Màu Của Nước

Lượt đọc: 107 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
25
Tìm thấy Ruthie

❊ ❊ ❊

Trở lại tháng Sáu năm 1993, trong quá trình lập di chúc của mẹ tôi - điều mà tôi ép bà phải làm - chủ đề đáng sợ của những gì bà đã chôn sâu được dịp nổi lên. “Khi mẹ chết,” bà nói, “đừng chôn mẹ ở New Jersey. Ai muốn được chôn ở Jersey kia chứ?” Bà nói ra những lời đó khi bà đang ngồi trong phòng bếp của căn nhà mà bà sống cùng với em Kathy của tôi ở Ewing Township gần Trenton, một khu dân cư đáng yêu của New Jersey.

Tôi nói: “Chúng con sẽ chôn cất mẹ ở Virginia, bên cạnh người chồng thứ hai của mẹ.”

“Ồ không. Đừng chôn mẹ ở Virginia. Mẹ đã bỏ chạy khỏi Virginia. Mẹ không muốn quay trở lại đó nữa đâu.”

“Bắc Carolina thì sao ạ? Chúng con sẽ chôn cất mẹ bên cạnh người chồng thứ nhất của mẹ.”

“Không được. Mẹ đã dành cả đời mình để trốn khỏi miền Nam. Đừng chôn mẹ ở miền Nam.”

“Thôi được. Vậy thì New York nhé,” tôi nói. “Mẹ đã sống ở đó bốn mươi năm. Mẹ vẫn yêu New York mà.”

“Ở đó quá đông đúc,” mẹ khụt khịt. “Ở New York đất chật người đông, một chỗ chôn dành cho ba người. Mẹ không múốn mình tan nát dưới xác của người khác khi mẹ bị chôn đâu.”

“Vậy mẹ muốn được mai táng ở đâu?”

Mẹ phẩy tay. “Ai quan tâm chứ? Chuyện này thật vớ vẩn. Mẹ chẳng có gì để lại cho các con ngoài mấy cái hóa đơn.” Mẹ đứng dậy khỏi bàn, khẽ gắt: “Cứ nói chôn mẹ ở đây, chôn mẹ ở kia, con định làm gì hả, định giết chết mẹ à? Dù các con làm gì mẹ cũng không muốn có bất cứ cái ống nào trong người mẹ đâu. Một bác sĩ sẽ giết con nhanh hơn bất cứ điều gì.” Mẹ đưa tay với tấm phên che nắng. “Chị gái con đã làm điều đó với mẹ,” mẹ nói.

“Chị ấy đã làm gì ạ?”

“Mẹ có một cái u bé tí trên mặt và nó đã bắt mẹ phải gặp cái ông bác sĩ đó. Bây giờ lúc nào mẹ cũng phải đội cái mũ ngớ ngẩn này. Nó khiến mẹ trông chẳng khác gì một con gà trống.”

Các bác sĩ phát hiện ra tế bào ung thư trong một cái nốt ruồi nhỏ mà họ loại bỏ khỏi mặt của mẹ tôi, một chứng bệnh do phơi nhiễm ánh mặt trời quá nhiều. Thật trớ trêu, đó là một chứng bệnh ảnh hưởng đến hầu hết người da trắng. Rốt cuộc, mẹ tôi là một bộ sưu tập của những mối quan tâm và những xung đột, một người phụ nữ da trắng mang tâm hồn của người da đen, với những đứa con da đen và vấn đề thể chất của người da trắng. May mắn thay các bác sĩ đã cắt bỏ cái nốt ruồi đó kịp thời, nhưng chuyện chết của bản thân không phải mối quan tâm hàng đầu của bà, bởi vì bà biết chết là điều không thể tránh khỏi trong cuộc sống. “Chết rất lạ, đúng không nhỉ?” bà hỏi. “Chết là hết. Con biết đến giờ thì phải đi thôi mà,” bà nói, lắc lắc ngón tay. “Đó là lý do tại sao con nên biết đến Chúa Jesus.”

Phải mất một thời gian dài, dài bằng thời gian bạn biết bản thân mình, để biết Chúa Jesus, tôi nghĩ, mình gặp khó khăn trong chuyện này. Tôi đã mất nhiều năm để tìm hiểu mẹ mình là ai, một phần bởi vì tôi không biết bản thân mình là ai. Đó không phải là vấn đề tìm kiếm bản thân khi mà chính tôi quyết định không tìm kiếm. Khi còn bé tôi cảm thấy khó hiểu trước các vấn đề về chủng tộc nhưng tôi không tự coi mình là người bị tước đoạt hoặc bất hạnh. Ở tuổi mới lớn tôi không có thời gian hoặc tiền bạc, cũng chẳng có tầm nhìn để nhìn vượt ra ngoài sự nghèo túng của bản thân, để khám phá cái tôi của mình. Khi tôi ra khỏi môi trường của trường trung học và nhận ra mình không phải ngồi tù, tôi biết mình không phải là một kẻ phạm tội. Trường Đại học Oberlin là trường tốt - bạn có thể ăn tất cả mọi thứ và không ai bảo bạn phải làm gì và nếu bạn muốn bị đuổi tống thì đó là việc của riêng bạn. Tuy nhiên tôi đã cười chua chát khi những đứa trẻ da trắng mặc quần bò rách tướp vui đùa trong bãi cỏ khuôn viên của trường, chơi trò ném đĩa và đi quanh khuôn viên hát thánh ca bằng tiếng Đức vào dịp Giáng Sinh. Dường như họ tự do theo những cách mà tôi không thể. Hầu hết bạn bè của tôi và những phụ nữ tôi hẹn hò đều là người da đen, tuy nhiên qua thời gian tôi cũng đã phát triển quan hệ với những sinh viên da trắng, hai trong số họ - Leander Bien và Laurie Weisman - hiện tại là những người bạn thân của tôi. Trong những tình huống giao thiệp xã hội không thích hợp, khi tôi nhận ra mình bị kẹt giữa người da đen và người da trắng, tôi trốn chạy về phía người da đen, như mẹ tôi đã từng làm, và tôi không xuất hiện trừ khi không còn cách nào khác. Cảm giác là người lai cũng giống như cảm giác đau nhói dây thần kinh mà bạn cảm thấy ở mũi khi bạn chuẩn bị hắt hơi - bạn đợi cơn hắt hơi nhưng nó không xảy ra. Nhờ khuôn mặt da đen của mình và sự giáo dục mà tôi được hưởng tôi dễ dàng trốn vào thế giới của người da đen, nhưng tôi cảm thấy nản lòng khi sống trong một thế giới coi màu da của con người là một tuyên bố có tính chất chính trị tức thời bất kể bạn thích điều đó hay không. Phải mất nhiều năm tôi mới bắt đầu chấp nhận thực tế rằng “thế giới của người da trắng” không tự do như vẻ bề ngoài của nó; rằng tầng lớp đó, sự may mắn, tôn giáo, tất cả những điều ấy đều là các nhân tố; rằng nhiều vấn đề của người da trắng còn lớn hơn các vấn đề của tôi; rằng không phải người Do Thái nào cũng giống như ông ngoại tôi và rằng một phần con người tôi cũng là người Do Thái. Tuy nhiên biên giới liên quan đến màu da trong tâm trí tôi đã và vẫn là rào cản lớn nhất. Để vượt qua rào cản đó, giải pháp của tôi là tránh xa nó và ở một mình.

