Đó là vào tháng Mười một năm 1982, và hôm ấy tôi đang lái chiếc Volkswagen màu xanh lá cây được sản xuất năm 1972 phóng như bay trên quốc lộ 460 của bang Virginia vào lúc bốn giờ sáng. Vài giờ trước tôi thả Karen, bạn gái cũ của tôi, một người mẫu da đen tự đặt tên lại cho mình là Karone (“Người đại diện của Karen bảo cô ấy nên lấy tên khác”) xuống nhà bà của cô ấy ở Petersburg. Đi cùng với cô ấy là Paul, đứa con trai hai tuổi, một đứa trẻ ngoan, thỉnh thoảng lại thắc mắc tôi là ai. Mẹ tôi ghét Karone. “Bây giờ con có một gia đình được lập sẵn rồi cơ đấy,” mẹ nói bằng giọng châm biếm. “Con có cả cuộc đời ở phía trước. Hãy nhìn con mà xem.”
“Mẹ muốn nói gì ạ?” Tôi hỏi.
“Vĩnh biệt những ước mơ!” Mẹ khụt khịt.
Tôi không để ý đến lời mẹ nói. Karone và tôi không có kế hoạch kết hôn. Chúng tôi không gắn bó với nhau lắm. Cả hai chúng tôi đều sống ở Boston và quyết định đã đến lúc rời khỏi thành phố đó và chia tay nhau. Cô ấy bỏ anh chồng cũ lại đó. Còn tôi muốn bỏ con người cũ của mình lại phía sau. Tôi đang làm cho tờ Boston Globe với tư cách là phóng viên chuyên viết phóng sự, một công việc khá lý tưởng đối với một phóng viên hai mươi tư tuổi. Bạn thân nhất của tôi là một người đàn ông da trắng sáu mươi tuổi tên là Errnie Santosuosso được biết đến là một nhà phê bình nhạc Jazz của tờ Globe. Chúng tôi thường đi quanh khu văn phòng của ban phóng sự hát mấy bài “Áo chấm bi dưới ánh trăng” và bài “Là em hoặc không ai cả” của nhạc sĩ saxophone Dexter Gordon. Tôi có thể ở lại đó với Errnie mãi mãi, cặp kè với ông, pha trò cười trong ban phóng sự, nhưng tôi không thể quyết định được mình muốn trở thành một nhà văn, một nhà báo hay một nhạc sĩ, không biết liệu mình có thể là cả hai được không. Xét theo nhiều khía cạnh tôi bị kẹt giữa thế giới của người da đen và thế giới của người da trắng bởi vì sau khi tốt nghiệp đại học và cao học tôi phát hiện ra rằng những cuộc thảo luận đầy sốt sắng về chủ đề thay đổi thế giới mà tôi và các bạn học tham gia kéo dài đến tận bốn giờ sáng không khiến thế giới thay đổi tí tẹo nào. Tôi có thể nhớ rõ mình đã nói với người bạn da đen ở cùng phòng hồi tôi học đại học năm thứ nhất: “Đến lúc chúng ta tốt nghiệp thì tệ phân biệt chủng tộc đã chấm dứt rồi.” Thay vì chấm dứt tệ phân biệt chủng tộc như một cái chai đập thẳng vào mặt tôi khi tôi bước vào đời. Boston không phải là một nơi dễ dàng để nhận diện một cuộc khủng hoảng phân biệt chủng tộc. Các vấn đề liên quan đến phân biệt chủng tộc ở thành phố đó khá phức tạp, được hòa trộn với các vấn đề về tầng lớp, lịch sử, chính trị, thậm chí giáo dục. Nó phức tạp hơn những gì tôi muốn đối mặt và tôi buộc phải bỏ chạy.
