Nghiên Cứu Lịch Sử Nhân Loại

Lượt đọc: 105 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
XXI. NHỊP ĐIỆU CỦA QUÁ TRÌNH PHÂN RÃ

❊ ❊ ❊

Trong phần trước chúng ta đã tìm kiếm, và đã tìm được, một sự tương đồng – trong đó bao hàm sự tương phản hiển nhiên – giữa vai trò của các cá nhân sáng tạo trong các xã hội đang phát triển và các xã hội đang tan rã. Giờ đây chúng ta sẽ tiến hành một cuộc điều tra tương tự nhằm tìm kiếm một sự tương đồng – nhiều khả năng cũng sẽ bao hàm sự tương phản – giữa cái mà chúng ta có thể gọi là nhịp điệu của quá trình phát triển và nhịp điệu của quá trình phân rã. Công thức bên dưới của mỗi trường hợp đều là công thức mà đến giờ chúng ta đã rất quen thuộc, vì nó đã đồng hành cùng chúng ta trong suốt nghiên cứu này; đó là công thức “thách thức và phản ứng”. Trong một nền văn minh đang phát triển, một thách thức gặp được phản ứng thành công sẽ phát sinh ra một thách thức mới đưa tới một phản ứng thành công mới. Không có giới hạn nào cho quá trình phát triển này trừ khi và cho tới khi nào xuất hiện một thách thức mà nền văn minh đang xét phản ứng thất bại – một sự kiện bi kịch đánh dấu sự chấm dứt quá trình phát triển và là cái mà chúng ta gọi là sự suy sụp. Tại đây một nhịp điệu tương tự bắt đầu. Thách thức đã không nhận được phản ứng thích hợp, nhưng nó vẫn tiếp tục tồn tại. Một nỗ lực mới được đưa ra để phản ứng lại nó, và nếu nỗ lực này thành công, quá trình phát triển hiển nhiên được nối lại. Nhưng giả sử rằng, sau một thành công cục bộ và tạm thời, phản ứng này cũng thất bại. Khi đó sẽ có một nỗ lực lặp lại lần thứ ba, nỗ lực này có thể thành công, nhưng cũng có thể thất bại; và sự thất bại của nó có thể là thất bại cuối cùng dẫn tới quá trình tan rã xã hội, cũng có thể là không. Nói theo ngôn ngữ quân sự, nhịp điệu này có thể được mô tả là một chuỗi động thái giải tán-tập hợp-giải tán-tập hợp-giải tán…

Nếu chuyển sang những khái niệm chuyên môn mà chúng ta đã đặt ra và sử dụng rất thường xuyên từ đầu nghiên cứu này, rõ ràng thời kỳ rối ren theo sau sự suy sụp là một vận động giải tán; sự thành lập chính quyền trung ương là một vận động tập hợp; và thời kỳ quá độ theo sau sự sụp đổ của chính quyền trung ương là vận động giải tán cuối cùng. Nhưng như chúng ta đã từng chứng kiến trong lịch sử chính quyền trung ương của xã hội Hy Lạp cổ, còn có một vận động giải tán chế độ phong kiến sau cái chết của Marcus Aurelius vào năm 180 sau CN, và một vận động tập hợp dưới triều đại Diocletian. Có lẽ có nhiều hơn một vận động giải tán và tập hợp trong lịch sử của bất kỳ một chính quyền trung ương cụ thể nào. Thực ra số vận động giải tán và tập hợp tuỳ thuộc vào độ phóng đại của lăng kính mà chúng ta sử dụng để phân tích chủ thể. Chẳng hạn như một vận động giải tán đáng kinh ngạc đã xảy ra vào năm 69 sau CN, “năm của bốn vị hoàng đế”, nhưng trong trường hợp này chúng ta tạm thời bỏ qua do sự ngắn ngủi của nó so với thời gian tồn tại của chính quyền La Mã. Cũng có thể có một giai đoạn khôi phục cục bộ vào khoảng giữa các thời kỳ rối ren. Nếu chúng ta chấp nhận một tín hiệu khôi phục trong các thời kỳ rối ren và một tín hiệu giải tán trong giai đoạn chính quyền trung ương, chúng ta sẽ nhận được công thức: giải tán-tập hợp-giải tán-tập hợp-giải tán-tập hợp-giải tán, mà chúng ta có thể mô tả là “ba phách rưỡi” dành cho nhịp điệu giải tán và tập hợp của chúng ta. Dĩ nhiên là trong lịch sử không chỉ tồn tại nhịp điệu “ba phách rưỡi”. Một ví dụ cụ thể bất kỳ của quá trình tan rã có thể cho thấy nhịp điệu hai phách rưỡi, bốn phách rưỡi, hoặc năm phách rưỡi mà về cơ bản vẫn phù hợp với nhịp điệu chung của tiến trình phân rã xã hội. Tuy nhiên, trong thực tế, nhịp điệu ba phách rưỡi có vẻ là khuôn mẫu phù hợp với lịch sử của một số xã hội trong quá trình tan rã, và chúng ta sẽ điểm qua một vài đại diện trong số chúng để làm minh họa.