Tôi chạy xa hết mức có thể. Sau khi tôi tốt nghiệp trường Oberlin vào năm 1979 và nhận bằng thạc sĩ chuyên ngành báo chí của trường Đại học Columbia vào năm 1980, tôi bắt đầu phân vân giữa hai sự lựa chọn, một là viết văn và làm báo, hai là hoạt động âm nhạc và phải mất đúng tám năm tôi mới hiểu ra rằng tôi vừa có thể là một nhà văn vừa có thể là một nhạc sĩ thành công. Tôi đã làm báo ở nhiều tòa soạn và đều tự bỏ việc. Tôi đã từng làm việc cho tờ Wilmington News Journal và tôi bỏ việc. Tờ Boston Globe tôi cũng bỏ. Tạp chí People, tạp chí Us, tờ Washington Post tôi đều bỏ. Tôi bỏ tuốt. Tôi từ bỏ tất cả những công việc đó trước khi tôi chạm tuổi ba mươi. Tôi chắc hẳn phải có chút tài năng bởi vì tôi luôn được tuyển dụng, nhưng tôi mặc sơ mi đeo cà vạt như một nhà nhập khẩu. Ban ngày tôi lang thang khắp các thành phố, ban đêm loạng choạng mò về phòng tin tức trong tình trạng mệt lử, ngồi cắm cúi viết bài. Tôi yêu một căn phòng trống như những ga chót trong thành phố. Đó là khoảng thời gian duy nhất tôi có thể viết, tách khỏi những phóng viên da trắng, những phóng viên da đen, tách khỏi sự kết hợp của tính chất da trắng và da đen đang sôi sục trong tâm hồn tôi, sẵn sàng bùng nổ vào những khoảnh khắc không thích hợp. Cảm giác bị kẹt giữa thế giới da đen và thế giới da trắng khi đã là một người trưởng thành đang đi làm để kiếm sống khó chịu hơn nhiều so với những gì tôi cảm thấy khi còn là sinh viên. Tôi từng chứng kiến thế giới của người da trắng và thế giới của người da đen va chạm nhau trong phòng tin tức khiến những mảnh vụn của các cuộc tàn sát do con người gây ra rơi xuống chân mình. Tôi đã nghe những phóng viên da đen nói một cách đầy tức giận về một tổng biên tập người da trắng giàu lòng cảm thông và tôi đã không tán thành điều đó trong im lặng. Tôi đã từng biết những người đàn ông da trắng nắm quyền lực đôi khi với sự tàn nhẫn, khôn khéo tìm cách để phá hỏng sự nghiệp của những phóng viên da đen có phẩm chất tốt, những người bước vào nghề báo chí với bầu nhiệt tình và tràn đầy sinh lực, nhưng ngoài những người đó ra, những người đàn ông da trắng khác cũng chỉ là những con tốt giống như tôi mà thôi. Hầu hết các biên tập viên làm việc trực tiếp với tôi đều là những phụ nữ da trắng, những người mà trong con mắt của tôi đều là những người giàu lòng trắc ẩn và tình nhân ái, thường là những người thông minh nhất trong phòng tin tức, tuy nhiên họ hiếm khi thăng tiến tới những vị trí lãnh đạo - thậm chí so với những người đồng nghiệp nam giới là người da đen, trong đó có những người bảo thủ, có những người chỉ diễu quanh phòng tin tức như thể họ là Martin Luther King thứ hai, sử dụng yếu tố chủng tộc của mình như cây gậy đánh bóng chày. Họ tránh xa những đồng nghiệp da trắng chẳng khác nào xa lánh người da đen ở khu ổ chuột. Họ nói về những ngày tháng họ “lớn lên ở Mississippi” hoặc ở bất cứ đâu, như một bằng chứng cho thấy họ đã nếm mùi đói nghèo, hiểu người da đen, nhưng thực ra người gần gũi với thế giới của dân da đen nhất trong số họ đã đến một khu ổ chuột của người da đen trong vòng hai mươi năm trước và giờ lại đến theo cách ngồi sau tay lái của chiếc xe hơi hiệu Honda đóng kín cửa. Lời tuyên bố từng lớn lên trong đói nghèo của họ chẳng có giá trị gì đối với tôi. Họ lớn lên được ưu tiên, chứ không phải chịu thiệt thòi, bởi vì họ có bố mẹ, ông bà, hàng xóm, nhà thờ, gia đình, một hệ thống bảo vệ, che chở và nuôi dưỡng họ. Họ không lớn lên như những đứa trẻ của thập niên tám mươi, chín mươi, bị giật ra khỏi gia đình chỉ còn sự hiện diện thường trực của ma túy và bạo lực. Sự trải nghiệm kiểu như “Tôi được nuôi lớn trong điều kiện chẳng có gì thế mà tôi vẫn vào được trường Harvard” của họ là tiêu chuẩn mà những biên tập viên da trắng tuyển dụng họ. Đó cũng là một phần lý do tôi được tuyển dụng. Toàn bộ chuyện đó khiến tôi muốn gào lên.