Trên ghế bên cạnh trong xe của tôi là một tấm bản đồ Virginia khổ nhỏ với địa điểm Suffolk được đánh dấu khoanh tròn, và một tấm bản đồ vẽ bằng tay mà mẹ tôi đưa cho tôi. Phải mất nhiều năm nài xin tôi mới có được thông tin này về nơi mẹ lớn lên. Mỗi lần tôi hỏi mẹ về nơi ấy, mẹ đều nói: “Ôi, chẳng ai ở đó còn nhớ mẹ đâu,” và mẹ đi ra chỗ khác, tìm nhà để mua, hoặc theo đuổi một việc vặt vãnh kéo dài nhiều giờ, nhiều ngày, hoặc nhiều tuần. Tôi đã bế tắc đến mức tôi không hiểu tại sao mẹ lại cứ khư khư giữ bí mật về quá khứ của mẹ như vậy, và cái cảm giác muốn biết mình là ai bắt đầu châm chích khiến tôi ngứa ngáy, giống như một vết muỗi cắn cần phải gãi vậy. Cuối cùng, khi tôi buộc mẹ phải giữ lời hứa, mẹ ngồi xuống bàn ăn, lấy một chiếc phong bì cũ ra, bóc nó ra thành một tờ giấy và chậm rãi mở nó ra như thể để câu giờ. Sau đó mẹ vẽ cho tôi một tấm bản đồ về nơi mẹ đã từng sống ở Suffolk. Mẹ vừa vẽ vừa nói: “Đường cao tốc ở đây. Đây là cây cầu. Tòa án ở chỗ này còn lò mổ Jaffe ở chỗ này…” Tấm bản đồ đó là manh mối duy nhất tôi có để tìm gia đình của mẹ. Mẹ không biết tên một người nào ở Suffolk, mặc dù mẹ đã sống ở đó gần mười ba năm. “Mẹ không thể nhớ được một người nào sao?” Tôi hỏi.
“Không.”
“Không một ai?”
“Mẹ biết một cô gái tên là Frances.”
“Cô ấy là ai hả mẹ?”
“Cô ấy là bạn thân nhất của mẹ.”
“Bây giờ cô ấy sống ở đâu ạ?”
“Chỉ Chúa mới biết.”
“Thế còn gia đình của cô ấy?”
“Mẹ không nhớ họ. Nhưng mẹ của cô ấy nấu ăn giỏi lắm.”
Vậy là tôi đến Suffolk tìm cô Frances và mẹ của cô ấy, một người thạo nấu ăn. Mẹ tôi thậm chí không nhớ họ của gia đình đó.
Tôi đến thành phố đó lúc bảy giờ sáng, mệt rũ và đói cồn cào sau hành trình lái xe từ Petersburg. Cứ như thể những ngày tươi đẹp của thành phố này đã lùi vào dĩ vãng. Thành phố im ắng, trống vắng, những tòa nhà cũ to kềnh càng đứng xen kẽ với những tòa nhà mới, giống một khu công nghiệp hơn là một thành phố, với sự phát triển lan ra các khu lân cận nhiều hơn là ở bên trong thành phố. Tôi nhìn thấy một cửa hàng McDonald ở góc đường gần một ngã ba. Tôi đỗ xe ở đó, đi vào trong quán, và gọi một chút thức ăn. Tôi ngồi vào bàn, và mở tấm bản đồ nhỏ được vẽ bằng tay của mẹ ra. Tôi xem bản đồ, nhìn ra ngoài cửa sổ, rồi lại nhìn bản đồ, rồi lại nhìn ra cửa sổ. Tôi biết mình đang ở Phố chính. Có một trụ sở tòa án cũ nằm ở góc đối diện với cái quán tôi đang ngồi. Đằng sau tòa nhà đó là một nghĩa trang. Phía bên trái là một cây cầu và một lò mổ. Tôi đang ngồi ở đúng cái chỗ từng là cửa hàng của gia đình mẹ tôi, ở số 601 phố North Main. Chưa đụng đến thức ăn tôi đi ra ngoài và nhìn xung quanh. Có một ngôi nhà cũ ở đằng sau cửa hàng McDonald. Tôi gõ cửa ngôi nhà đó và một người đàn ông da đen lớn tuổi đeo kính ra mở cửa. Tôi nói cho ông biết việc của mình: Mẹ tôi từng sống ở đây. Họ Shilsky. Người Do Thái. Có một cửa hàng nhỏ. Ông đưa tay nâng kính lên nhìn tôi một lát. Rồi ông nói: “Vào đi.”
Ông mời tôi ngồi và mang cho tôi một ly sôđa. Sau đó ông bảo tôi hãy kể câu chuyện của mình một lần nữa cho ông nghe. Tôi làm như ông yêu cầu.
Ông gật đầu, lắng nghe một cách chăm chú. Rồi một nụ cười nở trên khuôn mặt ông. “Như thế có nghĩa rằng cậu là cháu của giáo sĩ Shilsky hả?”
“Vâng.”
