Màu Của Nước

Lượt đọc: 146 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
8
Anh chị em

❊ ❊ ❊

Nhà của mẹ tôi được bố trí dành cho sự lộn xộn và là đứa con thứ tám trong đàn con gồm mười hai đứa của mẹ, tôi chới với như người bơi giữa đại dương. Tôi không phải là đứa kháu khỉnh nhất, cũng chẳng phải là con út, càng không phải là đứa thông minh nhất. Trong một gia đình nơi có rất ít tiền và thức ăn, sức mạnh của bạn nằm ở chỗ bạn có thể sai phái, ra lệnh cho ai. Tôi được mẹ gọi là “Đứa Nhỏ”, một trong năm đứa con nhỏ của mẹ, năm cái chấm nhỏ li ti trên bản đồ quyền lực của gia đình, vậy nên tôi là mục tiêu thích hợp để bị trói, bị tra tấn, bị cù, bị hành hạ, bị bỏ mặc, bị sai bảo và phải chịu đựng đủ mọi sự sỉ nhục của “Những Đứa Lớn” không phải đi ngủ sớm, không tin vào ông tiên răng, và được mẹ tôi, người tất nhiên nắm quyền lực tối cao, bổ nhiệm làm cánh tay phải của quyền lực.

Các anh chị em ruột là những người bạn thân nhất của tôi, nhưng khi riêng về thức ăn, thì họ là kẻ thù của tôi. Nhà quá đông con và chúng tôi lúc nào cũng đói, lúc nào cũng lục tìm cái ăn trong cái tủ lạnh và tủ bếp trống rỗng. Chúng tôi giấu thức ăn không cho nhau biết, để dành từng mẩu pho mát quý giá trên vỉ lò nướng, từng mẩu bánh, nhưng tất cả đều biết những chỗ giấu thức ăn, tất cả đều biết cách lục lọi và chút thức ăn khan hiếm được giấu giếm thường bị phát hiện và bị ăn ngấu nghiến trước khi nó kịp nguội. Toàn bộ những âm mưu của chúng tôi đều được nung nấu xoay quanh chuyện giành lấy thức ăn, được hoàn thiện bởi trò hai mang, trò phản bội, trò vận động ngầm, trò ăn cướp trắng trợn, và bằng chứng là cảnh nhai ngấu nghiến. Trước khi chuyển nhà tới quận Queens, sáng sáng mẹ tôi thường biến mất phía sau dãy tòa nhà Red Hook rồi trở về với những hộp bơ lạc to tướng mà một tổ chức từ thiện nào đó phát cho mẹ từ một tầng hầm của khu nhà ở dành cho dân thu nhập thấp. Chúng tôi vây quanh những hộp đó, mở chúng ra, thi nhau lấy thìa xúc bơ lạc như múc xúp, cười rúc rích trong khi miệng đứa nào đứa nấy ngậm đầy bơ dính nhoe nhoét. Khi mẹ rời nhà đi làm, chúng tôi nhúng bánh mỳ trắng vào sirô để ăn trưa, hoặc ăn đường đen trực tiếp từ trong hộp, thứ giết chết cơn đói một cách hiệu quả. Chúng tôi có một cái lò nướng có thể khiến bạn bị điện giật mỗi lần bạn động vào nó: Chúng tôi gọi món bánh nướng của nhà mình là món bánh sốc và chúng tôi bị sốc nhiều đến mức tóc của chúng tôi dựng đứng như tóc Buckwheat. Mẹ tôi thường than thở rằng mẹ không có đủ tiền để mua trái cây cho đàn con của mình, có khi nhiều tuần mẹ mới có tiền mua trái cây, nhưng chúng tôi không bận tâm. Chúng tôi dùng từng xu mà mình có để mua thức ăn rác[1], cốt sao ăn cho no bụng. “Nếu các con ăn thứ đó răng của các con sẽ rụng hết,” mẹ cảnh báo. Chúng tôi lờ đi không nghe. “Nếu các con nhai kẹo cao su và nuốt kẹo vào bụng thì hậu môn của các con sẽ bị vít lại,” mẹ nói. Chúng tôi nghe và không bao giờ nuốt kẹo cao su. Chúng tôi học cách ăn đứng, ăn ngồi, ăn nằm, và ăn trong lúc lơ mơ ngủ, bởi vì chẳng bao giờ có đủ chỗ ở bàn ăn cho tất cả mọi người cùng ngồi, và luôn có một cuộc tranh cướp điên cuồng hòng giành chiếc túi xách của mẹ khi mẹ đi làm về vào lúc hai giờ sáng. Căng-tin ở ngân hàng Chase Manhattan nơi mẹ làm việc phục vụ bữa tối miễn phí cho nhân viên, vậy nên mẹ nhét đầy túi đồ ăn, nào là bánh kẹp thịt, pho mát, bánh ngọt và bất cứ đồ ăn gì mẹ có thể lấy được và mang về nhà cho đàn con của mình nhai ngấu nghiến. Nếu bạn là người đầu tiên chộp được túi xách khi mẹ bạn về nhà, thì bạn sẽ được chén thức ăn. Nếu bạn không chộp được, thì ôi chao, chúc ngủ ngon.

