Trong phần trước của nghiên cứu này, chúng ta đã đánh vật với câu hỏi phải thừa nhận là rất khó trả lời, đó là các nền văn minh được hình thành như thế nào. Thế nhưng, vấn đề hiện đang được đặt ra cho chúng ta lại có vẻ quá đơn giản. Sau khi một nền văn minh được sinh ra, và đã biết rõ là nó không sớm suy tàn, như số phận của cái mà chúng ta gọi là các nền văn minh yểu mệnh, chẳng lẽ sự phát triển của nó lại không phải là điều hiển nhiên? Cách tốt nhất để tìm ra đáp án cho câu hỏi này là đặt một câu hỏi khác: Liệu chúng ta có thể kết luận rằng, những nền văn minh nào vượt qua được những hiểm họa liên tục đe dọa khi nó mới chào đời và trong thời gian thơ ấu đều sẽ tiến bộ theo đúng con đường đạt tới khả năng kiểm soát môi trường và đời sống, hội đủ điều kiện để đưa chúng vào danh sách đã đúc kết ở phần II của cuốn sách này? Câu trả lời là, một số nền văn minh không làm được điều đó. Bên cạnh hai chủng loại mà chúng ta đã xem xét là các nền văn minh phát triển và các nền văn minh yểu mệnh, còn có một loại thứ ba, mà chúng ta sẽ gọi là các nền văn minh bị giam hãm. Chính các nền văn minh vẫn còn tồn tại nhưng không thể phát triển này buộc chúng ta phải nghiên cứu vấn đề về sự phát triển; và bước đầu tiên là chúng ta sẽ sưu tập và nghiên cứu những mẫu vật có thể có được của các nền văn minh thuộc loại nói trên.
Chúng ta có thể dễ dàng chạm tay tới khoảng nửa tá mẫu vật. Trong số những nền văn minh ra đời từ phản ứng đáp trả các thách thức tự nhiên có người Polynesia, người Eskimo và người du mục, và trong số các nền văn minh được hình thành từ phản ứng đáp trả các thách thức con người cũng có những cộng đồng đặc biệt, như người Osmanli trong thế giới Cơ Đốc Chính thống và người Sparta trong thế giới Hy Lạp cổ. Chúng hình thành từ các thách thức quen thuộc từ con người, được tăng cường thông qua những hoàn cảnh đặc biệt, để đạt tới một độ khắc nghiệt khác thường. Tất cả những ví dụ nêu trên đều là các nền văn minh bị giam hãm, và chúng ta có thể thấy rằng tất cả chúng đều trình bày một bức tranh của một tình trạng chung như nhau.
Tất cả những nền văn minh bị giam hãm này đều bị tê liệt vì nó đã đạt được một kỳ tích. Chúng phản ứng lại các thách thức có mức độ khắc nghiệt nằm trong ranh giới giữa mức độ gây kích thích phát triển với mức độ đưa tới thất bại. Trong bức tranh tưởng tượng về cuộc đua của các tay leo núi của chúng ta (xem trang 49-50), chúng giống như các vận động viên bị mắc kẹt, không thể tiến lên mà cũng không thể lùi lại được. Chúng lâm vào một tình trạng bất động hiểm nghèo trên vách núi cheo leo; và chúng ta có thể nói thêm rằng, bốn trong số năm nền văn minh mà chúng ta vừa đề cập đã buộc phải chấp nhận thất bại. Duy nhất chỉ còn một đại diện trong số chúng, nền văn minh Eskimo, là vẫn còn tồn tại.
Chẳng hạn như người Polynesia, đã mạo hiểm với kỳ tích của cuộc đi biển táo bạo vượt đại dương. Kỹ năng của họ là thực hiện những chuyến đi biển kỳ diệu trên những chiếc thuyền mỏng manh. Hình phạt của họ là phải lênh đênh, trong một thời gian không biết trước nhưng chắc chắn là rất dài trên Thái Bình Dương bao la - họ có thể vượt qua khoảng cách mênh mông của nó, nhưng không bao giờ có được cảm giác an toàn hoặc dễ dàng - cho tới khi họ đặt chân lên vùng đất mới và áp lực căng thẳng đột ngột giảm xuống. Kết quả là những nhà hàng hải từng sánh ngang với người Minoan và người Viking này thoái hóa thành những người “hưởng thụ lạc thú” hoặc “thích gì làm nấy”. Họ cảm thấy biển cả không còn sức thu hút nữa và tình nguyện ở lại trên hòn đảo thiên đường của riêng mình, cho tới khi những nhà hàng hải Tây phương đổ bộ lên vùng đất của họ. Chúng ta không thắc mắc nhiều về kết cục sau cùng của người Polynesia, vì chúng ta đã từng đề cập một trường hợp tương tự ở đảo Đông.
Với người Eskimo, nền văn minh của họ là sự phát triển lối sống của người da đỏ Bắc Mỹ được điều chỉnh để đặc biệt thích nghi với những điều kiện môi trường quanh các vùng bờ biển Bắc Băng Dương. Kỳ tích của người Eskimo là khả năng thích nghi trong hoặc trên băng tuyết vào mùa đông và săn bắt hải cẩu. Dù động cơ lịch sử có là gì chăng nữa, thì rõ ràng là, tại một thời điểm nào đó trong tiến trình phát triển của họ, các tổ tiên người Eskimo đã phải chiến đấu cật lực với môi trường Bắc Cực và đã tự thay đổi lối sống của mình cho phù hợp với nó bằng những kỹ năng tuyệt vời. Để chứng minh khẳng định này, ta chỉ cần kể ra các loại công cụ hoặc dụng cụ mà người Eskimo đã chế tạo hoặc phát minh ra: “thuyền kayak và umiak (thuyền dành cho phụ nữ), lao móc và phi tiêu bắn chim, lao ba ngạnh để đâm cá hồi, cung có dây gân thú, xe trượt chó kéo, giày đi tuyết, nhà mùa đông và nhà làm bằng tuyết có những ngọn đèn dầu chiết từ mỡ cá voi, lều trại mùa hè và cuối cùng là quần áo da thú”.[1]
Đó chỉ là những dấu hiệu bên ngoài cho thấy sự kỳ diệu của trí tuệ và ý chí con người; nhưng chưa hết “về một số khía cạnh nhất định, chẳng hạn như tổ chức xã hội, người Eskimo thể hiện một sự phát triển tương đối kém. Nhưng câu hỏi đặt ra là hình thái xã hội kém phát triển này là do nguồn gốc tổ tiên, hay là kết quả của các điều kiện tự nhiên ở nơi mà người Eskimo đã sinh sống từ thời xa xưa. Không cần tới những kiến thức sâu sắc về nền văn minh của người Eskimo cũng có thể nói rằng nền văn minh này bắt buộc phải sử dụng phần lớn nội lực của nó để phát triển những phương tiện sinh tồn”.[2]
Cái giá mà người Eskimo phải trả cho cuộc đấu tranh táo bạo với môi trường Bắc Cực là cấu trúc cứng nhắc lệ thuộc của đời sống gắn liền với chu kỳ hàng năm của thời tiết Bắc Cực. Tất cả những thành viên trụ cột của bộ lạc buộc phải xây dựng những nơi trú ngụ khác nhau theo từng mùa trong năm, và thiên nhiên Bắc Cực áp đặt cho người thợ săn Eskimo một thời gian biểu độc đoán chẳng kém bất cứ một công nhân nhà máy nào bị áp đặt bởi cái gọi là “phương pháp quản lý khoa học” của con người. Biết được điều này, chúng ta thường có khuynh hướng tự hỏi rằng, nếu vậy thì người Eskimo là chủ nhân của thiên nhiên Bắc Cực hay là nô lệ của nó? Chúng ta cũng sẽ gặp câu hỏi tương tự, và sẽ thấy rằng cũng khó trả lời không kém, khi phân tích đời sống của người Sparta và người Osmanli. Nhưng đầu tiên, chúng ta phải xem xét số phận của một nền văn minh bị giam hãm khác đã được kích thích, giống như người Eskimo, từ một thách thức tự nhiên.
Trong khi người Eskimo phải đấu tranh với băng giá và người Polynesia phải đấu tranh với biển cả bao la, thì người du mục - những con người đã chấp nhận thách thức của thảo nguyên - phải vật lộn kịch liệt với một nhân tố không kém phần khó khăn; và thực tế là trong mối quan hệ với con người - thảo nguyên - với bề mặt đầy cỏ và sỏi đá của nó, còn giống với “biển cả không thể thu hoạch” (như Homer vẫn thường gọi) hơn so với những vùng đất cằn cỗi ít ra còn có thể cày bừa được. “Địa hình thảo nguyên” và “địa hình biển cả” có một đặc điểm chung, đó là chúng chỉ tiếp đón con người với tư cách là người hành hương hoặc tạm trú. Cả hai đều không cung cấp cho con người một địa điểm nào trên bề mặt rộng lớn của nó, ngoại trừ các đảo và ốc đảo, để có thể định cư và sinh sống lâu dài. Cả hai môi trường đều cung cấp điều kiện đi lại và vận chuyển dễ dàng hơn so với những khu vực khác trên bề mặt trái đất mà các cộng đồng người ở đó đã quen với việc định cư vĩnh viễn, nhưng cả hai đều đòi hỏi – như một hình phạt vì con người dám xâm phạm lãnh địa của chúng - nhu cầu di chuyển thường xuyên, bằng không thì phải rời khỏi bề mặt ấy để đến những khu vực vùng ven hoặc bờ biển khô cằn xung quanh. Do đó, có một sự tương đồng thực sự giữa bộ lạc người du mục hàng năm vẫn tuân theo cùng một quỹ đạo chăn thả gia súc vào mùa hè và mùa đông với đội thuyền đánh cá vẫn đi từ bờ biển này sang bờ biển khác theo mùa; giữa những đội thương thuyền đi lại trao đổi hàng hóa giữa hai bên bờ biển với những đoàn lạc đà giúp liên kết hai đầu của thảo nguyên; giữa những tên cướp biển và những kẻ cướp cạn; và giữa sự bùng nổ dân số đã buộc người Minoan hoặc người Na Uy phải xuống thuyền và tỏa ra như những đợt sóng thủy triều đến các bờ biển Âu châu hoặc Cận Đông với hiện tượng tương tự buộc người du mục Ả Rập, Scyth, Thổ Nhĩ Kỳ hoặc Mông Cổ phải rời khỏi quỹ đạo thường niên của mình và tràn lên những vùng đất đã có người định cư ở Ai Cập, Iraq, Nga, Ấn Độ hoặc Trung Hoa, với mức độ bạo lực và bất ngờ không kém.