Sự suy sụp của xã hội Hy Lạp cổ có thể được đánh dấu chính xác tại thời điểm năm 431 trước CN; và chính quyền trung ương của nó được Augustus thành lập đúng 400 năm sau, năm 31 trước CN. Liệu chúng ta có thể nhận ra được một cặp vận động tập hợp và giải tán ở đâu đó trong khoảng thời gian bốn thế kỷ này không? Chắc chắn là có. Một trong những biểu hiện của nó là nguyên tắc hòa hợp xã hội được Timoleon thuyết giảng ở Syracuse và Alexander Đại đế lặp lại ở một phạm vi rộng lớn hơn; cả hai đều xảy ra trong nửa cuối thế kỷ thứ tư trước CN. Một biểu hiện khác là sự hình thành khái niệm Thành phố quốc tế hoặc Thủ phủ thế giới, được truyền bá bởi các triết gia Zeno, Epicurus và các môn đệ của họ. Triệu chứng thứ ba là sự bội thu các thử nhiệm lập pháp – Đế chế Seleucid, liên bang Achaea và Aetolia, nền cộng hòa La Mã – tất cả chúng đều là những nỗ lực hòng vượt qua quyền độc lập truyền thống của chính quyền thành phố. Còn những triệu chứng khác nữa có thể nêu ra, nhưng những biểu hiện vừa rồi là đủ để cung cấp cho vận động tập hợp mà chúng ta đã tiên đoán một cột mốc thời gian gần như chính xác. Đó là một vận động thất bại, chủ yếu là do những đơn vị chính trị mới khuyếch trương, mặc dù đã vượt qua thành công về mặt giới hạn của chính quyền thành phố riêng lẻ, song chúng không dung hòa và bất hợp tác trong các mối quan hệ với nhau giống như các chính quyền thành phố ở Hy Lạp thế kỷ thứ năm, khi chúng khai mào sự suy sụp của xã hội Hy Lạp cổ qua việc phát động cuộc chiến tranh Athens-Peloponnesus. Chúng ta có thể gán cho vận động thất bại thứ hai này cột mốc của cuộc tập hợp lần thứ nhất khi chiến tranh Hannibal bùng nổ vào năm 218 trước CN. Chúng ta đã xác định được vận động giải tán kéo dài một thế kỷ, theo sau là một động thái tập hợp trong tiến trình lịch sử của Đế chế La Mã, và như vậy chúng ta đã có nhịp điệu “ba phách rưỡi”.

