Màu Của Nước

Lượt đọc: 138 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
16
Lái xe

❊ ❊ ❊

Một buổi sáng thứ Bảy năm 1973, vài tuần sau khi tôi từ Louisville trở về nhà, và vài tháng sau khi cha dượng tôi qua đời, mẹ đánh thức tôi dậy, nói: “Chúng ta sẽ lái xe.” Mẹ ấn đứa cháu gái - tên nó là Z, chỉ mỗi một chữ Z - vào tay tôi và chúng tôi đi ra xe của cha.

Cha dượng tôi đã giữ gìn chiếc Catalina Pontiac 68 màu vàng lửa, có nội thất màu xanh da trời của ông không tì vết. Trước kia ông có một chiếc Impala Chevy 65’ khá đắt tiền. Chiếc xe trắng có nội thất màu đỏ ấy là một quả bom. Ông gọi nó là “hộp phô-mai”. “Cha sẽ không bao giờ mua xe Chevy nữa,” ông tuyên bố khi chiếc xe chất đầy những đứa trẻ dừng chết đứng ở nút giao thông trong khi động cơ không ngừng phun khói và phát ra những tiếng xì xì. Dường như cứ năm phút nó lại hỏng. Nó được khởi động mà không cần chìa khóa. Bạn chỉ việc xoay cái nút mồi bằng tay là nó khởi động được, và vào một buổi tối một gã đàn ông đã làm như vậy trong khi cha tôi đứng bên cửa bếp rửa bát. Ông đứng yên nhìn gã đó lái xe phóng đi trong đám khói xanh. “Hôm đó chắc chắn là ngày may mắn của cha,” ông nói.

Mẹ tôi chưa lái xe bao giờ. Mẹ sợ lái xe. Mẹ là một hành khách trung thành có bằng của thành phố New York, người có thể nói cho bạn biết tàu điện ngầm nào đi đâu, trạm dừng nào để xuống, và nó gần trạm kế tiếp bao xa nếu bạn quên không xuống đúng trạm và phải đi bộ quay trở lại. Phụ thuộc vào phương tiện giao thông công cộng mẹ luôn bị muộn - muộn giờ làm, đến lớp học buổi tối muộn, đón chúng tôi muộn mỗi khi mẹ phải đi đón. Mỗi mùa hè khi tôi trở về nhà từ trại Fresh Air Fund, những chiếc xe buýt màu vàng của trường học thường thả chúng tôi xuống Manhattan và tôi khổ sở đứng nhìn ba trăm cặp phụ huynh học sinh ôm hôn nhau, khóc bởi niềm vui xum họp trong khi các nhân viên hỗ trợ học sinh của trường tung đồng xu để xem ai sẽ ở lại đợi cùng tôi, và thường thì đến lúc đó mẹ mới xuất hiện ở góc đường 42 - tôi có thể nhận ra mẹ từ cách đó một dặm nhờ dáng đi vòng kiềng của mẹ hớt hải chạy đến, thở không ra hơi, ôm chầm lấy tôi trong khi các nhân viên hỗ trợ nhìn chúng tôi bằng cái nhìn như muốn nói: “Tôi chịu, không biết!”