Trong những năm đó tôi không có đời sống riêng tư thực sự. Vài cuộc hẹn hò, vài bữa tiệc tối, không có bữa ăn trưa đặc biệt nào. Bạn gái từ thời học đại học của tôi, một cô gái lai da đen có gốc gác ở Hyde Park, Chicago - mẹ cô là người da đen còn cha cô là người Do Thái - quan trọng như con ngươi của mắt tôi, nhưng khi đó tôi sợ sự ràng buộc, sợ có con bởi vì tôi không muốn con tôi giống như tôi. Bởi vì ngoài âm nhạc, tôi không có đời sống riêng ngoài công việc làm báo nào khác, tôi tiến bộ không ngừng trong nghề báo, nhưng cuối cùng tôi luôn tự bỏ việc. Cứ sau một hoặc hai năm tôi lại nói với người tổng biên tập da trắng của mình rằng tôi phải nghỉ việc để “khám phá bản thân, để viết một cuốn sách, để chơi saxophone”. Hầu hết người da đen coi việc “khám phá bản thân” là một điều xa xỉ. Dường như người da trắng nghĩ đó là điều cần thiết - chí ít hầu hết người người da trắng đều nghĩ thế.

Mỗi lần tôi bỏ việc, mẹ tôi lại thực hiện một vũ điệu chiến tranh, được hoàn thành bởi cả lời ca và điệu nhảy, thường bắt đầu bằng điệp khúc: “Giờ thì con sẽ làm gì nào? Con đã có được cơ hội thứ hai và con đã ném nó ra ngoài cửa sổ! Con cần có việc làm!” Giống như hầu hết những bà mẹ khác, mẹ tôi sử dụng quyền lực ghê gớm của mình và sự kiên quyết tưởng chừng không gì lay chuyển nổi của tôi sụp đổ như một lâu đài cát trước các đợt tấn công trực diện chẳng khác gì những cơn sóng thủy triều của mẹ. Tôi cố gắng chống đỡ, vừa bước ra khỏi nhà mẹ vừa nói: “Mẹ, đừng lo. Đừng lo,” rồi biến mất trong cái mê hồn trận thuộc thế giới ngầm của hoạt động âm nhạc ở New York trong nhiều tháng, chơi saxophone với ban nhạc này, ban nhạc nọ, bán sản phẩm âm nhạc ở chỗ này, chỗ kia. Tôi luôn thành công một cách vừa phải, và sau này trong cuộc sống tôi thành công hơn một chút, giành được giải thưởng Stephen Sondheim cho tác phẩm âm nhạc được soạn cho sân khấu, hợp tác với Anita Baker, Grover Washington, Jr., Jimmy Scott, Rachelle Ferrell, và nhiều người khác, nhưng những năm tám mươi là giai đoạn khó khăn đối với tôi khi tôi dấn thân vào con đường của một nhà soạn nhạc, và mỗi khi không tạo được thành quả mong đợi tôi lại quay trở về với nghề làm báo - cho đến tháng Hai năm 1988, khi tôi đang làm việc cho chuyên trang Phong cách của tờ Washington Post và đang nghĩ đến chuyện bỏ việc để quay lại thế giới âm nhạc ở New York. Đó là chuyên trang hàng đầu, là sự tinh túy, món ăn hợp thời, bãi cỏ xanh của thiên đường đối với các cây viết phóng sự, và bỏ việc ở đó không phải là điều mà bạn có thể làm một cách nhẹ nhàng như cởi áo, ngay cả đối với những người bỏ việc như cơm bữa như tôi. Khi tôi cân nhắc chuyện đó, mẹ gọi điện cho tôi. “Mẹ biết tính con mà!”, bà cằn nhằn. “Con đang có thu nhập ổn định. Con kiếm được nhiều tiền. Đừng bỏ việc ở chỗ đó!”

Nhưng tôi vẫn bỏ, một phần bởi vì tôi mệt mỏi với việc phải chạy khắp nơi, một phần vì nỗi nhức nhối mà tôi biết từ thuở bé không nhỏ chút nào khi tôi đã chạm tới tuổi ba mươi. Nó đã trở thành một nỗi nhức nhối lớn, một đoạn nhạc lặp đi lặp lại gầm lên trong tâm hồn tôi như một cây ghi-ta tấu lên khúc nhạc rock điên cuồng với âm thanh hỗn loạn, nói với tôi rằng Hãy sống cuộc sống cuộc đời của chính mình: chơi saxophone, viết sách, soạn nhạc, làm điều gì đó, thể hiện bản thân, rốt cuộc mi là ai? Có hai thế giới bùng lên trong tôi đòi được giải phóng. Tôi phải tìm cho ra mình là ai, và để tìm ra mình là ai, tôi phải tìm ra mẹ tôi là ai.

