Năm 1942 Dennis và mẹ sống trong một căn phòng ở Port Royal thuộc đường 129 giữa Đại lộ số 7 và Đại lộ số 8, và một đêm sau khi mẹ đi bộ trong hành lang của tòa nhà mẹ bị một người đàn bà da đen đánh thẳng vào mặt. Bà ta đánh mẹ mạnh đến nỗi mẹ ngã xuống sàn. “Chớ có vô lễ với tao!”, bà ta nói. Bà ta là kẻ mất trí. Mẹ không hề quen biết bà ta. Bằng cách nào đó mẹ cố đứng dậy và bà ta đuổi mẹ vào tận cửa phòng, và mẹ đóng sập cửa lại ở yên trong đó đợi Dennis về. Khi Dennis đi làm về, ông ra nói chuyện với bà ta. “Người đàn bà da trắng đó không thuộc về nơi này,” bà ta nói. Đó là những gì bà ta nói với Dennis. Dennis không tấn công bà ta. Ông chỉ nói: “Hãy để vợ tôi yên,” và bà ta để mẹ yên. Mặc dù bọn mẹ chưa cưới, mẹ và Dennis coi nhau là vợ chồng.
Một số người da đen không bao giờ chấp nhận mẹ. Hầu hết mọi người chấp nhận mẹ, nhưng luôn luôn có vài người nói: “Cái giống Nubia này” và “Cái giống Nubia kia” và luôn nói về châu Phi. Mẹ là mẹ của những đứa con da đen, và không ai có thể phủ nhận điều đó và người ta có thể đặt sự thật đó vào cái tẩu Nubia của họ mà hút. James ạ, nếu con muốn quay trở về châu Phi, thì con có thể đi. Mẹ không hiểu tại sao con đi khi con có gia đình ở đây. Nhưng nếu con cảm thấy con muốn đi châu Phi để tìm cội nguồn của mình thì mẹ không ngăn cản con đâu. Mẹ sẽ vẫn là mẹ của con khi con quay trở lại đây. Và con sẽ vẫn là con của mẹ.
Mẹ không quay trở về với gia đình mình sau khi bà ngoại con qua đời. Mẹ ở lại trong cộng đồng của người da đen bởi vì đó là nơi duy nhất mẹ có thể ở. Một số vấn đề mà mẹ gặp phải với người da đen không là gì so với nỗi đau mà người da trắng gây ra. Với người da trắng chuyện đó miễn bàn. Nếu con là con gái, con không được chấp nhận khi quan hệ với một người đàn ông da đen, thế thôi. Họ sẽ nói, quên chuyện đó đi. Mày điên à? Mày và một thằng mọi đen á? Không đời nào. Họ gọi con là đứa da trắng cặn bã. Họ đã gọi mẹ như vậy đấy. Ngày nay những cặp vợ chồng người da trắng lấy người da đen lên ti vi như cơm bữa và phàn nàn: “Thật khó khăn cho chúng tôi.” Họ có xe hơi, ti vi, nhà ở, thế mà họ còn phàn nàn nữa là. Họ gọi cuộc sống của họ là cơn sốt rét rừng, vỗ vỗ vào cằm mình và khiến cho câu chuyện nghe rất ngớ ngẩn. Họ không phải bỏ trốn để giữ mạng sống như bọn mẹ ngày trước. Mẹ và Dennis đã từng gây ra một vụ náo loạn ở phố 105. Một nhóm đàn ông da trắng đuổi theo bọn mẹ ở trên đường phố và vây lấy Dennis định giết ông, ném chai thủy tinh vào người ông, đấm đá ông cho đến khi một người trong bọn họ bắt những người còn lại phải dừng tay. Anh ta nói: “Hãy đi khỏi đây khi các người còn có thể!” và thế là mẹ và Dennis chạy bán sống bán chết. Những cuộc hôn nhân khác chủng tộc không bền đâu. Đó là những gì Dennis nói khi bọn mẹ cãi nhau. Mẹ nói: “Em sẽ đi,” và Dennis nói: “Đi đi. Đi đi. Đó là những gì người ta muốn chúng ta làm đấy. Đó là những gì thiên hạ mong đợi đấy.” Và Dennis nói đúng.