Nhưng những ngày đó đã qua rồi. Chúng tôi cần một chiếc ô tô. Đã đến lúc mẹ lái xe. “Mẹ ghét việc này,” mẹ nói khi chúng tôi chui vào trong xe. “Con nói cho mẹ biết phải làm gì nhé.” Tôi sắp bước sang tuổi mười sáu và lúc ấy mặc dù chưa có bằng tôi đã biết cách lái xe, đã được lái chiếc xe của cha dượng nhiều lần khi mẹ không để ý, ấy là chưa kể đến việc lái những chiếc xe khác mà tôi được cho là không được phép lái. Mẹ không nói làm thế nào mẹ biết tôi có thể lái xe, nhưng khi đó tôi bắt đầu quay mặt đi chỗ khác rồi. Từ sâu thẳm trong lòng tôi biết rằng người bạn già của tôi, Ông Gà, ở Louisville nói đúng. Tôi không thông minh và khôn ngoan hơn bất cứ gã trai nào ở quán Corner, và nếu tôi chọn cách sống đó thì tôi sẽ kết thúc đời mình ở quán Corner cho dù tôi thông minh hoặc có tiềm năng đến mức nào. Tôi biết mình không được nuôi nấng để trở thành kẻ suốt ngày nốc rượu, để làm việc vặt ở trạm xăng, để bị giết bởi những kẻ như Herman và những gã ngớ ngẩn khác ở cái trạm xăng của hắn. Cuộc sống đó không hoang dã và thoải mái như người ta nghĩ khi thoạt nhìn từ bên ngoài. Nó bê tha, tàn bạo và tôi không muốn kết thúc theo cách đó, không muốn bị đâm dao cho tới chết sau một cuộc cãi vã về một chai rượu, không muốn bị bắn chết bởi một gã bị cắm sừng. “Mày phải chọn giữa những gì thế giới kỳ vọng ở mày và những gì bản thân mày muốn,” chị Jack đã vài lần nói với tôi như vậy. Tôi biết chị nói đúng, và khi tôi trở lại New York vào mùa thu năm 1973 để học trung học tôi quyết chí quay lại với học hành và làm lại từ đầu. Giống như mẹ mình trong những lúc căng thẳng, tôi hướng lên Chúa Trời. Ban đêm tôi nằm trên giường cầu Chúa làm cho tôi trở nên mạnh mẽ, xóa bỏ giận dữ khỏi con người tôi, khiến tôi trở thành một người đàn ông thực sự, và Ngài đã nghe thấu. Tôi bắt đầu thay đổi. Tôi không thay đổi ngay lập tức bởi vì tôi vẫn còn hút cần sa. Tôi đã xem các phóng viên Roger Grimsby và Geraldo Rivera, với vẻ mặt nghiêm trọng, thực hiện những phóng sự trên kênh 7 Eyewitness News về những hiểm họa của việc nghiện cần sa và tôi đã bật cười. “Hút cần sa làm sao mà nghiện được,” tôi nói với lũ bạn của mình. “Tớ có thể ngừng hút bất cứ lúc nào tớ muốn.” Nhưng thực tâm tôi biết tôi đã mắc nghiện, và tôi thầm ghen tị với những đứa bạn trong hội hút cần sa đã tỉnh táo thoát khỏi thứ của nợ đó. Ngày lại ngày tôi thấy mình chúi đầu vào nhà của đứa bạn chơi nào đó hút cần sa và uống rượu trong khi nó nhét khăn tắm xuống dưới cánh cửa để giữ mùi thuốc ở trong phòng. Thỉnh thoảng tôi bị ảo giác, trạng thái mà một năm trước tôi trải nghiệm nhiều khi tôi dùng thuốc thức thần LSD[1]. Trạng thái ảo giác ấy không biết từ đâu cứ bất ngờ kéo đến: Một điếu thuốc lá cũng thổi bùng nó, hoặc có khi chẳng cần bất cứ điều gì gợi lại nó cũng xuất hiện - tôi đang đi bộ trên đường bỗng nhiên thấy mình rơi vào trạng thái ảo giác, thấy ở trên cao có những hình người được làm bằng kính và thấy mu bàn tay mình trở thành một ngôi sao màu tím. Tôi hay đi lang thang quanh khu nhà mình đang sống trong tình trạng hoang tưởng, tránh gặp bất cứ ai cho tới khi cảm giác hưng phấn dịu đi. Ơn Chúa ngày đó chưa có chất mà người ta gọi là crack, một loại morphine nhân tạo gây nghiện, nếu không tôi chắc chắn sẽ trở thành một thằng nghiện nặng. Cứ như vậy mỗi ngày - trên đường đến trường, trong thời gian ở trường, và trên đường từ trường về nhà - tôi cảm thấy mình cần cảm giác hưng phấn. Nếu tôi hết cần sa, tôi uống rượu, và khi tôi không thể kiếm được Marvin, tôi uống NyQuil, thứ đồ uống gây hứng thần, gây buồn ngủ, buồn nôn. Tối nào tôi cũng trở về nhà trong tình trạng say mèm, người sặc mùi quán rượu, vừa tra chìa khóa vào ổ khóa vừa tự hứa với bản thân ngày hôm sau mình sẽ không như vậy nữa, để rồi mở cửa ra, thấy mẹ tôi đứng sau cánh cửa, gào lên: “Con có chuyện gì vậy hả! Mắt con đỏ sọng, người con có mùi gì lạ vậy hả!” Tôi muốn bỏ hút cần sa, nhưng không thể. Cần sa là bạn của tôi, cần sa giúp tôi trốn tránh sự thật. Và sự thật khi ấy là mẹ của tôi đang suy sụp.

