Màu Của Nước

Lượt đọc: 155 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
24
New Brown

❊ ❊ ❊

“Hãy đến với Chúa! Chúa ở trong việc may phúc!”

Đó là vào tháng Mười năm 1994, tháng có lễ kỷ niệm bốn mươi năm thành lập Nhà thờ Baptist tưởng niệm New Brown. Một trợ tế đứng trước những người tham dự để tập hợp họ cho nghi thức cầu nguyện. Mặc dù Nhà thờ New Brown tọa lạc ở Brooklyn, sáu mươi giáo dân tập trung trong phòng tiệc nhỏ tại khách sạn Ramada thuộc sân bay Le Guardia ở quận Queens bởi vì một người trong số đó quen các đầu bếp của khách sạn và họ giảm giá cho nhà thờ. Đó không phải là bữa tiệc kỷ niệm ở khách sạn bốn sao, nhưng điều đó không quan trọng. Phòng khách sạn ẩm, tối và lạnh.

Món thịt rất tệ, những người phục vụ thì bận luôn tay. Ai đó đưa ra ý tưởng thuê một ban nhạc chơi nhạc Phúc âm với tay nhạc công đeo kính râm chơi nhạc quá ổn, nhưng chẳng ai phàn nàn. Đó là đêm kỷ niệm và các giáo dân đều diện bộ đồ đẹp nhất của mình. Nhà thờ New Brown tọa lạc ở khu chung cư Red Hook, một trong những khu nhà ở dành cho người thu nhập thấp lớn nhất và luộm thuộm nhất của thành phố New York, đã đứng vững trong suốt bốn mươi năm. Trong bốn mươi năm các giáo dân ở đây đã phải vật lộn vượt qua khó khăn. Trong bốn mươi năm họ đã duy trì và truyền đi lời Chúa. Đây là mái nhà của mẹ tôi. Đây là nhà thờ nơi tôi làm lễ cưới. Đây là nhà thờ mà cha đẻ Andrew McBride của tôi đã lập ra.

Ông đã không sống để thấy ước mơ của mình trở thành hiện thực, nhưng khi tôi mở chiếc cặp của ông từ bốn mươi lăm năm trước, những giấy tờ ông để lại cho tôi biết về một con người không ngừng tư duy: Những dòng chữ ông viết nhắc đến Dostoyevsky, Faulkner, Paul Laurence Dunbar, Jackie Robinson, và những quyển sổ ghi chép xếp chồng lên nhau chứa đầy những bài giảng đạo và những đoạn trích trong Kinh Thánh. Những trang viết của ông nói đến những cuốn biên niên sử ký, sách Isaiah, Sách của John, sách Thư gửi tín hữu phi-líp-phê. Đôi khi, trong vô thức, ý nghĩ, niềm tin và mối quan tâm của chúng ta ngược về quá khứ, ông viết. Chúng ta nói về những thời đại khác, những nơi khác, những con người khác, và đánh mất ý thức về cuộc sống hiện tại. Đôi khi chúng ta nghĩ nếu mình có thể đi ngược thời gian, mình sẽ trở nên hạnh phúc. Nhưng bất cứ ai cố quay trở lại quá khứ người đó chắc chắn sẽ thất vọng. Bất cứ ai từng thăm lại nơi mình sinh ra sau nhiều năm vắng mặt đều bị sốc vì hiện tại nơi đó khác với những gì người đó nhớ về nó. Có thể người đó bước đi dọc các con phố, những con đường cũ quen thuộc, nhưng anh ta là người xa lạ trên một mảnh đất xa lạ. Anh ta luôn nghĩ về nơi này, nhưng anh ta nhận ra rằng, về mặt tinh thần, mình không còn ở nơi này nữa. Anh ta đã bước vào một cuộc sống mới khác với cuộc sống trước đây, và trong suy nghĩ đầy khát khao về quá khứ anh ta đã hướng suy nghĩ và mối quan tâm của mình tới cái mà thực ra không còn tồn tại nữa. Anh ta không còn ở nơi này về mặt thể xác, và về mặt tinh thần anh ta càng chẳng còn ở đây nữa… Ông viết những đoạn Kinh Thánh lên bất cứ thứ gì ông có thể tìm thấy - những miếng giấy nhỏ, mặt sau của bảng báo giờ tàu, của những tấm hóa đơn thanh toán. Bên cạnh những trích đoạn Kinh Thánh ông viết tên và số điện thoại của rất nhiều bác sĩ mà ông nghĩ có thể giúp ông chữa trị căn bệnh ung thư phổi, căn bệnh tấn công ông ở tuổi bốn mươi lăm, nhưng khi đó họ không thể giúp được ông. Đã đến lúc ông phải ra đi, ông biết điều đó.

