Màu Của Nước

Lượt đọc: 147 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
2
Chiếc xe đạp

❊ ❊ ❊

Năm tôi mười bốn tuổi, mẹ của tôi bỗng dưng có hai thú tiêu khiển mới: đạp xe và chơi piano. Đàn piano thì tôi không quan tâm, nhưng chiếc xe đạp thì khiến tôi phát điên. Nó cồng kềnh và cà tàng lắm rồi, nó được sơn màu xanh da trời điểm những vệt trắng, với đôi lốp bự, cặp chắn bùn to tướng và cái còi chạy bằng pin được lắp ở giữa khung xe có cái nút mà bạn chỉ việc đẩy lên là nó kêu. Cái xe đạp ấy bây giờ có lẽ là của hiếm được sưu tầm, có thể trị giá tới năm nghìn đô la chứ chẳng ít, nhưng vào thời đó nó là thứ mà cha dượng của tôi tìm thấy trên đường phố ở Brooklyn và dắt về nhà vài tháng trước khi ông qua đời.

Tôi không biết liệu có phải cha dượng quyết định từ bỏ cuộc sống hay không, nhưng tôi nghĩ là không. Khi ông qua đời, ông đã bảy mươi hai tuổi, người gọn gàng, khỏe mạnh, dễ tính, dường như không thể sai lầm, và mặc dù ông là cha dượng của tôi, tôi luôn nghĩ ông là người cha thực sự của mình. Ông là một người đàn ông trầm tĩnh, ăn nói nhẹ nhàng, thường mặc những bộ quần áo đã lỗi mốt, đội mũ phớt, áo khoác len cài cúc, mang dây đeo quần, và lúc nào cũng mặc nghiêm chỉnh, cho dù công việc ông làm bụi bặm đến mức nào. Ông làm gì cũng chậm rãi và cẩn thận, nhưng đằng sau sự chậm rãi và sự nhẹ nhàng thể hiện ra ngoài của ông là sự pha trộn của một người Indian trầm lặng và một người đàn ông da đen ở vùng nông thôn, chắc chắn, cứng rắn, can đảm và nhanh nhạy. Ông không tiếp thu những chuyện vớ vẩn và cũng không gieo rắc chúng. Ông cưới mẹ tôi, một người đàn bà Do Thái da trắng khi bà đã có tám đứa con lai da đen, và tôi, đứa nhỏ nhất, lúc đó mới hơn một tuổi. Mẹ tôi và cha dượng sinh thêm bốn người con nữa, làm tròn đàn con trong gia đình thành mười hai và ông chăm sóc tất cả chúng tôi như con ruột. “Tôi có đủ người cho một đội bóng rổ,” ông nói đùa. Ngày hôm trước ông còn đùa, ngày hôm sau - trong một cơn đột quỵ, ông ra đi mãi mãi.

Dạo đó tôi đang học trung học và sau khi ông mất tôi gần như bỏ học, không đến lớp. Cả năm đó tôi ném thời gian của mình vào các buổi chiếu phim ở đường 42 thuộc khu Quảng trường Thời Đại cùng với lũ bạn. “James đang trải qua cuộc cách mạng của nó,” các anh chị của tôi cười khúc khích. Tuy nhiên, các chị tôi có chút lo lắng, còn các anh trai thì tức giận. Tôi phớt lờ họ đi. Tôi và lũ bạn đi xem phim miết. Chúng tôi xem phim Superfly, Cảnh sát Shaft và hút cần sa xả láng. Tôi giật ví của người ta. Tôi ăn cắp vặt ở các khu mua sắm. Có lần tôi thậm chí đã cướp hàng của một gã buôn ma túy tép riu. Hồi đó, vào những buổi chiều, sau một ngày bỏ học, hút cần sa, huơ huơ lưỡi dao lam trên không, lượn lờ trên xe điện ngầm, tôi về nhà và nhìn thấy mẹ mình đang đi chiếc xe đạp màu xanh.