Nhìn lại những ngày đó, tôi thấy rằng mẹ phải mất tới mười năm mới gượng dậy được sau cái chết của cha dượng tôi. Đó không chỉ là chuyện chồng của mẹ đột ngột qua đời, mà là sự chồng chất của những nỗi đau khổ âm thầm của cả đời người, trong đó có những nỗi đau mà anh chị em tôi không biết. Quá khứ của mẹ luôn là một bí mật đối với chúng tôi, và vẫn còn là một bí mật sau khi cha dượng tôi mất, nhưng những gì mẹ đã bỏ lại phía sau quan trọng, và toàn diện đến nỗi mẹ không bao giờ có thể hoàn toàn rời bỏ được: Sự suy tàn xảy ra với cái gia đình Do Thái của mẹ, cảm giác tội lỗi khi mẹ rời bỏ mẹ đẻ của mình, sự chia lìa của mẹ và người em gái, cái chết thảm thương và đột ngột của người chồng đầu tiên của mẹ, người mà mẹ ngưỡng mộ. Mặc dù mẹ dường như chưa bao giờ ở bên bờ vực của tình trạng quẫn trí, có những lúc mẹ lảo đảo gần mép vực, mất phương hướng. Thậm chí trong sự hoảng sợ vì những vấn đề của riêng mình, tôi vẫn lo lắng về mẹ, bởi khi anh chị em tôi dần dần lấy lại tinh thần thì mẹ vẫn cứ loạng choạng trong trạng thái ngẩn ngơ suốt gần một năm trời. Dẫu cứ lắc lư, chao đảo, nghiêng ngả, mẹ không ngã gục. Mẹ phản ứng bằng tốc độ và sự chuyển động. Mẹ không ngừng chuyển động. Mẹ đạp xe. Mẹ đi bộ. Mẹ bắt những chuyến xe buýt đường dài tới những cửa hàng bách hóa và những siêu thị ở rất xa, ngắm nhìn những món hàng bày trong tủ kính suốt nhiều giờ liền mà chỉ tiêu vỏn vẹn năm mươi xu. Mẹ không biết chính xác sẽ làm gì tiếp theo, nhưng mẹ cứ tiếp tục hoạt động như thể cuộc sống của mẹ phụ thuộc vào điều đó. Mẹ chạy, như mẹ đã chạy trong phần lớn cuộc đời mình, nhưng lần này mẹ chạy để giữ sự tỉnh táo.