Nếu chuyển sang quá trình tan rã của nền văn minh Sinic, chúng ta sẽ xác định được thời điểm suy sụp với cuộc đụng độ thảm khốc giữa hai thế lực nhà Tấn (Tsin) và nhà Chu (Ch’u) vào năm 634 trước CN, và thời điểm hình thành chính quyền trung ương của xã hội Sinic với sự lật đổ nhà Ts’i của nhà Tần. Nếu đã có hai cột mốc như vậy trong thời kỳ rối ren của xã hội Sinic thì liệu có xuất hiện cặp vận động “tập hợp và giải tán” trong giai đoạn giữa hai cột mốc đó không? Chúng ta nhận được câu trả lời khẳng định, vì ta có thể dễ dàng nhận thấy một vận động tập hợp trong thời kỳ rối ren của nền văn minh Sinic vào khoảng thế hệ của Khổng Phu Tử (khoảng từ 551-479 trước CN), mở đầu bằng một “hội nghị giải trừ quân bị” vào năm 546 trước CN. Ngoài ra, nếu xem xét lịch sử của chính quyền trung ương xã hội Sinic, chúng ta cũng thấy một vận động giải tán và khôi phục trong thời kỳ quá độ, diễn ra vào những năm đầu của thế kỷ thứ nhất sau CN, giữa các vương triều Tiền Hán và Hậu Hán. Một lần nữa chúng ta lại thấy nhịp điệu “ba phách rưỡi”, và các mốc thời gian của xã hội Sinic nói chung sớm hơn khoảng hai trăm năm so với những mốc tương ứng của xã hội Hy Lạp cổ.

Trong lịch sử nền văn minh Sumer chúng ta cũng thu được kiến thức tương tự; vì trong thời kỳ rối ren của xã hội này có một “phách” tập hợp và giải tán có thể được nhận thấy rất rõ rệt, trong khi vòng đời của chính quyền trung ương xã hội Sumer cũng được đánh dấu bởi một phách giải tán và tập hợp mạnh mẽ bất thường. Nếu chúng ta quy ước cột mốc bắt đầu thời kỳ rối ren cũng là thời điểm bắt đầu sự nghiệp của nhà quân sự Lugalzaggisi xứ Erech (khoảng 2677-2653 trước CN) và quy định nó kết thúc vào thời điểm chính quyền trung ương Sumer được Ur-Engur xứ Ur thành lập (khoảng 2298-2281 trước CN), thì ít nhất ta có thể tìm thấy một biểu hiện của vận động tập hợp trung gian qua sự tiến bộ đáng kể trong nghệ thuật thị giác đạt được vào thời vua Naramsin (khoảng 2572-2517 trước CN). Thời gian sống của chính quyền trung ương Sumer kéo dài từ lễ đăng cơ của Ur-Engur tới cái chết của Hammurabi (khoảng 1905 trước CN), nhưng giai đoạn hòa bình này, nếu khảo sát kỹ chỉ là một lớp vỏ mỏng manh che đậy sự hỗn loạn khủng khiếp của chế độ phong kiến. Một thế kỷ sau ngày Ur-Engur lên ngôi, “đế chế bốn mùa” của ông đã tan vỡ thành từng mảnh nhỏ, và những mảnh vụn này được duy trì trong hai trăm năm cho tới khi Hammurabi ra tay trùng tu và tái tạo chính quyền trung ương này trước giai đoạn tan rã cuối cùng của nó.