Thức ăn mà mẹ tôi mang từ chỗ làm về bao giờ cũng ngon, đặc biệt ngon so với thức ăn mẹ nấu. Mẹ nấu ăn dở lắm. Món cháo yến mạch mẹ nấu có vị giống như cát trộn với bơ, cứ lổn nhổn trêu tức răng lợi người ăn. Bánh ngọt mẹ làm có màu trắng nhờ nhờ và có cả vỏ trứng nữa. Món thịt hầm thì thường khiến anh Henry của tôi chạy lên gác trong sự kinh tởm. “Chẳng khác gì món thịt hầm ở trong tù,” anh khụt khịt, quay trở lại sau vài phút để kiếm cho mình chút đồ ăn trước khi cả đám ăn ngấu nghiến hết sạch mọi thứ. Dù sao mẹ cũng chẳng có nhiều thời gian để nấu nướng. Đi làm về đến nhà mẹ đã mệt lử rồi. Buổi sáng chúng tôi xuống nhà thường thấy mẹ vẫn mặc nguyên quần áo đi làm ngủ say như chết ngay tại bàn bếp, đầu gục trên trang vở bài tập về nhà của một trong mấy đứa chúng tôi, một tách cà phê nguội lạnh để bên cạnh cái đầu đang ngủ của mẹ. Những việc khác của mẹ kình địch, tranh chấp thì giờ với việc nấu ăn. “Mẹ là bà nội trợ kém nhất mà mẹ từng biết,” mẹ tuyên bố, và đó là sự thực. Nhà chúng tôi lúc nào trông cũng như thể vừa mới bị một cơn bão lớn quét qua. Sách vở, giấy bút, giày dép, mũ chơi bóng đá, gậy chơi bóng chày, búp bê, xe tải, xe đạp đồ chơi, nhạc cụ, nằm ngổn ngang khắp nơi và được tất cả mọi người sử dụng. Tất cả con trai ngủ trong một phòng, lũ con gái ngủ riêng trong một phòng khác, nhưng cái nhãn “phòng con trai” và “phòng con gái” chẳng có nghĩa gì hết. Đêm đêm chúng tôi mò sang phòng của nhau để trao đổi những bí mật, sự bất đồng, sự thương xót, và để rình mò, cũng như tiếp tục những ván cờ, những trò chơi mà ban ngày chúng tôi chơi dở. Bốn đứa chúng tôi chơi chung một chiếc kèn crarinet, chuyền tay nhau trong hành lang của trường học như các tiền vệ trên sân bóng. Với áo khoác, mũ, giày, tất, và đồng phục thể thao cũng vậy. Tất cả chúng tôi dùng chung một chiếc khăn tắm. Một chiếc bàn chải đánh răng chải cho năm bộ răng lợi. Tất cả chúng tôi đứa nào cũng thề cái bàn chải đó là của riêng mình. Đồ nội thất của chúng tôi gồm hai chiếc ghế xích đu khá đẹp mà mẹ tôi mua từ cửa hàng của Macy bởi vì mẹ thấy trên ti vi John F. Kennedy, vị tổng thống mà bà coi như người anh hùng, dùng một cái ghế như thế để các con của ông ngồi vào và đung đưa. Chúng tôi còn có một chiếc tràng kỷ, một bộ ghế tựa, mấy chiếc bàn, ngăn kéo tủ, và giường ngủ. Chiếc ti vi đen trắng cũ rích thỉnh thoảng vẫn hoạt động. Nó không nằm trong danh sách những thứ được ưu tiên sửa chữa của mẹ. Mẹ gọi nó là “boob tube” và hiếm khi cho phép chúng tôi xem ti vi. Chúng tôi cũng chẳng cần xem.

