Nhiều tháng sau khi cha dượng tôi mất; mẹ cứ đi lại trong nhà như người mù; lảo đảo đi qua những chuyển động của cuộc sống. Mẹ đem cho tất cả quần áo, những dụng cụ sửa chữa, những chiếc mũ của cha… đem cho hội từ thiện hết. Mẹ gửi chúng tôi đến trường và cố quản lý ngôi nhà bừa bộn, lộn xộn của chúng tôi như trước, hùng hồn nói về cái này, cái kia, nhưng thực sự “lửa” đã tắt rồi. Buổi tối mẹ thường ngồi ở bàn bếp đắm chìm trong suy tư. Có lúc đang nói mẹ dừng lại giữa chừng và bước đi trong im lặng, lấy tay bưng mặt. Ban đêm mẹ khóc trong phòng ngủ, mặc dù mẹ luôn giấu những giọt nước mắt không để chúng tôi nhìn thấy. Chiếc xe Pontiac màu vàng lửa của cha đỗ im lìm trước nhà trong nhiều tháng, những chiếc lá rơi thành đống quanh lốp xe và phân chim rơi đầy trên mui xe. “Mẹ sẽ học lái xe,” mẹ hứa, nhưng thay vì học lái xe mẹ bắt đầu cưỡi chiếc xe đạp của mẹ, học chơi piano, tối nào cũng ngồi tập đàn, nhìn chăm chăm vào cuốn sách nhạc, gõ một cách chậm chạp và tỉ mỉ từng nốt nhạc để tạo thành bản nhạc mẹ yêu thích, bản “Trong Chúa Jesus chúng ta có một người bạn”. Mẹ chơi từng nốt riêng rẽ, như thể giữa chúng không có sự kết nối, và các nốt nhạc vọng khắp nhà, rơi vào những bức tường như những giọt lệ. Tôi không thể chịu đựng nổi khi nghe tiếng đàn của mẹ. Đêm đêm tôi bịt tai lại, hoặc đi ra ngoài. Mẹ bận chơi đàn rồi, không ai ngăn cản tôi ra ngoài hết.
Điểm của tôi ở trường xuống dốc gần như ngay sau khi cha mất. Khi ấy tôi đang học tại trường Trung học Benjamin Cardozo ở Bayside, thuộc quận Queens, và mặc dù trước đó tôi luôn là một học sinh giỏi ở lớp chín, năm sau đó tôi đến trường buổi đực buổi cái, gần như bỏ học. Tôi thi trượt tất cả các môn, buổi sáng rời nhà, nhưng không đến trường. Giống y như mẹ đã làm nhiều năm trước, tôi bắt đầu cuộc trốn chạy, ngắt kết nối với mẹ mình về mặt cảm xúc, như thể bằng cách làm như vậy tôi có thể khiến cho sự đau khổ của mẹ không chạm tới tôi được. Sau nhiều năm chờ đợi, cuối cùng tôi đã là “vua” trong nhà, là đứa con lớn nhất còn ở nhà, với quyền lực của ông chủ, có thể hành hạ các em của mình như tôi đã từng bị các anh chị lớn quản lý và hành hạ, nhưng giờ đây khi thời điểm mong chờ ấy đã đến tôi lại đi suốt, để khỏi phải ở nhà. Tôi không đi lễ nhà thờ nữa, tránh gặp những người đỡ đầu của mình. Tôi là đứa trẻ đầu tiên trong tòa nhà nơi chúng tôi sống hút thuốc lá có cần sa. Tôi tham gia một ban nhạc soul, mang tên Băng Đen, ở phía bên kia thành phố, chơi bất cứ nhạc cụ nào tôi có thể kiếm được - kèn saxophone, sáo, guitar bass, tất cả đều là nhạc cụ đi mượn. Chúng tôi chơi những ca khúc của Kool và nhóm The Gang hàng giờ, hút cần sa, uống rượu mạch nha Old English 800, và tập biểu diễn trong tầng hầm của tay trống trong ban nhạc nhiều ngày liền cho tới khi mẹ của anh ta tống cổ chúng tôi đi, để rồi lại tìm một chỗ khác để tụ tập. Ban nhạc thu hút được những nhóm thanh thiếu niên hâm mộ - các cô gái mà ở tuổi mười bốn tôi vẫn sợ chết khiếp, và những người bạn mới, những gã choai choai dễ thương tên là Beanie, Marvin, Chink, Pig, và Bucky vừa hút thuốc lá có cần sa, vừa hát nghêu ngao. “Oh, yes,… bạn có thể chơi, bạn ạ. Bạn có thể hút thuốc…”
