Màu Của Nước

Lượt đọc: 138 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
12
Cha

❊ ❊ ❊

Có lúc tôi chợt nghĩ một cách có ý thức rằng mình cũng có một người cha. Ý nghĩ đó xuất hiện vào khoảng thời gian em trai Hunter của tôi chào đời. Tôi lớn hơn Hunter năm tuổi, và trong khi sự chào đời của một đứa trẻ ở trong gia đình tôi dường như không khiến ai sửng sốt cả - Hunter là con thứ mười một - đó là lần đầu tiên một người đàn ông chậm chạp, lớn tuổi đội mũ màu nâu, mặc áo len dài tay, đeo dây quần, mặc quần may bằng vải pha len dường như xuất hiện chập chờn trong ý thức của tôi. Ông nhấc bổng Hunter lên, giữ nó ở trên không với sự vui mừng khiến tôi chỉ nhìn đã thấy thích thú. Tên ông là Hunter Jordan, Sr., và ông nuôi dạy tôi như nuôi dạy con ruột của mình.

Khi còn nhỏ tôi chưa bao giờ hiểu được khái niệm “cha”. Cha đẻ của tôi, Andrew McBride, mất trước khi tôi ra đời. Tôi bị sai khiến và thống trị bởi mẹ và các anh chị, những người bạn của mẹ, những người họ hàng của cha đẻ và cha dượng, những người mà sau này tôi nhận ra là những lực dẫn dắt trong cuộc đời tôi. Ngoài mạng lưới họ hàng và những người có quyền hành đó một nhân vật lù lù hiện ra, lúc đến lúc đi. Cha dượng của tôi làm việc cho cơ quan phụ trách các vấn đề về nhà ở của thành phố New York, chuyên sửa chữa và bảo trì những lò hơi lớn của hệ thống cấp nhiệt cho những khu nhà dành cho dân thu nhập thấp nơi chúng tôi sống khi đó. Sau khi cha đẻ của tôi mất vài tháng, cha dượng và mẹ tôi gặp nhau; khi ấy mẹ đang bán đồ ăn để gây quỹ từ thiện của nhà thờ ở một trung tâm mua bán ngay trước tòa nhà nơi chúng tôi ở thuộc đường 811 Hicks thì cha dượng tới mua một suất cơm sườn. Tuần sau đó cha lại tới mua một suất cơm nữa, rồi một suất nữa, một suất nữa. Những ngày đó chắc cha ăn cơm sườn đến phát ngán. Cuối cùng vào một buổi trưa ông đến chỗ mẹ và cất lời mời: “Em đi xem phim không?”

“Có,” mẹ đáp. “Nhưng em có tám đứa con và chúng cũng đi xem phim đấy.”

“Em có đủ một đội bóng chày rồi còn gì,” ông nói.

Cha và mẹ cưới nhau, lập một đội bóng chày của riêng mình, sinh thêm bốn đứa trẻ khiến đàn con của mẹ lên tới mười hai đứa. Ông không phân biệt con của McBride với con của Jordan, còn anh chị em tôi không bao giờ nghĩ hay ám chỉ nhau là anh chị em cùng mẹ khác cha; đối với những đứa nhỏ, trong đó có tôi, ông là “Cha”. Đối với những đứa ở giữa có quyền hành thuộc bậc trung, ông khi thì là “Cha”, khi là “ông Hunter.” Đối với những đứa lớn nắm quyền quản lý gia đình và là những đứa con nhớ rất rõ cha đẻ của mình, ông luôn là “Ông Hunter.” Những đứa con lớn trong nhà thích trêu “Ông Hunter,” vì cái cách đi đứng chậm chạp và giọng miền Nam của ông. “Hrrrrfffff! Hrrrrrfffff!” các anh chị tôi nhại lại cách nói của ông khi ông đã ở ngoài tầm nghe. Nhưng các anh chị ấy yêu quý và kính trọng ông.