Mẹ đạp xe chầm chậm qua con phố của chúng tôi, đại lộ Murdock ở St.Alban thuộc quận Queens, và là người da trắng duy nhất mà người ta nhìn thấy ở đó trong khi những chiếc xe hơi rẽ quẹo quanh mẹ và những tay lái mô tô da đen trố mắt nhìn người phụ nữ da trắng trung tuổi đi chiếc xe đạp cổ lỗ sĩ. Mẹ buồn lắm mặc dù lúc đó tôi không biết điều ấy. Cha dượng của tôi, Hunter Jordan, không còn nữa. Andrew McBride, cha đẻ của tôi, đã qua đời mười bốn năm trước, khi mẹ đang mang thai tôi. Rõ ràng mẹ không còn quan tâm đến chuyện tái giá nữa, bất chấp những nỗ lực của mấy nhà truyền đạo ở địa phương, những người đi xe Cadillac luôn mỉm cười, biết rằng mẹ tôi và tất cả chúng tôi đều đang suy sụp. Ở tuổi bốn mươi mốt mẹ vẫn thon thả, xinh đẹp với mái tóc quăn đen nhánh, đôi mắt đen, cái mũi to, nụ cười rạng rỡ và dáng đi vòng kiềng mà cách xa cả dặm bạn vẫn có thể nhận ra. Chúng tôi thường gọi dáng đi đó là “Dáng đi điên rồ của mẹ” và nếu mẹ tôi đi về phía bạn, thì cả địa ngục sẽ vỡ tung ra. Tôi đã chứng kiến mẹ đi đến chỗ mấy gã trai rắn mặt và dứ nắm đấm vào mặt chúng khi mẹ giận dữ - nhưng đó là trước ngày cha dượng tôi mất. Giờ đây mẹ dường như chỉ mải mê chơi piano, tìm cách lẩn tránh những người thu tiền hóa đơn, ép chúng tôi đến trường hoàn toàn bằng sức mạnh ý chí, và đạp xe quanh quận Queens. Mẹ không chịu học lái xe. Chiếc xe hơi cũ của cha tôi đậu im lìm ở khúc quanh trước nhà đã nhiều tuần rồi. Xe sạch bong. Bóng loáng. Hàng ngày mẹ cưỡi xe đạp đi qua chỗ đậu xe, chẳng ngó ngàng gì đến nó.

Đối với tôi hình ảnh mẹ đi chiếc xe đạp ấy là ví dụ tiêu biểu cho toàn bộ sự tồn tại của mẹ. Sự kỳ quặc của mẹ, thái độ mặc kệ thế giới muốn nghĩ gì về mình thì nghĩ của mẹ, vẻ thản nhiên của mẹ trước những gì tôi hiểu là sự nguy hiểm sắp xảy ra từ những người da đen và những người da trắng không ưa mẹ chỉ vì mẹ là một người da trắng sống trong thế giới của người da đen. Mẹ chẳng đếm xỉa đến những điều đó. Mẹ đạp xe chậm đến nỗi nếu bạn nhìn thấy mẹ tôi từ xa thì bạn sẽ nghĩ bà không di chuyển, mà là một hình ảnh bất động được vẽ trên nền trời mùa xuân, một người phụ nữ da trắng trên chiếc xe đạp cổ lỗ sĩ trong khi những đứa trẻ da đen cưỡi những chiếc xe đạp hiệu Sting-Ray và chơi ván trượt phóng vèo qua, thực hiện những cú bốc đầu và ném những quả bóng rổ bay vun vút qua đầu mẹ, hoặc tung những quả pháo hoa nổ xung quanh mẹ. Mẹ phớt lờ tất cả. Mẹ mặc chiếc váy hoa, đi đôi giày lười màu đen, đầu mẹ quay trước, quay sau trong khi mẹ đạp xe một cách run rẩy qua khúc quanh hình tam giác nơi tôi thường chơi bóng chày với lũ bạn từ Đại lộ Lewiston xuống phía dưới chân đồi của phố Mayvielle, nơi một đứa bé dễ thương có tên là Roger đã thiệt mạng trong một tai nạn xe hơi, ngay phía trên đồi ở Murdock, phía khúc cua dành cho xe hơi, và ngay trước cửa nhà chúng tôi. Mẹ thường dừng lại, loạng choạng trong run rẩy, vừa kịp chống đỡ trước khi chiếc xe đạp của mẹ đổ xuống vỉa hè. “Ôi chao”, mẹ kêu lên trong khi các anh chị của tôi “cắm trại” trước hiên nhà quan sát mẹ, lắc đầu quầy quậy. Chị Dotty của tôi thường nói: “Con dám chắc mẹ không thể đi nổi cái xe đó đâu, mẹ ạ,” và tôi ngầm đồng ý với chị bởi vì tôi không muốn lũ bạn nhìn thấy người mẹ da trắng của mình đạp xe nhông nhông trên phố. Mẹ đã là người da trắng thì chớ, như vậy đã đủ là vấn đề rồi, lại còn ra đường đạp một cái xe cũ rỉn được sản xuất từ một trăm năm trước ư? Một người trưởng thành không thể bỏ bớt cái việc kỳ quặc đó đi được sao? Tôi không thể chịu đựng nổi điều đó.