Chúng ta thấy rằng, người du mục, cũng như người Polynesia và người Eskimo, đáp trả lại thách thức tự nhiên bằng một kỳ tích, và trong trường hợp này, khác với những trường hợp trước, động cơ lịch sử của họ không còn phải phỏng đoán nữa. Chúng ta có quyền suy luận rằng người du mục cũng bị kích thích bởi cùng thách thức mà đã kích thích các nền văn minh Ai Cập cổ, Sumer và Minoan, và điều đó đã đưa các tổ tiên của Dinka và Shilluk vào vùng xích đạo khô hạn. Chứng cứ rõ ràng nhất là chúng ta đã xác định được nguồn gốc của người du mục từ kết quả những cuộc nghiên cứu của đoàn thám hiểm Pumpelly ở ốc đảo Transcaspian thuộc Anau.
Tại đây, chúng ta thấy thách thức của sự khô hạn, ngay từ đầu đã kích thích một số cộng đồng nhất định từng mưu sinh bằng cách săn bắt, nay bổ sung phương pháp kiếm sống của họ trong những điều kiện khó khăn hơn bằng cách áp dụng một hình thức thô sơ của nông nghiệp. Các chứng cứ cho thấy hình thái nông nghiệp này chắc chắn xuất hiện trước so với lối sống du mục.
Nông nghiệp còn có một tác động khác - gián tiếp, nhưng không kém phần quan trọng - lên lịch sử xã hội của những người thợ săn thảo nguyên này; nó cho họ cơ hội tham gia vào một mối quan hệ mới đối với muông thú hoang dã. Với nghệ thuật thuần hóa thú hoang, người thợ săn, vốn không thể phát triển vượt quá một giới hạn vô cùng nhỏ hẹp do điều kiện tự nhiên của nơi anh ta cư trú, đã cải thiện rất nhiều khả năng trở thành một nhà nông. Chúng ta có thể hình dung ra người thợ săn thuần hóa những con chó sói hoặc chó rừng mà anh ta vẫn phải tranh giành hoặc chia sẻ con mồi, và bằng cách đó biến một con thú dữ thành một cộng sự tin cậy, song gần như không thể nào hình dung ra việc anh ta có thể làm chủ trò chơi mà anh ta đang theo đuổi. Không phải người thợ săn và con chó săn, mà chính là một nhà nông với chú chó canh nhà mới có đủ năng lực thực hiện bước chuyển biến xa hơn thành người chăn cừu và chú chó chăn cừu. Chính người nông dân làm chủ nguồn lương thực ngũ cốc mới có thể hấp dẫn được những loài động vật nhai lại như bò hoặc cừu, vốn không bị thu hút bởi thịt của người thợ săn như loài chó.
Chứng cứ khảo cổ ở Anau cho thấy bước tiến hóa xã hội tiếp theo diễn ra ở Transcaspian vào thời điểm mà thiên nhiên hoang dã lại giương móng vuốt khô hạn của nó lên lần thứ hai. Nhờ thành tựu thuần hóa các loài nhai lại, con người sống trên thảo nguyên Á-Âu đã có khả năng khôi phục lối sống du cư mà anh ta đã từ bỏ trong bước tiến hóa trước đó từ thợ săn thành người trồng trọt, và để phản ứng lại tác động sâu sắc hơn của thách thức cũ, anh ta đã tận dụng khả năng cơ động mới được tái phát hiện theo hai cách hoàn toàn khác nhau. Một số nông dân trồng trọt trên ốc đảo Transcaspian chỉ đơn giản sử dụng khả năng cơ động của mình để di cư từng bước - họ cứ di chuyển xa dần khi khí hậu khô hạn có khuynh hướng ngày một gia tăng độ khắc nghiệt - và như vậy họ luôn luôn bám theo môi trường tự nhiên để có thể tiếp tục lối sống hiện có của mình. Họ thay đổi môi trường sống để khỏi phải thay đổi lối sống. Nhưng một bộ phận khác thì đáp trả lại thách thức này theo một kiểu cách táo bạo hơn. Họ từ bỏ những ốc đảo nay đã không còn cư ngụ được nữa, cùng với gia đình và bầy gia súc của họ phiêu lưu trên bề mặt không thể định cư của thảo nguyên. Tuy nhiên những người này không dấn thân để tìm kiếm một vùng ven ở xa hơn. Họ từ bỏ những sản phẩm cũ của nông nghiệp trồng trọt cũng như tổ tiên họ đã từ bỏ những sản phẩm từ săn bắn, và gắn bó chặt chẽ cuộc đời mình với nghệ thuật mà họ vừa khám phá, đó là nghệ thuật chăn nuôi. Họ phân tán ra khắp thảo nguyên, không phải để trốn chạy khỏi các đường ranh giới của nó, mà để biến nó thành quê hương của mình. Họ trở thành những người du mục.
Khi so sánh mức độ văn minh của những người du mục đã từ bỏ nông nghiệp và giữ lấy đất thảo nguyên với những người anh em của họ đã chọn duy trì di sản nông nghiệp bằng cách thay đổi môi trường sống, chúng ta sẽ thấy người du mục thể hiện sự vượt trội về nhiều mặt. Đầu tiên, thuần hóa thú hoang rõ ràng là một nghệ thuật cao cấp hơn so với thuần hóa cây cỏ, vì đó là chiến thắng của trí tuệ và ý chí con người trước một sinh vật khó kiểm soát hơn. Người chăn cừu là một nghệ sĩ khéo léo hơn so với người làm ruộng, và chân lý này đã được thể hiện trong một đoạn nổi tiếng của thần thoại Syria cổ: “Adam ăn nằm với vợ là Eve; nàng mang thai, rồi hạ sinh Cain… Sau đó nàng lại hạ sinh em trai của Cain là Abel. Abel là người chăn cừu, còn Cain là người trồng trọt. Và đến vụ mùa, Cain hái trái cây mọc trên mặt đất để dâng lên Chúa Trời. Còn Abel, chàng cũng đem dâng những thành quả lao động đầu tiên của mình là len và mỡ cừu. Và Chúa Trời đánh giá cao Abel cùng cống phẩm của chàng; nhưng không đánh giá cao Cain và cống phẩm của chàng ta”.[3]
Như vậy, rõ ràng đời sống du mục là một thắng lợi của kỹ năng con người. Họ đã thành công trong việc sinh sống trên các đồng cỏ - thứ mà bản thân họ không thể ăn được - bằng cách biến chúng thành thịt và sữa gia súc đã thuần hóa. Để duy trì nguồn thức ăn cho đàn gia súc của mình quanh năm suốt tháng, với hệ thực vật tự nhiên của thảo nguyên nghèo nàn và khắc nghiệt, họ đã phải điều chỉnh lối sống của mình và di cư theo một lịch trình thời gian chính xác theo mùa. Trong thực tế, kỳ tích của người du mục đòi hỏi một tiêu chuẩn chặt chẽ cao độ về cá tính và lối sống, và hình phạt mà người du mục phải chịu đựng về cơ bản cũng giống như người Eskimo. Thiên nhiên khắc nghiệt mà họ chinh phục thành công đã âm thầm biến họ thành nô lệ của nó. Người du mục, giống như người Eskimo, đã trở thành tù nhân của một chu kỳ khí hậu và chu kỳ sinh trưởng của thực vật hàng năm. Để đạt được bước khởi đầu trên thảo nguyên, họ đã từ bỏ bước khởi đầu trên thế giới rộng lớn xung quanh. Thực ra, không phải họ đi qua lịch sử các nền văn minh mà không để lại dấu ấn gì của riêng mình. Hết lần này đến lần khác, họ đã từ lãnh thổ của mình tấn công lãnh thổ của các nền văn minh định cư láng giềng, và trong một số lần như vậy, họ tạm thời huy động toàn bộ lực lượng; nhưng những đợt bùng phát này không bao giờ tự động diễn ra. Khi người du mục xuất phát từ thảo nguyên và xâm nhập vào một vùng đất trồng trọt tươi tốt, họ không bao giờ bị thúc đẩy bởi ý định từ bỏ chu kỳ tập quán của mình. Họ chỉ đáp trả một cách máy móc trước những lực lượng tác động nằm ngoài tầm kiểm soát của họ mà thôi.
Có hai lực tác động từ bên ngoài nhắm vào những người du mục như đã nói ở trên: một lực đẩy và một lực kéo. Đôi khi họ bị đẩy khỏi thảo nguyên bởi một đợt khô hạn gia tăng khiến môi trường sống của họ trở nên khắc nghiệt vượt quá khả năng chịu đựng; và thỉnh thoảng, họ bị kéo ra khỏi thảo nguyên bởi sức hút từ một khoảng trống xã hội hình thành trong lãnh địa của một xã hội định cư kề bên thông qua hoạt động của các tiến trình lịch sử, chẳng hạn như sự sụp đổ của một nền văn minh định cư hoặc một thời kỳ Völkerwanderung - những thứ quá xa lạ đối với kinh nghiệm của người du mục. Trong một nghiên cứu lịch sử, sự can thiệp vĩ đại của người du mục vào lịch sử của các nền văn minh định cư cho thấy rằng, tất cả các cuộc can thiệp của họ đều có thể quy cho một trong hai nguyên nhân nói trên.[4]
Như vậy, mặc dù những cuộc xâm lược này được đưa vào lĩnh vực các sự kiện lịch sử, nhưng nền văn minh du mục về cơ bản vẫn là một xã hội không có lịch sử. Sau khi đã tìm được quỹ đạo thường niên của mình, từ đó trở đi bộ lạc du mục sẽ cứ xoay quanh quỹ đạo đó và có thể sẽ xoay như vậy mãi mãi nếu không có một ngoại lực - mà người du mục không có khả năng tự vệ - chặn đứng sự vận động và kết liễu cuộc đời của bộ lạc đó. Ngoại lực này là áp lực của các nền văn minh định cư chung quanh; cho nên, mặc dù Chúa Trời có thể đánh giá cao Abel và cống phẩm của chàng hơn so với Cain và cống phẩm của chàng ta, nhưng chẳng thế lực nào cứu nổi Abel khỏi bị Cain hạ sát.