Khuôn mẫu quen thuộc nói trên một lần nữa xuất hiện trong lịch sử phân rã của nhánh chính xã hội Cơ Đốc Chính thống. Chúng ta đã từng đồng nhất thời điểm suy sụp của nền văn minh này với sự bùng nổ của cuộc đại chiến La Mã-Bulgary từ 977-1019 sau CN, và sự tái lập lần cuối cùng một chính quyền trung ương có thể được gán cho thời điểm cuộc chinh phạt Macedonia của Đế chế Ottoman vào năm 1371-2 sau CN. Giữa hai cột mốc thời gian của thời kỳ rối ren này, chúng ta có thể phát hiện một vận động tập hợp do Hoàng đế Alexius Comnenus (1081-1118 sau CN) của Đế chế La Mã phương Đông lãnh đạo, tồn tại trong khoảng một thế kỷ. Chính quyền trung ương Ottoman sau đó đã sụp đổ dưới cú sốc thất bại trong cuộc chiến Nga-Thổ từ 1768-74; nhưng, mặc dù sự sụp đổ này đánh dấu giai đoạn suy tàn quyết định của chế độ Ottoman, nhưng biên niên sử Ottoman cũng giới thiệu chứng cứ rõ ràng của một vận động giải tán trước đó đã được khôi phục bằng một vận động tập hợp. Vận động giải tán được phát hiện qua tình trạng suy sụp của chế độ “gia nô của Padishah” sau cái chết của Suleymān vĩ đại vào năm 1566 sau CN và dấu hiệu của vận động tập hợp là thử nghiệm hợp tác với ra‘iyeh (đàn gia súc người) Cơ Đốc Chính thống của các công dân Hồi giáo tự do – những người lúc này đã thâu tóm quyền lực – mà không còn khăng khăng cho rằng ra‘iyeh sẽ trở thành những kẻ phản bội nếu được chia sẻ quyền lực cai trị trong chính quyền. Cuộc cách tân mang tính cách mạng này, vốn là công trình của các quan tể tướng Košprušluš, đã đem lại cho Đế chế Ottoman một thời gian “xả hơi” vẫn được người Osmanli tưởng nhớ một cách tiếc nuối và gọi là “thời kỳ Uất kim hương” (Tulip Period).

Trong lịch sử tan rã của Xã hội Ấn giáo, nửa phách cuối cùng chưa được định hình, do lần xuất hiện thứ nhì của chính quyền trung ương, tức là chính quyền đô hộ thuộc Anh, vẫn chưa hoàn tất vai trò lịch sử của nó. Nhưng trái lại, ba phách “giải tán và tập hợp” trước đó đều đã được chơi trọn vẹn. Lần giải tán thứ ba được đại diện bởi một thế kỷ của chế độ cai trị phong kiến kéo dài từ thời điểm sụp đổ chính quyền đô hộ Mughal và thời điểm thành lập chính quyền đô hộ thuộc Anh. Vận động tập hợp trong phách thứ hai cũng dễ xác định không kém với sự thành lập chế độ đô hộ Mughal dưới triều Akbar (1566-1602 sau CN). Nhịp giải tán trước đó không rõ ràng lắm, nhưng nếu chúng ta nhìn vào lịch sử thời kỳ rối ren của nền văn minh Ấn giáo, vốn bắt đầu từ giai đoạn cuối thế kỷ 12 sau CN với sự suy sụp do các cuộc chiến huynh đệ tương tàn giữa các chính quyền địa phương gây ra, chúng ta sẽ thấy rằng giữa những cuộc đụng độ thảm khốc của các đế vương Ấn Độ với những kẻ xâm lược Hồi giáo trong các thế kỷ 12 – 13, và những cuộc đụng độ với các quân đoàn Hồi giáo xâm lược về sau, bao gồm cả tổ tiên của Akbar, trong các thế kỷ 15 – 16, là những dấu hiệu của một sự bình phục tạm thời trong thế kỷ 14, được đánh dấu bởi các vương triều Alā-ad-Dīn và Firūz.

Chúng ta có thể đưa tất cả các nền văn minh tan rã còn lại đi qua tiến trình phân tích tương tự, và trong mọi trường hợp, chúng ta đều tìm được chứng cứ thích đáng tái khẳng định quan điểm của mình. Trong một số trường hợp, chúng ta thấy thiếu hẳn một “phách”, đơn giản là do nền văn minh đang xét đã bị một trong các láng giềng của nó nuốt sống trước khi đủ tuổi để “chết già”. Tuy nhiên, chúng ta đã bổ sung nhiều bằng chứng về nhịp điệu của quá trình tan rã nhằm áp dụng mẫu nhịp điệu này vào lịch sử của nền văn minh Tây phương với hy vọng nó sẽ soi rọi một chút ánh sáng cho câu hỏi đã được chúng ta đặt ra rất nhiều lần nhưng chưa bao giờ có thể trả lời một cách chính thức: đó là liệu nền văn minh của chúng ta đã trải qua giai đoạn suy sụp hay chưa và, nếu đã, thì nó đang ở giai đoạn nào của quá trình tan rã.