Thoạt đầu ông cười khùng khục. Sau đó ông cười to. Rồi ông cười to hơn nữa. Ông cố kiểm soát trận cười của mình nhưng không thể, vậy nên ông gỡ kính ra, lau mắt. Tôi bắt đầu cảm thấy bực mình, và ông xin lỗi. Tên ông là Eddie Thompson. Ông sáu mươi sáu tuổi. Ông đã sống cả đời trong ngôi nhà đó. Phải mất một phút để ông trở về trạng thái bình thường.
“Tôi biết mẹ của cậu,” ông nói. “Bọn tôi thường gọi cô ấy là Rachel.”
Tôi chưa từng nghe thấy cái tên đó bao giờ. Thậm chí trong khi kể chi tiết với tôi chút ít về cuộc đời mình, mẹ chưa từng ám chỉ mình là Rachel. Mẹ luôn gọi mình là Ruth. Về sau tôi phát hiện ra rằng tên thật của mẹ là Ruchel, một cái tên Do Thái mà gia đình của mẹ đã “Mỹ hóa” thành Rachel, để rồi mẹ lại “Mỹ hóa” nó một lần nữa thành Ruth.
“Tôi biết cả gia đình đó,” ông Thompson nói. “Rachel, Gladys, Sam, và cha mẹ họ. Rachel là một người tốt bụng. Gladys là cô em, chúng tôi thường gọi cô ấy là Dee-Dee. Cô ấy hơi nhỏ người. Cô ấy trông giống ông bố hơn. Sam, người anh, thường được chúng tôi gọi là Sparky. Người ta nói rằng cậu ấy thiệt mạng trong Chiến tranh thế giới thứ hai trong một vụ máy bay rơi. Rachel thường đi qua đi lại con đường này, cô ấy và bà mẹ. Bà mẹ bị khuyết tật. Bà đi tập tễnh. Nửa người bên trái của bà bị bại liệt, bà Shilsky ấy. Một phụ nữ rất tốt bụng. Khi ông chồng không để ý, bà ấy dúi trái cây, hoặc kẹo trong cửa hàng cho những đứa trẻ ở bên ngoài. Tuy nhiên ông già Shilsky thì…”. Ông ấy nhún vai. “Cá nhân tôi chưa từng có va chạm gì với ông ấy.”
“Ông ấy như thế nào ạ?” Tôi hỏi, trong khi tim tôi đập thình thịch. Tại sao tim mình lại đập thình thịch như thế này? Tôi tự hỏi mình. Tôi không biết tại sao.
“Như thế nào ư?” Ông ấy hỏi.
“Ông già Shils - ông… của cháu”. - Tôi không biết phải gọi ông mình là gì. Dường như tôi không tìm được từ thích hợp. “Ông Shilsky trông như thế nào ạ?”. Tôi hỏi.
“À… cậu là cháu của ông ấy vậy mà…” Ông Thompson lại nhún vai. “Ông ấy… ông già chẳng có vấn đề gì cả. Tôi và ông ấy không có mâu thuẫn gì.”
Nhìn vẻ mặt của Thompson tôi có thể thấy rằng ông chưa tin tôi là cháu của ông Shilsky, vậy nên tôi nói: “Ông không phải giữ kẽ đâu ạ. Cháu chưa từng gặp ông ấy. Cháu chỉ muốn biết ông ấy trông như thế nào thôi.”
Ông Thompson liếc nhanh ra cửa sổ, rồi nói: “Cậu sẽ không tìm được ai ở đây thích ông ta đủ để nói chuyện với cậu về ông ta đâu.”
“Tại sao lại như vậy ạ?”
“Ông ta khinh ghét người da đen một cách khủng khiếp.”
“Như thế nào cơ ạ?”
“Ông ta không thích người da đen. Ông ta lừa lọc họ. Bán cho họ mọi thứ và kiếm lời từ họ hết mức có thể. Nếu cậu nợ ông ta năm đô la thì ông ta sẽ bắt cậu trả mười đô. Ông ta đã bắn vào bụng Lijah Ricks đấy. Lijah đến cửa hàng của Shilsky nói qua nói lại vì một ít cá mòi, vài cái bánh quy, và không chịu thanh toán. Shilsky bắn cậu ta vào sườn trái hay sườn phải, tôi không nhớ là bên nào. Ông ta không giết chết cậu ấy nhưng ông già Shilsky đó, ông ta là một kẻ đáng ghét. Bà vợ sợ ông ta.”
