánh Mỹ thuộc chủng tộc Bắc Âu.

Học thuyết Người Do Thái gốc Anh là một lý thuyết cùng loại sử dụng những thuật ngữ kỳ lạ và hỗ trợ cho lịch sử tưởng tượng bằng thứ thần học kỳ quặc.

Có một điều đáng lưu ý, trong khi những kẻ tuyên truyền lý thuyết về chủng tộc trong nền văn minh chúng ta quả quyết rằng, màu da sáng là dấu hiệu của sự ưu việt về tinh thần, nhằm đề cao người châu Âu so với các chủng tộc khác và người Bắc Âu so với những người Âu châu khác, thì người Nhật Bản lại có một quan niệm khác hẳn. Thực tế là, cơ thể người Nhật ít lông một cách kỳ lạ, và láng giềng của họ ở các đảo phía bắc là một cộng đồng người nguyên thủy thuộc chủng người hoàn toàn khác, trông chẳng khác gì người Âu, mà được gọi là người “Ainu lông lá”. Cho nên, một cách hết sức tự nhiên, người Nhật coi đặc điểm ít lông là biểu hiện của sự ưu việt về tinh thần, và mặc dù nhận định của họ có lẽ cũng vô căn cứ như quan điểm về màu da sáng của chúng ta, song bề ngoài nó có vẻ hợp lý hơn, vì người ít lông thì chắc chắn phải tiến hóa cao hơn so với anh em họ của con người là loài khỉ.

Các nhà chủng tộc học, phân loại người da trắng theo đặc điểm tự nhiên của họ như hộp sọ dài và hộp sọ tròn, da sáng và da sậm, và nhiều đặc điểm khác để sắp xếp thành ba “chủng” người da trắng chính: Đó là người Bắc Âu, người Alpine và người Địa Trung Hải. Chúng ta sẽ kể ra những nền văn minh mà mỗi chủng người này góp phần một cách tích cực. Người Bắc Âu góp phần vào bốn, có thể là năm nền văn minh: Ấn Độ cổ, Hy Lạp cổ, Tây phương, Cơ Đốc Chính thống Nga và có khả năng là Hittite. Người Alpine tham dự bảy, có thể là chín nền văn minh: Sumer, Hittite, Hy Lạp cổ, Tây phương, phân nhánh Nga và nhánh chính của Cơ Đốc Chính thống, Iran, và có thể là Ai Cập cổ và Minoan. Người Địa Trung Hải tham gia vào mười nền văn minh: Ai Cập cổ, Sumer, Minoan, Syria, Hy Lạp cổ, Tây phương, nhánh chính của Cơ Đốc Chính thống, Iran, Ả Rập và Babylon. Những chủng tộc khác với ba chủng tộc kể trên, đó là người da nâu (chỉ người Dravidia ở Ấn Độ và người Mã Lai ở Indonesia) đã góp phần vào hai nền văn minh: Ấn Độ cổ và Ấn giáo. Chủng tộc da vàng dự phần trong ba nền văn minh: Trung Hoa cổ đại và cả hai nền văn minh Viễn Đông, tức là nhánh chính ở Trung Hoa và phân nhánh ở Nhật Bản. Chủng tộc châu Mỹ dĩ nhiên nắm thế độc tôn trong bốn nền văn minh châu Mỹ. Chủng tộc da đen tự thân nó không góp phần tích cực trong bất cứ nền văn minh nào - hay ít nhất là chưa. Chủng tộc da trắng giữ vị trí dẫn đầu, nhưng nên nhớ rằng nhiều chủng người da trắng cũng không góp phần tích cực vào bất kỳ nền văn minh nào giống như người da đen. Nếu có điều gì tích cực được phát hiện từ sự phân loại này thì đó là việc phân nửa các nền văn minh của chúng ta được hình thành từ sự đóng góp của nhiều chủng tộc. Xã hội Tây phương và Hy Lạp cổ có ba chủng tộc, và nếu các chủng tộc da vàng, da nâu và da đỏ được phân chia thành những “tiểu chủng tộc”, như các chủng người Bắc Âu, Alpine và Địa Trung Hải của chủng tộc da trắng, thì chúng ta sẽ có thể đưa ra một số lượng khá lớn các chủng tộc tham dự trong tất cả các nền văn minh của mình. Những tiểu chủng tộc này giữ giá trị như thế nào và có thời điểm nào chúng biểu hiện thành những nhóm người phân biệt về mặt lịch sử và xã hội hay không là một vấn đề khác, vốn còn rất mù mờ.