Mẹ hoạt động như một cỗ máy, sáng sáng thức dậy, xua chúng tôi đến trường như thể mọi chuyện vẫn diễn ra bình thường như vốn có, nhưng mẹ không thể đưa ra những quyết định. Ngay cả sự lựa chọn đơn giản nhất, chẳng hạn như nên mua máy điện thoại bấm số hay máy điện thoại quay số cũng đòi hỏi ở mẹ sự suy nghĩ kéo dài và khó nhọc. Nếu lò sưởi bị hỏng thì nó cứ nằm yên trong tình trạng hỏng hóc, không chỉ bởi vì mẹ không có tiền sửa nó, mà bởi vì… bởi vì. Mẹ vốn là người thiếu tính ngăn nắp đến mức khó tưởng tượng nổi, nhưng giờ đây tính thiếu ngăn nắp của mẹ đạt đến cực điểm. Tôi đi đến lớp học thể dục, mở chiếc túi giấy đựng đồ thể thao của mình và phát hiện thấy đồ lót của mẹ trong đó. Mẹ biến mất suốt mấy tiếng đồng hồ và trở về nhà không một lời giải thích để chúng tôi biết mẹ đã đi đâu. Khoảng một năm sau ngày cha dượng tôi mất, người bạn thân nhất của mẹ, một phụ nữ da đen tên là Irene Johnson qua đời và mẹ lại loạng choạng bên bờ vực của sự suy sụp, cứ đứng bên bồn rửa kỳ cọ một cái ấm trong suốt mấy giờ liền, sụt sà sụt sịt cố ngăn những giọt nước mắt, và khi chúng tôi đến gần mẹ gắt lên: “Tránh xa mẹ ra!”. “Trong cuộc đời mỗi người chỉ có một hoặc hai người bạn tốt mà thôi,” mẹ từng giảng cho chúng tôi nghe như vậy, và Irene là một trong số ít những người bạn tốt của mẹ. Mẹ và cô Irene trở lại Harlem vào những năm bốn mươi, khi mẹ đến New York. Irene hiểu vì sao mẹ lại đến đó. Irene đã giúp mẹ nuôi nấng các anh chị tôi giống như một người em gái của mẹ. Tuy nhiên mẹ không chịu đến lễ truy điệu Irene. “Mẹ đã xong việc với các đám tang rồi,” mẹ thông báo, nhưng chúng tôi có thể thấy sự đau đớn trên gương mặt mẹ khi mẹ nhấc điện thoại quay số gọi cho chị gái của Irene hỏi về những chi tiết cuối cùng trong cuộc đời của người bạn thân nhất ấy. “Hãy giữ liên lạc với em nhé,” mẹ nói, và chị gái của Irene đã giữ liên lạc với mẹ trong nhiều năm. Mẹ cực kỳ chậm hiểu trong tất cả mọi chuyện, trừ một điều: Chúa Jesus. Cô gái trẻ người Do Thái đã có lần không thể cho phép mình bước vào một nhà thờ ngoại đạo giờ đây không thể tiếp tục sống mà không làm điều đó; lối sống và chất Do Thái chính thống ở mẹ từ lâu đã được chuyển thành chất Cơ Đốc giáo toàn diện. Chúa Jesus thúc đẩy mẹ tiến lên phía trước. Mỗi Chủ nhật, dù mệt mỏi, buồn bã, hoặc uể oải đến mức nào, mẹ vẫn thức dậy sớm, mặc tươm tất hết mức có thể, để đi lễ nhà thờ. Khi anh chị em chúng tôi quá lớn để bị mẹ ép đi lễ nhà thờ, mẹ đi một mình, bắt xe điện mang số hiệu F từ quận Queens tới Brooklyn để đến nhà thờ New Brown Memorial, nhà thờ mà mẹ và cha đẻ của tôi lập ra. Nhà thờ đó đã khiến mẹ hồi sinh, truyền cho mẹ sức mạnh, và mỗi Chủ nhật mẹ từ đó trở về như được tiếp thêm năng lượng, cho đến buổi trưa Chủ nhật ấy mẹ tuyên bố sẽ lái chiếc xe của cha dượng tôi.

Mẹ ngồi sau tay lái, gõ gõ những ngón tay lên nó một cách căng thẳng và lẩm bẩm điều gì đó trong khi tôi bế Z leo lên ghế trước. Chúng tôi không quan tâm đến việc thắt dây an toàn. Mẹ cắm chìa khóa vào ổ khóa để khởi động xe. Động cơ gầm lên. “Bây giờ làm gì nhỉ?” mẹ hỏi.

“Vào số mẹ ạ,” tôi nói.

“Ừ, mẹ biết vào số,” mẹ nói. Mẹ cho xe rồ máy chuyển động trong đám khói bụi của cuộc khởi động cháy lốp, bất thình lình quẹo ra đường phố, vừa lái xe vừa hét như điên dại “Woooooooo!”

“Giảm tốc độ đi mẹ!” tôi nói.