Tôi và những người bạn mới trộm đồ ở cửa hàng. Chúng tôi phá cửa trộm đồ trong những chiếc xe hơi. Chúng tôi hoạt động trộm cắp trên tuyến đường tàu Conrail/ Long Island và đột nhập các toa chở hàng, lấy trộm xe đạp, ti vi, rượu vang. Có lần một viên cảnh sát bắt quả tang chúng tôi đang sục sạo để trộm cắp nhưng không có bằng chứng. Anh ta bắt chúng tôi xếp hàng đứng úp mặt vào một toa chở hàng và khám xét, sau đó dùng dùi cui đánh vào mặt một đứa - đứa đó cố nói rằng nó không dính líu gì đến bọn tôi. Viên cảnh sát dùng súng ra lệnh cho chúng tôi phải đi vòng quanh sân chất hàng trong khoảng một tiếng đồng hồ, gí súng vào mũi chúng tôi và nói: “Bọn mày là lũ mọi đen cặn bã. Tao sẽ bắn chúng mày ngay lập tức.” Chúng tôi cứ nghĩ mình sắp toi đời, nhưng rồi anh ta lại để cho chúng tôi đi. Lần đụng đầu với cảnh sát đó không khiến chúng tôi chùn tay. Khi phát hiện ra một toa tàu chứa đầy rượu vang chúng tôi đã lấy trộm hết thùng này đến thùng khác. Chỗ rượu vang chúng tôi trộm được khiến một nửa số trẻ mới lớn ở St. Albans đi lang thang trong tình trạng say rượu trong nhiều tuần. Cảnh sát cố phá án và một đêm họ bắt được bốn đứa trong nhóm chúng tôi đang chia nhau những hộp rượu vang trộm được ở một con phố cụt. Họ truy đuổi, hai xe tuần tra của cảnh sát với đèn pha ở hai bên, cảnh sát chặn ở đầu, chặn đuôi, động cơ rú ầm ĩ, lốp xe rít lên trong khi chúng tôi chạy tán loạn vào bãi chứa phế liệu gần đó. Tôi suýt bị tóm. Tôi chạy sau thằng bạn Marvin chậm chạp và không thể chạy tới hàng rào để thoát sang phía bên kia của cái sân nơi những đứa khác đã trốn thoát. Tôi nấp dưới gầm một chiếc xe tải hỏng bị vứt bỏ nằm im lìm ở bãi phế liệu, trong khi vẫn cầm khư khư một chai rượu vang giá rẻ có hương vị bạc hà trong tay, cắn chặt răng, suýt vãi đái khi nhìn thấy những đôi giày cảnh sát và ánh đèn pin của họ lia qua lia lại chỉ cách chân mình vài phân. Ngày hôm sau tôi uống thật say trong cảm giác nhẹ nhõm vì đã mò về đến nhà. Joe, bạn của tôi, đã đưa tôi về. Về đến nhà tôi ngã vật ra, rồi đứng dậy, đi tiểu trên đường, ngay trước cửa nhà mình trước mặt các em gái, những người cố gắng đưa tôi vào trong nhà để mẹ không nhìn thấy, rồi gục xuống. Nhiều giờ sau, khi tôi thức dậy, tôi thấy mẹ đang ngồi ở cuối giường với chiếc thắt lưng da trong tay. Mẹ quật tôi không thương tiếc, trong khi những giọt nước mắt tuôn rơi đầm đìa trên khuôn mặt mẹ. Trận đòn đó chẳng có ích gì. Các bạn tôi trở thành gia đình của tôi, còn gia đình của tôi, mẹ tôi trở thành những người tôi sống cùng mà thôi.