Nhưng những lý lẽ trao đổi từ nãy tới giờ cũng đủ để chúng ta bác bỏ lý thuyết về một “chủng tộc thượng đẳng” là nguyên nhân và tác giả của những biến chuyển từ Âm sang Dương, từ thụ động sang năng động trên từng phần của thế giới kể từ 6000 năm về trước.

(3) MÔI TRƯỜNG

Những tư tưởng cận đại của xã hội Tây phương đã đề cao và đề cao quá mức nhân tố chủng tộc trong lịch sử là do cuộc bành trướng của nó ra khắp thế giới trong bốn thế kỷ gần đây. Sự bành trướng này đã làm cho người phương Tây phải giao tiếp, và thường là những cuộc giao tiếp không thân thiện, với những người khác biệt với họ không chỉ về văn hóa mà còn về vóc dáng cơ thể. Từ đó, ý niệm về sinh vật thượng đẳng và hạ đẳng chính là kết quả từ những cuộc tiếp xúc như thế, đặc biệt là trong thế kỷ 19, về mặt quan điểm sinh vật học, khi trí tuệ Tây phương bị chia rẽ bởi thuyết tiến hóa của Charles Darwin và những công trình khoa học khác.

Người Hy Lạp cổ cũng đã bành trướng ra thế giới chung quanh họ bằng con đường thương mại và thuộc địa hóa, song đó là một thế giới nhỏ hơn nhiều, tuy bao gồm nhiều nền văn hóa đa dạng nhưng không có sự đa dạng về các đặc điểm tự nhiên và cấu tạo cơ thể. Người Ai Cập và người Scyth có thể khác xa nhau và khác xa những người Hy Lạp cổ thống trị họ (chẳng hạn như Herodotus) về cách sống, nhưng họ không khác biệt nhau về sinh lý như người da đen ở Tây Phi và người da đỏ ở châu Mỹ khác với người Âu châu. Do đó, hoàn toàn tự nhiên, người Hy Lạp phải tìm kiếm một nhân tố nào đó, khác với sự di truyền những đặc điểm sinh lý như chủng tộc, để giải thích cho những khác biệt về văn hóa mà họ thấy xung quanh mình. Họ tìm ra cách giải quyết bằng việc khám phá những điểm dị biệt về môi trường địa lý, đất đai và khí hậu hầu lý giải cho sự không tương đồng văn hóa.[2]

Bài luận nhan đề Những ảnh hưởng của khí quyển, nước và vị trí địa lý ra đời từ thế kỷ 15 trước CN và được lưu truyền cùng với bộ sưu tập các tác phẩm và công trình của Trường Y Hippocrates, đã minh họa quan điểm của người Hy Lạp về chủ đề này. Chẳng hạn chúng ta có thể đọc một đoạn như sau:

“Diện mạo của trái đất có thể được phân chia thành kiểu núi có rừng và núi có suối, kiểu đất mỏng không có nước, kiểu đồng cỏ đầm lầy, kiểu đất thấp khô cằn, … Cư dân ở những xứ sở núi non, đá sỏi, có sông suối ở trên cao, những nơi có sự thav đổi khí hậu lớn, thường có khuynh hướng cơ thể to lớn để thích nghi với môi trường đòi hỏi sự can đảm và sức chịu đựng. Ngược lại, cư dân ở những vùng thung lũng oi bức bao quanh bởi những vùng đầm lầy ngập nước, những người thường phải phơi mình trước gió nồng nhiều hơn là lạnh giá và uống nước ấm, sẽ không to lớn hoặc mảnh khảnh, mà sẽ mập mạр, đẫy đà, và có tóc màu sậm, da ngăm, tính khí lạnh lùng, ít cáu gắt. Lòng can đảm và sức chịu đựng không bẩm sinh mà có, nhưng có thể sẽ được hình thành dưới tác động của môi trường xã hội … Cư dân sinh sống ở các xứ sở nhiều sấm chớp, gió giật và có sông ngòi ở trên cao có cơ thể to lớn, nhưng không có cá tính, thường nhút nhát và dễ bảo. … Trong đại đa số trường hợp, bạn sẽ thấy rằng đặc điểm cơ thể và tính cách con người thay đổi theo điều kiện tự nhiên của xứ sở nơi họ sinh sống”.[3]

Nhưng ví dụ phổ biến nhất của người Hy Lạp cổ về “lý thuyết môi trường” là tính tương phản giữa ảnh hưởng của đời sống ở thung lũng hạ lưu sông Nile đối với vóc dáng, tính cách và các tổ chức của người Ai Cập cổ và ảnh hưởng của đời sống trên thảo nguyên Á-Âu, đối với vóc dáng, tính cách và các tổ chức của người Scyth.