Đó là một sự nhận thức nghiệt ngã, dẫn đến sự thật rằng trong suốt cuộc đời bạn chưa bao giờ thực sự biết người mà bạn yêu thương nhất. Ngay cả khi còn nhỏ tôi đã quen với cái cách mẹ tôi giấu giếm quá khứ của mình, dần dần tôi chấp nhận điều đó, và những chi tiết về quá khứ của mẹ bị thất thoát khi cuộc sống của riêng tôi trôi đi và có lẽ mẹ muốn thế. Tôi thậm chí chưa bao giờ bắt đầu đề cập đến chủ đề này với mẹ mình cho đến năm 1977, khi tôi vào học đại học và phải điền vào một tờ khai yêu cầu cho biết họ tên thời con gái của mẹ. Từ Philadelphia xa xôi, tôi gọi điện về cho mẹ để hỏi, và mẹ ngay lập tức lảng tránh. “Con cần cái đó để làm gì hả?” mẹ hỏi. “Tại sao?” Mẹ e hèm, ậm à ậm ừ một lát rồi cuối cùng mới trả lời. “Shilsky,” mẹ nói.

“Mẹ có thể đánh vần cho con được không, Mẹ?”

“Ai trả tiền điện thoại cho con hả? Mẹ trả đúng không? Mẹ trả tiền cuộc gọi này phải không?”

“Không ạ.”

“Con đang học đại học kia mà,” mẹ tôi gắt lên. “Con biết đánh vần từ đó mà. Tự đánh vần đi.” Mẹ cúp máy.

Chủ đề đó không được khơi ra lần nào nữa cho tới khi tôi gặp Al Larkin, biên tập viên của Tạp chí Chủ nhật thuộc báo Boston Globe vào đầu năm 1982. Al thuyết phục tôi viết một bài cho mục Ngày Của Mẹ, bài viết mà tờ Philadelphia Inquirer đăng đồng thời, bởi vì khi đó mẹ tôi sống ở Philly. Độc giả phản ứng nhiệt tình đối với bài viết đó đến mức tôi quyết định khai thác sâu hơn, một phần vì phải viết để kiếm sống, một phần để trục xuất một vài sự ám ảnh liên quan đến màu da nâu, mái tóc quăn, và tâm hồn bị phân chia của mình. Tôi hỏi mẹ liệu mẹ có thích làm một cuốn sách không và mẹ nói không. Tôi bảo mẹ rằng một cuốn sách về cuộc đời mẹ có thể mang về cho mẹ cả triệu đô la. Mẹ nói: “Được thôi. Nếu con giàu, nếu mẹ giàu. Nhưng đừng có bỏ việc.” Vậy là vào năm 1982 tôi nghỉ không phép ở tờ Boston Globe rồi sau đó bỏ việc. “Đó là một trong những điều xuẩn ngốc nhất mà con từng làm,” mẹ nói, khi tôi thông báo với mẹ rằng tôi đã bỏ việc.

Tôi mong ngồi cùng mẹ và thực hiện những cuộc phỏng vấn kéo dài, lắng nghe một cách chăm chú khi những chuyện hấp dẫn và đau thương của đời mẹ tuôn ra. Tôi mường tượng mẹ như một nhà hiền triết thông thái ngồi trên chiếc ghế chao, bình thản “đổ” những chi tiết cảm động của cuộc đời bà vào chiếc máy ghi âm đã đợi sẵn suốt hơn sáu tuần, có lẽ là hai tháng, mường tượng mình khơi gợi được sự hợp tác của bà, khép nép và nhích lên từng tí một trong quá trình bà kể chuyện, hình dung cảnh mẹ và con trai, tay trong tay cùng phấn đấu để việc đó tiếp tục, được rèn giũa về mặt cảm xúc, cho đến khi chúng tôi có thể nói: Xem này! Chúng tôi đã hoàn thành việc đó sau sáu tháng, và thế giới sẽ vinh dự được đón bộ sách tầm cỡ của mẹ con tôi.

Thực tế không phải vậy. Tám năm sau tôi vẫn chỉ nhận được câu trả lời như thế này của mẹ: “Lo việc của con đi. Nếu con nghĩ nó quá khó, nếu đầu óc con khô kiệt như một quả mận khô. Mẹ không muốn một chương trình truyền hình mang tên mẹ đâu. Hãy để mẹ yên. Con là một đứa lắm chuyện! Mẹ sẽ chuyển khỏi Philly. Hãy đóng gói đồ đạc đi!”

Mẹ là người duy nhất tôi từng biết trong mười năm qua cứ liên tục chuyển chỗ ở. Sau khi sống ở Delaware được đúng một năm, mẹ mua một ngôi nhà kiểu nhà liên kết ở Germantown, Philadelphia vào năm 1975, chuyển đến đó sống và ngay lập tức bắt đầu quá trình tìm kiếm một nơi ở khác để chuyển đến và chuyển nhà thực sự trở thành một lối sống của mẹ. Dường như mẹ biết tên của tất cả những ai làm môi giới nhà đất ở Germantown. Buổi sáng mẹ thức dậy, lẩn ra ngoài cửa, đi loanh quanh với một tay môi giới nhà đất suốt cả ngày, xem những căn nhà mà mẹ không có tiền hoặc chẳng muốn mua lắm, nói với người môi giới tội nghiệp sau khi tiêu tốn thời gian cả một ngày rằng “Một tuần nữa hãy gọi cho tôi.” Sau đó mẹ biến mất hoàn toàn khỏi thành phố, “chuyển” đến Atlanta trong ba tuần ở với các anh chị của tôi, hoặc đơn giản biến mất, không bao giờ gặp lại tay môi giới kia nữa. Tay môi giới tội nghiệp đó cứ gọi điện tới nhà mẹ hoài, và một người trong số chúng tôi cuối cùng buộc phải thông báo cho anh ta biết rằng mẹ không quan tâm đến việc anh ta nói tới. Đôi khi mẹ đứng ngay bên máy điện thoại thì thầm vào một bên tai của chúng tôi trong khi tai kia chúng tôi nghe điện thoại, can thiệp chuyện của mẹ. “Bảo anh ta là mẹ không có nhà!” mẹ nói qua kẽ răng. “Tại sao anh ta cứ quấy rầy mẹ thế nhỉ?”