Tôi đang lẩn tránh và đầy tức giận, nhưng tôi chưa bao giờ thừa nhận điều đó với chính bản thân mình. Sự hỗn loạn có tổ chức mà mẹ đã cần cù kiến tạo để cỗ máy gia đình hoạt động trơn tru đã vỡ vụn khi cha dượng tôi qua đời, mà mẹ thì không có tâm trạng để sửa chữa, khắc phục. Lời nhắn nhủ cuối cùng của cha dành cho tôi đã không được đếm xỉa tới khi tôi miễn cho bản thân mọi trách nhiệm và đi suốt thay vì ở nhà nhiều nhất có thể, để tránh những tác động về mặt cảm xúc khi phải chứng kiến mẹ mình đau khổ. Tôi làm như vậy mẹ càng đau khổ hơn, không có một ai giúp mẹ trông nom và bảo ban lũ em tôi. Thêm vào đó mẹ không có tiền để thanh toán các hóa đơn sinh hoạt, hóa đơn thanh toán tiền hơi đốt và lò sưởi, hóa đơn tiền điện, hóa đơn điện thoại, gửi từng xu từ khoản lương hưu của cha dượng tôi và lương tháng còm cõi của mẹ cùng tiền trợ cấp an sinh xã hội cho các anh chị tôi ở các trường cao đẳng và đại học. Dần dần nhà tôi chìm sâu vào tình trạng kiệt quệ. Tôi phớt lờ thực tế đó. Để kiếm tiền, tôi bán cần sa, kiếm được chút ít ở đường tàu. Lúc cháy túi, tôi bảo thằng bạn tên là Joe đi cướp của một gã con buôn mà chúng tôi biết có nhiều cần sa. Joe có một khẩu súng lục nòng 22 ly còn tôi mang theo một lưỡi dao cạo mà tôi tìm thấy trong đống đồ cá nhân của cha dượng. Chúng tôi dùng vũ lực để cướp cần sa của gã, và khi gã chống cự tôi đánh gã. Khi hết tiền, chúng tôi không từ cả việc giật ví của một bà già da đen trên phố Newburg khiến bà ta vừa kêu la vừa gào thét trong khi chúng tôi cười hô hố, chạy biến. Chúng tôi trộm được 1,16 đô la và Joe cảm thấy tội nghiệp cho bà già đó, nhất quyết không chịu cướp giật như thế nữa, vì thế tôi làm một mình, đợi trước lối vào tối om của một hiệu cắt tóc đã đóng cửa khi những người phụ nữ xuống xe buýt, giật ví khỏi những bàn tay giữ chặt trong khi họ thét lên trong sợ hãi và bàng hoàng. Tôi là một đứa du côn, tôi cảm thấy tội nghiệp cho họ, những tiếng kêu thét của họ cứ dội vào tai tôi trong khi tôi chạy, tim tôi đập mạnh đến mức tôi tưởng như một hòn gạch đang đập vào ngực mình, nhưng cảm giác ấy không đủ. Tôi đã bị tê liệt. Tôi cảm thấy mình đang trả thù cái thế giới bất công mà tôi đã phải chịu đựng, nhưng nếu bạn bắt tôi phải ngồi xuống, hỏi tôi rằng tôi đang nói đến những bất công nào, thì tôi tắc tịt. Tôi giật túi của những bà già theo cái cách ví của mẹ tôi đã bị giật mà tôi đã chứng kiến khi tôi tám tuổi, nhưng trong đầu tôi hai hành động đó không liên quan đến nhau. Tôi vô cảm. Tôi đã làm cho những tình cảm, cảm xúc của mình chết ngạt. Mỗi lần chúng trỗi dậy, tôi lại ấn chúng xuống theo cái cách bạn nhét quần áo vào ngăn kéo tủ và đóng ngăn kéo lại. Cần sa và rượu giúp tôi quên đi đau khổ, và khi cảm giác đau khổ, hối hận tăng lên, tình trạng nghiện ngập của tôi càng trở nên trầm trọng hơn.
Tôi ôm nỗi đau đớn trong lòng và giấu kín không cho mẹ biết mình đã trở thành một kẻ du côn. Tôi lấy trộm một tập bảng điểm trắng ở thư viện của trường thay vì để mẹ nhìn thấy bảng điểm tồi tệ khủng khiếp của tôi, với hầu hết những điểm số đã thấp tới mức bằng không bởi vì tôi không đến trường. Đó là một việc phức tạp đòi hỏi sự khéo léo thực sự và một người bạn tên là Vincent đã giúp tôi, nhưng tôi đã sai lầm khi nhờ em gái Kathy của mình điền vào bảng điểm trắng, bởi vì nếu tôi tự điền, mẹ sẽ nhận ra chữ viết của tôi. Thay vì điền vào đó những điểm bình thường - tôi vốn là học sinh đạt toàn điểm A - Kathy viết điểm C vào đó. Mẹ nhìn bảng điểm và nói: “James không phải là học sinh nhận điểm C.” Mẹ nhấc điện thoại gọi đến trường của tôi và bị một cú sốc nhớ đời.