Ông không để lại một hợp đồng bảo hiểm nào, không của nả, không đất đai, không tiền bạc cho người vợ đang mang thai và những đứa con thơ dại của mình, nhưng ông đã giúp tạo nền tảng cho việc nuôi dạy mười hai đứa con cho mẹ tôi và điều đó phát huy tác dụng trong suốt ba mươi năm - sau năm giờ chiều các con của mẹ không được phép ở ngoài, bắt buộc phải có mặt ở nhà; phải đi học, không được theo đám đông, mà phải theo Chúa Jesus - và như thể may mắn hoặc Chúa Jesus gửi tới, cha dượng của tôi giúp mẹ tuân theo những nguyên tắc đó khi ông cưới mẹ. Những người dân kỳ cựu ở New Brown thường nói Chúa ngợi ca mục sư McBride. Người đàn ông chết không có một xu dính túi, nhưng tất cả các con ông lớn lên đều tốt nghiệp đại học, trở thành bác sĩ, giáo sư, giáo viên và các chuyên gia. Đó chính là việc của Chúa Jesus.

Giờ đây người phụ nữ giúp Chúa săn sóc và hướng dẫn những đứa con của mục sư McBride trưởng thành - và người đồng sáng lập ra nhà thờ New Brown Memorial Baptist - đang ngồi ở cuối chiếc bàn dài, người da trắng duy nhất trong phòng, mặc một chiếc váy hoa màu xanh dương, bế Azure, đứa con gái hai tuổi của tôi, trong lòng. Phải tốn công lắm tôi mới thuyết phục được mẹ mình đến đây. Bà không muốn đến. Vào năm 1989 nhà thờ có mục sư mới, và một trong những hành động đầu tiên của ông là sai người tháo tấm ảnh của cha tôi ở phía sau bục giảng Kinh của nhà thờ New Brown xuống, và đặt nó ở cái cổng mới được xây bằng tiền từ quỹ của nhà thờ, cái quỹ mà tất cả tiền đều đổ vào hoạt động được giải thích là “Chúng tôi đang xây dựng ngôi nhà của Chúa”, một điều không được phép xảy ra trong khi mẹ tôi còn sống. Ông ta đã phạm một sai lầm là không ghi nhận mẹ tôi một cách chính thức khi bà đến viếng thăm nhà thờ. Đó là một sai lầm lớn ở phía ông ta, một sai lầm mà đáng lẽ ra có thể sửa chữa một cách dễ dàng: Nếu trong khoảng thời gian giữa lúc đọc lời cầu nguyện cho những người ốm yếu và những người không ra ngoài được và lúc đọc “lời chúc mừng sinh nhật dành cho các thành viên của nhà thờ” ông ta tranh thủ giới thiệu, “Chúng ta đón chào người sáng lập của nhà thờ, bà McBride, đến thăm nhà thờ hôm nay”, thì mọi chuyện đã trôi qua. Nhưng ông ta không làm. Thay vì thế ông ta đối xử với mẹ tôi như thể bà là người ngoài, một người lạ, một người da trắng, chào bà sau buổi lễ với nụ cười xun xoe và sự chân thành giả tạo mà người da đen dành cho người da trắng khi không hiểu rõ hoặc không tin cậy họ, hoặc cả hai. Tôi đã nhìn thấy điệu cười xun xoe y như thế trên mặt của một người hầu bàn da đen khi tờ Washington Post cử tôi đến Nhà Trắng để đưa tin về một buổi chiêu đãi của Nancy Reagan. Một nụ cười dành cho cô Ann, một phụ nữ da trắng. Một nụ cười không có thiện ý.