Một thực tế rõ ràng: chúng ta chưa trải qua sự thành lập chính quyền trung ương, bất chấp hai nỗ lực ghê gớm của người Đức hòng áp đặt một chính quyền như thế lên chúng ta trong nửa đầu của thế kỷ này (thế kỷ 20) và một nỗ lực ghê gớm không kém của nước Pháp thời Napoleon một trăm năm về trước. Một chân lý khác cũng rõ ràng không kém: trong xã hội chúng ta đang tồn tại một nguyện vọng sâu sắc và chân thành, đó là nguyện vọng thành lập, không phải một chính quyền trung ương, mà là một dạng “trật tự thế giới”, có thể đại loại những lý thuyết hão huyền được các nhà chính trị và triết gia Hy Lạp cổ thuyết giảng trong thời kỳ rối ren của xã hội Hy Lạp, nhằm đảm bảo những “phúc lành” của một chính quyền trung ương, đồng thời loại bỏ lời nguyền chết người của nó. Chính quyền trung ương bị mắc lời nguyền bởi lẽ nó là kết quả cuối cùng của cuộc đấu tranh sinh tử giữa các thế lực quân sự trong cùng một xã hội. Nó là một sản phẩm của “con đường cứu rỗi bằng thanh gươm” mà chúng ta đã biết là chỉ đem lại tai họa cho vị cứu tinh nào lựa chọn nó. Điều mà xã hội chúng ta đang tìm kiếm là một sự đồng thuận tự nguyện của những người tự do nhằm duy trì tính thống nhất, và nhằm thực hiện, không cưỡng bách, những sự điều chỉnh và nhượng bộ có ảnh hưởng sâu rộng mà nếu thiếu chúng, tình trạng lý tưởng này sẽ không thể được nhận ra trong thực tế. Chúng ta không cần thiết phải mở rộng đề tài vốn đã làm hao tốn vô vàn giấy mực của người đương thời. Uy tín đáng ngạc nhiên của tổng thống Hoa Kỳ Wilson ở châu Âu – mặc dù không phải là quê hương ông – trong vài tháng ngắn ngủi trước và sau thỏa thuận đình chiến tháng Mười Một 1918 là thước đo nguyện vọng của thế giới chúng ta. Tổng thống Wilson được nhắc tới trong hầu như mọi bài viết; đây là hiện tượng nổi bật nhất kể từ sau hiện tượng Augustus trong thơ ca của Virgil và Horace. Nhưng dù là thơ hay văn, thì nguồn sinh khí dào dạt niềm tin, sự hy vọng, và lòng tri ân cũng được biểu hiện như nhau. Tuy nhiên, kết cục thì khác nhau. Augustus đã thành công trong việc cung cấp cho thế giới của mình một chính quyền trung ương; còn Wilson thất bại trong việc cung cấp cho thế giới của ông một thứ gì đó tốt đẹp hơn.

Kẻ thấp kém cóp nhặt từng đồng;

Và nhanh chóng có được một trăm.