Mẹ không thể phạt tôi, mẹ biết điều đó. Tôi quá lớn, quá khỏe, và đã đi quá xa rồi. Mẹ đăng ký cho tôi đi học hè nhưng tôi không chịu. Các anh của tôi từ trường đại học về, quở mắng tôi, đuổi đánh tôi từ đầu nhà đến cuối nhà. Tôi vẫn chìm trong nghiện ngập và vắng nhà suốt. Cuối cùng mẹ gửi tôi đến ở với chị Jack, người đã chuyển từ Harlem đến Louisville, Kentucky, với anh chồng mới của chị. “Jack sẽ nện cho mày bẹt mông,” mẹ khụt khịt. Tôi nói với mẹ rằng tôi không tin điều đó.
Tôi yêu quý chị Jack. Chị là một phụ nữ da đen theo đạo Cơ Đốc có vóc người nhỏ nhắn, xinh xắn với khuôn mặt lấm tấm tàn nhang và đôi mắt nâu tinh tường, không bỏ sót bất cứ điều gì. Chị đội mái tóc giả được làm một cách tinh vi, nói giọng địa phương mộc mạc, hay rút gọn từ và đẩy âm gió. Thỉnh thoảng chị quấn khăn quanh đầu và làm việc như một đầu bếp, thường thì làm thuê cho người da trắng, nhưng đằng sau dáng vẻ của một người nội trợ là một người phụ nữ thông minh, biết nhìn xa trông rộng, hiểu tôi hơn tôi hiểu chính bản thân mình. Trước khi chuyển đến Kentucky, Jack đã sống ở Harlem mười năm. Chị thông thuộc phố xá hơn cả tôi.
Đến sống với chị Jack trong mùa hè không phải là một hình phạt đối với tôi. Đó là sự tự do ngọt ngào, và tôi ở luôn đó tận ba mùa hè, liên tục bị đuổi khỏi trường học hè ở thành phố New York để rồi lại bị gửi đi học lại. Jack quá bận không để mắt đến tôi được, hoặc bản thân tôi nghĩ vậy. Chị vừa nuôi con nhỏ vừa làm đầu bếp toàn thời gian ở một căng-tin, và có một người chồng ngang tàng. Lần đầu tiên tôi đến nhà chị, chị nói với tôi: “Mày muốn chơi bời hả? Cứ ra ngoài mà chơi, rồi mày sẽ thấy. Nhưng nếu mày bước chân vào nhà chị cùng với một khẩu súng thì chính chị sẽ bắn mày,” và tôi biết chị sẽ làm như chị nói. Mặc dù miễn cưỡng, chị để tôi đi chỗ này chỗ kia cùng với anh Big Richard chồng chị, người mà tôi tôn thờ. Anh là một người đàn ông cao gầy, có nước da nâu sẫm, để ria mép, thích đeo kính râm, mặc sơ mi ngắn tay và quần da cá mập, đi giày bóng lộn và luôn ngậm một điếu thuốc đã châm lửa giữa hai hàm răng. Big Richard là một anh chàng trông đầy vẻ lạnh lùng và cá tính thường giao du với một số nhân vật khá “ngầu” ở Louisville, nhưng trong khi nhiều bạn của anh bị đâm chém, bị làm cho tàn tật hoặc bị bắn, Big Richard vẫn lành nguyên chẳng hề hấn gì, bởi vì bộ não phía sau cặp kính râm của anh lúc nào cũng hoạt động với sự tinh nhạy, làm việc như một máy bơm tự động, ngay lập tức nắm bắt thông tin về bất cứ tình huống nào. Anh có thể ngửi thấy mùi của nguy hiểm ngay khi vừa bước chân vào một câu lạc bộ đêm, và chuồn ngay lập tức. “Ở đó chắc chắn sắp có người bị bắn,” anh nói và chắc chắn ngày hôm sau bạn sẽ nghe được tin có người đã bị bắn ở câu lạc bộ ấy.
Richard làm việc tại nhà máy sản xuất thuốc lá Brown and Williamson, nhưng cả ngày lẫn đêm trước khi vào ca, anh và tôi tụ tập với đám bạn của anh tại quán “Corner”, thuộc cửa hàng Vermont Liquors nằm giữa phố Ba Mươi Tư và đại lộ Vermont ở phía Tây thành phố. Ba mùa hè tiêu thời gian ở quán Vermont Liquor cùng với Big Richard thực sự là một khóa giáo dục kiến thức đường phố đối với tôi.