Cả thuyết chủng tộc lẫn thuyết môi trường đều cố gắng giải thích sự đa dạng trong hành vi tâm lý (tri thức và tinh thần) và những biểu hiện khác của nhân loại bằng cách cho rằng, sự đa dạng tâm lý này có mối tương quan cố định và lâu dài với những yếu tố nhất định của sự đa dạng trong điều kiện vật lý tự nhiên. Lý thuyết chủng tộc tìm kiếm nguyên nhân phân biệt sự đa dạng về vóc dáng của con người, còn lý thuyết môi trường tìm trong sự thay đổi khí hậu và các điều kiện địa lý mà những xã hội khác nhau sinh sống. Bản chất của cả hai lý thuyết này là sự tương quan giữa hai tập đại lượng thay đổi, ở trường hợp thứ nhất là tính cách và vóc dáng, trường hợp thứ hai là tính cách và môi trường, và mối tương quan này phải được chứng minh là cố định và lâu dài nếu muốn chứng minh các lý thuyết hình thành dựa trên đó. Trong cuộc khảo sát này chúng ta đã chứng kiến lý thuyết chủng tộc sụp đổ, và giờ đây chúng ta sẽ thấy lý thuyết môi trường, mặc dù ít phi lý hơn, cũng chẳng đi được xa hơn. Điều chúng ta phải làm là kiểm tra lý thuyết của xã hội Hy Lạp cổ dựa trên hai ví dụ ưa thích của nó, thảo nguyên Á-Âu và thung lũng sông Nile. Chúng ta phải tìm ra những khu vực khác trên bề mặt trái đất có điều kiện địa lý và khí hậu tương tự với từng vùng của chúng. Nếu tất cả chúng đều thể hiện sự tương đồng giữa đặc điểm dân cư, tính cách và tổ chức xã hội, với người Scyth trong trường hợp thứ nhất và người Ai Cập cổ trong trường hợp thứ hai, thì lý thuyết môi trường sẽ được xác minh; bằng không, nó sẽ bị bác bỏ.

Đầu tiên chúng ta hãy xem xét vùng thảo nguyên Á-Âu, khu vực rộng lớn mà người Hy Lạp cổ chỉ biết một góc tây-nam. Chúng ta có thể đặt nó bên cạnh thảo nguyên Á-Phi, trải dài từ Ả Rập đến Bắc Phi. Liệu sự tương đồng giữa hai thảo nguyên Á-Âu và Á-Phi có tương ứng với các xã hội riêng biệt của loài người đã hình thành trong hai khu vực này không? Câu trả lời là khẳng định. Cả hai đều sản sinh ra kiểu xã hội du mục, một lối sống thể hiện đầy đủ những điểm tương đồng và dị biệt (chẳng hạn như các loài động vật được thuần hóa) mà chúng ta đang mong đợi tìm thấy. Nhưng với những thử nghiệm tiếp theo thì mối tương quan này bị sụp đổ; vì chúng ta tìm thấy những khu vực khác trên thế giới là môi trường lý tưởng cho sự hình thành các xã hội du mục - đó là vùng thảo nguyên ở Bắc Mỹ, thảo nguyên Llanos ở Venezuela, thảo nguyên Pampas ở Argentina và các vùng đồng cỏ ở Úc - song lại chẳng sinh ra xã hội du mục nào của riêng chúng. Tiềm năng của chúng là không cần phải bàn cãi, vì đã được các nhà thám hiểm của xã hội Tây phương miêu tả từ thời cận đại; và được khai phá bởi những người chăn nuôi gia súc Tây phương - các chàng cao bồi ở Bắc Mỹ, những người chăn bò ở Nam Mỹ và những người chăn bò ở Úc -người đã chiếm và giữ được những khu vực bỏ hoang này trong vài thế hệ, và đi tiên phong trong việc sử dụng cày bừa và cối xay. Chúng cũng quyến rũ trí tưởng tượng của nhân loại chẳng kém gì bí ẩn của người Scyth, người Tatar và người Ả Rập. Tiềm năng của các vùng thảo nguyên ở châu Mỹ và châu Úc hẳn phải rất mạnh mẽ nếu chúng có thể biến đổi những người khai phá của một xã hội không có truyền thống du mục, sinh sống bằng nông nghiệp và thủ công nghiệp, thành người du mục, dù chỉ trong một thế hệ mà thôi. Đáng chú ý hơn nữa, những người mà các nhà thám hiểm Tây phương đầu tiên tìm thấy tại địa phương chưa bao giờ bị môi trường mà họ sinh sống kích thích để chuyển sang lối sống du mục, mặc dù họ biết rằng những thiên đường này dành cho cuộc sống du mục chứ không phải là bãi đi săn.