Nhà của chúng tôi là sự kết hợp giữa một gánh xiếc ba vòng và một vườn thú, được hoàn thiện bởi sự hoạt động không ngừng, những xảo thuật đầy liều lĩnh, âm nhạc và những con vật. Qua nhiều năm chúng tôi xây dựng được một chuồng thú cưng giống như một vườn thú thật sự: Những con chuột nhảy, chuột thường, chó, mèo, thỏ, cá, chim, rùa, nhái bén, không con này thì con kia liếm và cắn chúng tôi, làm lây lan những căn bệnh bí ẩn như thể chúng tôi đang sống ở thế giới thứ ba, khiến chúng tôi bị mẹ điệu đến phòng khám để các bác sĩ cắm phập mũi kim tiêm vào mông như thể chúng tôi đang nằm trên dây chuyền của hãng General Motors vậy. Một lần nhân dịp Lễ Phục Sinh mẹ tôi mang về nhà một con gà con và con gà đó lớn dần lên cho tới một đêm mẹ đi làm về, mở cửa ra thấy tám đứa chúng tôi đang đuổi một con gà trống trong phòng khách. “Đuổi nó ra mau!” mẹ hét lên. Con gà bị tống cổ khỏi nhà chúng tôi và thay vào đó là một con chó chăn cừu giống Đức tên là Abe, con vật cắn tất cả chúng tôi, không trừ một đứa nào, và thỉnh thoảng lại ị một bãi vào một góc nào đó rồi gầm gừ thách chúng tôi đánh nó vì tội ị bậy. Bãi cứt chó ở chỗ nào thì cứ ở yên đó, chẳng ai động tới. Sau một ngày mùi thối loãng đi và chúng tôi tránh xa nó cho tới khi nó khô hẳn, rắn như đá để rồi một đứa nào đó trong số chúng tôi đủ can đảm đá cái đống gây khó chịu đó vào gầm lò sưởi, nơi nó bở ra và tiến thêm một bước nữa trong quá trình hóa thạch để trở thành cát bụi hoặc bị tiêu hủy hoặc bị phát hiện.

Chúng tôi chẳng bao giờ hỏi ý kiến mẹ về những vấn đề như vậy. Thời gian của mẹ dành cho những chuyện ra chuyện, chẳng hạn như “Sàn bếp vẫn bị ngập hơn nửa mét bởi vì tất cả các con đều góp phần làm nó ngập lụt phải không?” và chuyện học hành của chúng tôi thường được mẹ ưu tiên hàng đầu. Mọi lý do biện hộ cho việc không làm bài tập ở nhà đều không được chấp nhận và dễ dẫn tới một trận đòn. Chửi thề cũng không được phép. Chúng tôi thậm chí không được phép nói từ “nói dối” mà phải dùng từ “bịa chuyện”. “Làm bài tập về nhà của con đi và đừng có bịa chuyện, con có thể sẽ được như anh Dennis đấy,” mẹ tôi khiển trách. “Hãy xem anh ấy học giỏi như thế nào. Hãy rèn cái đầu của con như anh Dennis đi.”