Con thấy đấy, hôn nhân cần tình yêu. Cần Chúa. Và cần một ít tiền. Vậy thôi. Còn lại con có thể xoay xở được. Hôn nhân không phải là vấn đề da trắng hay da đen. Hôn nhân liên quan đến Chúa Trời và đừng để bất cứ ai nói khác với con. Cái cơn sốt rét rừng này! Bùm! Con ạ, cơn sốt rét rừng sẽ qua thôi, và sau đó con sẽ làm gì? Giờ đây mẹ nói điều đó trong sự nhận thức muộn, khi việc đã xảy ra rồi, bởi vì ban đầu Dennis sợ kết hôn với mẹ. Mẹ và Dennis sống với nhau như vợ chồng và có nhiều niềm vui đến nỗi mẹ không quan tâm bọn mẹ chưa kết hôn. Căn phòng nhỏ của mẹ và Dennis ở số 7 đường 129 nằm giữa mọi hoạt động ở Harlem. Hồi đó có các cuộc diễu hành và các chức sắc diễu hành dọc Đại lộ số 7. Adam Calayton Powell từng đứng ở bục đài vòng ngay trên phố 125 diễn thuyết về chính trị. Malcolm X cũng vậy. Vào các ngày thứ Bảy mẹ và Dennis đến rạp Apollo, và nếu con đến đó trước 11 giờ sáng thì con có thể ngồi đó cả ngày xem ba chương trình. Họ bắt đầu với vài phim thời sự về chiến tranh, phim hài ngắn, phim hoạt hình hoặc đôi khi một bộ phim phương Tây có Hoots Tebicon đóng, hoặc một phim ca nhạc có Jeanette MacDonald và Nelson Eddy. Sau đó vào 1 giờ chiều họ biểu diễn ca khúc chủ đề của Apollo, “Tôi nghĩ bạn thật tuyệt vời,” và các ban nhạc đổ ra, Count Basie, Duke Ellington, Jimmie Lunceford, Louis Jordan, Billie Holiday, Billy Eckstine. Các nghệ sĩ đó làm việc quần quật như nô lệ, diễn ba buổi một ngày. Sau đó vào Chủ nhật bọn mẹ đến nhà thờ Metropolitan Baptist ở đường 128 và đại lộ Lenox để nghe mục sư Abner Brown giảng đạo.
Đó là người giảng đạo giỏi nhất mà mẹ từng biết từ trước tới nay. Ông có thể khiến một con ếch đứng thẳng dậy và vui mừng vì Chúa Jesus. Con chưa bao giờ biết một người nào giống như ông đâu. Ông không phải là lửa và lưu huỳnh. Ông mang Chúa Trời đến với cuộc sống thường nhật của con theo cái cách khiến con nghĩ thiên đường ở ngay bên cạnh nhà con vậy. Harlem yêu quý ông. Metropolitan là một nhà thờ ở Harlem thời bấy giờ. Abyssinian cũng là một nhà thờ lớn, nhưng người ta xếp hàng dọc phố 128 để vào nhà thờ Metropolitan như thể đi nghe hòa nhạc. Sáng Chủ nhật nếu con không đến xếp hàng ở vỉa hè trước 9 giờ sáng để dự buổi lễ bắt đầu lúc 11 giờ thì con sẽ phải đứng chứ không có ghế ngồi trong nhà thờ đâu, mà trong nhà thờ có sức chứa hai nghìn người cơ. Họ tổ chức hai lễ cùng lúc, một ở trên gác và một ở tầng dưới, đông như vậy đấy. Dennis là trợ tế và ông chơi nhạc trong dàn đồng ca của nhà thờ. Đó là một dàn đồng ca lớn. Ôi, cái thời đó! Đó là những năm tháng huy hoàng của mẹ.
