Màu Của Nước

Lượt đọc: 138 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
9
Shul

❊ ❊ ❊

Ở Suffolk có một trường học dành cho người da trắng và một trường học dành cho dân da đen, một trường học dành cho người Do Thái. Con có thể gọi trường dành cho người Do Thái là “shul” theo tiếng Do Thái. Thực ra đó không phải là một trường học. Nó là một giáo đường nơi Tateh dạy tiếng Hebrew và dạy trẻ em học Kinh Thánh, dạy những đứa bé trai cách điều khiển ca đoàn. Thỉnh thoảng ông luyện giọng quanh nhà, hát “đồ rê mi pha son”. Con biết không, họ còn để ông cắt bao quy đầu cho trẻ con. Đó là một phần công việc của một giáo sĩ mà ông phải làm, đi đến các gia đình để cắt bao quy đầu cho những cậu bé. Ông có những con dao dành riêng cho việc đó. Ông cũng giết mổ bò trong lễ koshier cho người Do Thái ở trong phố ăn, và nhà mình thường có một con bò ở mảnh sân phía sau cửa hàng. Bọn mẹ dắt bò đến lò mổ của Jaffe ở phía dưới đường và những người đồ tể trói chân sau của nó lại bằng sợi dây thòng xuống từ trần nhà. Tateh mở hộp dao ra - ông có một cái hộp bọc vải nhung đặc biệt để đựng những con dao dành riêng cho mục đích đó - và cẩn thận chọn một trong số những con dao to sáng loáng. Sau đó ông đọc một lời cầu nguyện ngắn và thọc dao vào cổ con bò. Con bò rùng mình một cách dữ dội và máu phun xuống cổ nó, phun qua mũi chảy thành dòng trên sàn xi măng và nó chết. Sau đó những người đồ tể ngồi lên thân nó mổ bụng lôi nội tạng ra, tất cả, tim, gan, lòng, phổi.

Hồi bé mẹ không thể ăn thịt. Cái cảnh ông ngoại của con thọc dao vào cổ con bò đó đủ để khiến mẹ tránh ăn thịt trong nhiều năm. Mẹ sợ cha mình. Còn ông, ông dồn nỗi sợ Chúa vào mẹ.

Trường học của người Do Thái thật ra không bao gồm người da trắng, vì vậy mẹ đi học ở trường dành cho người da trắng, trường tiểu học Thomas Jefferson. Nếu việc học hành của anh em mẹ do ông ngoại của con quyết định thì ông sẽ chẳng cho mẹ đến trường. “Cái trường ngoại đạo đó sẽ chẳng dạy mày được điều gì mà mày có thể sử dụng được đâu,” ông chế giễu. Ông trả tiền để anh em mẹ học nghề may, đan, và làm tính ở những chỗ dạy tư. Về tiền nong ông keo kiệt lắm, nhưng riêng với những việc đó, ông không ngại chi tiền. Ông thích trả tiền cho bọn mẹ học tư hơn là đi học ở những trường dành cho người ngoại đạo, nhưng luật là luật, vậy nên mẹ đi học cùng với những đứa trẻ da trắng. Ngay từ đầu mẹ đã gặp khó khăn rồi, bởi vì ở trường những đứa trẻ da trắng ghét trẻ con người Do Thái. “Này, Ruth, mày bắt đầu trở thành người Do Thái bẩn thỉu từ khi nào vậy?” chúng hỏi. Mẹ không thể chịu đựng nổi sự nhạo báng đó. Mẹ thậm chí đổi tên để cố hòa nhập ở đó. Tên thật của mẹ là Rachel, trong tiếng Do Thái là Ruckla, và đó là tên mà ông bà ngoại của con gọi mẹ - nhưng mẹ sử dụng cái tên Ruth khi mẹ ở chỗ có người da trắng bởi vì cái tên đó nghe không giống tên Do Thái lắm, mặc dù điều đó chẳng thể khiến bọn trẻ ngừng trêu chọc mẹ.