“Dennis.” Bạn có thể nghe thấy tiếng thở dài vang khắp nhà khi mẹ tôi nhắc đến cái tên đó. Những tiếng thở dài nghe như tiếng rít trên tuyến đường tàu hỏa Long Island, tiếng rít kéo dài dọc đường ray cách nhà tôi mấy dãy nhà.

Dennis là anh cả và là người tiên phong trong gia đình. Anh là một họa sĩ vẽ những bức tranh về những nơi anh đã từng đến và những người anh đã từng gặp. Anh có tiền trong túi, những đồng tiền thật, và có tiền thừa để tiết kiệm. Ở giữa đám chúng tôi anh là người khổng lồ, trùm cái bóng lớn lên những đứa em tựa như Đài tưởng niệm Lincoln mà chúng tôi đã đến tham quan hai lần. Những thành tựu lớn lao được nhắc tới khi anh vắng mặt bởi vì anh chỉ ở nhà vào những ngày nghỉ, được kể lại tỉ mỉ với sự sôi nổi, được phân tích kỹ càng, được đồn thổi, nhấn mạnh và tán dương. Những đỉnh cao mà anh đã chinh phục, những đỉnh cao mà những kẻ yếu kém như chúng tôi chỉ có thể mơ, được mẹ loan báo và thể hiện sự hoan hỉ ở bất cứ chỗ nào trong nhà. Dennis đã tốt nghiệp cử nhân. Dennis đã đi châu Âu. Và bây giờ, là sự loan báo về thành tựu trọn vẹn của Dennis, Dennis, ôi chàng Dennis tuyệt vời, chàng Dennis xuất sắc - Dennis! Dennis! - đã đạt được thành tích gây kinh ngạc, tuyệt vời nhất, cao vời nhất mà bất cứ người nào, bất cứ đứa con trai nào, có thể hy vọng đạt được.

Dennis sắp trở thành một bác sĩ.

Không có niềm vinh dự nào lớn hơn thế. Ý tôi muốn nói là, quên đi. Bác sĩ, giáo viên, bạn hãy lựa chọn đi. Nếu mẹ tôi biết Dennis thực sự đã làm gì ở trường, thay vì trở thành một sinh viên đoạt toàn điểm A, thì mẹ sẽ có ý kiến khác về anh ấy. Dennis là một trong những sinh viên hoạt động tích cực nhất vì dân quyền mà trường Đại học Y Pennsylvania từng thấy. Anh tham gia tuần hành ở Washington. Anh đứng ra tổ chức một hiệp hội của những người làm việc trong bệnh viện. Anh tham gia biểu tình ngồi ở miền Nam. Anh bị Mace xịt hơi cay và bị chính quyền xịt vòi chữa cháy. Dennis tuyên chiến với cả hệ thống, nhưng chừng nào anh còn để cuộc chiến của anh ở bên ngoài không mang về nhà và vẫn còn học ở trường Y thì đối với mẹ mọi chuyện về anh vẫn ổn. Nhưng chị Helen của tôi thì không như vậy. Chị kình địch với người da trắng và mang cuộc chiến đó về nhà, công khai trước mặt mẹ.

Helen là chị lớn thứ hai trong số những người chị của tôi, những người chị dịu dàng, ngây thơ, hay nói, có tính tò mò, và đó là lý do tại sao mẹ bắt các chị không được ra phố, tránh xa cánh đàn ông con trai. Tất cả các chị đều xinh đẹp, với các kiểu ưa nhìn đa dạng, từ nước da nâu sẫm của Helen đến nước da sáng màu gần như da trắng của Kathy, và tất cả đều có cánh tay dài nuột nà, đều có tàn nhang, và có mái tóc đen quăn tự nhiên. Tất cả những đứa con trai ở khu đó đều biết tên và biết mặt năm người chị em gái của tôi. Hễ tôi đi bộ xuống phố thì y như rằng một gã lạ hoắc cất tiếng hỏi, “Này. Kathy thế nào?” “Ổn”, tôi nhún vai. Vài lần tôi suýt bị gẫy mũi vì Kathy. Chẳng có gì tệ hơn việc phải đánh nhau vì đứa em gái béo mập mà đến nửa số con trai trong khu đều phải lòng. Đó là một vấn đề thực sự.