“Kết quả nghiên cứu khí hậu và thời tiết gần đây cho thấy, có một sự luân phiên nhịp nhàng, có thể có phạm vi ảnh hưởng trên toàn thế giới, giữa những thời kỳ khô hạn và ẩm ướt cân xứng với nhau, và đây là nguyên nhân của những cuộc xâm nhập luân phiên giữa người nông dân và người du mục vào lãnh địa của cả hai. Khi hạn hán lên tới một mức độ khiến thảo nguyên không còn cung cấp đủ cỏ cho đàn gia súc của người du mục nữa, những người chăn nuôi gia súc này bèn rời khỏi quỹ đạo di trú thường niên của họ và xâm lược các vùng đất trồng trọt xung quanh để tìm lương thực cho đàn gia súc và cho chính họ. Trái lại, khi khí hậu ôn hòa trở lại, độ ẩm tăng lên và có thể gieo trồng cây ăn trái và ngũ cốc trên đất thảo nguyên, thì những người nông dân bắt đầu mở cuộc phản công tiến chiếm đồng cỏ của người du mục. Phương pháp tấn công của hai bên rất khác nhau. Những cuộc đột kích bằng kỵ binh của người du mục luôn diễn ra thần tốc và bất ngờ. Còn những cuộc tấn công của người nông dân thiên về sự chắc chắn của bộ binh. Cứ sau mỗi bước tiến, họ lại củng cố vị trí của mình với tay cày tay cuốc, và đảm bảo sự thông thương bằng cách xây dựng đường xá hoặc đường tàu hỏa. Ví dụ điển hình nhất về sự bùng nổ của người du mục là những cuộc xâm lược của người Thổ và người Mông Cổ, diễn ra trong thời kỳ khô hạn gần đây nhất. Một ví dụ ấn tượng về sự xâm lấn của người nông dân là cuộc bành trướng về phía đông của nước Nga diễn ra sau đó. Cả hai sự vận động đều bất thường, và mỗi trường hợp đều gây ra rất nhiều khó khăn cho bên bị xâm lấn. Nhưng giống như nhau, chúng đều có nguồn gốc từ một nguyên nhân tự nhiên mà con người không thể không chế.
Áp lực nặng nề của cư dân trồng trọt lên các nạn nhân của nó có lẽ về lâu về dài tỏ ra khắc nghiệt hơn so với những cuộc đột kích hung bạo của người du mục. Những cuộc tấn công của người Mông Cổ trải qua hai hoặc ba thế hệ; nhưng cuộc trả thù bằng quá trình thuộc địa hóa của người Nga kéo dài tới hơn 400 năm - đầu tiên là sau các đường biên giới Cossack, nhằm bao vây và thu hẹp dần khu vực thảo nguyên từ phía bắc, sau đó là dọc theo tuyến đường sắt Transcaspian, để bao bọc đường biên giới phía nam của họ. Theo quan điểm của người du mục, đối với một thế lực nông dân như nước Nga, những cỗ máy có bánh xe quay tròn và chạy xình xịch kia có tầm quan trọng chẳng kém gì những máy móc giúp nền công nghiệp Tây phương đúc thép nóng chảy thành những hình dạng mà họ muốn. Trong vòng vây của nó, người du mục hoặc bị tiêu diệt hoặc bị đồng hóa, và quá trình thẩm thấu không phải bao giờ cũng diễn ra trong hòa bình. Tuyến đường sắt Transcaspian được khai thông bằng cuộc tàn sát người Thổ ở Göktepé. Nhưng tiếng khóc truy điệu người du mục hiếm khi được nghe thấy. Trong suốt cuộc chiến tranh châu Âu, trong khi người Anh lùng sục các tổ tiên du mục của người Thổ Ottoman để tính sổ với cuộc tàn sát 600 nghìn người Armenia, thì nửa triệu người du mục Trung Á nói tiếng Thổ của Liên bang Kirghiz Qāzāq đã bị tiêu diệt bởi những kẻ tự xưng là “chính nghĩa nhân loại” - các nông dân Nga”.[5]
Cộng đồng du mục đã suy tàn trên thảo nguyên Á-Âu kể từ thời điểm đó của thế kỷ 17, khi hai đế chế định cư là Nga và Mãn Thanh vươn dài những chiếc vòi bạch tuộc của chúng ra ôm trọn thảo nguyên Á-Âu từ phía đối diện. Nền văn minh Tây phương của chúng ta ngày nay, vốn đã thống trị toàn bộ bề mặt địa cầu, đang hoàn tất nốt việc tận diệt cộng đồng du mục trên tất cả các vùng lãnh thổ cổ xưa khác của nó. Ở Kenya, những vùng đồng cỏ của người Masai đã bị chia dọc xẻ ngang để làm đường đi cho các nông dân Âu châu. Ở sa mạc Sahara, người Imoshagh đang chứng kiến sa mạc vĩ đại xưa nay không thể vượt qua của họ bị xâm lấn bởi các máy bay và xe tải tám bánh. Ngay cả ở bán đảo Ả Rập, quê hương của cộng đồng du mục Á-Phi, người Badu cũng đang bị ép buộc trở thành fallāhīn, và không phải do một thế lực nào từ bên ngoài, mà là do chính sách có chủ tâm của một “người Ả Rập trong số người Ả Rập”, Abd-al-Āziz Al-Sa’ūd, vua của Najd và Hijāz, và là lãnh đạo kế tục của cộng đồng Hồi giáo quá khích Wahhābī. Khi một kẻ thống trị Wahhābī ở ngay tại trái tim của bán đảo Ả Rập muốn củng cố quyền cai trị của mình bằng xe bọc thép, giải quyết những vấn đề kinh tế bằng các máy bơm và giếng dầu để thỏa mãn nhu cầu dầu hỏa của nước Mỹ, thì rõ ràng là những giây phút cuối cùng của chế độ du mục đã điểm.
Và thế là Abel đã bị Cain hạ sát, bây giờ chúng ta sẽ tiếp tục thẩm tra xem lời nguyền mà Cain phải gánh chịu có tương xứng với tội ác sát nhân của hắn hay không: “Và giờ đây ngươi sẽ phải gánh chịu lời nguyền của mặt đất, hỡi kẻ đã uống máu của em trai chảy ra từ bàn tay; từ nay về sau, khi ngươi cày bừa trên mặt đất, nó sẽ không hiến dâng cho ngươi sức mạnh của nó nữa; ngươi sẽ trở thành một kẻ lang thang không chốn dung thân trên mặt đất”.[6]
Phần đầu trong lời nguyền của Cain đã được chứng minh một cách hùng hồn là vô hiệu; vì mặc dù người nông dân ở ốc đảo chắc chắn đã phát hiện ra mình không thể trồng trọt trên đất thảo nguyên khô cằn, song anh ta có thể di chuyển sang những khu vực có điều kiện khí hậu dễ chịu hơn; và từ đó anh ta quay trở về, mang theo lực lượng hùng hậu của nền công nghiệp, để chiếm cứ vĩnh viễn các thảo nguyên của Abel. Tuy vậy, việc Cain sẽ làm chủ hay trở thành nạn nhân của nền công nghiệp mà hắn đã tạo ra vẫn còn cần thời gian để trả lời. Vào năm 1933, khi trật tự kinh tế mới của thế giới đang bị đe dọa sụp đổ và tan rã, có vẻ như cuối cùng Abel cũng có thể báo thù; và linh hồn của người du mục, có thể sẽ được đoàn tụ với kẻ đã sát hại chàng - người nông dân - ở chốn tuyền đài.[7]
(2) NGƯỜI OSMANLI
Ở phần trên, chúng ta đã trao đổi về các nền văn minh bị giam hãm như một hình phạt dành cho kỳ tích của họ trong phản ứng đáp trả một thách thức tự nhiên. Tiếp theo, chúng ta sẽ chuyển sang các trường hợp thách thức không đến từ môi trường tự nhiên mà từ môi trường con người.Thách thức gây ra phản ứng đáp trả dưới hình thức hệ thống Ottoman là sự dịch chuyển địa lý của một cộng đồng du mục từ môi trường tự nhiên của mình trên thảo nguyên sang một môi trường mới, ở đó họ gặp phải vấn đề mới là cai trị các cộng đồng người xa lạ. Chúng ta đã từng chứng kiến cách người du mục Avar, khi họ thấy mình bị phân cách với đàn gia súc trên thảo nguyên và bị mắc kẹt trong vùng đất trồng trọt, đối xử với các cư dân định cư ở địa phương mà họ đã chinh phục được như một loại gia súc mới - “gia súc người” - và họ đã tự biến mình từ những người chăn nuôi gia súc thành những kẻ “chăn nuôi người”. Thay vì sinh sống trên các bãi chăn thả hoang dã của thảo nguyên thông qua trung gian chuyển hóa là quá trình tiêu hóa của các gia súc, người Avar (cũng như nhiều bộ lạc du mục khác) đã chuyển sang sinh sống trên các cánh đồng trồng trọt thông qua trung gian chuyển hóa là sức lao động của con người. Một phương pháp tương tự đã được áp dụng, và trên thực tế, nó tỏ ra có hiệu quả đến một mức độ nào đó; nhưng sự phân tích kỹ lưỡng đã phát hiện ở bên trong nó một vết rạn nứt đầy tai họa.
Trên thảo nguyên, xã hội phức hợp được tạo nên bởi người du mục và các gia súc của họ, đó là sự kết hợp phù hợp nhất có thể nghĩ ra để tồn tại trong môi trường tự nhiên như thế; và người du mục không phải là một kẻ ăn bám trên những cộng sự phi nhân tính củа họ. Đó là một quan hệ cộng sinh có thể chấp nhận được: nếu các gia súc phải cung cấp không chỉ sữa mà cả thịt của chúng cho người du mục, thì trước hết người du mục phải thỏa mãn cho gia súc những nhu cầu sinh tồn của chúng. Cả hai bên đều không thể tồn tại trên thảo nguyên mà không có sự tương trợ của bên kia. Trái lại, trong môi trường của những cánh đồng trồng trọt và các thành phố, một xã hội kết hợp giữa những người du mục và các “gia súc người” bản xứ là rất bất hợp lý về mặt kinh tế, vì xét về mặt này những kẻ “chăn nuôi người” luôn luôn vô giá trị - mặc dù không phải luôn luôn vô dụng về mặt chính trị - và do đó hoàn toàn là những kẻ ăn bám. Theo quan điểm kinh tế thì họ đã thoái hóa từ những người chăn nuôi chăm sóc cho gia súc của mình thành những con ong Chúa lợi dụng công sức lao động của bầy ong thợ. Họ đã trở thành một tầng lớp thống trị phi sản xuất được nuôi sống bởi công sức của tầng lớp nhân dân lao động, những người chắc chắn sẽ được sống sung túc hơn về mặt kinh tế nếu không có sự hiện diện của họ.
Vì lý do đó mà những đế chế được người du mục thành lập nên đều chịu chung kết cục suy đồi và chết yểu. Sử gia vĩ đại người Magribī là Ibn Khaldūn (1332-1406) đã đánh giá đúng về các đế chế du mục khi ông xác định vòng đời trung bình của các đế chế này không vượt quá ba thế hệ hay 120 năm. Sau khi cuộc chinh phạt đã hoàn thành, những người du mục đi chinh phạt bị thoái hóa rất nhanh và trở thành một thứ phế thải về mặt kinh tế, trong khi các “gia súc người” của họ dần hồi phục vì họ vẫn duy trì địa vị của mình và không bị thoái hóa về mặt sản xuất kinh tế. Đàn “gia súc người” lấy lại tư cách con người bằng cách trục xuất hoặc đồng hóa các chủ nhân chăn nuôi. Sự cai trị của người Avar đối với người Slav có lẽ chỉ tồn tại trong vòng chưa đầy 50 năm, được chứng minh qua sự tiến bộ của người Slav và sự suy đồi của người Avar. Đế chế Attila của người Hung phương Tây tồn tại không lâu hơn thời gian sống của một cá nhân. Đế chế của các Il-Khan Mông cổ ở Iran và Iraq tồn tại không tới 80 năm, và đế chế của các Great Khan (Đại Hãn) ở miền Nam Trung Quốc cũng không thọ được lâu hơn. Đế chế của các Hyksos (các vị vua chăn nuôi) ở Ai Cập chỉ tồn tại trong khoảng một thế kỷ. Thời kỳ kéo dài hơn hai thế kỷ mà người Mông cổ và các hậu duệ bản xứ của họ, triều Nguyên, cai trị liên tục ở miền Bắc Trung Quốc (khoảng 1142-1368) và khoảng thời gian hơn ba thế kỷ rưỡi người Parthia làm chủ Iran và Iraq (khoảng từ 140 trước CN - 226-232) là những trường hợp ngoại lệ đặc biệt.