Đó là cách cư xử của kiểu loạn thần kinh chức năng thường thấy của mẹ, và tôi không hiểu rõ kiểu hành vi ấy cho tới khi tôi hiểu quá khứ của mẹ. Đối với mẹ, phần Do Thái trong mẹ đã ra đi. Mẹ mở cánh cửa dẫn đến quá khứ của mẹ cho tôi nhưng đã đóng nó lại với chính mình từ lâu, và việc mở nó ra, ngó vào bên trong chẳng khác gì việc nuốt phải lửa. Mẹ nhìn về quá khứ của mình, lảo đảo lùi lại, như người bị mù, khi các sự kiện lịch sử của mẹ đổ tràn lên mẹ như dung nham của núi lửa. Khi mẹ tiết lộ những chuyện của cuộc đời mình tôi cảm thấy bất lực như thể tôi đang chứng kiến mẹ chết đi rồi hồi sinh (tuy nhiên cũng có một yếu tố tích cực), bởi vì sau nhiều năm giấu biệt, mẹ mở cửa và bắt đầu nói về quá khứ, và khi mẹ làm như vậy, tôi mới chính là người muốn chạy đi tìm chỗ trốn. Tôi không thể diễn tả nổi cảm giác sốc khi nghe những từ như “Tateh”, “rov”, “shiva”, “Bubeh” thoát ra từ miệng của mẹ mình khi mẹ ngồi ở bàn bếp trong ngôi nhà của mẹ ở Ewing. Nếu có thể, bạn thử hình dung mà xem, năm nghìn năm lịch sử của người Do Thái bỗng nhiên tràn vào bạn trong khoảng trống của những cái miệng. Nó khiến tôi ngã lộn nhào xuống vực sâu của chính mình, cố vớt vát những cảm xúc và tình cảm bay tứ tung theo những cơn gió khi mẹ tôi nói. Đó là một bài học cuốn hút trong lịch sử của sự sống - một câu chuyện mà trong đó sự thật còn lạ lùng hơn cả tưởng tượng. Tôi cảm thấy mình giống như một đứa trẻ trong bộ đồ chơi Tinker tự xây dựng con người mình từ những mảnh ghép đồ chơi ấy; bởi vì khi mẹ tôi đặt cuộc sống của bà trước tôi, tôi đã lắp ráp hoạt cảnh của những lời mẹ kể giống như thực hiện trò ghép tranh, và khi tôi làm điều đó, cuộc đời của chính tôi cũng được xây dựng lại.

Mẹ tôi đã thay đổi, thay đổi từ khi mẹ theo đạo Cơ Đốc vào những năm bốn mươi. Chỉ khác là giờ đây mẹ đã có thể đối diện với quá khứ. Sau nhiều năm đe nẹt tôi, “Đừng kể chuyện của mẹ,” giờ đây mẹ đã có thể nói “Kể hay không không quan trọng. Họ đã chết cả rồi, hoặc họ ở tận Florida,” mà đối với mẹ ở đó cũng giống như đã chết. “Mẹ sẽ không bao giờ về Florida,” mẹ thề. Một hôm đi qua một nghĩa trang mẹ nhìn ra khắp quanh và nói: “Đó là Florida Vĩnh Hằng.”

Ở tuổi sáu mươi lăm, mẹ tôi đi học để lấy bằng đại học chuyên ngành công tác xã hội của Đại học Temple. Mẹ thích trao đổi sự hiểu biết, thích nghiên cứu, thích đọc sách của các tác giả khác nhau - tôi đã quên mẹ mình sáng dạ như thế nào. Sự học hỏi không ngừng và niềm khát khao tri thức cuối cùng cũng là điều giúp mẹ chuyển ra khỏi sự ồn ào hối hả của Philadelphia để định cư ở một vùng ngoại ô yên tĩnh và an toàn hơn của Ewing cùng với em Kathy của tôi. Trong vài năm, mẹ sử dụng tấm bằng của mình để làm việc như một tình nguyện viên ở Cơ quan Dịch vụ Xã hội chuyên giúp đỡ những phụ nữ, những bà mẹ mang thai ngoài giá thú; sau đó mẹ chuyển sang điều hành một nhóm đọc sách hoạt động theo tuần phục vụ những công dân cao tuổi tại thư viện địa phương ở Ewing, việc mà hiện nay mẹ vẫn duy trì. Nhưng việc đó không đủ để khiến mẹ bận rộn. Hàng ngày mẹ khích lệ và cổ vũ tinh thần cho hai cháu ngoại của mẹ ngoài thời gian chúng đến trường, lái xe quanh trung tâm New Jersey, mặc cả với những người kinh doanh tại các chợ đồ cũ, mặc đồ của hãng Nikes đến các lớp tập yoga, đủng đỉnh lái chiếc Toyota 1195 với tốc độ hai mươi bảy dặm một giờ trong khu vực cho phép lái xe với tốc độ năm mươi lăm dặm một giờ, dừng xe tại nút giao thông trên đường I, nghe Bernarrd Meltzer dẫn chương trình trên kênh phát thanh WOR-AM hoặc nghe chương trình của Howard Stern. (“Bà cười khi Howard Stern nói tục,” cháu gái Maya của tôi thì thầm.) Thỉnh thoảng có lần mẹ thức dậy vào buổi sáng và biến mất suốt nhiều ngày liền, lẻn về khu nhà cũ Red Hook, đi lễ nhà thờ và gặp gỡ các bạn cũ ở đó. Mẹ thích khu Red Hook. Mặc cho anh chị em tôi cố thuyết phục mẹ tránh xa khu chung cư ấy, mẹ cứ đến đó. “Đừng bảo mẹ phải sống như thế nào,” mẹ nói. Mẹ luôn hơi mất kiểm soát một chút, luôn có thói quen đưa tàu lên không trung để thực hiện những cú nhào lộn và xoay tròn rồi chạy trốn khỏi bãi chiến trường, hét lên “Ai đó làm cái gì đó đi chứ, chúng ta bị đâm rồi!” và vào giây cuối cùng mẹ luồn vào ghế lái, bình tĩnh hạ cánh, để rồi quên toàn bộ sự cố ngay tức khắc. Mẹ sẽ không nhớ lại sự cố đó để kể cho bạn nếu bạn cho bà xem những bức ảnh chụp về những gì bà đã làm. Mẹ xóa ký ức của mình ngay lập tức và xóa có mục đích; đó là cách tự bảo tồn bản thân của mẹ. Đó là cách mẹ tiếp tục cuộc sống. Bản năng sinh tồn của mẹ thật đáng kinh ngạc, những điệu nhảy với lửa của mẹ luôn đủ hài hước để xem. “Ruthie,” các chị em gái của tôi thường gọi mẹ một cách trìu mến như vậy. “Ruthie điên rồi.”