Người tài giỏi nhắm ngay một triệu,

Và thiếu một đồng.[1]

Những suy nghĩ và so sánh trên đây gợi ý rằng chúng ta đã tiến khá xa trong thời kỳ rối ren của mình; và nếu chúng ta đặt câu hỏi đâu là vấn đề dễ nhận thấy và cụ thể nhất trong quá khứ gần đây của chúng ta, thì câu trả lời rõ ràng là những cuộc chiến tranh cốt nhục tương tàn do chủ nghĩa dân tộc gây ra, được góp sức thêm, như đã được chỉ ra trong một phần trước của nghiên cứu này, bởi sự kết hợp của nguồn năng lượng “thống trị” sinh ra từ các lực lượng mới được giải phóng gần đây là nền dân chủ và hệ thống công nghiệp. Chúng ta có thể gán cột mốc bắt đầu ảnh hưởng của tai họa này là thời điểm bùng nổ các cuộc chiến tranh theo sau cuộc Cách mạng Pháp vào cuối thế kỷ 18. Nhưng khi phân tích đề tài này trước đây, chúng ta đã thấy một thực tế là, trong chương hiện đại của lịch sử Tây phương chúng ta, chuỗi chiến tranh đầy bạo lực này không phải mới xảy ra lần đầu mà đã là lần thứ hai. Lần thứ nhất được thể hiện qua cái gọi là cuộc chiến tranh tôn giáo (tức các cuộc Thập tự chinh) đã hủy hoại Cơ Đốc giáo Tây phương từ giữa thế kỷ 16 đến giữa thế kỷ 17. Và chúng ta thấy rằng xen giữa hai chuỗi chiến tranh bạo lực này là khoảng thời gian một thế kỷ mà căn bệnh chiến tranh tương đối thuyên giảm, và không bị sự cuồng tín làm trầm trọng thêm dưới cả hai chiêu bài bè phái tôn giáo lẫn dân tộc dân chủ. Do đó, cả trong lịch sử của chính mình, chúng ta cũng thấy điều đã được nhận diện như kiểu mẫu tiêu biểu của một thời kỳ rối ren: một sự suy sụp, một vận động tập hợp rồi một vận động giải tán lần thứ hai.

Chúng ta có thể nhận biết lý do vận động tập hợp ở thế kỷ 18 trong thời kỳ rối ren của chúng ta bị chết yểu; đó là vì “khổ hình” do “cuộc cách mạng Khai sáng” gây ra là một “khổ hình” không dựa trên niềm tin, hy vọng và lòng nhân hậu của Cơ Đốc giáo, mà dựa trên các tệ nạn của sự ảo tưởng, e sợ và hoài nghi của Ác Ma. Đó không phải là một thành tựu khó khăn của lòng nhiệt tình tôn giáo mà là một loại thứ phẩm dễ dãi thể hiện sự nguội lạnh của tâm hồn.

Vậy chúng ta có thể tiên liệu kết quả của chuỗi chiến tranh lần thứ hai có phần vượt trội so với lần trước về mặt bạo lực mà thế giới Tây phương chúng ta đã sa vào do hậu quả sự thiếu thốn về tinh thần của cuộc cách mạng Khai sáng thế kỷ 18 hay không? Nếu thử nhìn về tương lai, chúng ta có thể bắt đầu với việc tự nhắc nhở mình rằng, mặc dù tất cả các nền văn minh khác mà chúng ta đã biết đều đã chết hoặc đang chết dần chết mòn, song một nền văn minh không giống như một sinh thể hữu cơ, vốn được quy định bởi một số phận không thể thay đổi là phải chết sau khi đã trải qua các thăng trầm trong vòng đời được định sẵn. Ngay cả nếu tất cả các nền văn minh đã từng xuất hiện đều đi theo con đường này, vẫn không có một quy luật rõ ràng nào của lịch sử thúc đẩy chúng ta nhảy khỏi cái chảo rang của thời kỳ rối ren xuống ngọn lửa chậm chạp và đều đặn của một chính quyền trung ương, nơi mà dĩ nhiên chúng ta sẽ bị thiêu cháy thành than. Nhưng đồng thời, những tiền lệ từ lịch sử của các nền văn minh khác và từ đời sống thiên nhiên đang dần dần lộ vẻ mặt khủng khiếp của nó trước tình thế hiện nay của chúng ta. Chương này của lịch sử đã được viết nên với sự bùng nổ của cuộc đại chiến 1939-45 đối với những độc giả nào đã sống qua cuộc đại chiến 1914-18, và nó đã được viết lại để tái xuất bản vào buổi sáng kết thúc cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai với việc tạo ra và sử dụng một quả bom mới, trong đó con người trực tiếp điều khiển nguồn năng lượng nguyên tử được giải phóng để hủy diệt sự sống và công sức lao động của nhân loại ở một tầm cỡ chưa từng có tiền lệ. Những sự kiện thảm khốc dồn dập ập đến trong thời gian gần đây rõ ràng vẽ ra một sự ngờ vực đen tối về tương lai của chúng ta, và sự ngờ vực đó đang đe dọa xói mòn niềm tin và hy vọng của chúng ta trong giờ phút hiểm nghèo này. Đây chính là thách thức mà chúng ta không thể trốn tránh, và vận mệnh của chúng ta phụ thuộc vào cách chúng ta phản ứng với nó.