Mẹ phớt lờ. “Mình không có bằng lái!” Mẹ rú lên khi xe “đánh võng” trên đường. “Nếu mẹ bị tuýt còi mẹ sẽ phải ngồi tù!” Mẹ cho xe chạy qua khoảng bốn dãy phố tới một điểm báo dừng xe mà không dừng lại, sau đó ở ngã ba tiếp theo mẹ cua một vòng rộng, lượn theo hình cánh cung vào lối rẽ trái, liên tục nhấn ga, làm cho chiếc xe láng sang bên làn đường không dành cho nó khiến dòng xe đang di chuyển ngược chiều phải đi chệch sang làn khác để tránh chúng tôi. “Cẩn thận đấy mẹ! Mẹ đang làm gì vậy? Dừng xe lại đi mẹ!” tôi kêu lên.

“Mẹ cần phải đi đến đến siêu thị A&P! Mẹ cần phải đến A&P!” mẹ rít lên. “Mẹ đang lái xe đến đó, đúng không hả?” Xe của chúng tôi đi như kẻ say rượu qua mấy dãy phố mà không gặp bóng cảnh sát nào, và thật không thể tin được cuối cùng chúng tôi cũng đến siêu thị A&P. Vì mẹ không biết cho xe đỗ song song với lề đường, mẹ dừng xe ngay cạnh một chiếc xe đã đỗ ở đó từ trước, đạp phanh, khiến chiếc xe khựng lại, dùng chân đạp mạnh phanh đỗ xe rồi chui ra khỏi xe, mà không tắt động cơ. “Đợi ở đây,” mẹ nói. Tôi bế Z trong khi mẹ chạy vào trong siêu thị. Khi mẹ quay trở lại mẹ nhả phanh, khiến chiếc xe lăn bánh tức thì, và cứ thế mẹ lái xe đi mà không buồn nhìn lại phía sau. Thế rồi bất thình lình, không có lý do rõ ràng - mẹ chắc hẳn đã nhầm chân ga với phanh - mẹ dận phanh bằng tất cả sức mạnh của mình. Phanh bị khóa và tôi bị ném về phía kính chắn gió cùng với Z. Cái đầu nhỏ của con bé sượt qua bảng đồng hồ, chỉ cách một mi-li-mét. Nếu con bé đập đầu vào đó, thì lực va đập chắc chắn sẽ khiến nó bị thương nặng. Chiếc xe đứng im đó, động cơ khẽ gầm gừ, trong khi mẹ há hốc mồm để thở. “Lái xe là như vậy đấy,” mẹ nói. “Mẹ bỏ cuộc.” Mẹ lái xe về nhà thật chậm, đỗ xe, và bước ra xa như thể trong đời mình mẹ không bao giờ nhìn chiếc xe đó nữa. Mẹ không bao giờ bước vào trong xe nữa. Chiếc xe nằm im lìm ở đó suốt nhiều tháng trời, lá cây lại phủ quanh lốp xe, tuyết chất đống trên nóc xe, cho đến khi mẹ bán nó đi. “Mẹ sẽ không bao giờ học lái xe,” mẹ tuyên bố.

Thật mỉa mai là mẹ đã biết lái xe trước khi mẹ mười tám tuổi. Mẹ lái chiếc xe Ford 1936 của cha mình ở Suffolk, Virginia. Mẹ không chỉ lái nó, mẹ lái giỏi đủ để kéo một chiếc rơ-mooc chất đầy hàng hóa cho cửa hàng của gia đình. Mẹ lái chiếc xe đó và chiếc rơ-mooc trên vỉa hè, trên những con đường đầy bụi đất nằm giữa Norfolk, Suffolk, Portsmouth, Virginia Beach và North Carolina. Mẹ có thể lái xe kéo rơ-mooc chất đầy hàng, có thể dỡ hàng xuống rồi đánh xe vào sân, tháo rơ-mooc ra, và cho xe vào gara. Nhưng mẹ đã bỏ lại phần quá khứ đó ở phía sau, bỏ xa đến nỗi bây giờ mẹ thực sự không biết phải lái xe như thế nào. Rachel Deborah Shilsky có thể lái một chiếc xe hơi kéo theo một chiếc rơ-mooc nhưng trước cái ngày hôm đó của năm 1973 Ruth McBride Jordan lại chưa từng chạm vào vôlăng, và bạn có thể hoàn toàn chắc chắn về điều đó.

[1] Một loại ma túy gây ảo giác mạnh.

Người dịch: Nguyễn Bích Lan
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.