Khi còn nhỏ tôi luôn nghĩ mẹ mình là một người kỳ quặc. Mẹ không bao giờ quan tâm đến việc giao lưu với hàng xóm láng giềng. Quá khứ của mẹ là một bí mật mà mẹ từ chối nhắc tới. Mẹ uống trà bằng ly thủy tinh. Mẹ có thể nói tiếng I-đít[1]. Mẹ hoàn toàn không tin cậy nhà cầm quyền và khăng khăng theo đuổi sự riêng tư tuyệt đối, sự riêng tư khiến bản thân mẹ và gia đình tôi thậm chí càng kỳ quặc hơn. Không giống bất cứ nhà nào mà tôi từng biết, gia đình tôi là một gia đình đông con, có tới mười hai đứa, đông đến nỗi nhiều lúc mẹ gọi chúng tôi là “Hey James-Judy-Henry-Hunter-Kath - gọi bằng bất cứ cái tên nào - lại đây ngay.” Không phải là mẹ quên chúng tôi là ai, mà vì quá đông con nên mẹ không có thời gian cho những việc nhỏ nhặt ngớ ngẩn như việc gọi tên từng đứa. Mẹ là chỉ huy trưởng trong gia đình, bởi vì cha dượng không sống cùng nhà với chúng tôi. Cha sống ở Brooklyn cho đến gần cuối đời, ở cách xa những đám đông nhốn nháo và chỉ về nhà vào cuối tuần, mang thực phẩm, xe ba bánh và sự quyết tâm về để sửa chữa tất cả những thứ hữu hình mà chúng tôi đã làm gãy vỡ trong tuần. Những chi tiết cần thiết cho việc nuôi dạy chúng tôi đều thuộc về mẹ, người hành động như một bác sĩ phẫu thuật điều trị các vết bầm tím (“Bôi i-ốt vào”), như Bộ trưởng phụ trách vấn đề chiến tranh (“Nếu đứa nào đánh con, hãy sử dụng nắm đấm và cho chúng biết tay”), như một cố vấn về tôn giáo (“Hãy đặt Chúa Trời lên trên hết”), như một chuyên gia tâm lý (“Đừng nghĩ về chuyện đó nữa”), như một cố vấn tài chính (“Tiền có nghĩa gì nếu đầu óc con trống rỗng?”). Các vấn đề liên quan đến chủng tộc và bản sắc mẹ lờ đi.

Khi còn nhỏ tôi nhớ mình ước ao được lên chương trình truyền hình mang tên Người cha biết tuốt, một chương trình trong đó người cha đi làm về hàng ngày mặc complê, đeo cà vạt và có đủ những đứa con để ngồi trong lòng ông, thay vì ở trong gia đình mình, nơi chúng tôi đi lang thang trong những chiếc quần lốm đốm lỗ thủng, những đôi giày Bo-Bo đế mềm loại xoàng có giá 1,99 đô la tại cửa hàng của John, với người mẹ bận luôn tay, đầy bối rối, với người cha dượng chỉ xuất hiện vào cuối tuần trong chiếc áo sơ mi dài tay cầm những dụng cụ sửa chữa đồ gia dụng, với người mẹ ôm cả đống tã bỉm, kẹp quần áo, khăn lau, bông gạc, với một đứa con trên tay và một đứa khác túm chặt váy. Mẹ hầu như không có thời gian để chùi đít cho một đứa con trước khi một đứa khác bắt đầu hét inh tai nhức óc. Trong khu chung cư dành cho người thu nhập thấp Red Hook ở Brooklyn, nơi chúng tôi sống trước khi chuyển tới Albans thuộc quận Queens, hằng đêm mẹ thường dồn chúng tôi lên giường như những miếng thịt, đặt ba hoặc bốn đứa vào một giường, xếp chúng nằm dở đầu đuôi, chân đứa này để cạnh đầu đứa kia, cứ như vậy. “Đầu ở trên, chân ở dưới,” mẹ nói khi mẹ hôn chúc chúng tôi ngủ ngon và đặt chúng tôi vào chỗ thích hợp. Mẹ vừa mới rời khỏi phòng là chúng tôi lập tức cãi nhau để phân định ai phải nằm sát tường. “Em nằm trong!” Tôi gào lên, còn Richard, anh kế trên tôi và là người giám sát của tôi thì lắc đầu nói: “Không, không, không. David nằm trong. Tao nằm giữa. Còn mày, thằng đần này, nằm ngoài.” Vậy là cả đêm tôi phải hít hơi thở của David và ngửi mùi chân của Richie, và khi tôi không thể chịu đựng nổi cả hai điều khó chịu ấy cùng một lúc tôi trở mình và rơi phịch xuống nền nhà láng xi măng.