“Trong mơ tôi thấy một người ăn mặc rách rưới, đứng ở một nơi nào đó, quay lưng lại nhà mình, với một cuốn sách trên tay và một gánh nặng trên lưng. Tôi nhìn kỹ, thấy anh ta mở cuốn sách ra đọc; trong khi đọc anh ta khóc và run rẩy; và rồi, như không thể chịu đựng thêm được nữa, anh ta gào lên ai oán: ‘Ta phải làm gì đây?’”.

Không phải tự nhiên mà “tín đồ Cơ Đốc” của Bunyan lại đau khổ đến thế.

“Ta đã được báo điềm chắc chắn [anh ta nói] rằng thành phố của chúng ta sẽ bị thiêu rụi bởi lửa từ Thiên đàng - và trong ngọn lửa đáng sợ đó cả ta lẫn nàng, vợ ta và các con bé bỏng của ta sẽ bị chết cháy một cách thê thảm, trừ khi ta có thể tìm thấy thứ mà đến giờ ta vẫn chưa thấy, đó là một con đường thoát thân cho chúng ta”.

Người tín đồ Cơ Đốc sẽ thực hiện phản ứng nào để đáp lại thách thức này? Phải chăng anh ta sẽ nhìn quanh ngó quẩn, nhưng vẫn đứng yên bởi lẽ anh ta không biết phải đi đường nào? Hay anh ta sẽ bắt đầu chạy - vừa chạy vừa kêu “Cuộc sống! Cuộc sống! Hỡi cuộc sông bất diệt!” - với đôi mắt sáng ngời và đôi chân hướng về một cánh cổng nhỏ ở phương trời xa. Nếu câu trả lời cho câu hỏi này chỉ phụ thuộc vào một mình người tín đồ Cơ Đốc, kiến thức của chúng ta về tính đồng nhất của bản chất con người có thể dẫn dắt chúng ta đến với dự đoán rằng số phận đang chờ đợi người tín đồ Cơ Đốc là cái chết trong thành phố Điêu tàn của anh ta. Nhưng trong phiên bản cổ xưa của câu chuyện truyền thuyết này chúng ta đã được kể rằng vai chính con người không bị bỏ mặc với những tài nguyên của bản thân trong giờ phút quyết định. Theo John Bunyan, người tín đồ Cơ Đốc được cứu nhờ gặp được nhà truyền giáo. Và, vì không thể cho rằng bản chất của Thiên Chúa là kém kiên định hơn con người, nén chúng ta vẫn có thể và vẫn phải cầu nguyện rằng lệnh ân xá mà Thiên Chúa đã một lần ban cho xã hội chúng ta sẽ không bị từ chối nếu chúng ta cầu xin nó một lần nữa với tinh thần khiêm kính và trái tim thành khẩn ăn năn.

❀ ❀ ❀

[1] Browning, R.: Tang lễ của một nhà ngữ pháp.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 29 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.