Vào năm 1993, sau hơn năm mươi năm, Ruthie, tức là Ruth McBride Jordan, và cũng là Rachel Deborah Shilsky, cuối cùng đã đối diện với những bóng ma quá khứ của mình. Mẹ đã cùng tôi về thăm quê ở Suffolk, Virginia; chị gái Judy, lúc đó đang làm giáo viên ở New York và anh trai Billy của tôi, một bác sĩ ở Atlanta đi cùng. Chúng tôi lái xe đi thăm khắp thành phố, đến Main Street, đi qua một tòa nhà trong thành phố đã có thang máy từ những năm ba mươi của thế kỷ hai mươi, đi qua nơi đã từng là nhà của mẹ, đi qua thánh đường cũ và trường trung học nơi mẹ từng học, hiện vẫn còn tồn tại. “Không có gì thay đổi,” mẹ nói trong hơi thở khi mẹ con tôi ngồi trước thánh đường cũ vẫn được sơn màu trắng, đã trở thành cổ kính, nhưng vẫn toát lên ít nhiều vẻ uy nghi với bốn cái cột cao. Mẹ nhìn đăm đăm thánh đường ấy, nhưng không chịu bước ra khỏi xe; mẹ chỉ ngồi ở trong xe nhìn ra ngoài cửa sổ. “Chắc chắn người ta đã trông nom nó cẩn thận,” mẹ lẩm bẩm, rồi ra lệnh cho anh Billy của tôi lái xe đi. Dường như mẹ ngồi yên không nhúc nhích, đầy chăm chú và trầm ngâm, nhưng không cử động cho tới khi chúng tôi tiến vào con đường nhỏ ở Portsmouth dẫn tới nhà Frances Moody, người mà tôi đã tìm thấy sau một cuộc tìm kiếm kéo dài. Phải mất mười năm và cả tấn may mắn tôi mới tìm được nhân vật Frances bí ẩn đó. Vậy là sau năm mươi năm kể từ khi mẹ tôi sống ở đó, hầu hết những người mẹ quen biết đã ra đi. Những người còn ở lại không nhớ hoặc không biết một ai tên là Frances. Cuối cùng tôi tình cờ gặp một phụ nữ tên là Frances Holland, người đã kể với tôi về hai người bạn gái làm bạn với bà khi bà là học sinh lớp bảy tại trường trung học cơ sở Thomas Jefferson: Ruth Shilsky và Frances Moody. “Frances Moody còn sống, hiện đang sống ở Portsmouth,” bà nói. Một cuộc tìm kiếm qua danh bạ điện thoại không đem lại kết quả, và tôi chẳng có gì trong tay cho tới khi tôi thăm thư viện của thành phố Suffolk và một người thủ thư đưa cho tôi một mảnh giấy có ghi số điện thoại. “Đây là người phụ nữ mà cậu đang tìm,” bà nói. “Bây giờ bà ấy là Frances Falcone.” Tôi cảm ơn người thủ thư và hỏi làm thế nào mà bà biết. Bà nhún vai. Bà dường như chẳng tỏ ra thân thiện cũng không tỏ ra lạnh lùng, chỉ đơn giản là một người được việc mà thôi. Bà nhấc điện thoại lên, quay số, và đưa ống nghe cho tôi. Frances Moody, bây giờ là Frances Falcone, ở đầu dây bên kia. “Cháu đã tìm kiếm cô trong nhiều năm,” tôi nói. Bà cười. “Cháu hãy đến gặp tôi, nhưng có lẽ tôi không nhìn thấy cháu đâu,” bà nói. “Hôm qua tôi mới trải qua một cuộc phẫu thuật mắt vì bị đục thủy tinh thể.” Tôi lập tức lái xe đến Portsmouth gặp người bạn thuở ấu thơ của mẹ mình, một phụ nữ bằng tuổi mẹ tôi có dáng người bé nhỏ, mái tóc nâu, và giọng nói nhẹ nhàng, có đôi mắt thực ra vẫn hoạt động tốt. Frances Moody, người đã vượt qua ranh giới phân biệt để làm bạn với một người Do Thái vào những năm bốn mươi khi mà người Do Thái là cộng đồng thiểu số ở Suffolk, đã kết hôn với Nick Falcone, một thợ thủ công người Italia chuyên về đồ gỗ. “Lần cuối cùng tôi gặp mẹ của cháu, bà ấy đã tặng quà cưới cho tôi đấy,” Frances nói. “Đó là vào năm 1941.”