Không ai thích mẹ hết. Đó là điều mà mẹ cảm nhận được khi còn bé. Mẹ biết cái cảm giác mình đi ra đường mà người ta ném về phía mình những tiếng cười hô hố, hoặc người ta cười khúc khích khi nghe thấy mình nói tiếng Do Thái, hoặc đơn giản nhìn mình với ánh mắt căm ghét. Con biết không, một người Do Thái sống ở Suffolk thời đó có thể trở nên cô đơn cho dù trong phòng có hơn chục người, mẹ không biết tại sao; đó là cái cảm giác không ai ưa mình; đó là những gì mẹ cảm thấy khi sống ở miền Nam. Ở đó con sẽ thấy mình khác biệt với mọi người, chỉ được rất ít, rất ít người thích mà thôi. Ở Suffolk có những khu da trắng, như khu Riverview chẳng hạn, nơi mà dân Do Thái không được phép sở hữu đất đai. Điều đó được nêu trong văn bản hẳn hoi, và con có thể tra cứu thông tin đó. Văn bản quy định khu đó, “chỉ dành cho người da trắng Anglo - Saxon theo đạo Tin Lành.” Đó là luật ở đó và thực tế đúng là như vậy. Người Do Thái ở Suffolk sống co cụm với nhau, nhưng thậm chí ở khu dân cư của người Do Thái gia đình mẹ cũng thuộc hạng bét bởi vì bọn mẹ giao thiệp với dân da đen. Vậy nên mẹ chẳng có nhiều bạn là người Do Thái.

Khi mẹ học lớp bốn, một cô bé đến gặp mẹ ở sân trường trong giờ giải lao và nói: “Cậu có mái tóc đẹp nhất. Chúng mình kết bạn nhé.” Mẹ nói: “Được thôi.” Ôi, mẹ mừng rơn vì có người muốn kết bạn với mình. Tên của cô bé đó là Frances. Chừng nào mẹ còn sống mẹ sẽ không bao giờ quên Frances. Cô ấy gầy gò, có mái tóc màu nâu nhạt và đôi mắt màu ngọc lam. Cô ấy là một người ít nói, hiền hòa. Thực ra mẹ bị cấm chơi với Frances bởi vì cô ấy là người ngoại đạo, nhưng mẹ vẫn lén lút đến nhà cô ấy, lén lút đưa cô ấy đến nhà mình. Thực ra, mẹ không phải lén lút khi đến nhà Frances bởi vì ở đó mẹ luôn được đón chào. Frances sống ở nửa bên kia của thị xã, đi qua nghĩa trang là tới, và mẹ thường vào nhà cô ấy bằng cửa sau. Dường như ở nhà Frances bữa chính luôn được bày sẵn. Mẹ của cô ấy bày đồ ăn ra những chiếc đĩa mà bà lấy ra từ tủ đựng đồ sứ bằng gỗ: thịt giăm bông, thịt gà, khoai tây, ngô, đậu quả, cà chua thái miếng, đậu ngự, bánh mỳ trắng, bánh quy nóng giòn phết đẫm bơ - mà mẹ thì không thể ăn bất cứ món nào trong những món đó. Đó là những món cấm kị, người Do Thái không được ăn. Lần đầu tiên mẹ của Frances mời mẹ ăn tối, mẹ nói, “Cháu không thể ăn những món này,” và mẹ bối rối cho tới khi Frances cất tiếng lảnh lót, “Tớ cũng không thích những món này đâu. Món ưa thích của tớ là món mai-don-ne ăn với bánh mỳ trắng cơ.” Frances như thế đó. Cô ấy làm từng việc nhỏ để mẹ biết rằng cô ấy đứng về phía mẹ. Cô ấy không phiền chút nào trước thực tế mẹ là người Do Thái, và nếu có cô ấy ở bên thì không một ai ở trường trêu chọc mẹ hết.