Helen là người xinh nhất trong số các chị em gái của tôi. Chị có thân hình mảnh dẻ, với mái tóc đen được buộc gọn, thường mặc quần bò và áo khoác nhẹ may bằng vải denim với những chiếc cúc có các khẩu hiệu vì hòa bình, “Chấm dứt chiến tranh” và những miếng đắp màu đỏ, đen và xanh lá cây tượng trưng cho phong trào vì tự do. Những gã trai thuộc đủ mọi tuýp người - da đen, da trắng, người châu Á, người Mỹ La tinh - theo đuổi chị ở khắp mọi nơi. Chị là sinh viên của trường Trung học Nhạc Họa, chơi dương cầm trong dàn nhạc của nhà thờ ở giáo phận của chúng tôi cho tới một sáng Chủ nhật, Judy, đứa em gái út trong gia đình lúc đó mới chín tuổi và cũng chơi dương cầm, bỗng dưng bị ép phải chơi cho dàn nhạc. Dường như từ buổi sáng hôm đó Helen đã “nghỉ hưu” sau một thời gian dài chơi cho dàn nhạc của nhà thờ. Khi mẹ tôi hỏi tại sao, Helen trả lời: “Con không muốn chơi nữa,” và thế là chấm hết. Trong gia đình, mẹ tôi chưa bao giờ phải nghe câu trả lời ngắn gọn như thế. Chúng tôi nhìn Helen bằng ánh mắt nể sợ khi chị đứng đó, nhắc lại cái quyết tâm không chơi cho dàn nhạc của nhà thờ nữa, và chị sống sót qua một trận đòn bằng dây thắt lưng của mẹ mà không bật ra một tiếng rên rỉ nào. Chị nhún vai khi mẹ kết thúc sự trừng phạt.

Không lâu sau đó, hiệu trưởng của trường Trung học Nhạc Họa gọi điện đến nhà chúng tôi hỏi mẹ tại sao Helen lại bỏ học. “Chắc ông đang đùa,” mẹ nói. “Tất cả các con của tôi đều là những học sinh đạt điểm A kia mà.”

“Đứa này thì không,” ông hiệu trưởng nói. “Cô bé đã bỏ học cách đây hai tuần. Thật đáng xấu hổ,” ông ta nói.

Lần này mẹ tôi đánh chị Helen đau hơn, sau đó nói chuyện với chị nhiều giờ liền. Sau khi bị đánh Helen khóc, sau khi được mẹ chấn chỉnh chị hứa sẽ thay đổi, rồi nhún vai và tiếp tục bỏ học. Mẹ ghi tên cho chị vào hai trường học khác, nhưng chị bỏ cả hai, tuyên bố: “Sự giáo dục của người da trắng không dành cho con.” Chị trở thành dân híp-pi thực thụ trước ánh mắt kinh ngạc của chúng tôi, đeo chuỗi hạt, đội mũ nồi, sức những loại dầu có mùi thơm ngọt ngào mà theo như chị nói, sẽ mang đến cho bạn sức mạnh. Một tay chơi ghi-ta tên là Eric Bibb bám theo chị nhằng nhẵng khắp nơi. Chúng tôi sợ hãi. Mẹ gọi lực lượng tiếp viện - các mục sư, những người bạn, cha đỡ đầu của tôi - nhưng Helen phớt lờ tất cả. Chị thức khuya cùng với mấy anh chị lớn trong nhà, nói về cuộc cách mạng chống lại người da trắng trong khi chúng tôi, Những Đứa Nhỏ, ngủ ở trên gác. Kathy và tôi bò ra đầu cầu thang, dỏng tai nghe trong khi Những Đứa Lớn nói chuyện sôi nổi về chủ đề “thay đổi hệ thống” và “cách mạng,” ca tụng những phẩm chất vượt trội so với Malcolm X của Martin Luther King và ngược lại, rồi mở đĩa thu âm của phái Những Thi Sĩ Cuối Cùng. Helen, người từng là nhân vật thứ yếu trong các cuộc thảo luận, giờ đây trở thành nhân vật trung tâm, kẻ chủ mưu, vai chính. “Phải đấu tranh!” chị hô to. “Đấu tranh chống lại con người quyền lực!”