Ở nhà tôi “khôn thì sống mống thì chết” và mẹ tôi hiểu điều đó khi mẹ tạo ra cái hệ thống ấy. Bạn phải tự tìm ra cách của riêng mình nếu không bạn cứ việc suy nghĩ cho tới khi bạn bế tắc, và khi đó mẹ bạn sẽ xuất hiện, giải cứu bạn. Tôi rất sợ cái thời điểm đến lượt mình phải đi học. Mặc dù trường P.S.188 chỉ cách chỗ chúng tôi ở tám tòa nhà, tôi không được phép đi bộ tới đó cùng với các anh chị của mình bởi vì các học sinh của trường mẫu giáo được yêu cầu phải đi xe buýt. Vào buổi sáng không may mắn, mẹ đuổi tôi chạy quanh bếp cố bắt tôi mặc quần áo tử tế trong khi các anh chị tôi cười phá lên trước nỗi sợ hãi của tôi. “Xe buýt không tệ đâu,” một người chị của tôi châm biếm, “chỉ có những con rắn thôi, chứ có gì đâu.” Một chị khác chêm vào, “đôi khi xe buýt chẳng bao giờ đưa em về nhà đâu.” Rồi họ cười khanh khách.

“Im nào!” Mẹ vừa nói vừa kiểm tra trang phục ngày đầu đến trường của tôi. Quần áo của tôi sạch sẽ, nhưng không mới. Cái quần là của anh Billy, chiếc sơ mi của anh David, áo khoác của Dennis thải ra cho David, rồi David lại thải cho Richie và bây giờ Richie thải ra cho tôi. Đó là một chiếc áo khoác màu xám có cái cổ lông thực sự đã bị ai đó nhai đi nhai lại. Mẹ dùng cái chổi phất trần phủi bụi trên cái áo khoác đó, bày ra tám hoặc chín cái bát to, đổ cháo yến mạch vào từng bát, bảo đứa lớn nhất cho đàn em của mình ăn sáng rồi vơ lấy cái lược chải tóc cho tôi. Mẹ chải đầu cho tôi cứ như thể một chiếc máy kéo đang giật những món tóc xoăn của tôi vậy. “Nào,” mẹ nói, “mẹ sẽ đưa con đến trạm xe buýt.” Một phần thưởng gây ngạc nhiên. Tôi có mẹ cho riêng mình. Tôi nhớ đó là lần đầu tiên tôi được đi một mình với mẹ.

Những khoảnh khắc đó trở thành khoảng thời gian đáng nhớ trong ngày của tôi, một kỷ niệm ngọt ngào đến nỗi nó làm đầu óc tôi nóng bừng như có một hình xăm ở trong đó, khoảnh khắc mẹ dẫn tôi đi bộ đến trạm xe buýt và chiều nào cũng đón tôi, đứng ở góc đường giữa khu New Mexico và đường 114, mặc chiếc áo khoác màu nâu, mái tóc được quấn gọn trong chiếc khăn choàng sặc sỡ, dõi mắt nhìn những người cha, người mẹ khác trong khi chiếc xe buýt màu vàng lượn vào góc đường và dừng lại sau tiếng phanh kít.

Dần dần, khi nhiều tuần trôi qua và nỗi sợ đến trường trong tôi giảm bớt, tôi bắt đầu nhận thấy điều gì đó ở mẹ mình, rằng mẹ trông không giống mẹ của những đứa trẻ khác. Thực ra mẹ trông giống cô giáo ở trường mầm non của tôi hơn, cô Alexander, một cô giáo người da trắng. Nhìn qua cửa sổ khi xe buýt lượn vào góc đường và cánh cửa trước bật mở, tôi để ý thấy mẹ mình đứng tách khỏi những bà mẹ khác, hiếm khi chuyện trò với họ. Mẹ đứng phía sau họ, im lặng đợi, tay thủ trong túi áo, nhìn đăm đăm qua cửa sổ xe buýt xem tôi ngồi ở chỗ nào, sau đó mỉm cười và vẫy tay khi tôi gọi mẹ qua cửa xe. Tôi vừa bước xuống xe mẹ nhanh chóng nắm lấy tay tôi, phớt lờ những con mắt trố ra nhìn của các bà mẹ da đen khi mẹ dắt tôi đi.