Khi tôi khoảng sáu hoặc bảy tuổi ông đến căn hộ của chúng tôi ở khu nhà dành cho người thu nhập thấp, cho chúng tôi lên xe hơi của ông, lái xe đưa chúng tôi tới phố St. Albans ở quận Queens, đỗ xe trước một ngôi nhà lớn có bốn phòng ngủ, được trát vữa và sơn màu hồng rồi biến mất trong ngôi nhà đó trong khi chúng tôi chơi ở bãi cỏ rộng trước nhà, nhổ cỏ lên nghịch và lăn lộn trên thảm lá. Dạo ấy là mùa thu, và lá vàng rơi khắp nơi. Một lúc sau ông xuất hiện, ngồi cong lưng ngắm chúng tôi chơi đùa. Chúng tôi bứt cỏ, dẫm nát những bụi cây được cắt tỉa cẩn thận, dẫm lên hoa, và ném đá làm vỡ một ô cửa kính. Sau khi tàn phá bãi cỏ cả tiếng đồng hồ, một đứa trong chúng tôi bỗng sực nhớ ra một điều, liền hỏi ông: “Nhà của ai đây ạ?” Ông cười lớn. Tôi chưa bao giờ thấy ông cười to như thế. Thì ra ông đã dùng tất cả tiền ông ki cóp được để mua ngôi nhà đó cho chúng tôi.

Ông là một người đàn ông thô kệch, có khiếu hài hước, sống đơn giản, và không dễ thay đổi. Ông thích sự gọn gàng ngăn nắp, và điều đó có nghĩa là ngôi nhà ở đường St. Albans của chúng tôi thật khó chấp nhận đối với ông. Mặc dù ông yêu thương chúng tôi nhiều lắm, ông không thể sống chung với sự hỗn loạn, bừa bộn trong ngôi nhà của chúng tôi, và ông thích giữ căn nhà cũ của mình ở số 478 đại lộ Carlton ở Fort Greene, Brooklyn hơn. Ông chỉ về nhà vào những ngày cuối tuần, bước vào phòng khách với các túi thực phẩm, những chiếc bánh hiệu Entenmann, một túi đầy bánh rán, và một chiếc xe hơi thật, chứ không phải xe đồ chơi, đậu ở trước nhà, chiếc xe mà ông thường “chất” chúng tôi lên cho đến khi đầy ặc thì thôi và đưa chúng tôi về ngôi nhà xây bằng đá nâu của ông để nghỉ cuối tuần. Chúng tôi thích ở trong ngôi nhà của ông ở Brooklyn. Nó cũ kỹ và tối, đầy những đồ cổ, đầy bánh quy và những đĩa nhạc của Nat King Cole.

Cha của ông là một người da đen, một nhân viên gác phanh của ngành đường sắt, còn mẹ ông là người gốc thổ dân da đỏ, vậy nên khuôn mặt ông có nhiều nét của thổ dân: nước da nâu, đôi mắt nâu hay nhìn nghiêng, đôi gò má cao, và dáng vẻ phong trần, một người đàn ông rất điển trai. Ông được dạy học tại gia trong ngôi nhà một phòng và được nuôi nấng trong một trang trại ở hạt Henrico, gần Richmond, Virginia, và gia đình mang họ Jordan của ông gồm toàn những người dễ gần. Tuy nhiên, đằng sau vẻ ngoài dễ gần của họ là bản tính thô kệch của người da đen mà bạn không muốn va chạm - những người đàn ông tóc hoa râm, dẻo dai, có đôi bàn tay da nâu khỏe khoắn cầm chắc những chiếc búa đối diện với bạn bằng đôi mắt nhìn thẳng. Những bàn tay ấy có thể sửa chữa bất cứ thứ gì ọp ẹp, lỏng lẻo, từ hệ thống cấp nhiệt, hệ thống nước đến những cái van, máy hút bụi, hoặc dây điện.