Nếu tiếp tục kiểm tra lý thuyết này bằng một cuộc khảo sát những khu vực tương tự với vùng thung lũng hạ lưu sông Nile, kết quả của chúng ta cũng sẽ у như vậy.

Có thể nói rằng, vùng thung lũng hạ lưu sông Nile là một “điểm nhấn” trong toàn cảnh thảo nguyên Á-Phi. Ai Cập cũng mang khí hậu khô hanh như khu vực rộng lớn xung quanh, nhưng nó sở hữu một báu vật hiếm có, đó là sông Nile - nguồn cung cấp nước và phù sa ổn định. Con sông vĩ đại chảy vượt ra ngoài giới hạn của thảo nguyên, trong một khu vực có lượng mưa phong phú. Những người sáng lập nền văn minh Ai Cập cổ đã sử dụng báu vật này để tạo ra một hình thái xã hội trái ngược hoàn toàn với lối sống du mục. Vậy thì phải chăng, môi trường đặc biệt được con sông Nile ở Ai Cập cung cấp là điểm quan trọng trong quá trình hình thành nền văn minh Ai Cập cổ? Để chứng minh luận điểm này, chúng ta phải chứng tỏ rằng trong mọi khu vực khác có hình thái môi trường tương tự như lưu vực sông Nile đều có một nền văn minh tương tự được hình thành một cách độc lập.

Lý thuyết này đứng vững khi ta khảo sát một khu vực lân cận đáp ứng được những điều kiện đòi hỏi, đó là vùng thung lũng hạ lưu sông Euphrates và sông Tigris. Tại đây chúng ta tìm thấy những điều kiện tự nhiên và cả một xã hội tương tự xã hội Sumer. Nhưng lý thuyết này sụp đổ với một khu vực giống như thế nhưng nhỏ hơn nhiều là thung lũng sông Jordan, vốn chưa bao giờ là mái nhà của một nền văn minh nào. Cũng tương tự như vậy ở thung lũng Indus - nếu giả thuyết cho rằng nền văn hóa Indus đã được đem tới đây theo chân những người thực dân Sumer là đúng. Thung lũng hạ sông Ganges có thể bị loại khỏi cuộc kiểm nghiệm do quá ẩm ướt và có khí hậu nhiệt đới, còn các thung lũng hạ sông Dương Tử và hạ sông Mississippi có khí hậu quá ẩm và quá ôn hòa, nhưng người giỏi ngụy biện nhất cũng không thể phủ nhận rằng những điều kiện môi trường được cung cấp ở Ai Cập và Mesopotamia cũng được cung cấp bởi những thung lũng ở sông Rio Grande và sông Colorado ở Hoa Kỳ. Dưới bàn tay thực dân châu Âu thời cận đại, vốn được trang bị những tiến bộ khoa học kỹ thuật mang theo từ bên kia bờ Đại Tây Dương, những dòng sông châu Mỹ này đã trình diễn những phép màu mà sông Nile và sông Euphrates đã từng thể hiện trước các công trình sư người Ai Cập và Sumer cổ. Nhưng những ma thuật này đã không bao giờ được sông Colorado và Rio Grande dạy cho những con người đã học được nó ở nơi khác.

Với những bằng chứng trên đây, môi trường rõ ràng không thể là nhân tố tích cực đã đem lại sự sống cho những nền văn minh sông nước; và kết luận này sẽ được xác nhận nếu chúng ta khảo sát thêm một vài môi trường khác đã sản sinh ra những nền văn minh độc nhất vô nhị ở một khu vực duy nhất.