Mẹ tôi bị tổn thương đến mức mẹ kiên quyết không bao giờ quay trở lại đó nữa, một lời hứa mà vài lần mẹ không giữ được, lại bất chấp hai tiếng đi tàu điện ngầm và tàu hỏa từ nhà của bà ở Ewing, New Jersey, để đến ngồi trong nhà thờ, trở thành người da trắng duy nhất trong phòng, một người lạ trong cái nhà thờ do chính bà thành lập bắt đầu từ phòng khách nhà bà. Công bằng mà nói mục sư đó là người mới đến. Ông ta chưa có nhiều kinh nghiệm và không biết mẹ tôi. Thực ra, không ai trong số những người mới đến nhà thờ biết mẹ tôi và đôi khi ông ta đã sửa sai, nhưng mẹ tôi nói rằng điều đó không quan trọng. “Những mục sư mới này không có tầm nhìn,” mẹ nói. “Họ chỉ muốn có bánh kẹp thịt gà thôi. Cha của con, ông ấy có tầm nhìn cơ.” Mẹ so sánh tất cả họ với cha tôi, nhưng mọi sự so sánh đều khập khiễng. Mỗi thời mỗi khác, mỗi hoàn cảnh mỗi khác, mỗi người mỗi khác.

Trong nhiều năm, mẹ tôi hiếm khi nói về cha tôi. Cứ như thể ông đã qua đời lâu lắm rồi nên mẹ không còn nhớ nữa; nhưng thẳm sâu trong lòng mẹ coi cuộc hôn nhân của mẹ với cha tôi là sự bắt đầu của cuộc đời mẹ, vậy nên cái chết của ông như một phần sự kết thúc của nó, và vượt ra ngoài nó để quay về quá khứ của mình, đối với mẹ, là đi xuống địa ngục, một vùng mà mẹ không muốn động chạm tới. Để tránh xa cái vùng cấm đó, cái mảng Do Thái ấy, mẹ tránh xa cả cha tôi. Ký ức của mẹ giống như một bãi mìn, sự hồi tưởng là một cái bẫy - những quả mìn cũ chẳng nổ khi bạn dẫm lên chúng, nhưng lại làm bạn bắn tung xuống địa ngục ngay khi bạn vừa nhấc chân bước ra xa. Khi mẹ nói về cha tôi thì câu chuyện luôn bắt đầu bằng sự tôn kính và kết thúc bằng nỗi buồn, gắn liền với câu nói của mẹ: “Mẹ không hề biết ông ấy ốm đau như thế nào.” Tôi thường nhìn đăm đăm những bức ảnh cha tôi và tự hỏi giọng nói của ông như thế nào cho đến khi tôi gặp người anh họ Linwood Bob Hinson của mình từ Bắc Carolina đến, một người trông rất giống cha tôi. “Nếu con muốn biết cha con như thế nào,” mẹ nói, “thì hãy nói chuyện với Bob.” Bob khoảng bốn mươi tuổi. Anh nói tiếng của dân Bắc Carolina bằng giọng mũi dễ nghe. Anh quản lý bưu điện ở một thành phố nhỏ toàn người da trắng, giải quyết các vấn đề với những khách hàng nóng tính. Bob là một trong mười sáu người da đen hòa nhập vào hệ thống trường trung học ở Mount Gilead, Bắc Carolina, nơi cha tôi sinh ra. Anh là một người đàn ông ngoan đạo, hài hước, điềm tĩnh và chắc chắn. Anh mất đứa con trai mười bốn tuổi, Tory, trong một vụ tai nạn xe hơi thảm khốc khiến cả cộng đồng người da đen và người da trắng ở Bắc Carolina chao đảo trong đau buồn, và anh an ủi những người khác dù chính trái tim anh đang tan vỡ. Nếu con trai tôi lớn lên trở thành người giống như Bob, thì tôi sẽ là người hạnh phúc.

Nhưng không phải ai cũng có thể giống Bob, hoặc mục sư McBride, hoặc thậm chí Ruth McBride. Mỗi người mỗi khác. Thời thế đổi thay. Các mục sư cũng thay đổi. Mẹ tôi biết điều này và mặc dù có những khác biệt giữa cá nhân bà và vị mục sư mới, bà không muốn thấy công trình của cha tôi và của cuộc đời bà biến mất. Vậy nên bà gom một số đồ quyên tặng từ anh chị em tôi và đến dự bữa tối, ngồi ở cuối bục. Bên cạnh bà là diễn giả chính, ông Hunson Greene, người chủ trì Hội nghị các mục sư Baptist của New York và là một diễn giả lớn, người cũng tình cờ là anh trai bác Irene Johnson, bạn thân của mẹ. Mẹ tôi, người coi khinh giai cấp tư sản da đen, có bạn ở những vị trí cao trong Cơ Đốc giáo.