Theo những tiêu chuẩn kể trên thì vòng đời của Đế chế Ottoman ở thế giới Cơ Đốc Chính thống là một trường hợp độc nhất vô nhị. Nếu chúng ta xem thời điểm thành lập của nó là cuộc chinh phạt Macedonia vào năm 1372, và thời điểm suy tàn bắt đầu từ hiệp ước Nga-Thổ của Küchük Qaynarjy vào năm 1774, thì nó đã trải qua bốn thế kỷ chưa kể thời gian trước đó để trưởng thành và thời gian sau đó để suy vong. Đâu là lời giải thích cho sự tồn tại tương đối lâu bền này? Một lời giải thích chưa hoàn chỉnh có thể được tìm thấy từ thực tế là người Osmanli, mặc dù vô dụng về mặt kinh tế, song đã phụng sự một mục đích chính trị tích cực qua việc cung cấp cho thế giới Cơ Đốc Chính thống một tôn giáo tối cao mà nó không thể tự mình đạt tới. Nhưng chúng ta còn có thể đưa lời giải thích của mình đi xa hơn thế.
Chúng ta đã chứng kiến người Avar và những lớp người tương tự, khi họ từ hoang mạc xâm nhập vào vùng đất canh tác, đã thử - và đã thất bại - trong việc thích nghi với hoàn cảnh mới với tư cách là những “kẻ chăn nuôi người”. Sự thất bại của họ sẽ bớt gây ngạc nhiên khi chúng ta nhận thức rằng, những người du mục đi xây dựng đế chế trên vùng đất trồng trọt này đã không tìm được một giống người định cư tương tự với một trong những cộng sự của họ trong xã hội phức hợp trên thảo nguyên. Bởi lẽ, xã hội thảo nguyên này không chỉ bao gồm người chăn nuôi và gia súc của anh ta. Bên cạnh các gia súc mà anh ta sống nhờ vào sản phẩm của chúng, người du mục còn nuôi các loài vật khác - chó, lạc đà, ngựa - với chức năng trợ giúp cho anh ta trong công việc. Những gia súc phụ tá này là động lực chính của nền văn minh du mục và là chìa khóa dẫn đến thành công của nó. Cừu và bò chỉ cần được thuần hóa, mặc dù đó đã là điều rất khó khăn, để có thể phục vụ cho con người. Nhưng chó, lạc đà và ngựa sẽ không thể phục vụ tốt nhất trừ khi chúng, không chỉ được thuần hóa mà còn phải được huấn luyện. Việc huấn luyện những phụ tá phi nhân tính này là thành tựu đỉnh cao của người du mục; và sự mô phỏng nghệ thuật cao cấp này của họ trong điều kiện định cư chính là điểm nổi trội của Đế chế Ottoman so với Đế chế Avar, đó là lý do giải thích cho tuổi thọ cao hơn nhiều của nó. Các vua Ottoman duy trì đế chế của họ bằng cách huấn luyện một số nô lệ thành những “phụ tá con người” để giúp họ cai trị đàn “gia súc người”.
Điều này mở ra xu hướng đáng chú ý là tuyển chọn các binh sĩ và nhà quản lý từ tầng lớp nô lệ - một ý tưởng quá thích hợp với thiên tài du mục và quá xa lạ đối với thiên tài của xã hội chúng ta. Thực ra xu hướng này không phải là phát minh của riêng người Ottoman. Chúng ta còn nhận thấy nó ở các đế chế du mục khác cai trị người định cư - và nó chỉ xuất hiện ở những đế chế có thời gian tồn tại dài nhất.
Chúng ta bắt gặp bóng dáng của các chiến binh nô lệ ở Đế chế Parthia, khi một trong những đạo quân đã đè bẹp tham vọng cạnh tranh với Alexander Đại đế của Mark Antony được ghi chép là chỉ bao gồm có 400 người tự do trong lực lượng lên đến 50 nghìn binh sĩ của nó. Theo cùng kiểu cách và trên cùng lãnh địa, 1000 năm sau, các vương triều Abbāsid đã duy trì quyền thống trị của họ bằng cách mua nô lệ người Thổ Nhĩ Kỳ từ thảo nguyên và huấn luyện họ thành các binh sĩ và nhà quản lý. Các vị vua của vương triều Umayyad ở Cordova luôn luôn có bên cạnh một cận vệ nô lệ do người Frank láng giềng tuyển mộ giúp. Người Frank cung cấp “hàng hóa” cho chợ nô lệ ở Cordova bằng cách lùng sục nô lệ ở vùng biên giới đối diện trong lãnh thổ của mình. Do đó những người rợ bị bắt là người Slav; và đây chính là nguồn gốc của từ “slave” (nô lệ) trong tiếng Anh.
Tuy nhiên, ví dụ nổi bật hơn cả của hiện tượng này là đế chế Mamlūk ở Ai Cập. Từ mamlūk trong tiếng Ả Rập có nghĩa là “sở hữu” hoặc “chiếm hữu”, và người Mamlūk ban đầu là những chiến sĩ nô lệ của vương triều do Saladin thành lập, vương triều Ayуūbid. Tuy nhiên, vào năm 1250, các nô lệ này đã tống khứ các chủ nhân của họ và sử dụng hệ thống nô lệ ở Ayуūbid cho mục đích của riêng mình. Họ tuyển mộ thêm quân số cho các quân đoàn không phải bằng cách gia tăng dân số, mà bằng cách mua nô lệ từ nước ngoài. Núp sau bình phong của một vương triều bù nhìn, chế độ tư hữu nô lệ này đã cai trị Ai Cập và Syria, và cầm chân những người Mông cổ đáng sợ ở ranh giới sông Euphrates, từ năm 1250 đến tận năm 1517, khi họ gặp phải một thế lực chiếm hữu nô lệ mạnh hơn của người Osmanli. Song đó cũng chưa phải là thời điểm kết thúc đối với họ, vì dưới chế độ Ottoman ở Ai Cập, họ vẫn được quyền duy trì cách sống như xưa, theo cùng phương pháp huấn luyện và từ cùng nguồn tuyển mộ. Khi thế lực Ottoman suy vi, thế lực Mamlūk lại tái khẳng định mình và trong thế kỷ 18, Tổng trấn thuộc Ottoman Ai Cập đã trở thành một nhà tù thực sự đối với người Mamlūk, cũng như vương triều Cairene Abbāsid trước cuộc chinh phạt của người Thổ Nhĩ Kỳ. Vào thời điểm chuyển giao giữa hai thế kỷ 18 và 19, việc di sản của Đế chế Ottoman ở Ai Cập sẽ quay trở lại với người Mamlūk hay rơi vào tay một thế lực Âu châu nào đó - chẳng hạn như nước Pháp của Napoleon hoặc nước Anh - đã trở thành một câu hỏi mở. Thực ra, cả hai đế quốc này đều bị qua mặt bởi thiên tài của nhà thám hiểm Hồi giáo Albania, Mehmed ’Ali, nhưng rồi ông nhận thấy việc bình trị người Mamlūk khó hơn nhiều so với cầm chân Anh và Pháp. Ông đã phải vận dụng hết năng lực và sự cứng rắn của mình để tiêu diệt các quân đoàn nô lệ tự trị này sau khi chúng đã tồn tại trên mảnh đất Ai Cập xa lạ, bằng cách thường xuyên bắt lính ở thảo nguyên Á-Âu và Caucasian, trong hơn 500 năm.
Tuy nhiên, về mặt kỷ luật và tổ chức, chế độ chiếm hữu nô lệ Mamlūk đã bị bỏ xa bởi chế độ chiếm hữu nô lệ trẻ tuổi hơn được vương triều Ottoman tạo ra để thành lập và duy trì quyền thống trị của nó trong thế giới Cơ Đốc Chính thống. Cai trị hiệu quả toàn bộ thể xác xã hội của một nền văn minh ngoại bang rõ ràng là nhiệm vụ khó khăn nhất mà một kẻ chinh phục du mục có thể tự đặt ra cho mình, và sự táo bạo của Osmān cùng các hậu duệ của ông tính đến thời Suleymān vĩ đại (1520-1566) là một thể hiện tuyệt vời về năng lực xã hội của người du mục.