Nền văn minh Andes hình thành trên một cao nguyên, và thành tựu của nó tương phản sâu sắc với những cộng đồng hoang dã sống lọt thỏm trong những khu riêng Amazon bên dưới. Vậy phải chăng vùng cao nguyên là lý do xã hội Andean vượt xa những người láng giềng hoang dã của nó? Trước khi thừa nhận ý kiến này, chúng ta cần phải khảo sát những khu vực có cùng vĩ độ ở châu Phi, nơi những cao nguyên Đông Phi bao bọc những khu rừng của vùng trũng Congo. Chúng ta sẽ thấy rằng ở châu Phi, cao nguyên chẳng hề tích cực hơn so với những cánh rừng nhiệt đới dưới thung lũng trong việc sản sinh ra một xã hội “văn minh”. 

Tương tự, chúng ta thấy rằng nền văn minh Minoan hình thành trên một cụm đảo nằm trong vùng biển được ban cho khí hậu Địa Trung Hải, nhưng một môi trường tương tự đã không sản sinh ra một nền văn minh khác ở khu vực quần đảo Nhật Bản. Lãnh thổ Nhật Bản chưa bao giờ sản sinh ra một nền văn minh riêng biệt mà chỉ bị chiếm đóng bởi một phân nhánh của nền văn minh lục địa đã hình thành trong lòng Trung Hoa.

Nền văn minh Trung Quốc cổ đại đôi khi còn được gọi là con đẻ của sông Hoàng Hà vì nó được hình thành từ vùng thung lũng Hoàng Hà, nhưng thung lũng sông Danube với đặc điểm khí hậu, thổ nhưỡng và núi non rất tương đồng lại không sản sinh ra được một nền văn minh tương tự.

Nền văn minh Maya được hình thành giữa vùng rừng mưa và thực vật nhiệt đới của Guatemala và Honduras thuộc Anh, nhưng chẳng có nền văn minh tương tự nào được hình thành trong những khu vực rừng già có cùng hoàn cảnh địa lý ở Amazon và Congo. Tất nhiên, nói cho thật chính xác thì lưu vực của hai con sông này thực ra nằm ở hai bên xích đạo, trong khi quê hương của người Maya nằm ở 15 độ vĩ bắc. Nếu theo dõi trong phạm vi 15 vĩ tuyến ở cả hai nửa của trái đất, chúng ta sẽ gặp những di chỉ đổ nát điêu tàn của Angkor Wat tọa lạc giữa khu vực rừng mưa và thực vật nhiệt đới của Campuchia. Chắc hẳn có thể so sánh chúng với những thành phố đổ nát của người Maya ở Copán và Ixkun? Nhưng các chứng cứ khảo cổ đã cho thấy nền văn minh được đại diện bởi Angkor Wat không phải là bản địa của Campuchia mà là một phân nhánh của nền văn minh Ấn giáo được hình thành ở Ấn Độ.

Chúng ta có thể tiếp tục theo đuổi đề tài này, song có lẽ chúng ta đã nêu đủ lý lẽ để thuyết phục độc giả rằng cả chủng tộc lẫn môi trường, tự bản thân nó, không thể là nhân tố tích cực đã kéo nhân loại ra khỏi trạng thái thụ động ở mức độ xã hội nguyên thủy và thúc đẩy nó lao vào cuộc chinh phục đầy mạo hiểm hướng tới nền văn minh trong vòng 6000 năm qua. Dù trong trường hợp nào thì cho đến nay, cả chủng tộc lẫn môi trường đều không cung cấp, hay tỏ ra có thể cung cấp, bất cứ manh mối nào về nguyên nhân của chuyển biến vĩ đại này trong lịch sử nhân loại vốn không chỉ xảy ra ở những địa điểm cụ thể mà còn vào những thời điểm cụ thể.

❀ ❀ ❀

[1] “Không còn cách nói nào dễ hiểu hơn sao?” Horatio hỏi. Nó có nghĩa là “giống người da trắng có tóc vàng, mắt xám và cái đầu dài” - ghi chú của người biên tập.

[2] Văn hào Bernard Shaw đồng ý với người Hy Lạp cổ về vấn đề này. Các độc giả đọc lời mở đầu của tác phẩm Hòn đảo khác của John Bull hẳn còn nhớ rằng, ông đã dè bỉu “chủng tộc Celtic” và giải thích những dị biệt giữa người Anh và người Ireland là do sự khác biệt của khí hậu trên các hòn đảo của họ.

[3] Trích Hippocrates: Những ảnh hưởng của khí quyển, nước và vị trí địa lý, chương 13 và 24, Toynbee, A.J dịch: Quan điểm lịch sử Hy Lạp cổ từ Homer đến thời đại Heraclius, tr. 167-8.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 29 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.