Những người đàn ông tại quán Corner là những người lao động gốc miền Nam, những thợ mộc, thợ sơn, những kẻ say xỉn, những tội phạm lừa đảo, những người phục vụ lâu năm trong lực lượng bảo vệ khu vực kho vàng Fort Knox đã nghỉ hưu, những công nhân của nhà máy sản xuất thuốc lá Brown and Williamson, và một số kẻ trộm cắp vặt. Họ là những gã đàn ông to lớn, cơ bắp, có hàm răng trắng và cánh tay chắc nịch, mặc quần áo lao động hoặc áo may ô, mặc quần vải thô, đi giày lao động; họ hút thuốc Pall Malls và Tareyton không đầu lọc, lái những chiếc xe cỡ lớn - Electra 225, Cadillac, Oldmobile. Họ thích phụ nữ đẹp, rượu whisky ngon, thích chơi xúc xắc, và thích giải đấu bóng mềm ở địa phương, một giải đấu thể thao mà trong đó họ ra sân trong một đội gồm những gã đàn ông có khả năng uống rượu bẩm sinh. Họ thi đấu với những đội khác cũng gồm toàn những cầu thủ có khả năng uống rượu bẩm sinh và mặc dù thỉnh thoảng một trận ẩu đả vẫn xảy ra, hiếm khi họ để nó leo thang thành một cuộc đấu súng. Những người đàn ông ở quán Corner là những người có khả năng uống rượu không thể xem thường, với chuẩn mực riêng về đạo đức: Lời của một người đàn ông là bản giao kèo của anh ta và bạn không bao giờ xúc phạm người phụ nữ của bất cứ ai, bạn không được uống cùng một chai rượu với một người đàn ông thú nhận đã làm tình bằng miệng với đàn bà, bạn không bao giờ đấm con xúc xắc trong khi chơi xúc xắc, và nếu bạn đã rút súng ra - điều mà bạn không nên làm - thì bạn nên sử dụng nó trước khi nó được sử dụng để nhằm vào bạn. Những người đàn ông đó được gọi bằng những cái tên như “Đỏ”, “Dồi Nóng”, “James Một Tay”, và “Ông Gà”, một người đàn ông lớn tuổi uống rượu như uống nước lã mà tôi rất thích.
Ông Gà là một người đàn ông có dáng người nhỏ bé, có nước da màu đồng hun, khuôn mặt đầy nếp nhăn và đôi mắt biết cười. Ông đội chiếc mũ tai bèo cũ dường như che cả khuôn mặt, và chiếc quần vải len có kẻ sọc để lộ hai phân tất, ba phân cổ chân. Người ông lúc nào cũng đượm mùi rượu bia nhưng lúc nào ông cũng có một túi quần đầy kẹo để chia cho những đứa trẻ ông gặp ở quán rượu, những đứa trẻ thuộc đủ mọi chủng tộc, đứa có cùng màu da với ông, đứa không. Bạn có thể nhìn thấy ông đang đi đến cái quán đó từ khoảng cách khá xa, không biết từ đâu xuất hiện như một thiên thần, cái bóng của ông dường như vừa mới đội đất lên trong màn hơi nước mặc dù thật sự ông đi ra từ một trong những ngôi nhà xiêu vẹo nằm ở bên đường cách quán rượu đó nửa dặm. Ông đi liêu xiêu đến phố Ba Mươi Tư như một con chim bay lạc bầy, đôi bàn tay ông xòe ra bên hông như thể ông đang bay thật, vẫy những chiếc xe hơi bấm còi nhằm vào ông và đến quán Corner lúc hai giờ chiều, say mềm. Ông yên vị trong cái quán đó như thể nó là văn phòng của ông, ngồi chễm chệ trên một cái thùng gỗ trước quầy rượu và uống cho đến khi hết rượu hoặc hết tiền, cho đến khi ông lảo đảo đứng dậy bước đi, say không còn thấy đường, cười trước một triết lý ngớ ngẩn nào đó mà ông vừa mới nghĩ ra. Ông Gà là một người tử tế. Khi say ông hoàn toàn không biết gì, nhưng khi tỉnh ông là một trong những triết gia hàng đầu của quán Corner. Ông ngồi trên cái thùng gỗ như vua Tut của Ai Cập cổ đại, khoanh tay, đầu lắc lư, nhìn dòng người xe qua lại, bình luận về cuộc sống, về tự do, và việc theo đuổi hạnh phúc, tiền bạc, rượu (“Đừng đánh đồng rượu ngô với loại rượu vang rẻ tiền - đừng bao giờ”) và phụ nữ (“Đừng làm tình với phụ nữ khi cô ta đang có kinh nguyệt”). Ông Gà tươi cười gọi những người da trắng là “Ông Charlie” hoặc “Chuck”.