Đặc tính chung của chế độ chiếm hữu nô lệ Ottoman được chuyển tải trong đoạn trích sau đây từ một nghiên cứu xuất sắc của một học giả người Mỹ:
“Xã hội Ottoman bao gồm vua và hoàng gia, các quan chức trong Hoàng gia, các quan chức chấp pháp của chính phủ, các quân đoàn kỵ binh và bộ binh, và một cơ thể cường tráng bao gồm những người trẻ tuổi được đào tạo để phục vụ quân đội, tòa án và chính phủ. Những người này sử dụng lưỡi gươm, cây bút và quyền trượng. Họ điều khiển toàn bộ chính quyền, ngoại trừ một số chức năng đặc biệt được kiểm soát bởi thánh luật, và những chức năng hạn chế đó vẫn còn nằm trong tay các nhóm người ngoại đạo. Đặc điểm quan trọng và đặc thù nhất trong cơ cấu này là những đặc tính kế thừa từ Cơ Đốc giáo; và đặc điểm thứ hai là gần như tất cả mọi thành viên bước chân vào đây đều là nô lệ của nhà Vua, và sẽ là nô lệ của nhà vua suốt đời - bất chấp anh ta có giành được tài sản, quyền lực và danh vọng cao tới đâu chăng nữa. …
Gia đình hoàng gia … cũng có thể bị liệt vào loại gia đình nô lệ vì mẹ của các con của vua là các nô lệ: chính bản thân nhà vua cũng là con trai của một nô lệ. … Từ rất lâu trước thời Suleymān, các vị vua đã thôi chọn vợ trong tầng lớp quyền quý hoặc ban danh hiệu hoàng hậu cho mẹ của các con họ. … Hệ thống Ottoman chủ tâm chọn lựa những người nô lệ và đưa họ lên điều hành chính quyền. Nó chọn lựa những cậu bé ngoài bãi chăn cừu và trên đồng ruộng để đưa lên làm cận thần và làm phò mã; nó chọn những thanh niên trẻ có tổ tiên mang những cái tên Cơ Đốc giáo đã nhiều thế kỷ để cai trị những vùng lãnh thổ vĩ đại nhất của tiên tri Muhammad, cùng với các chiến binh và tướng lĩnh của những đội quân vô địch mà niềm hạnh phúc nhất của họ là hạ bệ Cơ Đốc giáo và tôn vinh Thổ Nhĩ Kỳ. … Hoàn toàn bất chấp những đạo lý cơ bản được gọi là “bản năng tự nhiên của con người”, những định kiến tôn giáo và xã hội vẫn được coi là sâu xa như bản thân cuộc sống, hệ thống Ottoman cướp những đứa con khỏi tay cha mẹ chúng mãi mãi, ngăn cản mối quan tâm giữa các thành viên trong gia đình suốt những năm tháng tuổi trẻ, không đảm bảo cho họ quyền sở hữu của cải, không đảm bảo là các con họ sẽ được hưởng lợi ích từ sự thành công và hy sinh của họ, cất nhắc và vùi dập họ bất kể tới tổ tiên của họ là ai, danh hiệu của họ là gì, dạy cho họ những luật lệ, đạo lý và tôn giáo kỳ quặc, và chẳng bao giờ lưu ý họ rằng một lưỡi gươm giơ cao trên đầu có thể là kết cục xảy ra bất cứ lúc nào của một sự nghiệp rạng rỡ trên con đường chinh phục vinh quang của con người”.[8]
Sự ngăn cấm tầng lớp quý tộc kế thừa quyền tự do trong xã hội Ottoman của nhà cầm quyền, có lẽ là phần kỳ quặc nhất của xã hội này đối với chúng ta, đã được minh chứng; vì ngay khi Hồi giáo tự do tìm được đường thâm nhập vào xã hội này, trong những năm cuối của triều đại Suleymān, thì nó đã bắt đầu sụp đổ và Đế chế Ottoman bước vào giai đoạn suy tàn.
Trong suốt thời kỳ hệ thống quân đội nô lệ này còn đứng vững, các thành viên mới đến từ nhiều nguồn cung cấp ngoại đạo khác nhau: từ bên kia biên giới với những nô lệ bắt được trong chiến tranh, mua từ chợ nô lệ hoặc từ những người tự nguyện tòng quân; và từ bên trong đế chế qua những đợt tuyển mộ cưỡng bức trẻ em định kỳ. Các tân binh sau đó sẽ được tiếp thu một hệ thống giáo dục phức tạp và tinh xảo, với sự chọn lọc và chuyên môn hóa tại mỗi giai đoạn. Kỷ luật hết sức hà khắc và sự trừng phạt vô cùng tàn bạo, trong khi trái lại, luôn luôn có một sự kích động tham vọng chủ tâm và diễn ra liên tục. Mọi cậu bé đã gia nhập vào đội ngũ nô lệ của Pādishāh Ottoman đều biết rằng mỗi cậu có thể là đại tể tướng trong tương lai và rằng triển vọng của cậu phụ thuộc vào lòng dũng cảm mà mỗi cậu thể hiện trong tập luyện.
Chúng ta có được một mô tả chi tiết và sống động về hệ thống giáo dục này trong thời hoàng kim của nó từ một nhân chứng trực tiếp - một học giả và nhà ngoại giao người Flemish là Ghiselin de Busbecq - đại sứ được Hoàng gia Hapsburg gửi tới Suleymān vĩ đại, và kết luận của ông này đã tâng bốc nền văn minh của người Osmanli là trái ngược với các phương pháp của xã hội Cơ Đốc Tây phương đương thời:
“Tôi đã phải ghen tị với người Thổ Nhĩ Kỳ về hệ thống của họ”, ông nói. “Đó là đường lối nhất quán, bất cứ khi nào phát hiện ra mình sở hữu một con người có những phẩm chất đặc biệt; thì họ đều vui sướng và hãnh diện như thể vừa tìm được một viên ngọc quý. Và để phát huy mọi phẩm chất của anh ta, họ không bỏ qua bất cứ một biện pháp nào - đặc biệt là khi họ nhận ra ở anh ta một thiên hướng quân sự. Đường lối của xã hội phương Tây của chúng ta hoàn toàn ngược lại! Ở phương Tây, nếu chúng ta sở hữu một con chó săn, chim ưng hoặc ngựa giỏi, thì chúng ta rất lấy làm hãnh diện, và chúng ta không tiếc công sức để giúp cho sinh vật đó đạt tới mức hoàn thiện cao nhất mà nòi giống của nó cho phép. Thế nhưng trong trường hợp con người - giả sử chúng ta sở hữu một con người có những dấu hiệu bộc lộ tài năng thiên bẩm - chúng ta lại chẳng hề quan tâm và không coi việc giáo dục cho anh ta là một trách nhiệm cụ thể của mình. Vì vậy mà người Tây phương chúng ta nhận được nhiều niềm hãnh diện và sự phục vụ từ chó săn, chim ưng hoặc ngựa, trong khi người Thổ nhận được một con người với những cá tính và phẩm chất đã được trui rèn qua giáo dục, vượt xa sự ưu việt tự nhiên của con người đối với phần còn lại trong vương quốc động vật”.[9]
Cuối cùng, hệ thống này sụp đổ vì mọi người đều muốn chia sẻ đặc quyền của nó. Đến cuối thế kỷ 16 CN, khả năng kết nạp vào những quân đoàn vệ binh được mở ra cho mọi công dân Hồi giáo tự do, ngoại trừ người da đen. Số lượng tăng vọt nhưng tính kỷ luật và hiệu quả giảm sút. Đến giữa thế kỷ 17, đàn “chó chăn cừu” này đã “quay trở về với bản năng tự nhiên”, trở lại thành chó sói và tấn công đàn gia súc người của Pādishāh thay vì canh gác, bảo vệ và quản thúc họ. Kết quả của cuộc đại chiến kéo dài từ 1682-99 giữa Đế chế Ottoman và các thế lực Tây phương đã mở đầu cho chuỗi mất mát lãnh thổ của Đế chế Ottoman kéo dài đến tận năm 1922, sự ưu việt về tính kỷ luật và hiệu quả đã hoàn toàn chuyển sang doanh trại của người phương Tây.
Nguyên nhân dẫn tới sự suy tàn của hệ thống quân đội nô lệ Ottoman được quy cho một nhược điểm nghiêm trọng của nó, đó là sự cứng nhắc thái quá. Một khi đã bị trục trặc, nó không thể được sửa chữa hoặc tái thiết, cả hệ thống biến thành một cơn ác mộng, và các vua chúa Thổ Nhĩ Kỳ ở giai đoạn cuối đã buộc phải áp dụng các biện pháp của kẻ thù phương Tây của họ, một biện pháp kéo dài, miễn cưỡng và kém hiệu quả nhưng cuối cùng cũng được hoàn tất bởi Mustafā Kemāl. Hình thức biến thái này, theo kiểu của nó, là một kỳ tích tuyệt vời không kém so với sự sáng tạo hệ thống quân đội nô lệ ở giai đoạn đầu của Đế chế Ottoman. Dù vậy, so sánh kết quả giữa hai động thái nói trên sẽ cho ta thấy sự vô giá trị của động thái thứ hai. Các nhà sáng lập hệ thống quân đội nô lệ Ottoman đã sáng tạo ra một công cụ không những cho phép một nhóm người du mục nhỏ - những người đã bị trục xuất khỏi thảo nguyên quê hương họ - tồn tại trong một thế giới xa lạ, mà còn tiếp cận và cai trị một cộng đồng Cơ Đốc giáo lớn hơn họ rất nhiều lần, rồi sau đó đe dọa tính mạng của một xã hội Cơ Đốc giáo khác lớn hơn, xã hội sau này sẽ phủ cái bóng của nó lên toàn bộ nhân loại. Còn các chính khách Thổ Nhĩ Kỳ giai đoạn cuối chỉ đơn giản lấp đầy khoảng trống để lại ở vùng Cận Đông, sau sự biến mất của cấu trúc độc nhất vô nhị của Đế chế Ottoman cũ bằng cách dựng nên một kiểu mẫu theo tiêu chuẩn Tây phương trong hình thể của một nhà nước trung ương Thổ Nhĩ Kỳ. Với kiểu mẫu phổ biến này, từ đây về sau - cũng như các hậu duệ của người Do Thái phục quốc thuộc nền văn minh Syria cổ láng giềng và hậu duệ của người Ireland thuộc nền văn minh Viễn Tây - những người thừa kế nền văn minh bị giam hãm Ottoman mãn nguyện sống cuộc đời bình thường với tư cách những người đã được cởi bỏ tình trạng của “người được chọn”.
Còn về bản thân hệ thống “quân đội nô lệ”, nó đã bị “hạ sát” một cách không thương xót - số phận đương nhiên dành cho một con chó chăn cừu nổi điên quay ra khủng bố bầy cừu - bởi vua Mahmūd II trong năm 1826, vào khoảng giữa cuộc chiến Hy Lạp - Thổ Nhĩ Kỳ, 15 năm sau khi chế độ tương tự của người Mamlūk bị tiêu diệt bởi tên tuổi đôi lúc là đồng minh và đôi khi là địch thủ của vua Mahmūd, đó là Mehmed ‘Ali xứ Ai Cập.