Một lúc sau vị mục sư trẻ bước lên bục và tác động tới đám đông như một diễn viên hài khởi động. Những lời bình luận của ông ta ngắn gọn và hài hước. Món thịt hầm không tệ, ông ta nói vui, món rau không đến nỗi dai như cao su, tối nay là tối thứ Bảy, tất cả hãy chén hết, tất cả chúng ta đã đi lễ nhà thờ vào buổi sáng. Ông ta chuyển chương trình rất nhanh. Ba trong số những người được sắp xếp lên phát biểu không có mặt, trong đó có người đồng sáng lập nhà thờ, mục sư Thomas McNair, cha đỡ đầu của tôi và sơ Virginia Ingrams, cả hai đều cáo ốm hoặc có việc bận. Cuối cùng mẹ tôi được mời lên phát biểu. Vị mục sư mới giới thiệu bà là “người lập ra nhà thờ đó.” Với động thái đó ông ta đã ghi được điểm quan trọng. Mẹ đặt con gái tôi xuống, đứng dậy, bước lên sân khấu.

Phải mất một khoảng thời gian dài tưởng chừng như vô tận mẹ mới tới đó được.

Mẹ tôi đã bảy mươi tư tuổi rồi. Đầu gối của bà không làm việc tốt nữa. Bước đi dài và nhanh thoăn thoắt của bà giờ đây đã được thay thế bằng dáng đi lạch bạch. Người phụ nữ nhỏ nhắn, xinh xắn mà tôi biết khi tôi còn nhỏ đã trở thành một bà già nhỏ bé, gầy gò, đẹp lão, dễ nổi cáu. Khuôn mặt bà không thay đổi, đôi mắt đen đầy sức sống và lửa nhiệt tình; mái tóc bà vẫn đen nhánh nhờ thuốc nhuộm Clairol; và bởi vì bà không bao giờ uống rượu hay hút thuốc, chăm chỉ tập yoga tuần ba buổi nên trông bà trẻ hơn đến mười tuổi. Nhưng bây giờ bà bị bệnh tim và chứng huyết áp cao phải uống thuốc vì hai chứng bệnh đó. Sau khi mẹ tôi được chẩn đoán mắc bệnh tim, những người anh làm bác sĩ của tôi muốn đặt lịch để bà đi kiểm tra sâu hơn với các chuyên gia tim mạch hàng đầu, nhưng bà không chịu. “Họ không hiểu mẹ đâu,” bà lẩm bẩm, và từ “họ” mà bà dùng có nghĩa là bệnh viện, hệ thống y tế, và bất cứ thứ gì khác “gắn những cái ống vào bạn đồng thời bòn rút tiền của bạn.” Giờ đây bà đi lại chậm chạp hơn, leo cầu thang đối với bà là một thách thức. Gần đây bà nói chuyện như thể bà chẳng còn sống được bao lâu nữa, bắt đầu nói về từng kế hoạch của mình bằng câu “Nếu sang năm mẹ còn sống, thì mẹ muốn…” thăm Disneyland, dự buổi lễ tốt nghiệp của đứa cháu, thăm Paris một lần nữa, xem một chiếc xe hơi mới. Một số kế hoạch của bà tan thành mây khói, một số khác thì không. Tất cả những kế hoạch đó của mẹ đều khiến lòng tôi rưng rưng. Giống như hầu hết mọi người, tôi không biết mình sẽ làm gì khi mẹ tôi thực hiện hành trình về ngôi nhà cuối cùng của bà. Khi bà đến được bục diễn thuyết tôi choàng tỉnh khỏi trạng thái mơ màng. Trong tay bà là một tờ giấy bị vò nhàu trong đó có bài diễn thuyết nửa được viết tay, nửa được đánh máy. Tờ giấy đó rung rung trên đôi tay run rẩy của bà. Bà chầm chậm đặt nó xuống và kéo chiếc micrô lại gần. Khi bà làm vậy, mọi chiếc mũ, mọi chiếc cà vạt, mọi chiếc thìa nĩa của những người tham dự sự kiện đó trở nên bất động hoàn toàn.