Vào khoảng năm 1927 ông trốn khỏi Virginia do tác động của chế độ Jim Crow[1]. Trước đó một quận trưởng cảnh sát người da trắng đã bắt giam ông vì tội xem lậu chương trình biểu diễn của một gánh xiếc rong. Và khi viên cảnh sát kia đi ăn trưa đã vô tình không khóa cửa phòng giam, ông trốn ra ngoài, bắt chuyến tàu đầu tiên rời khỏi bang. Cho đến khi qua đời ông không bao giờ quay trở lại Virginia nữa. Ông gặp anh trai Walter của mình ở Chicago nơi ông bị lừa đảo, bị móc túi liên tục kể từ khi đặt chân đến thành phố cho tới khi ông rời khỏi đó. Ông làm việc trong các lò mổ, chuyển đến Detroit, nơi ông cùng anh trai đánh giày tại một tiệm hớt tóc gần nhà máy của Ford - ông từng đánh giày cho Henry Ford trong khi Walter đánh giày cho một người khác - và sau đó vào “những năm 20 hoan lạc” hai anh em ông phiêu bạt đến Brooklyn, New York, và có thời gian kiếm sống bằng việc bán rượu lậu. Một hôm ông vừa bước ra khỏi nơi ở của mình thì một trong những cái máy chưng cất rượu của ông bị vỡ khiến rượu chảy tràn ra sàn nhà, rỉ xuống căn hộ ở tầng dưới. Người đàn ông sống ở căn hộ tầng dưới dùng ly hứng rượu uống đến mức say mèm, đi lang thang trên đường phố trong khi cha dượng của tôi cố dẫn ông ta về nhà, nhưng chuyện ông hành nghề nấu rượu lậu đã bị lộ và không lâu sau nơi ở của ông bị khám xét. Ông nhảy ra ngoài qua cửa sổ phía sau nhà ôm hai bình rượu mạnh năm gallon, và rơi trúng vào vòng vây của những nhân viên an ninh liên bang đang chờ sẵn. Ông bị ngồi tù, chuyện mà cả ông và mẹ tôi không bao giờ kể cho chúng tôi biết, mặc dù tôi luôn tự hỏi làm thế nào một người đàn ông chất phác như ông lại chơi cờ đam giỏi đến thế. Tôi chưa bao giờ có thể thắng ông.

Gia đình ông có bốn anh em trai - ông, Henry, Walter, và Garland - và họ hấp dẫn theo kiểu cổ điển: Họ đều là những người đàn ông da đen điển trai, ngọt ngào, làm việc chăm chỉ, uống rượu ác liệt, ăn mặc tươm tất, thích phụ nữ đẹp và thích tiền mới. Người anh mà cha dượng tôi quý là Walter, người ham vui và thích giao du nhất trong số bốn anh em ông. Ông thường đưa chúng tôi đến nhà của bác Walter ở Fort Greene cách nhà ông chỉ vài tòa nhà, nơi mấy anh chị em tôi chơi với người chị họ Little Mommy trong khi bác Walter, cha tôi, cùng những người anh em trai khác bắt đầu tiệc rượu và nghe các đĩa nhạc của Nat King Cole, Gene Krupa, Charlie Parker. Mẹ tôi không bao giờ uống rượu trong những dịp đó. Mẹ không muốn chúng tôi hòa nhập với cái mảng tiệc tùng của đằng nhà cha dượng. Mẹ không bao giờ uống rượu hay hút thuốc. Thực sự, uống rượu được xếp số một trong danh sách những chuyện không làm của mẹ, và nếu cha dượng tôi uống quá nhiều, thì mẹ to tiếng với ông trên đường về nhà. Ông lái xe hai mươi dặm một giờ trên đường từ quận Queens đến Brooklyn, lái chiếc xe hơi mui kín của ông rất chậm cho đến khi ông thấy một chiếc xe buýt của thành phố, và từ lúc đó ông mới bám đuôi nó để về nhà. “Các con không bao giờ có thể kiếm được một cái giấy phạt chạy quá tốc độ nếu con chạy theo sau một chiếc xe buýt,” ông tuyên bố. Hết chiếc xe này đến chiếc xe khác do những người nóng tính cầm lái phóng vượt qua chúng tôi, với tiếng hét, “Tránh ra!” Ông lờ đi coi như không nghe thấy. Chúng tôi ngồi ở ghế sau, cúi thấp người xuống mà cười, hy vọng không người bạn nào tình cờ nhìn thấy chúng tôi.