Thế giới của mẹ mở rộng nhờ Dennis. Ông dạy mẹ những điều mà mẹ chưa từng nghe nói đến. Mỗi ngày ông ngồi thiền mười lăm phút. Ông thực hiện việc đó trong nhiều năm để ngay cả các anh chị của con cũng học cách chấp nhận nghi thức đó. Ông tin vào quyền công bằng, vào sự hiểu biết, vào những cuốn sách; ông dạy cho mẹ biết về những người như Paul Robeson, Paul Lawrence Dunbar, và Joe Louis. Ông yêu thích đội bóng Brooklyn Dodgers - yêu mến Don Newcombe, Roy Campanella, và Jackie Robinson, đặc biệt là Jackie Robinson. Ông không thể ngừng nói về con người đó. “Jackie Robinson đã chứng minh rằng người da đen có thể chơi bóng,” ông nói. Mẹ học cách ăn bữa chính vào buổi tối thay vì vào buổi trưa. Thay vì ăn kosher, sử dụng các bộ đồ ăn khác nhau cho từng bữa ăn và ăn một bữa toàn thịt hoặc toàn những món chay, mẹ ăn những gì mẹ muốn. Mẹ nếm những miếng thịt lợn và mẹ thích. Mẹ ăn ngũ cốc, trứng, bánh quy, bơ, thịt lợn xông khói, rau cải rổ, chân giò, tất cả những món ăn mà trước đó mẹ không biết ăn. Nhưng con thấy đấy, mẹ không biết là quần áo, không biết lau nhà, không biết nấu ăn. Thời con gái mẹ có bao giờ được học nấu ăn đâu. Mẹ làm việc trong cửa hàng cả ngày trong khi Mameh nấu kosher hoặc Tateh thuê một phụ nữ da đen một tuần hai lần đến giúp Mameh nấu nướng. Dennis nấu ăn giỏi hơn mẹ, và khi mẹ ở nhà sau khi sinh con đầu lòng, mẹ phải học nấu ăn từ những người bạn da đen, bác Susie Belton và bác Irene Johnson. Bác Susie Belton và Edward, chồng của bác ấy, có một căn phòng kế bên phòng của bọn mẹ ở Harlem và phòng của Susie luôn sạch bong, có rèm bằng đăng ten ở cửa và giường ngủ, trong khi phòng mẹ lúc nào trông cũng như thể vừa mới bị một trận bão quét qua.
Năm 1942, vài tháng sau khi Mameh qua đời, mẹ nói với Dennis: “Em muốn nhận Chúa vào cuộc sống của em và muốn đi lễ nhà thờ.” Dennis nói: “Em có chắc là em muốn điều đó không, Ruth? Em có biết như thế nghĩa là thế nào không?” Mẹ nói: “Em biết.” Mẹ hoàn toàn chắc chắn.