Sự hô hào của chị tạo ra cả một làn sóng yểm trợ với sự bình luận hóm hỉnh từ các anh chị lớn của tôi, những chuyên gia về cuộc sống, không thiếu sự khôn ngoan, những người đã tận mắt thấy và đã thực hiện việc đấu tranh đó.

“Phải đấy, nhưng chị là con người quyền lực kia mà? Chị là con người quyền lực mà?”

“Chị muốn nói đàn ông quyền lực hay Phụ nữ?”

“Con người quyền lực là ai?”

“Nhưng chị là con người mà?”

(hát) “Khi một người đàn ông yêu một người đàn bà à à!!!”

Những phiên họp ngớ ngẩn hầu như luôn kết thúc bằng những cuộc nói chuyện nghiêm túc về dân quyền ấy thường kéo dài cho đến khi mẹ tôi đi làm về.

Một đêm khi Kathy và tôi nằm ở trên gác giả vờ ngủ - chúng tôi thỉnh thoảng lẻn sang phòng của nhau - chúng tôi bỗng nghe thấy tiếng kêu đánh “rầm”, kèm theo đó là tiếng chửi thề. Chúng tôi ngồi bật dậy. Ở dưới nhà, Helen và Rosetta đang choảng nhau.

Anh chị em chúng tôi hiếm khi đánh nhau thật, nhưng một khi đã đánh nhau, thì tất cả đều rất hung dữ, một chọi một, và Helen thường chiếm lĩnh đỉnh Everest của những kẻ đối đầu bằng vũ lực. Rosetta là chị gái cả và là người thông minh nhất trong số các anh chị em chúng tôi. Từ vị trí rõ là cao của mình ở trên giường - một chiếc giường ngẫu nhiên chị không phải dùng chung với bất cứ ai - Rosetta ngồi như nữ hoàng ngồi trên ngai vàng được tạo thành bởi những chiếc gối, chân đan vào nhau theo kiểu ngồi của Đức Phật, trong khi uống nước đá, nghe chương trình truyền thanh từ kênh WBAI mà chị yêu thích, và luôn miệng sai phái suốt cả ngày. Chị ấy sai chúng tôi lấy nước đá vào những chiếc ly cao cho chị và sai chúng tôi đến cửa hàng mua bánh Devil Dog, thuốc lá Montclair và hễ được sai đi mua những thứ ấy thì chúng tôi đi ngay và mang về đưa cho chị với sự khúm núm thật sự. Chị ngủ trong khi vẫn để đài nói không ngừng và để đèn sáng trưng. Trong khi chị chợp mắt, chúng tôi rón rén đi qua giường của chị, sợ làm chủ nhân của mình thức giấc. Chị đố ai dám thách thức chị. Các anh lớn của tôi đội mũ lệch và thì thầm về Jim Brown và Muhammad Ali, nhưng ngay cả anh lớn nhất, thậm chí cả anh Dennis, người mà tất cả chúng tôi nể sợ, không ai dám thách thức Rosetta. Chị là nữ hoàng của nhà chúng tôi.

Tôi nghe thấy tiếng xé áo. Xoạt xoạt!

“Đồ chó!” Helen gào lên. Tôi nghe thấy tiếng những quả đấm giáng vào người ai đó. Rossetta rú lên.

Kathy bắt đầu khóc. “Im đi,” tôi nói. Không ai được phép chửi bậy trong nhà chúng tôi. Chửi bậy bị cấm. Chửi bậy có nghĩa là tình hình đang mất kiểm soát.