Mỗi mùa hè ông lại đưa cả lũ chúng tôi xuống miền Nam, tới nhà người em họ Clemy của ông ở Richmond - nơi chúng tôi ăn dưa hấu trong sân nhà Clemy, cưỡi con ngựa non của cô, và xem những người họ hàng dân miền Nam của chúng tôi làm những trò hoang dã, chẳng hạn như lấy cả hàm răng ra khỏi miệng. Chúng tôi có một người họ hàng thường ngồi trên trường kỷ uống bia và lôi nguyên cả bộ răng của mình ra, gõ coong! coong! khiến cả lũ chúng tôi ù té chạy ra khỏi phòng. Chú Henry của chúng tôi là một người có cá tính. Chú là thợ cơ khí và là cựu chiến binh được tặng thưởng huy chương trong Chiến tranh thế giới thứ hai, người có một chiếc răng vàng lấp lánh, óng ánh thường lộ ra mỗi khi cười mà chú thì cười luôn miệng. Dạ dày của chú bị tổn thương sau khi chú bị đâm bằng dao trong một cuộc ẩu đả, mặc dù chú hiền đến mức tôi không thể hình dung chú lại có khả năng nổi giận. Chúng tôi quý chú lắm. Khi chú cười thành tiếng, tiếng cười của chú nghe như một chiếc xe hơi đang cố nổ máy vậy, “Khè khè khè khè khè! Khè khè khè khè!” Chúng tôi thường đem tiếng cười của chú ra chế giễu và điều đó khiến một tràng cười nữa của chú nổ ra “Khè khè khè khè! Khè khè khè khè!”, và mấy đứa chúng tôi bồi thêm những tiếng cười khúc khích, rúc rích đầy giễu cợt.

Nhà chúng tôi đông người đến nỗi chúng tôi đi xuống miền Nam phải dùng hai chiếc xe hơi mới chở hết, vài đứa đi với cha dượng và mẹ trên xe của cha, vài đứa đi cùng chú Walter và chú Henry trên chiếc xe thứ hai. Một tối chúng tôi bắt đầu cuộc di cư từ Richmond trở về New York, chú Henry say rượu, lái chiếc xe hơi già khụ của chú với tốc độ một trăm dặm một giờ trong khi tôi, chị Judy và chú Walter ngồi trên xe của chú. “Sức mạnh của cục cưng là đây!” - chú gào lên, nhấn ga, và lái xe như bay trên quốc lộ 95 khi tôi ngoái đầu nhìn về phía sau thấy ánh đèn pha xe của cha dượng mờ dần, mờ dần rồi mất hút. Chú vừa đánh võng trên đường vừa cười khoái chí khiến bác Walter phải quát lên: “Henry, lái chậm thôi, đồ khỉ!” Chú Henry phớt lờ, cứ cho xe phóng như bay thêm vài phút nữa cho tới khi đến một trạm dừng. Một lúc sau xe của cha dượng tôi chạy tới, trong xe có mẹ và các anh chị em của tôi. Cha tôi nhảy ra khỏi xe nhanh đến nỗi mũ của ông bay khỏi đầu.