(3) NGƯỜI SPARTA
Chế độ của Đế chế Ottoman có lẽ đã gần đạt tới lý tưởng của một nền cộng hòa theo thuyết Plato, nhưng điều chắc chắn là bản thân Plato, khi hình dung ra xã hội không tưởng của mình, đã nghĩ tới chế độ của người Sparta trong đầu; và bất chấp sự khác biệt về tầm vóc giữa các thể chế Ottoman và Sparta, vẫn có một sự tương đồng mật thiết giữa “các tổ chức đặc quyền” mà các cộng đồng này tự trang bị để thực hiện kỳ tích của nó.Như chúng ta đã biết từ ví dụ đầu tiên được liệt kê trong nghiên cứu này (xem trang 4), người Sparta đã thực hiện một phản ứng đáp trả đặc biệt trước thách thức phổ biến xảy ra với mọi chính quyền Hy Lạp cổ trong thế kỷ thứ tám trước CN, khi dân số của xã hội Hy Lạp bùng nổ vượt quá khả năng của các phương tiện sinh kế. Giải pháp thông thường dành cho thách thức này là quá trình thực dân hóa: sự bành trướng lãnh thổ của xã hội Hy Lạp cổ bằng cách khám phá các vùng đất mới bên kia đại dương rồi chinh phạt và định cư trên lãnh thổ của những người “rợ” địa phương. Và giải pháp này đã được chứng minh là đơn giản do khả năng chống cự kém hiệu quả của người rợ. Tuy nhiên, người Sparta, gần như là cộng đồng Hy Lạp cổ duy nhất không sống gần biển, đã chọn giải pháp chinh phạt các cộng đồng Hy Lạp láng giềng, đó là người Messenia. Hành động này khiến họ phải đương đầu với một thách thức khác có độ khắc nghiệt bất thường. Cuộc chiến Sparta - Messenia đầu tiên (khoảng 736-720 trước CN) chỉ là trò trẻ con so với cuộc chiến lần thứ hai (khoảng 650-620 trước CN), trong đó các thần dân Messenia, được tôi luyện qua tai ương, đã đứng lên đấu tranh vũ trang với các chủ nhân của họ. Mặc dù thất bại trong việc giành quyền tự do cho riêng mình, song người Messenia đã thành công trong việc làm lung lay toàn bộ tiến trình phát triển của người Sparta. Cuộc nổi dậy của người Messenia là một sự kiện khủng khiếp đã khiến xã hội Sparta “rơi vào thảm trạng cùng quẫn”. Từ đó trở đi, người Sparta không bao giờ được ngơi nghỉ, không bao giờ có thể thoát khỏi phản ứng hiếu chiến của người Messenia. Cuộc chinh phạt của họ đã cầm tù chính những kẻ đi chinh phạt, cũng như người Eskimo bị nô dịch bởi chính cuộc chinh phục môi trường Bắc Cực của mình. Và cũng như người Eskimo bị cột chặt vào chu kỳ sinh tồn hàng năm, người Sparta cũng bị cột chặt với nhiệm vụ trấn áp các helot (nông nô) người Messenia.
Người Sparta trang bị cho mình phương pháp để thực hiện kỳ tích cũng giống như người Osmanli, đó là sửa đổi những tổ chức đã có sẵn để thỏa mãn các nhu cầu mới. Nhưng trong khi người Osmanli có thể phát triển dựa trên di sản xã hội phong phú của nền văn minh du mục, thì đối với các tổ chức của người Sparta đó là sự điều chỉnh từ một hệ thống xã hội rất sơ khai của những người rợ Doris đã xâm lược Hy Lạp trong thời kỳ Völkerwanderung hậu Minoan. Truyền thuyết Hy Lạp quy thành tựu này cho Lycurgus. Nhưng Lycurgus không phải là một con người - mà chỉ là một vị thần; và các tác giả thực sự của nó có lẽ là một loạt các chính khách sống vào cuối thế kỷ thứ sáu trước CN.
Trong hệ thống của người Sparta, cũng như trong hệ thống của Đế chế Ottoman, đặc điểm nổi bật giải thích cả tính hiệu quả lẫn nhược điểm chết người của nó, chính là sự rẻ rúng bản chất tự nhiên của con người. Tuy vậy, hệ thống nô lệ của người Sparta không đến nỗi bất chấp nguồn gốc sinh sản và di truyền như hệ thống của Ottoman; và các công dân địa chủ tự do của Sparta ở vào tình huống hoàn toàn đối nghịch với các tiểu nông Hồi giáo của Đế chế Ottoman. Trong thực tế, toàn bộ trách nhiệm duy trì sự thống trị của người Sparta đối với người Messenia đều do họ gánh vác. Đồng thời, đối với mọi công dân tự do của Sparta, nguyên tắc bình đẳng được áp đặt một cách khắt khe. Mỗi công dân nhận của nhà nước có một phần đất kích thước hoặc sản lượng bằng nhau, và mỗi phần đất được chia này, được giao cho các nông nô Messenia trồng trọt, cung cấp hoa lợi một cách hiệu quả để nuôi sống người công dân chủ đất và gia đình của anh ta, và điều đó cho phép anh ta cống hiến hết sức lực của mình cho nghệ thuật quân sự. Mọi đứa trẻ Sparta, ngoại trừ trường hợp bị “loại” do quá yếu đuối và bị bỏ mặc cho chết, từ độ tuổi lên 7 trở đi đều bị bắt buộc phải tham gia chương trình giáo dục quân sự. Không có trường hợp nào được miễn, và trẻ gái cũng phải tập luyện thể lực như trẻ trai. Trẻ gái, cũng như trẻ trai, đều cởi trần thi đấu trước sự theo dõi của các khán giả nam giới, và người Sparta có vẻ như đã đạt tới một trình độ tự chủ hoặc thể hiện sự lãnh đạm về tính dục tương tự như người Nhật Bản hiện đại. Sản phẩm từ những đứa trẻ Sparta này được điều khiển dựa trên nguyên tắc ưu sinh[10] nghiêm ngặt, và một người chồng yếu đuối được khuyến khích tìm một người đàn ông khác khỏe mạnh hơn để truyền giống cho những đứa con của gia đình anh ta. Theo Plutarch, người Sparta “chẳng thấy gì khác ngoài sự thô bỉ và phù phiếm trong những quy tắc tính dục của phần còn lại của nhân loại - những kẻ sẵn sàng cung cấp cho chó hoặc ngựa cái của họ những con giống tốt nhất mà họ có thể mượn hoặc thuê được, trong khi lại nhốt kỹ những người đàn bà và canh giữ cẩn mật để đảm bảo là họ chỉ sinh ra những đứa con của riêng mình, làm như đây là một đặc quyền thiêng liêng của người chồng dù cho anh ta bị đần độn, lão suy hoặc bệnh tật”.[11]
Độc giả sẽ nhận thấy sự tương đồng đáng ngạc nhiên giữa lời bình luận của Plutarch về hệ thống của người Sparta với những nhận xét đã dẫn của Busbecq về hệ thống nô lệ của người Osmanli.
Những đặc điểm nổi trội trong hệ thống của người Sparta cũng tương tự như trong hệ thống Ottoman - đó là sự giám sát, chọn lọc, chuyên môn hóa và tinh thần cạnh tranh - và trong cả hai trường hợp, những đặc điểm này không chỉ bị giới hạn trong môi trường giáo dục. Công dân Sparta phải phục vụ 53 năm trong quân đội. Về một số mặt, anh ta bị quản thúc còn nghiêm ngặt hơn cả các vệ binh Thổ Nhĩ Kỳ. Các vệ binh Thổ bị ngăn cấm kết hôn, nhưng nếu đã kết hôn thì họ được ở trong những căn lều dành riêng cho người có gia đình; còn người lính Sparta, mặc dù bị bắt buộc kết hôn, song lại bị cấm hướng tới một cuộc sống gia đình. Ngay cả sau khi kết hôn anh ta vẫn tiếp tục ăn ngủ trong doanh trại của mình. Kết quả là một tinh thần cộng đồng gần như siêu đẳng, một tinh thần mà người Anh khó có thể tìm thấy ngay cả dưới áp lực chiến tranh và hoàn toàn không thể chịu đựng được trong những hoàn cảnh khác. Điều này đã biến từ “Spartan” (người Sparta) thành một phương ngữ để chỉ những người can đảm và có tính kỷ luật cao. Nó được minh họa bằng câu chuyện “200 người ở Thermopylae”, hoặc câu chuyện về cái hộp và con cáo. Mặt khác, chúng ta cần nhớ rằng, hai năm cuối trong chương trình giáo dục của các cậu bé Sparta thường trải qua ở cơ quan mật vụ, thực chất là một tổ chức sát nhân chính quy, thường xuyên đi tuần tra vào ban đêm để hạ sát bất cứ nông nô nào có dấu hiệu không chịu phục tùng.
Thiên tài “thiển cận” của hệ thống của người Sparta đập vào mắt bất cứ du khách nào đến thăm viện Bảo tàng Sparta hiện nay; vì viện bảo tàng này hoàn toàn khác với bất kỳ bộ sưu tập công trình nghệ thuật Hy Lạp cổ nào khác. Trong những bộ sưu tập khác, khách tham quan sẽ tìm thấy các kiệt tác của thời Cổ Đại, có niên đại vào khoảng thế kỷ thứ năm hoặc thứ tư trước CN. Tuy nhiên trong viện Bảo tàng Sparta, nghệ thuật cổ đại không hề có mặt. Những mẫu vật tiền-Cổ Đại cho thấy vẻ hứa hẹn, nhưng nếu ai đó đi tìm giai đoạn tiếp theo của chúng, người đó sẽ phải thất vọng. Đó một lỗ hổng hoàn toàn, rỗng tuếch trên thang thời gian và tiếp theo đó là hằng hà sa số những mẫu vật theo đúng khuôn tấc và buồn tẻ của thời kỳ Hy Lạp cổ và La Mã. Thời điểm mà nghệ thuật Sparta chấm dứt trùng với thời điểm nhậm chức của Công sứ Chilon giữa thế kỷ thứ sáu trước CN, và vì lý do đó chính khách này thường được cho là một trong những tác giả của hệ thống Sparta. Sự nối lại cũng bất ngờ không kém của việc sản xuất nghệ thuật trong thời kỳ suy tàn chỉ xảy ra vào khoảng 189-188 trước CN, khi hệ thống này đã bị thủ tiêu bằng bạo lực bởi một kẻ chinh phạt nước ngoài. Đây là một minh họa kỳ lạ về tính khắc nghiệt của hệ thống đã tồn tại được thêm hai thế kỷ sau khi lý do tồn tại của nó biến mất - đó là khi người Messenia bị diệt vong. Trước thời điểm này, văn tế xã hội Sparta đã được Aristotle viết dưới dạng một lời tuyên bố chung: “Con người ta không nên tự huấn luyện cho mình nghệ thuật chiến tranh với mục đích nô dịch những người láng giềng không đáng bị nô dịch [nghĩa là những cộng đồng Hy Lạp khác, không phải là “nòi giống man rợ không có luật pháp”, như cách người Hy Lạp cổ gọi người rợ]. … Mục đích tối hậu của bất cứ hệ thống xã hội nào сũng nên là xây dựng tổ chức chiến tranh, cũng như tất cả các tổ chức khác, để hướng tới những thời điểm hòa bình, khi những người lính không phải làm nhiệm vụ”.[12]
(4) CÁC ĐẶC ĐIỂM CHUNG
Có hai đặc điểm chung nổi bật lên ở tất cả các xã hội bị giam hãm, đó là chế độ đẳng cấp và sự chuyên môn hóa; và cả hai hiện tượng này có thể lập thành một công thức duy nhất: những cá thể sống trong mỗi xã hội thuộc loại này không chỉ gồm một chủng loài duy nhất mà được phân chia thành hai hoặc ba loại khác nhau. Trong xã hội Eskimo, có hai đẳng cấp: người thợ săn và các phụ tá chó săn của họ. Trong xã hội du mục có ba đẳng cấp: người chăn nuôi, những con vật phụ tá và đàn gia súc. Trong xã hội Ottoman chúng ta phát hiện ba đẳng cấp tương ứng với xã hội du mục, chỉ có điều sử dụng con người để thế chỗ cho gia súc. Trong khi sự đa dạng của hình thái xã hội du mục được cấu thành bởi sự cộng sinh giữa con người với gia súc trong điều kiện cả hai bên đều không thể tồn tại một mình trên thảo nguyên, thì sự đa dạng trong hình thái xã hội Ottoman được cấu thành bởi tiến trình ngược lại, trong đó phân biệt một chủng tộc người vốn đồng nhất trong tự nhiên thành nhiều đẳng cấp và đối xử như thể họ là những loài sinh vật khác nhau; nhưng với mục đích trước mắt của chúng ta, điểm dị biệt này có thể được bỏ qua. Chó của người Eskimo hay ngựa và lạc đà của người du mục được nhân tính hóa một nửa nhờ sự hợp tác của chúng với con người, trong khi đó các thần dân của Đế chế Ottoman, Ra’iyeh (nghĩa là “đàn chiên”), và các nông nô (Helot) đã bị thú tính hóa một nửa thông qua sự đối xử như gia súc. Những cộng sự con người khác tham gia vào các xã hội kết hợp này được chuyên môn hóa thành những “quái vật”. Một công dân Sparta hoàn hảo là một đấu sĩ, một vệ binh Thổ Nhĩ Kỳ hoàn hảo là một tu sĩ, người du mục hoàn hảo là một nhân mã, người Eskimo hoàn hảo là một nhân ngư. Toàn bộ sự tương phản giữa Athens và kẻ thù của nó mà Pericles đã phác họa trong tác phẩm Văn tế, nằm ở điểm người Athens là con người, được tạo ra theo hình ảnh của Thượng Đế, trong khi người Sparta chỉ là những cỗ máy. Đối với trường hợp người Eskimo và người du mục, tất cả mọi mô tả của các nhân chứng lịch sử đều đồng ý với khẳng định rằng, các chuyên gia này đã đưa kỹ năng của mình lên tới trình độ mà người và thuyền hoặc người và ngựa hoạt động gắn liền với nhau như thể là một cơ thể duy nhất.Như vậy, người Eskimo, du mục, Osmanli và Sparta đã đạt được thành tựu của họ bằng cách loại bỏ tối đa bản tính của con người và thay vào đó là một bản tính động vật bất di bất dịch. Bằng cách đó, họ đã đặt chân lên con đường thoái hóa. Các nhà sinh vật học cho chúng ta biết rằng, những loài sinh vật nào tự thích nghi quá tốt với những môi trường chuyên môn hóa cao coi như lâm vào ngõ cụt và không còn tương lai trong tiến trình tiến hóa. Đó chính là số phận của các nền văn minh bị giam hãm.