Mẹ thường lấy những đồng xu lẻ từ ngăn kéo của cửa hàng để hai đứa có thể đi xem phim ở rạp Chadwick - vé cho mẹ và cô ấy chỉ tốn mười xu. Hoặc trên đường đi học về mẹ đi tắt qua nghĩa trang thành phố để Tateh không nhìn thấy bọn mẹ; cả buổi trưa bọn mẹ ngồi trên những bia mộ nói chuyện rí ráu. Con biết đấy, bây giờ mẹ sợ phải ở những chỗ có người chết. Bây giờ mẹ đố con khiến mẹ đến gần một nghĩa địa đấy. Nhưng hồi đó, có Frances ở bên cạnh mẹ chẳng sợ chút nào. Hồi đó dường như ngồi trên bia mộ của ai đó dưới bóng cây nói chuyện với người bạn thân của mình là việc dễ dàng nhất, tự nhiên nhất. Bọn mẹ luôn nấn ná cho đến phút cuối và khi mẹ buộc phải về, bọn mẹ phải chạy về hai hướng khác nhau vậy nên bao giờ mẹ cũng đứng nhìn Frances chạy trước để đảm bảo rằng không con ma nào đang đuổi theo cô ấy. Cô ấy đang chạy, chợt quay đầu lại, nhìn về phía mẹ hỏi, “Có con ma nào theo sau tớ không Ruth? Có chắc không?” Và mẹ trả lời: “Chắc. Chắc chắn.”

Rồi cô ấy quay người chạy vụt đi, tránh những bia mộ và ngoái cổ lại nói: “Ruth, cậu vẫn đang nhìn đấy chứ? Canh ma cho mình nhé!”

“Tớ vẫn đang canh đây! Không có con nào đâu!” Mẹ hét to. Vài giây sau mẹ lại nói to: “Tớ đếm đây!” Và mẹ đếm đến mười như thế này: “Một hai ba bốn năm… mười!” và chạy về nhà! Mẹ chạy ú chạy ào qua cái nghĩa trang đó.

Gia đình Frances không giàu có. Họ giống như nhiều người da trắng thời đó. Những người da trắng nghèo sống theo mô hình trang trại. Họ không nghèo như con thấy ngày nay. Thời đó người ta nghèo cũng nghèo kiểu khác cơ. Nghèo thì vẫn nghèo, nhưng là một kiểu nghèo tốt hơn. Mẹ muốn nói rằng thời đó con không cần nhiều tiền như bây giờ, nhưng con cũng không có tiền. Dường như tất cả mọi người mẹ biết trong quá khứ đều nghèo. Đa số khách hàng của cửa hàng nhà mẹ đều là dân nghèo. Người da đen và người da trắng đều nghèo. Họ kiếm thức ăn từ sông Nansemond cách cửa hàng nhà mẹ một quả đồi. Đàn ông bắt cá, bắt cua ngoài bến sông và bắt những con rùa to đem về nhà nấu món xúp và món thịt hầm. Có người chỉ chuyên đi bắt rùa thôi. Ông ta cắp cả con rùa to tướng về nhà như con kẹp một cuốn sách vào nách, khiến mẹ và dì Dee-Dee của con cứ trố mắt ra nhìn. Đôi khi ông ấy dừng ở cửa hàng nhà mẹ mua vài thứ nguyên liệu cho món xúp rùa, nhiều gia vị và đồ nêm cho món xúp. Con rùa bị cắp nách vẫn còn sống nguây nguẩy, cứ đạp đạp chân cố thoát ra trong khi ông ta đứng trước cửa hàng mải chọn rau, mua gia vị để nấu nó. Mẹ cảm thấy tội nghiệp cho những con rùa. Mẹ muốn ông ta thả nó trở lại sông, nhưng mẹ không dám nói. Điên à? Câm đi! Ông ta sẽ không thả những con rùa ra sông vì bất cứ ai đâu. Chúng là bữa tối của cả nhà ông ta cơ mà.

Người dân thời đó sống trong nghèo đói. Và mẹ phải thú thật rằng mẹ chưa bao giờ bị đói như hầu hết những người khác. Mẹ chưa bao giờ phải ăn thịt rùa và ăn những con cua được bắt từ ngoài bến sông như nhiều người đã phải ăn. Mẹ chưa bao giờ quá đói cho tới khi mẹ kết hôn. Hồi đó mẹ không đói thức ăn nhưng mẹ đói những thứ khác. Mẹ đói tình yêu thương. Mẹ chẳng được biết đến yêu thương.

Người dịch: Nguyễn Bích Lan
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.