Một buổi trưa khi hai mẹ con tôi đi bộ từ nhà ra trạm xe buýt, tôi hỏi mẹ tại sao mẹ trông không giống những bà mẹ khác.

“Bởi vì mẹ không phải là họ,” mẹ nói.

“Vậy mẹ là ai?” tôi hỏi.

“Mẹ là mẹ của con.”

“Vậy thì tại sao trông mẹ không giống như mẹ của Rodney hay mẹ của Pete? Sao trông mẹ không giống con?”

Mẹ thở dài và nhún vai. Rõ ràng mẹ đã đi trên con đường này nhiều lần rồi. “Mẹ trông giống con mà. Mẹ là mẹ của con. Con hỏi nhiều quá đấy. Hãy chăm học vào. Học hành quan trọng lắm đấy. Hãy quên Rodney và Pete đi. Hãy quên các bà mẹ đi. Hãy nhớ việc học hành. Và quên những chuyện khác đi. Ai quan tâm đến Rodney và Pete kia chứ! Khi mà các bạn ấy đi một đường, còn con đi một đường khác. Hiểu không? Khi mà các bạn ấy đi một đường, còn con đi một đường khác. Con có nghe mẹ nói không đấy?”

“Có ạ.”

“Mẹ biết mình đang nói gì. Đừng có theo đuôi ai hết. Con nghe lời các anh chị của con là được rồi. Và chớ nói với ai chuyện của con!” Rồi mẹ kết thúc chủ đề.

Một tuần sau xe buýt thả tôi xuống trạm dừng quen thuộc nhưng mẹ không có ở đó. Tôi phát hoảng. Đâu đó sâu trong đầu tôi là ký ức của cái lần mẹ cảnh báo, “Con sẽ phải tập đi bộ về nhà một mình,” nhưng ký ức đó loáng thoáng hiện ra như một màn sương ở phía xa xa trên biển giông tố và nó chìm nghỉm trong nỗi hoảng sợ của tôi. Tôi bị lạc đường rồi. Nhà tôi chỉ cách trạm dừng xe buýt hai tòa nhà thôi, nhưng hôm đó tôi có cảm giác đường về nhà xa mười dặm bởi vì tôi không biết nhà mình ở đâu. Tôi đứng ở góc đường cố nuốt nước mắt. Những ông bố, bà mẹ khác nhìn tôi đầy vẻ thông cảm và hỏi địa chỉ nhà tôi, nhưng tôi sợ không nói cho họ biết. Trong tâm trí tôi là lời cảnh báo của mẹ, lời cảnh báo ăn sâu vào đầu tất cả mười hai anh em chúng tôi từ khi chúng tôi biết đi: “Đừng bao giờ, đừng bao giờ nói chuyện của con cho người khác biết,” và tôi lắc đầu, ngụ ý rằng tôi không biết địa chỉ nhà của mình. Các ông bố, bà mẹ ấy lần lượt bỏ đi, cho đến khi chỉ còn một người duy nhất ở lại, một ông bố da đen đứng trước mặt tôi cùng với đứa con trai và nói: “Đừng lo, chỉ chút xíu nữa là mẹ cháu sẽ đến thôi.” Tôi phớt lờ ông ấy đi. Ông ấy che mất tầm nhìn của tôi, khiến tôi không nhìn xuống phía tòa nhà ở phía dưới để xem liệu chiếc áo khoác màu nâu quen thuộc và khuôn mặt da trắng của mẹ có xuất hiện từ phía xa xa hay không. Tôi đợi hoài, đợi mãi mà chẳng thấy. Thực ra chẳng có ai xuất hiện từ phía đó cả, trừ một đám trẻ con mà chúng thì chẳng có chút gì giống mẹ của tôi cả. Chúng là một lũ trẻ nhốn nháo gồm cả trai lẫn gái với những mái tóc xoăn bù xù và những chiếc áo khoác cũ kỹ trông thật lôi thôi, lếch thếch, vừa đi vừa la hét nhặng xị, và chỉ khi chúng tới gần tôi mới nhận ra những khuôn mặt quen thuộc của các anh chị mình cùng đứa em gái Kathy lẵng nhẵng chạy theo sau. Tôi chạy ào vào vòng tay của các anh chị, khuỵu xuống trong nước mắt khi họ đứng vây quanh tôi, cười ngặt nghẽo.

[1] Tiếng I-đít (Yiddish) là tiếng Đức cổ của người Do Thái ở Trung và Đông Âu.

Người dịch: Nguyễn Bích Lan
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.