Những hình ảnh tương tự với số phận nói trên được thể hiện qua xã hội tưởng tượng của loài người gọi là Utopia (xã hội hoàn hảo) và qua các xã hội có thật của các loài côn trùng. Nếu tiến hành so sánh, chúng ta sẽ thấy trong các tổ kiến và tổ ong, cũng như trong xã hội cộng hòa của Plato hoặc trong Thế giới mới dũng cảm của Aldous Huxley, những đặc điểm nổi bật mà chúng ta đã rút ra trong tất cả các nền văn minh bị giam hãm, đó là sự phân chia đẳng cấp và sự chuyên môn hóa.
Các loài côn trùng sống theo cấu trúc xã hội đã phát triển tới mức độ xã hội hóa như hiện nay, và dừng lại vĩnh viễn ở trình độ đó, nhiều triệu năm trước khi người Homo Sapiens bắt đầu vượt qua mức độ trung bình trong thang tiến hóa của các loài động vật có xương sống. Tương tự, đối với các xã hội hoàn hảo, chúng cũng dựa trên lý thuyết bất biến. Vì các tác phẩm này luôn luôn sắp đặt những hành vi nhằm ngụy trang cho miêu tả xã hội tưởng tượng; và hành vi mà chúng hướng tới gần như luôn luôn là “cột chặt” một xã hội thực tế đã bước vào quá trình suy thoái và chắc chắn sẽ sụp đổ, trừ khi diễn tiến suy thoái đó có thể được con người kìm hãm. Kìm hãm diễn tiến suy thoái là đỉnh điểm mà hầu hết các xã hội hoàn hảo đều khao khát, và điều này sẽ không thể thực hiện được trong bất kỳ một xã hội nào, trừ khi các thành viên của nó không còn mong đợi sự tiến bộ xa hơn. Vì lẽ đó mà trong hầu hết các mô hình xã hội hoàn hảo, sự thăng bằng vững chắc tuyệt đối là mục tiêu tối cao mà tất cả các xã hội khác đều phải phục tùng và nếu cần thiết, phải hy sinh.
Điều này đúng với xã hội hoàn hảo do người Hy Lạp cổ được tưởng tượng ra ở Athens trong các trường triết học mọc lên vào giai đoạn sau tai ương của chiến tranh với người Peloponnese. Kết quả hết sức tiêu cực là một tình trạng thù hận sâu sắc của nhân dân Athens đối với nền dân chủ. Đó là do, sau cái chết của Pericles, nền dân chủ đã đánh mất sự cộng tác hòa bình với nền văn minh Athens; nó phát triển thành một chủ nghĩa quân phiệt điên cuồng gieo rắc sự tàn phá cho thế giới mà ở đó, nền văn minh Athens đang hưng thịnh; và nó đánh dấu thất bại của mình trong chiến tranh bằng việc kết án tử Socrates.
Mối bận tâm hàng đầu của các triết gia Athens thời hậu chiến là từ bỏ mọi thứ đã làm rạng danh hệ thống chính trị của Athens trong hai thế kỷ trước đó. Họ cho rằng, người Hy Lạp chỉ có thể được an toàn nhờ sự liên kết giữa triết lý Athens và hệ thống xã hội của người Sparta. Để sửa đổi hệ thống của người Sparta theo những ý tưởng của riêng mình, họ cố gắng cải tiến nó theo hai đường lối: thứ nhất là thúc đẩy nó lên tới cực điểm và thứ nhì là tạo ra một tầng lớp trí thức tối cao (tầng lớp “giám hộ” của Plato), lấy hình mẫu từ bản thân các triết gia Athens, dựa trên tầng lớp quân sự của người Sparta, và được huấn luyện để chơi bè thứ hai trong dàn nhạc giao hưởng của xã hội hoàn hảo.
Với sự dung túng chế độ đẳng cấp, với thiên hướng chuyên môn hóa và nỗi đam mê thiết lập một trạng thái thăng bằng với mọi giá, các triết gia Athens ở thế kỷ thứ tư trước CN đã tự biến mình thành các học trò ngoan ngoãn của các chính khách Sparta từ thế kỷ thứ sáu trước đó. Về vấn đề đẳng cấp, tư tưởng của Plato và Aristotle mang dáng dấp của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc đã từng ám ảnh xã hội Tây phương của chúng ta trong giai đoạn gần đây. Hình tượng “sự lừa gạt cao quý” của Plato là một thủ đoạn tinh vi để đề xuất rằng, giữa người này với người khác có thể có những điểm khác biệt sâu sắc cấu thành sự phân biệt như giữa loài sinh vật này với loài sinh vật khác. Quan điểm bảo vệ chế độ chiếm hữu nô lệ của Aristotle cũng tương tự như vậy. Ông cho rằng một số người đã được “tự nhiên quy định” là nô lệ, mặc dù thừa nhận trong thực tế có nhiều nô lệ xứng đáng được tự do và có nhiều người tự do đáng phải làm nô lệ.
Trong các mô hình xã hội hoàn hảo của Plato và Aristotle (trong hai tác phẩm Nền cộng hòa và Luật pháp của Plato và hai tập cuối trong bộ Chính trị của Aristotle), mục tiêu không phải là hạnh phúc của mỗi cá nhân mà là sự ổn định và cân bằng của cộng đồng. Plato đưa ra lệnh cấm những bài thơ có nguồn gốc từ người Sparta; và ông ủng hộ một hình thức kiểm duyệt chung nhằm phòng ngừa những “tư tưởng nguy hiểm”, sau này chúng ta sẽ tìm thấy hình ảnh tương tự của nó trong quy định của các chủ nghĩa: Cộng sản Nga, Xã hội dân tộc Đức, Phát-xít Ý và Thần đạo Nhật Bản.
Mô hình Xã hội hoàn hảo thể hiện một hy vọng hão huyền là bảo vệ xã hội Hy Lạp cổ, và sự phiến diện của nó đã được thực tế chứng minh, trước khi lịch sử Hy Lạp cổ hoàn tất chu trình của mình, qua sự ra đời gượng ép của hàng loạt của các tổ chức quần chúng, trong đó các phương châm của xã hội hoàn hảo được diễn dịch một cách máy móc vào thực tế. Một tổ chức quần chúng nằm trên một mảnh đất hoang ở đảo Crete - đúng theo đòi hỏi của Plato trong tác phẩm Luật pháp - đã được nhân lên gấp hàng nghìn lần trong các chính quyền thành phố do Alexander và vương triều Seleucid cũng như người La Mã trong bốn thế kỷ tiếp theo thành lập. Trong các “xã hội hoàn hảo thực tế” này, những nhóm nhỏ người Hy Lạp hoặc người Ý đủ may mắn được tuyển làm người khai hoang sẽ được giao trọng trách đem ánh sáng Hy Lạp soi rọi cho những vùng tối tăm xung quanh, bằng cách chia cho họ nhiều “thổ dân” để giúp họ làm công việc nặng nhọc. Một vùng định cư La Mã ở xứ Gaul có thể được cung phụng bởi toàn bộ đất đai và dân chúng của cả một bộ lạc người rợ.
Vào thế kỷ thứ hai sau CN, khi thế giới Hy Lạp cổ đang tận hưởng phút giây huy hoàng cuối cùng, hay còn gọi là giai đoạn “thu muộn” của nó, thời điểm mà những người đương thời, và thậm chí cả những kẻ hậu sinh, lầm tưởng đó là một thời kỳ hoàng kim mới, có vẻ như hầu hết những hy vọng hão huyền nhất của Plato đều đã được thỏa mãn và vượt qua. Từ năm 96 tới 180, một loạt các vị vua hiền triết đã ngồi trên ngai vàng cai trị toàn bộ thế giới Hy Lạp cổ, hàng nghìn chính quyền thành phố tồn tại bên nhau trong hòa bình và hòa thuận dưới sự che chở của vị hoàng đế hiền triết. Tuy nhiên, sự dừng bước của các thế lực ma quỷ chỉ là tạm thời, vì mọi thứ không được êm đẹp như vẻ bề ngoài của nó. Một sự kiểm duyệt chi li, được cổ vũ từ môi trường xã hội vốn hiệu quả hơn bất kỳ một sắc lệnh nào của hoàng đế, đã loại bỏ sức sống của tri thức và nghệ thuật, và chắc chắn sẽ làm buồn lòng Plato nếu ông được chứng kiến. Sự thịnh vượng của thế kỷ thứ hai đã được tiếp nối bằng cảnh cơ hàn và hỗn loạn trong thế kỷ thứ ba, khi tầng lớp fallāhīn trở mặt giày vò các chủ nhân của họ. Đến thế kỷ thứ tư tình thế đã hoàn toàn lật ngược; vì tầng lớp đã từng có đặc quyền cai trị các vùng lãnh thổ tự trị của La Mã, nếu còn tồn tại đến thời điểm này, thì cũng đều bị xiềng xích. Bị xích vào cũi và đuôi cụp lại giữa hai chân sau, các ủy viên hội đồng tự trị trong Đế chế La Mã khó lòng còn có thể được nhận ra là các hậu duệ của ý thức hệ “chó chăn cừu con người” của Plato.