Thêm những âm thanh của cuộc ẩu đả. Tôi nghe thấy tiếng các anh trai mình ở dưới nhà, “Được thôi, đập đi. Giữ lấy nó, Billy, khoan đã” - Bụp! Tiếng cười của các anh trai tôi xen lẫn tiếng khóc đau đớn của Rosetta. “Giờ thì đến lượt mày!” Bụp! Tiếng Helen rú lên. Một cuộc ẩu đả khác diễn ra. Tiếng bàn ghế bị ném, tiếng hô hét của David, tiếng một chiếc đèn vỡ loảng xoảng. Thêm những tiếng cười và tiếng chửi bậy… Cuộc xung đột dữ dội xảy ra, và tôi nghe thấy tiếng Helen tuyên bố sẽ đi khỏi nhà. Bỗng nhiên đám con trai trở nên nghiêm túc.

“Đợi đã!”

“Đợi đã! Khoan đã!”

“Chuyện này thật điên rồ!”

“Đừng động vào tôi,” Helen nói. “Đừng ai động vào tôi. Tất cả các người đều khiến tôi buồn nôn. Ai cũng khiến tôi buồn nôn hết.”

Tiếng cười khùng khục, khúc khích nổi lên.

“Tôi phát ớn vì cái nhà này rồi!”

Im lặng. Có tiếng khóc thút thít. Sau đó là những tiếng khóc thảm thiết.

“Ôi… Helen…”

Tôi nghe thấy tiếng mở cửa, liền sau đó là tiếng cửa đóng sập lại.

Đêm khuya hôm đó khi mẹ đi làm về thấy tất cả đèn trong nhà đều sáng trưng, còn tất cả lũ con của mẹ, thậm chí cả những đứa bé, đều có mặt ở trong bếp đợi mẹ, mẹ biết nhà có chuyện. “Helen đâu?” mẹ hỏi, bằng giọng lộ rõ sự hoảng sợ.

“Đi rồi, mẹ ạ.”

“Tại sao các con để Helen đi khỏi nhà?” Mẹ hỏi.

“Chị ấy không ở lại, mẹ ạ. Chúng con đã cố giữ chị ấy ở lại nhưng chị ấy không ở.”

“Ôi Chúa ơi…” Mẹ rên rỉ, đập tay lên trán, rồi siết tay lại thành nắm đấm. “Tại sao các con không giữ Helen lại? Tại sao?” Im lặng bao trùm khi chúng tôi chớp mắt, nuốt khan, cảm giác có lỗi bao trùm lên chúng tôi như những đám mây đen báo hiệu cơn mưa.

Đêm hôm đó Helen không về nhà. Ngày hôm sau cũng vậy. Ngày hôm sau nữa cũng thế. Chị ấy mười lăm tuổi. Vào ngày thứ hai mẹ tôi gọi điện báo cảnh sát. Cảnh sát đến lập biên bản. Họ tìm kiếm trong khu, nhưng không thể tìm thấy Helen. Mẹ gọi điện cho tất cả những người bạn của chị. Vẫn không thấy Helen đâu. Tuần sau đó chị Jack gọi điện tới cho mẹ từ căn hộ của chị ở Harlem. Helen yêu quý Jack. Mọi người đều yêu quý Jack. Bạn có thể tâm sự với Jack bất cứ chuyện gì. “Cô Ruth, Helen đang ở chỗ con.” Jack nói. “Nó không muốn gặp cô đâu, nhưng cô đừng lo. Cho qua đi cô. Đừng làm nó sợ.” Nhưng mẹ không thể đợi được. Mẹ gác máy và gọi anh Richie của tôi vào bếp, trao cho anh tiền tàu xe cùng những mệnh lệnh dứt khoát. Hãy nói với Helen rằng mẹ đã tha thứ. Hãy trở về nhà.