“Cháu cược là cô đã nghĩ sẽ chẳng bao giờ còn gặp lại mẹ cháu nữa,” tôi nói.

“Không,” bà nói. “Tôi biết thế nào rồi tôi cũng gặp lại bà ấy.”

Khi chúng tôi gần tới nhà của bà Frances ở Portsmouth, mẹ tôi bắt đầu trở nên căng thẳng và nói nhiều. “Hãy nhìn những con đường này,” bà nói. “Không có ổ gà. Không có vết nứt. Ở Virginia này người ta bảo dưỡng đường tốt đấy, nhưng con không nên lái xe nhanh trên những con đường này bởi vì cảnh sát ở đây không đùa đâu. Họ không đùa đâu, con có nghe mẹ nói không đấy! Billy, lái chậm thôi! Ôi, đầu gối của tôi đang đau. Điều hòa nhiệt độ thực sự làm phiền cái đầu gối của tôi rồi. Mà ghế trên xe thì nhỏ quá.” Thậm chí sau khi chúng tôi đã tiến vào lối đi dẫn tới nhà của bà Frances, và đã nhìn thấy bà đã xuất hiện, mẹ tôi vẫn nói không ngừng, tiếp tục bài ca thán của mình. “Ôi, bây giờ mẹ không thể đứng dậy nổi nữa rồi. Chân mẹ đau. Giúp mẹ đứng dậy với, con đang cố làm cái quái gì thế hả! Sao lại lái xe nhanh như thế chứ! Con không thể lái xe như thế ở Virginia, mẹ nói cho con biết như vậy. Bây giờ đầu gối của mẹ bị đau rồi, và - Frances! Cậu nhỏ nhắn thế. Cậu thật đẹp. Ôi, tôi khóc đấy. Ôi, các con, các con định làm gì thế này…” Và mẹ khóc trong khi ôm chầm lấy người bạn thuở ấu thơ của mình.

Sau đó, mẹ tôi và bà Frances phục hồi tình bạn thuở học trò và bây giờ vẫn duy trì nó. Nhưng bà Frances là điểm rất xa mà mẹ tôi có thể quay trở lại. Cuộc đoàn tụ với người bạn cũ của mẹ là một phần nhỏ thuộc mặt tốt đẹp có lợi cho trải nghiệm viết sách mà mẹ tôi thực sự không hề thích, khảo sát quá khứ cho mẹ, cái quá khứ mà xét trên nhiều khía cạnh, đã biến mất vĩnh viễn và tốt hơn nên được chôn chặt và không nên chạm tới.

Có lẽ có cả trăm lý do giải thích tại sao Ruthie đáng lẽ nên là người Do Thái, thay vì sử dụng phương tiện giao thông công cộng của New Jersey và bắt tàu hỏa để đến một nhà thờ Cơ Đốc giáo ở Red Hook, Brooklyn cùng với những đứa con và những người bạn da đen của mình, và tôi chắc chắn rằng Kinh Cựu Ước ghi tên tất cả họ, nhưng tôi mừng vì mẹ đã bước sang phía của người Mỹ Phi. Mẹ kết hôn với hai người đàn ông tuyệt vời, nuôi dưỡng được mười hai người con có óc sáng tạo, có tài năng, và bây giờ tôi phải liệt kê tất cả các con của mẹ ra đây. Suy cho cùng, đó là phần việc để kết thúc cuốn sách này, bởi vì những thành tích mà các con của mẹ đạt được là công trình của cuộc đời mẹ. Vậy nên tôi sẽ liệt kê tên các con của mẹ tôi từ người lớn tuổi nhất cho đến đứa con út:

ANDREW DENNIS MCBRIDE, cử nhân của Đại học Lincoln; nhận bằng bác sĩ Y khoa của Đại học Y Pennsylvania; bằng thạc sĩ ngành Y tế cộng đồng của Đại học Yale; giám đốc Sở Y tế của thành phố Stamford, bang Connecticut.

ROSETTA MCBRIDE, cử nhân của Đại học Howard; thạc sĩ ngành Công tác xã hội của Đại học Hunter; nhà tâm lý học, thành viên của ủy ban Giáo dục thành phố New York.

WILLIAM MCBRIDE, cử nhân của Đại học Lincoln; thạc sĩ Y khoa của Đại học Yale; thạc sĩ Quản trị kinh doanh của Trường Quản trị kinh doanh thuộc Đại học Emory; Giám đốc Y tế vùng và các vấn đề khoa học và Y khoa của khu vực phía Nam của Công ty dược Merck and Co.

DAVID MCBRIDE, cử nhân của Đại học Denison; thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử của Đại học Columbia; tiến sĩ Lịch sử của Đại học Columbia; Trưởng khoa Lịch sử Mỹ-Phi của Đại học Quốc gia Pennsylvania.

HELEN MCBRIDE - RICHTER, y tá được cấp bằng của Bệnh viện Đại học Pennsylvania; Tốt nghiệp chương trình y tá thực hành của trường Y thuộc Đại học Emory, sinh viên tốt nghiệp ngành Y tá khoa Sản, thuộc Đại học Emory.

RICHARD MCBRIDE, cựu binh Mỹ, cử nhân ngành Hóa học của Đại học Cheney; thạc sĩ ngành Khoa học Tự nhiên của Đại học Drexel; phó giáo sư khoa Hóa thuộc Đại học Cheney; chuyên gia hỗ trợ nghiên cứu hóa học của tập đoàn AT & T.

DOROTHY MCBRIDE - WESLEY, nhận bằng khoa học nhân văn do trường Cao đẳng Pierce cấp; bằng cử nhân của Đại học La Salle; hiện đang quản lý phòng thực hành khám chữa bệnh tại Atlanta, Georgia.