“Làm thế nào ông biết được tất cả những chuyện đó?”
“Làm thế nào tôi biết ư? Vì từ phòng ngủ của mình tôi có thể nhìn thẳng sang nhà ông ta. Nhà chúng tôi ở sát nhau mà. Tôi đã từng làm việc cho Shilsky. Tôi từng kiếm được mười xu một ngày bằng việc nhóm bếp thuê cho ông ta bởi vì vào ngày thứ Bảy người Do Thái không thể làm nhiều việc được. Đó là ngày Chủ Nhật của họ, cậu biết đấy. Ông ta có một cái bếp đốt bằng dầu hỏa gây ra những vết đen ở khắp nơi. Tôi tự hỏi điều gì đã xảy ra với nó…”. Ông ngừng nói một phút trước khi tôi đưa ông quay trở lại với chủ đề chính. “Ông ta kiếm được đấy,” Eddie Thompson nói, “kiếm được những món béo bở từ người da đen. Nhưng ông ta bủn xỉn như một con chó. Bà Shilsky sợ lão già đó. Nếu bà ấy đang nói chuyện với cậu mà ông chồng xuất hiện thì bà ấy im bặt, run như cầy sấy.”
Tôi ngồi im nghe ông Thompson nói. Lời của ông ấy bay đến tai tôi như những viên gạch. “Chuyện gì đã xảy ra với ông ấy?” Tôi hỏi.
“Ông ta bỏ gia đình đi với một mụ đàn bà da trắng nghèo xơ nghèo xác, tồi tệ nhất và bệ rạc nhất mà cậu từng thấy. Tôi không hiểu sao ông ta lại cặp với mụ đàn bà đó. Mụ ta là vợ của Richard Claxton. Ông ta phải lòng mụ đàn bà đó bởi vì bà Shilsky bị tàn tật như vậy, tôi nghĩ thế. Mụ đàn bà đó to béo như một ngôi nhà di động. Đi bên cạnh mụ ta ông già Shilsky trông như một cậu bé. Ông ta là một người đàn ông có vóc người khá nhỏ.” Ông Thompson bật ra tiếng cười chẳng ra buồn cũng không hẳn vui. “Ông già Shilsky. Chàng trai ạ, ông ta khác người.”
“Ông có biết ông ấy đã đi đâu không?”
“Không. Có lẽ ông ta đã đến Richmond. Tôi không biết chắc chắn.”
“Cháu muốn tìm ông ấy,” tôi nói.
“Tôi biết cậu có thể tìm thấy ông ta ở đâu,” ông già da đen nói. Ông chỉ xuống đất và nháy mắt. “Dù cầu gãy người ta vẫn sẽ để cho ông ta xuống dưới đó. Người ta sẽ thả ông ta xuống địa ngục.”
Ông Thompson nói một lúc lâu, cười khùng khục và tỏ vẻ hoài nghi. “Rồi một ngày nọ Rachel bỏ nhà đi. Tôi đang nói với cậu rằng cô ấy ra đi, và chúng tôi cứ nghĩ rằng cô ấy đã chết. Cả gia đình đó đã đi khỏi đây từ lâu rồi. Chúng tôi không nghĩ có khi nào còn gặp lại ai trong gia đình đó nữa cho đến khi chúng tôi về thế giới bên kia. Và bây giờ cậu xuất hiện. Chỉ có Trời mới biết hôm nay là một ngày quan trọng.”
Thompson hỏi liệu ông ấy có thể gọi điện cho mẹ tôi không. Tôi cầm điện thoại lên, quay số gọi về nhà của mẹ tôi ở cách đó rất xa, gặp mẹ và nói với bà rằng có người muốn nói chuyện với mẹ. Tôi đưa điện thoại cho Thompson.
“Rachel hả? Đúng rồi. Rachel. Eddie Thompson đây. Tôi gọi từ Suffolk đây. Cô còn nhớ tôi không? Chúng ta từng sống ngay cạnh - đúng, đúng rồi.” Ông ấy ngừng một lát. “Không. Mọi người chết cả rồi, trừ Molly, Helen, Margaret, và Edward. Đúng rồi… Được! Hôm nay Chúa Trời đã chạm đến tôi đây!”
Ông ấy ngừng nói một lát, lặng im nghe.
“Rachel? Không phải là cô đang khóc đấy chứ? Ông già Eddie Thompson đây mà. Cô còn nhớ tôi không? Đừng khóc…”