“Đồ khốn, Henry!” bác Walter phải vội ngăn cha tôi lại, còn chú Henry, kẻ to gan nhất trong mấy anh em của cha, lùi lại, lúng búng nói lời xin lỗi. Cha tôi là người được kính nể nhất trong số bốn anh em, và tức giận là điều hiếm thấy ở ông. Ông có tính cách mạnh mẽ nhưng hòa nhã, điềm tĩnh, không kích động sự tức giận hoặc mời gọi sự ẩu đả. Chúng tôi trở về New York trên chiếc xe chật cứng của cha, trong khi chú Henry thoải mái chiếm cả băng ghế sau trên xe của bác Walter nằm ngủ ngon lành. Bác Walter đề nghị chở bớt hai đứa trong số chúng tôi để xe của cha đỡ chật nhưng cha từ chối. “Tôi chịu đựng các người như thế đủ rồi,” ông nói. Bác Walter nhún vai.

Tôi đã nghĩ cha dượng là người kỳ quặc. Chuyện cha và mẹ tôi yêu nhau khiến tôi không thể nghĩ khác được. Ông chẳng khác gì cha mẹ của bạn tôi, những người có tuổi đời trẻ hơn, lái xe hơi mới, theo dõi đội bóng Mets, bàn về dân quyền, cuốc bộ với chúng tôi. Ông không biết những năm sáu mươi có ý nghĩa gì, hoặc chúng không khiến ông quan tâm. Ông chỉ quan tâm đến điểm học tập và việc đi lễ nhà thờ của chúng tôi. Ông đi dự lễ kiên tín của tôi ở nhà thờ trong giáo khu một mình bởi vì mẹ không thể đi, ông diện áo sơ mi cài cúc ngay ngắn từ trên xuống dưới, đội mũ bẻ vành, và ngồi ở hàng ghế cuối một mình, không chú ý đến những người cha trẻ tuổi khác mặc quần ống loe, kiểu quần hợp mốt của những năm sáu mươi. Ông chào người dạy giáo lý cho tôi một cách đầy kính trọng, ngả mũ hẳn hoi, và bà mỉm cười với ông, không khỏi ấn tượng bởi sự điển trai và cung cách lịch thiệp của ông. Nhưng khi bà cố lôi kéo ông vào cuộc nói chuyện, ông dường như không quan tâm, cầm tay tôi dắt đi về phía sau, và cử chỉ đó của ông như muốn nói, “Không, cảm ơn.” Ông mặc bộ đồ cổ lỗ sĩ đi dự lễ tốt nghiệp đại học của anh Dennis và thong thả đi dạo quanh khu toàn người da đen của Đại học Lilcon ở Pennsylvania với nụ cười rạng rỡ, đầy vẻ tự hào với cả gia đình gồm người vợ da trắng của ông theo sau, trong khi các sinh viên da đen và cha mẹ họ giương mắt nhìn với vẻ ngạc nhiên. Tôi đã nhìn cha dượng của mình và tự hỏi: “Vấn đề của ông là gì nhỉ? Ông không biết mình trông ngố đến mức nào ư?” Nhưng dường như điều đó chẳng khiến ông khó chịu. Chủng tộc là điều mà ông không bao giờ đề cập tới. Đối với ông đó là chuyện mà bạn đã vượt qua giống như bước qua một vết nứt trên vỉa hè vậy. Dường như ông là một người vô ưu. “Mọi chuyện sẽ ổn thôi,” ông thường nói. Đó là phương châm sống của ông.

Năm 1969 ông nhận được một bức thư từ thành phố New York nói rằng ông phải chuyển khỏi ngôi nhà của ông ở Brooklyn. Chính quyền có kế hoạch xây dựng một tòa nhà cao tầng dành cho dân thu nhập thấp ở đó. Ông choáng váng. Dạo ấy ông mới đại tu ngôi nhà cũ ốp đá nâu của mình, nâng cấp từ khung nhà nâng cấp đi. Đó là chỗ trú ngụ, là niềm vui, sở thích riêng của ông. Họ đền bù cho ông mười ba nghìn đô la và ông chuyển khỏi đó. Hai mươi năm sau khi tôi chuyển về Gort Greene - khu dân cư đã trở thành bất tử nhờ các bộ phim của Spike Lee, với sự trưởng giả hóa đã đẩy những người da đen nghèo ra khỏi nhà của họ để bán những ngôi nhà xây bằng đá nâu với giá ba trăm năm mươi nghìn đô - Tôi đi bộ đến số 478 đại lộ Carlton và nhìn khoảnh đất trống đó, chẳng có gì ở đó hết. Đó là một sự lãng phí hoàn toàn.