“Ông Charlie có cái tên đó,” một hôm Ông Gà giải thích, “từ những người say rượu. Khi say vừa vừa cậu gọi ông ta như thế này này: Chaaaaarrrrllllieee.” Ông giả vờ nôn. “Nhưng khi cậu say mèm, cậu gọi ông ta là Chuck, như thế này này: Chuuuuuccckckckkkkk!” Ông giả vờ nôn thốc nôn tháo.
“Thế còn cái tên Ralph thì sao ạ?” Tôi hỏi, biết thừa khi gã nào đó nôn, chúng tôi đều gọi nôn là “ralphing”; ít nhất ở New York chúng tôi gọi như vậy.
“Quên xừ Ralph đi, gã đó không tính. Tính ông Charlie thôi. Nào, mua bia cho tôi đi.”
Cánh đàn ông ở quán Corner dường như không quan tâm đến ông Charlie. Lần họ đến gần ông ta nhất là khi cảnh sát đi tuần qua đó, thỉnh thoảng dừng lại hỏi mọi người có nhìn thấy một người nào đó không. Hỏi như thế, cảnh sát gặp phải sự im lặng đầy kiên quyết, hoặc chỉ nhận được những câu nói đùa, những tiếng cười suông. Cánh đàn ông ở đó dường như không sợ hoặc không ưa cảnh sát. Cuộc sống của họ dường như hoàn toàn không bao gồm đàn ông da trắng. Tôi thích điều đó. Thế giới của họ là ốc đảo, tách biệt với thế giới thực mà tôi đang trốn khỏi. Họ gọi tôi là “dân New York” và để tôi ngồi đó cả ngày tập thổi sáo, muốn hút bao nhiêu cần sa tùy thích. Tôi bước sang tuổi mười lăm ở quán Corner nhưng làm như mình đã hai mươi lăm tuổi mà chẳng ai ở đó thấy phiền. Ở đó tôi có thể lẩn trốn. Không ai biết tôi hết. Không ai biết quá khứ của tôi, không ai biết người mẹ da trắng của tôi, không ai biết người cha đã qua đời của tôi, không ai biết gì hết. Thật tuyệt. Các vấn đề của tôi dường như ở xa tít, xa tắp.
Một trong những người bạn tốt của Big Richard là Pike, một người đàn ông da đen, để ria mép và rất dễ gần. Tôi cùng Pike đi ăn trộm một vài bình ắc-quy ô tô cho tới khi có người nhìn thấy chúng tôi trước cửa nhà họ giữa đêm khuya, bật đèn pin chiếu thẳng vào chúng tôi. “Nhóc không cần phải làm việc này đâu,” Pike vừa thở hổn hển vừa nói khi chúng tôi đã chạy thoát. Sau lần đó anh không để tôi chạy với anh nữa. Giống như hầu hết những người đàn ông ở quán Corner, anh trông nom, bảo vệ tôi. Khi tôi phản đối, bảo rằng tôi cần tiền, anh nói: “Đừng lo. Anh sẽ kiếm việc làm ở nhà máy phân bón cho nhóc, sẽ kiếm đủ tiền nhóc muốn.”
“Nhà máy phân bón là gì ạ?” Tôi hỏi.
“Là nơi người ta sản xuất những cục phân bón,” anh giải thích khi một buổi trưa trong khi anh, Big Richard và tôi ngồi trên xe hơi của anh đi chơi loanh quanh. Big Richard vừa ngậm thuốc lá vừa lái xe với tốc độ chóng mặt nghe nói thế liền nhìn ra ngoài cửa sổ để khỏi bật cười.
“Em muốn có việc làm,” tôi nói. “Em sẽ làm gì ở đó?”