Với thái độ đầy trách nhiệm Richie khoác chiếc áo da lên người, đội chiếc mũ quả dưa Lester Young lên đầu, nhằm hướng Harlem thẳng tiến trong khi mẹ đi đi lại lại trong nhà với vẻ bực bội. Tối muộn hôm đó Richie trở về với chiếc mũ đội hơi hếch về phía sau. “Helen không về đâu mẹ ạ,” anh nói.

Ít lâu sau Helen đi khỏi chỗ Jack và biến mất tăm.

Mẹ lo cuống cả lên. Nhiều đêm mẹ không ngủ, cứ đi đi lại lại quanh phòng. Mẹ gọi điện cho những nhà truyền giáo và những người bạn của mẹ ở nhà thờ, gọi cho cha đỡ đầu của tôi, người mà năm thì mười họa mới xuất hiện. Nhiều giải pháp được bàn đến. Những lời cầu nguyện được thốt ra. Sự hối tiếc được bộc lộ. Những lời xin lỗi được bày tỏ. Nhưng Helen vẫn bặt tăm. “Con bé sẽ quay trở về thôi,” cha tôi nói. “Sẽ ổn thôi.” Cha tôi không biết phải làm gì với Helen. Cha và Helen không có tiếng nói chung. Ông thuộc lớp người cũ, phát âm từ “school” - trường học là “schoolin’’ và gọi tôi là “thằng bé”. Ông từng trốn khỏi Jim Crow ở miền Nam và cảm thấy rằng giáo dục, bất cứ sự giáo dục nào, cũng là một đặc ân. Helen thì khác.

Nhiều tuần, nhiều tháng trôi qua mà Helen vẫn chưa trở về.

Cuối cùng chị Jack gọi điện đến. “Cháu tìm thấy em ấy rồi. Nó đang sống với một người đàn bà điên,” Jack nói. Chị ấy bảo mẹ tôi rằng chị không biết nhiều về người đàn bà đó, chỉ biết bà ta quàng một đống khăn và hay đốt nhang. Mẹ lập tức thay đồ và đích thân tới đó.

Đó là một tòa nhà ọp ẹp dành cho người nghèo ở gần đại lộ Nicholas với những đống phế liệu và những kẻ nghiện rượu lởn vởn trước mặt. Mẹ bước qua chỗ họ, vượt qua màn khói thuốc, đi thang máy lên tầng tám. Mẹ đứng trước cánh cửa căn hộ đó và nghe ngóng. Có tiếng nhạc vọng ra từ một chiếc cassette ở trong nhà, và giọng ai đó đang nói chuyện điện thoại. Mẹ gõ cửa. Chiếc cassette được vặn nhỏ tiếng. “Ai đó?” một người từ trong nhà hỏi. Giọng nói nghe giống giọng của Helen.

“Tôi đến để gặp Helen,” mẹ nói.

Im lặng bao trùm.

“Mẹ biết con đang ở trong đó, Helen,” mẹ nói.

Im lặng bao trùm.

“Helen. Mẹ muốn con trở về nhà. Có gì sai chúng ta sẽ sửa. Hãy quên chuyện đó đi và quay về nhà.” Từ trong hành lang một cánh cửa bật mở và một người đàn bà da đen lặng im nhìn người phụ nữ da trắng, tóc đen đang đứng nói chuyện với cánh cửa đóng kín.

“Helen, hãy về nhà đi con.”

Cánh cửa có một cái lỗ để nhìn. Cái lỗ được mở ra. Một con mắt đen to nhìn qua cái lỗ.

“Về nhà đi Helen. Đây không phải là chỗ dành cho con. Hãy về nhà đi con.”

Cái lỗ được đóng lại, kín mít.

[1] Thức ăn rác: Tên gốc tiếng Anh là Junk food là từ lóng mang tính miệt thị chỉ loại thức ăn có lượng dinh dưỡng thấp không tốt cho sự phát triển lành mạnh của cơ thể như đường, mỡ, muối…

Người dịch: Nguyễn Bích Lan
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.