Khi họ phá bỏ ngôi nhà của ông, việc đó chẳng khác gì xé toạc một nửa động mạch của ông. Ông đến quận Queens sống với chúng tôi, sửa chữa tầng hầm thành đại bản doanh chứa những đồ đạc cũ của mình; ông chất vào đó những bàn ghế cổ, chiếc máy quay đĩa, và một chiếc tủ lạnh nhỏ trong đó ông cất những lọ chân lợn ngâm và những hộp bia Rheingold, nhưng trái tim ông vẫn ở lại Brooklyn. Khi đó ông đã về hưu - ông bảy mươi hai tuổi - nhưng vẫn nhận làm những việc lặt vặt và tham gia những công việc liên quan đến hệ thống cấp nhiệt cùng với chú Walter. Ba năm sau khi ông chuyển đến sống với chúng tôi, một tối ông bước đi lảo đảo quanh bếp, bật ra những tiếng nguyền rủa, nói rằng ông bị đau đầu, và tôi chưa kịp biết ông gặp chuyện gì thì một chiếc xe cứu thương đã dừng lại trước nhà chúng tôi và họ đưa ông lên xe. “Có chuyện gì với cha vậy?” Tôi hỏi mẹ. Khi mẹ leo lên xe cứu thương, tay níu chặt áo cha, mẹ không nói gì, mắt đỏ hoe, chứng tỏ tình hình rất nghiêm trọng.

Ông bị đột quỵ. Khi ấy tôi mười bốn tuổi, không biết đột quỵ nghĩa là gì. Tôi cứ nghĩ đó là một cơn cảm nắng thôi. Đối với tôi hai tuần ông nằm viện có nghĩa là tôi có thể lang thang với lũ bạn thỏa thích và có thể chơi đến khuya như ý muốn và tôi tránh vào gặp cha cho tới khi mẹ bắt tôi phải làm điều đó. Tôi vào viện thăm cha cùng với em Kathy và khi chúng tôi bước vào phòng ông đang nằm, tôi bị sốc khủng khiếp. Ông nằm đó, trong cái bệnh viện toàn một màu trắng toát. Khuôn mặt ông hơi méo so với trước. Ông bị cấm khẩu. Ông không thể cử động được cánh tay phải và nửa người bên phải. Bàn tay da nâu chắc khỏe với nước da nâu mà tôi từng thấy nắm chặt kìm và các dụng cụ sửa chữa, phụ tùng ống nước hàng trăm lần, giờ đây gần như mềm rũ, đầy băng gạc và được nối với ống truyền dịch. Mẹ ngồi bên cha trong im lặng, khuôn mặt mẹ xanh xao. Kathy người luôn được cha tôi cưng chiều, bước vào phòng, nhìn cha, rồi quay mặt đi trong hoảng sợ. Em không thể nhìn cha. Kathy ngồi xuống chiếc ghế gần cửa sổ và nhìn đăm đăm ra ngoài, khóc thút thít. Ông giơ tay lên để an ủi Kathy và phát ra những âm thanh kỳ cục nghe không giống tiếng người trong khi ông cố gọi tên em. Cuối cùng Kathy đi tới bên ông, gục đầu lên ngực ông khóc nức nở. Tôi bước ra khỏi phòng, vừa đi vừa gạt nước mắt, lảo đảo bước về phía thang máy cố che mắt để không ai nhìn thấy mình đang khóc trong khi các y tá và các nhân viên y tế lùi lại nhường đường cho tôi. Khoảng một tuần sau ông được xuất viện trở về nhà và có vẻ như sức khỏe của ông khá hơn. Ông đã nói được, dù giọng vẫn còn líu nhíu. Ông ngồi trong đại bản doanh dưới tầng hầm dưỡng bệnh trong khi chúng tôi rón rén đi lại quanh nhà còn mẹ thì lặng lẽ ra vào với đôi mắt hầu như lúc nào cũng đỏ hoe. Một hôm ông gọi tôi xuống chỗ ông, bảo tôi giúp ông thay quần áo. “Cha muốn lái xe một lát,” ông nói. Lúc bấy giờ tôi là đứa con lớn nhất còn ở nhà, các anh chị của tôi đều đi học xa. Ông mặc áo len dài tay, mặc quần may bằng vải pha len, đội mũ và khoác thêm chiếc áo măng tô màu xanh da trời. Mặc dù gầy yếu, ông trông vẫn rất điển trai. Ông chậm chạp leo lên các bậc thang và bước ra ngoài. Khi đó đang là tháng Năm và ngoài trời còn lạnh, lộng gió. Chúng tôi đi vào ga-ra và leo lên chiếc Pontiac màu vàng đậm của ông. “Cha muốn lái xe về nhà một lần nữa,” ông nói. Ông đang nói tới Richmond ở Virginia, nơi ông lớn lên. Nhưng ông quá yếu không thể lái xe được, vậy nên ông cứ ngồi phía sau bánh lái nhìn đăm đăm vào bức tường trước mặt, rồi ông bắt đầu nói.