“Nhóc ngồi trong một chiếc ghế to tướng, và những cục phân trôi đến theo dòng nước chảy dài, và nhóc chỉ việc nhặt cục to ra cục to, cục nhỏ để vào với cục nhỏ.”
“Bằng cách nào ạ?”
“Họ có dụng cụ cho nhóc sử dụng. Hoặc nhóc có thể nhặt bằng tay. Làm thế nào cũng được. Điều đó không quan trọng. Việc đó kiếm ra tiền đấy, nhóc ạ! Nhóc có muốn đi làm hay không hả?”
“Em muốn! Em muốn có việc làm! Hãy đưa em đến đó đi!”
Cuối cùng tôi đã có được việc làm thực sự, việc bơm xăng ở một trạm xăng cách quán Corner khoảng một dặm. Người quản lý trạm xăng tên là Herman, một người đàn ông da đen to lớn, vạm vỡ có khuôn ngực rộng, keo kiệt. Ngày đầu tiên tôi làm việc ở đó người thợ sửa xe của trạm xăng, một anh chàng gốc Phi có nước da khá sáng màu, nói với tôi: “Đừng có làm Herman tức giận. Ông ta đã đánh gục hai gã đàn ông rồi đấy.” Tôi không hỏi bất cứ điều gì về hai người đàn ông đó, chỉ cố đảm bảo rằng mình không phải là người thứ ba, bởi vì Herman là một gã to lớn, bủn xỉn, hay cáu bẳn, dễ tức giận, sẵn sàng thượng cẳng chân hạ cẳng tay. Mỗi tối ngay trước giờ đóng cửa hắn đưa cho tôi một cái xô chứa đầy xăng và một cái chổi lau nhà và nói: “Lau sạch cái sàn chết tiệt này đi và đừng có hút thuốc trong khi mày làm việc đó.” Sau đó hắn đứng ngay ở ngoài cửa hút thuốc phì phèo, theo dõi tôi lau toàn bộ cái sàn của trạm xăng. Trong thời gian tôi làm việc ở đó không một ai dám hoạt động trộm cướp tại trạm xăng của Herman, và chẳng khách hàng nào có thể lừa gạt hay giở trò gian lận với hắn.
Việc của tôi là bơm xăng, vá và thay lốp xe, và cố gắng để không gặp rắc rối với Herman, việc mà ít nhiều tôi làm được, nhưng tôi đã đấm nhau với một trong những gã bạn của hắn, một gã đồng tính trơ trẽn đã quấy rối tôi. Biết đâu đấy, có thể gã đó quấy rối tôi là do khuôn mặt tôi giống con gái và chất giọng New York của tôi, nhưng một buổi trưa gã nổi hứng với tôi và tôi đã đấm thẳng vào mặt gã mấy quả liền trước khi hắn chui xuống dưới ghế xe của hắn để lấy khẩu súng lục ra và đuổi tôi chạy quanh trạm xăng. Sự việc gây náo động và Herman đuổi việc tôi ngay tắp lự. Tôi rút lui về quán Corner, lập kế hoạch báo thù và tìm kiếm sự khôn ngoan từ Ông Gà. Ông Gà tỉnh táo hơn, có lời khuyên cho tôi, một lời khuyên chỉ vỏn vẻn ba từ. “Quên nó đi,” ông nói.
“Cháu không thể quên chuyện đó được. Nếu lúc đó cháu có súng, thì cháu đã bắn chết hắn rồi,” tôi nói.
Ông Gà cười khùng khục. “Cậu chẳng có tí thông minh sáng suốt nào hết,” ông nói. “Thế cậu muốn ngồi tù vì hắn à? Thì ra vì thế mà cậu lởn vởn ở cái xó này cơ đấy. Đó là những gì cậu muốn cho bản thân ư? Bởi vì nếu cậu làm thế thì cậu sẽ đạt được mục đích, sẽ ngồi tù. Vậy thì làm đi.”
“Cháu là một đứa thông minh,” tôi nói. “Cháu không phải nhận cái kết cục đó. Không ai biết thực sự cháu thông minh như thế nào, Ông Gà ạ, nhưng cháu thông minh.”