JAMES MCBRIDE, tốt nghiệp cử nhân tại Đại học Oberlin; tốt nghiệp thạc sĩ chuyên ngành Báo chí của Đại học Columbia; là nhà văn, nhà soạn nhạc, nghệ sĩ biểu diễn saxophone.

KATHY JORDAN, cử nhân của Đại học Syracuse; thạc sĩ chuyên ngành Sư phạm của Đại học Long Island; giáo viên ngành giáo dục đặc biệt của trường trung học Ewing, ở Ewing, New Jersey.

JUDY JORDAN, cử nhân của Đại học Adelphi; thạc sĩ ngành Xã hội nhân văn của trường Sư phạm thuộc Đại học Columbia; hiện là giáo viên của trường JHS 168 ở Manhattan.

HUNTER JORDAN, cử nhân ngành Kỹ thuật máy tính của Đại học Syracuse; chuyên viên về máy tính của Tập đoàn tài chính U.S.Trust, và hãng Ann Taylor.

HERRY JORDAN, sinh viên của Đại học A & T Bắc Carolina; nhân viên chăm sóc khách hàng của công ty Neal Manufacturing, ở Greensboro, Bắc Carolina.

Và mẹ tôi: RUTH JORDAN, tốt nghiệp cử nhân tại Đại học Temple năm 1986.

Tất cả mười hai chị em chúng tôi, những đứa con của mẹ, đều là những người phi thường, hầu hết đều dẫn đầu nhờ năng lực của bản thân. Tất cả các anh chị em tôi đều mang những tổn thương về tinh thần và đều đương đầu với nhiều khó khăn mà bản thân mình không nhớ xuể, tuy nhiên chúng tôi vẫn giữ được phẩm giá, sự khiêm nhường đáng nể và khiếu hài hước. Giống như bất cứ gia đình nào chúng tôi cũng có những vấn đề, nhưng chúng tôi luôn bên nhau. Từ những cuộc hôn nhân, những mối quan hệ sống chung, và những lần nhận con nuôi gia đình gồm mười hai anh chị em chúng tôi đã phát triển thành một đại gia đình gồm mấy chục người - những người vợ, những người chồng, những đứa con, những đứa cháu, các anh chị em họ, những đứa cháu trai, cháu gái - có màu da thuộc đủ mọi sắc thái, từ đen sẫm đến ngăm đen; có người tóc đen, có người tóc vàng, có người mắt xanh. Trong cuộc chạy trốn quá khứ, mẹ của chúng tôi đã tạo ra quốc gia của riêng mình, một liên minh bảy sắc cầu vồng kéo về ngôi nhà của mẹ mỗi dịp Giáng Sinh và Lễ Tạ ơn, ngủ ở khắp nơi - trên sàn nhà, trên những tấm thảm, thay phiên nhau ngủ; ngủ hai, ba người một giường, “hai người nằm quay đầu về đằng này, ba người nằm quay đầu về đằng kia,” như hồi chúng tôi còn bé.

Mỗi năm chúng tôi lại tranh luận xem sẽ nghỉ Giáng Sinh ở đâu. Năm nào chúng tôi cũng dùng hàng trăm đô la cho những cuộc điện thoại, để gửi thư, gửi fax, để tán tỉnh, hối lộ, cố tránh cuộc hành hương đến ngôi nhà bé xíu của mẹ ở Ewing. Năm nào cũng như năm nào, tất cả mười hai đứa chúng tôi cũng tuyên bố sẽ đón Giáng Sinh ở nhà riêng của mình, sẽ không vượt cả tỉ dặm đường với cả tỉ đứa trẻ, ngủ với cả tỉ người trên sàn nhà của mẹ như chúng tôi hồi bé, bởi vì các bạn ạ, chúng tôi phát mệt, ấy thế mà năm ngoái chúng tôi vẫn lặp lại điều đó. Nhưng ở tuổi bảy mươi tư, ngài chủ tịch, vị giám đốc điều hành, và người chỉ huy tối cao của đội quân này vẫn có quyền lực. Stephanie, vợ tôi, kể một câu chuyện vui về lần đầu tiên cô ấy cùng tôi về nhà đón Giáng Sinh và ra mắt gia đình tôi. Chúng tôi, tất cả mười hai đứa con của mẹ, toàn bác sĩ và giáo sư, ngồi ngả ngốn khắp nhà của mẹ ở Ewing - cả ngôi nhà hỗn loạn y như hồi chúng tôi còn nhỏ. Các con của chúng tôi nô nghịch như phát cuồng, còn vợ, chồng, người yêu của chúng tôi thì tê liệt, trong khi mười hai đứa con của mẹ tôi quay trở lại với các kiểu cư xử bướng bỉnh và gàn dở đến mức có thể khiến một nhà tâm lý học phải bó tay - khi ai đó kêu lên trong hỗn loạn “Đi xem phim đi!” lập tức căn phòng trở nên quá sức chịu đựng.

“Ý hay đấy!”

“Ừ… đi nào. Tôi sẽ lái xe.”

Từ phòng khác vọng sang tiếng ai đó hét: “Đợi em với!” “Nhanh lên! Giầy của mình đâu rồi?”

Trong khi sự náo loạn đó diễn ra mẹ của chúng tôi ngồi trên sô-pha ở phòng khách, gác chân lên bàn nước. ‘Mẹ ngáp và nói khẽ: “Mình muốn ăn.”

Ngay lập tức bộ phim bị quên biến.

“Phải đấy! Đi ăn đi!”

“Chắc rồi, mình đang đói đây!”

“Đặt món đi!”

Từ phòng khác vọng sang tiếng reo: “Em đã đợi cả ngày nay để được ăn…!”

Và đó là những gì mà bạn gọi là uy quyền.

Người dịch: Nguyễn Bích Lan
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.