Cuối cùng, nếu khảo sát một vài trong số khá nhiều mô hình xã hội hoàn hảo hiện đại, chúng ta sẽ thấy các đặc tính không khác gì mô hình xã hội của Plato. Thế giới mới dũng cảm của Aldous Huxley, được viết trong một tác phẩm châm biếm, mang ý nghĩa bài bác chứ không phải khẳng định, bắt đầu từ lập luận rằng, nền công nghiệp hiện đại chỉ có thể vận hành nhờ sự phân chia quyết liệt các đẳng cấp “tự nhiên”. Điều này đạt được nhờ vào sự phát triển mạnh mẽ của sinh vật học, bổ sung thêm các kỹ thuật của tâm lý học. Kết quả là một xã hội phân tầng gồm các tầng lớp alpha, beta, gamma, delta và epsilon vốn đơn giản là phát minh của Plato hoặc thành tựu của người Osmanli được đẩy lên đến tột độ, với điểm dị biệt là các đẳng cấp được đặt theo mẫu tự của Huxley sẽ trở thành nhiều chủng loại “động vật” khác nhau, như con người, chó và động vật ăn cỏ đã từng hợp tác trong xã hội du mục. Epsilon, tầng lớp phải gánh vác công việc nặng nhọc, thực sự yêu thích công việc đó và chẳng muốn điều gì khác. Họ làm việc như thế trong các khu công xưởng giả tưởng. Tác phẩm Người đầu tiên trên mặt trăng của tác giả Wells phác họa một xã hội trong đó: “Mọi công dân đều biết vị trí của mình. Anh ta đã được sinh ra dành cho vị trí đó, và tính kỷ luật nghiêm khắc trong tập luyện và giáo dục đã giúp anh ta phù hợp hoàn hảo với vị trí đó đến nỗi anh ta không bao giờ có suy nghĩ hoặc mong muốn điều gì ngoài nó ra”.
Một ví dụ tiêu biểu và thú vị nữa đến từ một quan điểm hơi khác trong tác phẩm Erewhon của Samuel Butler. 400 năm trước cuộc viếng thăm của người kể chuyện, người Erewhon đã nhận ra rằng họ đang bị nô lệ bởi chính những máy móc mà mình đã phát minh ra. Sự kết hợp giữa người và máy đã trở thành một nhân tố gắn bó chặt chẽ như người-thuyền của người Eskimo và người-ngựa của người du mục. Vậy nên, họ đã phá hủy những cỗ máy và “đóng đinh” xã hội của họ tại trình độ mà nó đã đạt được trước khi bắt đầu thời đại công nghiệp.
Lưu ý. Biển cả và thảo nguyên trong vai trò dẫn đường cho ngôn ngữ
Ở đầu phần trình bày về cộng đồng người du mục, chúng ta đã lưu ý rằng thảo nguyên - cũng như “biển cả không thu hoạch” - mặc dù không cung cấp một vị trí nào cho con người định cư, song lại bù đắp bằng khả năng di chuyển và vận tải dễ dàng hơn so với những vùng đất định cư. Điểm tương đồng này giữa biển cả và thảo nguyên được minh họa qua chức năng dẫn dắt ngôn ngữ của chúng. Người ta thường nói rằng các nhà hàng hải có khuynh hướng truyền bá ngôn ngữ của họ trên khắp các bờ biển mà họ ghé qua. Các nhà hàng hải Hy Lạp cổ đã từng truyền bá tiếng Hy Lạp ra khắp vùng Địa Trung Hải. Kỹ năng đi biển của các thủy thủ người Mã Lai đã giúp truyền bá họ ngôn ngữ Mã Lai đến tận một bên là Madagascar, bên kia là Philippines. Trên Thái Bình Dương, tiếng Polynesia vẫn được nói giống nhau một cách đáng ngạc nhiên từ Fiji cho tới đảo Đông và từ New Zealand đến tận Hawaii, mặc dù đã nhiều thế hệ trôi qua kể từ khi khoảng cách mênh mông giữa các đảo này bị những chiếc thuyền mỏng manh của người Polynesia vượt qua. Và cũng nhờ “Anh quốc làm chủ những con sóng” mà tiếng Anh gần đây mới trở thành một ngôn ngữ có phạm vi toàn cầu.
Sự phổ biến những ngôn ngữ tương ứng quanh những vùng đất trồng trọt bên bờ thảo nguyên, thông qua hành trình của các “thủy thủ thảo nguyên” người du mục, được xác nhận bởi sơ đồ phân bố địa lý của bốn ngôn ngữ hoặc nhóm ngôn ngữ hiện vẫn còn tồn tại: Berber, Ả Rập, Thổ Nhĩ Kỳ và Ấn-Âu.
Nhóm ngôn ngữ Berber hiện nay được dân du mục sống trong và cả những người định cư ở khu vực rìa phía bắc và phía nam của sa mạc Sahara sử dụng. Ta có thể phỏng đoán rằng, các nhánh phía bắc và phía nam của họ ngôn ngữ này được truyền vào lãnh thổ hiện nay của chúng bởi những người du mục nói tiếng Berber đã vượt ra khỏi hoang mạc và xâm lấn đất trồng trọt theo cả hai hướng.
Ngày nay, tiếng Ả Rập được sử dụng rất nhiều, không chỉ trên các vùng rìa phía bắc của thảo nguyên Ả Rập, Syria và Iraq, mà ở cả các vùng rìa phía nam, ở Hadramaut và Yaman, và trên rìa phía tây, trong khu vực thung lũng sông Nile. Nó cũng được phát tán xa hơn nữa về phía tây, từ thung lũng sông Nile vào vùng lãnh thổ của ngôn ngữ Berber, nơi hiện nay nó được sử dụng vượt qua cả bờ Bắc Phi của Đại Tây Dương và bờ bắc của hồ Chad.
Tiếng Thổ Nhĩ Kỳ được phát tán trên nhiều vùng rìa thảo nguyên Á-Âu và hiện nay được sử dụng - với tư cách là thổ ngữ - trên một vùng rộng lớn thuộc lãnh thổ Trung Á, kéo dài từ bờ đông biển Caspian tới Lob Nor và từ vách phía nam của cao nguyên Iran tới mặt tây của dãy núi Altai.
Khu vực phân bố hiện nay của họ ngôn ngữ Thổ Nhĩ Kỳ cung cấp cho ta chìa khóa của khu vực phân bố của họ ngôn ngữ Ấn-Âu hiện nay (như tên của nó cho biết), vốn đã bị phân chia một cách lạ lùng thành hai khu vực địa lý phân lập, một ở châu Âu và một ở Iran và Ấn Độ. Bản đồ ngôn ngữ Ấn-Âu sẽ trở nên dễ hiểu, nếu chúng ta công nhận các ngôn ngữ thuộc họ này ban đầu được truyền bá bởi những người du mục làm chủ thảo nguyên Á-Âu trước khi những người truyền bá tiếng Thổ Nhĩ Kỳ đến cư ngụ ở đó. Cả Âu châu lẫn Iran đều có “bờ biển” trên thảo nguyên Á-Âu, và đại dương khô hạn vĩ đại này là trung gian giao tiếp tự nhiên giữa chúng. Điểm khác biệt duy nhất giữa trường hợp này với ba trường hợp trước là ở đây, nhóm ngôn ngữ Ấn-Âu đã đánh mất vị trí của mình trên khu vực thảo nguyên chia cắt ở giữa mà nó đã từng băng qua trong quá khứ.
❀ ❀ ❀
[1] Trích Steensby, H.P: Một nghiên cứu nhân chủng học về nguồn gốc nền văn minh Eskimo, tr. 43.
[2] Steensby, sách đã dẫn, tr. 42.
[3] Kinh Cựu ước, ch. IV. 1-5
[4] Tác giả Toynbee đã thực hiện một cuộc nghiên cứu toàn diện trong một phụ lục dài gắn liền với chương này không thể giới thiệu lại ở đây. (Người biên tập)
[5] Trích Toynbee, A.J: Vấn đề của xã hội phương Tây ở Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ, tr. 339-42.
[6] Kinh Cội nguồn IV. 11-12.
[7] Nếu tác giả Toynbee viết chương này vào năm 1945 thì hẳn là ông đã phải sửa đổi đôi chút đoạn này. (Người biên tập)
[8] Trích Lybyer, A.H: Chính quyền Đế chế Ottoman thời Suleiman vĩ đại, các trang 36, 45-6, 57-8.
[9] Trích Busbecq, O.G: Exclamatio, sive de Re Militari contra Turcam instituenda Consilium (NXB Leyden, 1633), trang 439.
[10] Thuyết ưu sinh (eugenics): cải thiện gien bằng cách kiểm soát gien nào được truyền lại cho thế hệ sau, nhờ đó giữ cho một giai cấp nào đó trong xã hội hay một dân tộc nào đó được “thuần khiết”, “thượng đẳng”, “tốt hơn”. Thuyết ưu sinh rất nổi tiếng vào những thập niên đầu thế kỷ 20. Vào giữa thế kỷ 20 thuyết ưu sinh không còn phổ biến do dính dáng tới Đức Quốc xã (dùng để bào chữa cho những hành động lạm dụng của Phát-xít như “rửa sạch chủng tộc”, tiêu diệt các nhóm dân tộc “không mong muốn”). Bên cạnh những chính sách can thiệp thô bạo vào việc sinh nở mà hiện nay đã không còn được áp dụng (giết trẻ sơ sinh của những người bị cho là có gen xấu…), nó cũng có một số điểm được cho là hợp lý và vẫn còn tồn tại trong quan điểm của một số người hiện nay (một số người bệnh không nên có con do bệnh có tính di truyền cao như bệnh thần kinh…). Do có thể được hiểu theo nghĩa rất rộng nên một số hành vi như sau có thể được cho là theo thuyết ưu sinh: Lý Quang Diệu có lần đã khuyến khích nam giới Singapore kết hôn với phụ nữ thuộc thành phần học thức hay khuyến khích các bà mẹ học thức có nhiều con hơn; gia đình Rothschild được cho là ủng hộ hôn nhân cận huyết; v.v…
[11] Trích Plutarch: Lycurgus, ch. XV.
[12] Trích Aristotle: Chính trị, 1333B-1334A.