“Chẳng ai quan tâm đâu!” Ông Gà đốp lại. “Tất cả mọi người ở cái xó này đều thông minh cả. Cậu không thông minh hơn bất cứ ai ở đây đâu. Nếu cậu thông minh đến thế thì tại sao cậu lại tới đây mỗi mùa hè nhỉ? Tất cả là vì chuyện đi học chứ gì? Cậu nghĩ nếu cậu bỏ học thì ai đó sẽ van xin cậu quay lại trường chứ gì? Không đâu! Người ta không van xin cậu trở lại trường đâu. Nếu họ van xin cậu thì cậu cảm thấy mình thật đặc biệt! Cậu là ai chứ? Cậu chẳng là ai cả! Nếu cậu muốn bỏ học, muốn bắn người, muốn la cà ở cái xó này cả đời thì cứ việc. Cuộc sống của cậu là của cậu mà!”
Tôi chưa bao giờ nghe Ông Gà nói một cách gay gắt như thế và ngay lúc đó những gì ông nói thực sự không tác động đến tôi. Tôi tự nhủ, “Ông ta say rượu ấy mà,” và tiếp tục các cuộc phiêu lưu của mình. Tuy nhiên, không lâu sau đó Mike, một gã thanh niên cao hơn một mét tám, dễ gần, hài hước và là người đã luôn khích lệ tôi bỏ cuộc sống la cà ngoài đường, đã có một cuộc cãi vã ngay tại quán Corner với bạn gái của anh, cô nàng Mustang da đen xinh xắn, điệu đà, có cặp hông nở nang và dáng đi lắc hông rất láu cá. Khi cuộc cãi vã trở nên gay gắt, Mike tát Mustang mạnh đến nỗi tôi muốn nhảy vào can thiệp, nhưng Ông Gà ngăn tôi lại. “Hãy để mặc họ, anh chàng New York!” ông rít lên. “Đó là chuyện giữa cậu ta và người đàn bà của cậu ta. Đừng bao giờ xen vào giữa một người đàn ông và người đàn bà của anh ta.” Mustang rời khỏi quán bằng xe riêng, khởi động xe theo kiểu đốt lốp và dọa sẽ dẫn bạn trai mới đến giết Mike. Quán Corner ngay lập tức sạch bóng người - chẳng gì có thể khiến mọi người chuồn về nhà nhanh bằng một lời đe dọa đấu súng. Ngày hôm sau Big Richard cho tôi một lời khuyên thẳng thắn, “Hãy tránh xa quán Corner,” nhưng tôi vẫn cứ mò đến đó và chăm chú quan sát khi Mike xuất hiện vào buổi trưa bằng chiếc Buick to đùng, ồn ào của anh ta, mở đĩa của Marvin Gaye trên máy nghe nhạc tám rãnh. Anh ta tắt động cơ, vừa nhảy ra khỏi xe vừa huýt sáo, làm ra vẻ chẳng có chuyện gì xảy ra, cứ như thể đó chỉ là một ngày bình thường mà thôi. Anh ta đi vòng ra phía sau xe, mở cốp, thong thả lấy từ trong đó ra một chiếc ghế ngồi hóng mát, một chiếc khăn tắm, và một khẩu súng ngắn hai nòng. Mike đặt chiếc ghế trên bãi cỏ trước quán và ngồi xuống đó. Anh ta đặt một chai rượu whisky của Scốt-len ở một bên, một chai rượu vang Boones Farm Strawberry ở bên kia, để khẩu súng trong lòng, và phủ chiếc khăn tắm lên trên. “Mình ngồi ở đây thôi, vừa uống rượu, vừa rung đùi và đợi hắn,” anh ta bình thản nói. Anh ta ngồi đó rung đùi, uống rượu suốt hai ngày liền trong khi những người đàn ông rón rén đi lại xung quanh, nhìn ra đường và liếc trộm anh ta. Chẳng thấy mặt mũi tăm hơi gã bạn trai mới của Mustang đâu cả.
Tuần sau đó, Mike và Mustang xuất hiện tại quán Corner, đi cùng nhau, tay trong tay, vừa đi vừa ôm hôn nhau.
“Đó là lý do tại sao tôi không bao giờ cãi nhau với đàn bà,” Ông Gà nói. “Cãi vã với đàn bà chẳng giải quyết được gì, nó chỉ tổ làm trò cười cho thiên hạ thôi.” Nhưng không lâu sau đó, chính ông lại cãi nhau với một người đàn bà. Họ cãi nhau vào buổi sáng và ông bỏ đi, cho qua chuyện đó, thế rồi người đàn bà ấy đến quầy rượu, dùng dao đâm ông trong khi ông đang đợi mua bia. Ông ho mấy tiếng rồi ngã vật ra sàn, tắt thở.