Ông nói rằng ông có một ít tiền dành dụm cho mẹ tôi và một mảnh đất nhỏ ở Virginia, nhưng không chỉ có thế. Ông nói rằng tôi là đứa con lớn nhất hiện sống ở nhà nên tôi phải chăm sóc mẹ và các em bởi vì “con rất đặc biệt,” ông nói. “Và rất đặc biệt đối với cha.” Đó là lần duy nhất tôi nghe ông nhắc tới vấn đề chủng tộc, tuy không nói rõ, nhưng điều đó chẳng quan trọng, bởi vì ngay lúc ấy và ngay tại đó tôi đã biết rằng ông sắp rời xa chúng tôi mãi mãi và tôi phải cố gắng để ngăn những giọt nước mắt trào ra. Tôi muốn nói với cha rằng tôi yêu ông, rằng bằng cả trái tim tôi hy vọng ông sẽ hồi phục sức khỏe, nhưng tôi không thể thốt lên lời. Cha con tôi chưa bao giờ nói chuyện với nhau theo cách đó. Chúng tôi toàn nói chuyện phiếm và trêu đùa nhau, và mối quan tâm lớn nhất của ông luôn là việc học hành của tôi ở trường và ở nhà thờ. Ông không phải là người dành cho sự đối thoại. Đối thoại là việc của mẹ tôi.

Hai ngày sau ông trở bệnh. Một chiếc xe cứu thương đến đưa ông đi khỏi nhà. Khoảng bốn giờ sáng chuông điện thoại reo. Kathy và tôi nằm ở trên gác lắng nghe, và như thể qua một màn sương đặc quánh, chúng tôi nghe thấy tiếng anh Richie nói với mẹ: “Ổn thôi, mẹ. Mọi chuyện sẽ ổn thôi.”

“Không ổn! Không ổn đâu!” Mẹ khóc thành tiếng, tiếng khóc của mẹ bay quanh nhà như một linh hồn luồn vào các hành lang, bay tới các giường nơi chúng tôi nằm khóc trong lặng lẽ.

[1] Jim Crow là chế độ phân biệt giai cấp dựa theo màu da tồn tại ở Mỹ từ năm 1877 đến những năm 60 của thế kỷ XX.

Người dịch: Nguyễn Bích Lan
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.