“Thưa mục sư Reid đáng kính và toàn thể các quý vị,” bà đọc bằng giọng cao, hổn hển. “New Brown có -” Và bà dừng lại. Khó có thể biết được đó là vì xúc động hay đơn giản chỉ vì căng thẳng, nhưng có một thực tế là mẹ tôi chưa từng phát biểu trước đám đông ở bất cứ đâu. Chưa từng. Mẹ hắng giọng trong khi khán phòng nổi lên những tiếng “Amens”, “tiếp tục đi, bạn thân mến”. Mẹ lại bắt đầu phát biểu: “Thưa mục sư Reid đáng kính và toàn thể các quý vị, New Brown có được ngày hôm nay…” Và lần này bà tiếp tục bài phát biểu một cách khó nhọc, liều lĩnh, nhanh, giống như một chiếc xe cơ giới đi xuyên qua những đống tuyết, xoay tròn, phóng vọt lên, chạy vòng quanh, chạy mà không có đích đến, lời của bà gần như không thể giải đoán được khi bà “trôi” theo bài diễn thuyết khoa trương với cái giọng cao, đầy căng thẳng. Cuối cùng bà dừng lại, đặt một bàn tay lên trái tim, thở sâu trong khi sự im lặng đầy bối rối bao trùm khắp căn phòng. Tôi sắp sửa chạy bổ lên sân khấu, nghĩ rằng mẹ mình đang lên cơn đau tim thì bà bỏ dở bài phát biểu, làm tờ giấy bay xuống sàn nhà, và nói trực tiếp vào micrô. “Sinh thời chồng tôi muốn lập một nhà thờ nhưng chúng tôi không có tiền, vậy nên ông ấy nói: “Hãy bắt đầu ngay tại đây, trong phòng khách nhà chúng ta.” Chúng tôi lau dọn nhà và đặt một bàn thờ với tấm khăn phủ màu trắng và mời ông bà McNairs và ông bà Ingrams, ông bà Taylor, ông bà Flood tới. Chúng tôi đã bắt đầu như thế đó.”

Phía khán giả vang lên tiếng “Amen!” Giờ đây mẹ tôi đã thực sự là người thắp lửa.

“Chúng tôi ngồi trên ghế đọc Kinh Thánh và làm lễ. Chúng tôi không có người chơi đàn như sơ Lee. Chúng tôi hát mà không có tiếng đàn. Đó là những ngày hạnh phúc nhất trong cuộc đời tôi, và tôi muốn các vị biết…” Bà ngừng lời khi những giọt nước mắt trào ra khóe mi của bà.

“Amen!”

“Vâng!!!”

“Hãy nói cho chúng tôi những gì bà muốn chúng tôi biết đi, bạn thân mến.”

Bà lại bắt đầu nói: “Tôi muốn các vị biết…”

“Bà nói đi! Hãy kể cho chúng tôi nghe!”

Bà hít vào một hơi thật sâu: “Tôi muốn các vị biết rằng các vị đang thấy một nhân chứng của Lời Chúa. Lời Chúa có thật,” bà nói. “Nó có thật!” Tiếng “Amen’s” vang lên khắp phòng khi mẹ quay gót bước xuống bục và giờ đây sức mạnh đã trở lại trong những bước chân của bà, dáng đi lạch bạch không còn nữa, bảy mươi tư năm của cuộc đời bà đã rơi về phía sau bà như những bông tuyết khi bà đứng trên bục diễn thuyết hướng về phía người nghe, bảy mươi tư năm đã được vượt qua. “Chúa Trời phù hộ cho tất cả các quý vị nhân danh Đức Jesus!” bà nói to, giơ nắm tay lên cao và ngồi xuống, khuôn mặt bà ửng đỏ, mũi bà cũng đỏ, những giọt nước mắt hiện hữu ở khắp nơi, cả ở trong mắt tôi.

Sau đó, trên đường về nhà, ngồi trong xe hơi, tôi hỏi mẹ: “Con đoán bây giờ mẹ không còn phát điên với vị mục sư mới nữa, đúng không?”

“Hãy để người đó được yên,” bà nói, khi những ngọn đèn đường lấp lánh hắt ánh sáng lên khuôn mặt của bà. “Ông ấy đang làm tốt đấy. Họ may mắn có một mục sư trẻ, may mắn khi các việc ở những nhà thờ bây giờ diễn ra theo cách đó. Con nên trở thành một mục sư. Con đã bao giờ nghĩ đến điều đó chưa? Nhưng con cần có khả năng nhìn xa thấy trước. Và cần phải có tầm nhìn. Con có tầm nhìn chứ?”

Tôi nói với mẹ rằng tôi không nghĩ mình có khả năng đó.

“Nếu con không có nó, thì đừng có lãng phí thì giờ của Chúa.”

Người dịch: Nguyễn Bích Lan
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.