Vài Chủ nhật sau mẹ và Dennis có mặt tại nhà thờ Metropolitan đúng lúc mọi người đang hát bài “Con phải nói với Chúa Jesus” khiến mẹ cảm thấy trong lòng tràn ngập tinh thần của Chúa, và khi mục sư Abner Brown hỏi có ai muốn tham gia hội ái hữu của nhà thờ Metropolitan không, mẹ lập tức bước lên phía trước. Mục sư Brown bắt tay mẹ và tất cả những người trợ tế đều bắt tay mẹ và kể từ đó mẹ chưa bao giờ rút lui. Ngày hôm đó mẹ nhận Chúa Jesus và từ đó tới nay chưa bao giờ Ngài làm mẹ thất vọng. Sau đó mẹ trở thành thư ký của nhà thờ, đánh máy thư từ cho mục sư Brown và thỉnh thoảng làm chứng cho các đám cưới mà mục sư chủ trì ở văn phòng của mình, bởi vì người ta cần ít nhất hai người làm chứng cho một đám cưới mà mẹ là người duy nhất thường có mặt ở đó. Chứng kiến tất cả những đám cưới đó khiến mẹ ước ao có đám cưới của riêng mình. Mẹ là thư ký của nhà thờ còn Dennis là một trợ tế thứ thiệt, vậy mà bọn mẹ thậm chí chưa cưới nhau. Đó là một vấn đề mà mẹ không thể chung sống. Một đêm mẹ nói với Dennis: “Chúng mình phải cưới nhau, anh ạ,” nhưng Dennis có vẻ ngần ngại. Ông nói: “Anh lớn lên ở miền Nam và anh có thể bị giết vì cưới một người phụ nữ khác chủng tộc.” Mẹ nói: “Đây đâu phải là miền Nam. Đây là New York, và em là một người Cơ Đốc giáo mới trước Đức Chúa và em không thể sống trong tội lỗi được nữa.” Mẹ nói với Dennis rằng mẹ sẽ ra đi nếu như bọn mẹ không kết hôn. Mẹ nói như vậy khiến Dennis chẳng biết làm thế nào cả. Thực ra ông ậm à, ậm ừ, chần chừ lâu đến nỗi mẹ bỏ ra ngoài, trả tiền đặt cọc để thuê một căn phòng, và khi mẹ làm thế, Dennis nói: “Ruth, em không phải làm điều đó đâu. Anh yêu em và anh muốn cưới em nếu em đồng ý.”
Dennis là một người đàn ông thực sự. Mẹ yêu Dennis. Ông là người đàn ông tốt nhất mà mẹ từng biết. Tất cả bạn bè của ông sinh ra ở Bắc Carolina hiện đang sống ở Harlem đều đến gặp ông. Họ gọi oang oang từ bên ngoài cửa sổ phòng của bọn mẹ. “Dennis… Dennis!” và ông mời họ vào, mang cho họ chút thức ăn cuối cùng mà bọn mẹ có hoặc bất cứ thứ gì họ cần. Ông xuất thân từ một gia đình mà trong đó lòng tốt là một cách sống. Mẹ muốn sống trong một gia đình như thế. Mẹ tự hào vì trở thành người của gia đình ông, và cả gia đình ông đều vui vì có mẹ.
Mẹ và Dennis phải gặp nhau tại trụ sở ủy ban thành phố để làm thủ tục kết hôn vào một ngày thứ Bảy bởi vì các ngày trong tuần cả mẹ và ông đều phải đi làm. Dennis phải làm việc cả sáng thứ Bảy. Khi đó ông đã nghỉ làm ở nhà máy của bác Mary và đang làm cho công ty xuất bản McCoy, một cơ sở kinh doanh chuyên cung cấp huy hiệu, và sách cho tổ chức Masonic Order. Mẹ và Dennis hẹn gặp nhau trước Trụ sở ủy ban thành phố lúc hai giờ. Đúng hai giờ mẹ có mặt ở đó và mẹ đợi khoảng một tiếng đồng hồ. Đúng lúc mẹ vừa quay gót bước đi, vừa nghĩ, “Mình biết mà,” thì Dennis xuất hiện. “Em sẽ không rũ bỏ anh một cách dễ dàng như vậy được đâu,” ông nói.
Nhiều con mắt mở to nhìn bọn mẹ, những tiếng thì thầm và những ngón tay chỉ trỏ và cả những câu hỏi ngớ ngẩn nhằm vào mẹ và Dennis khi bọn mẹ đi đến phòng đăng ký kết hôn. Các nhân viên ở đó rất cáu kỉnh và không ai muốn viết giấy tờ của bọn mẹ, nhưng mẹ và Dennis không để cho những kẻ ngốc đó làm hỏng cuộc hôn nhân của mình. Bọn mẹ lấy được giấy đăng ký kết hôn và mục sư Brown làm lễ cưới cho bọn mẹ tại văn phòng của ông ở nhà thờ. Trước đó mẹ đã nói cho mục sư biết sự thật rằng mẹ và Dennis chưa kết hôn và ông nói: “Đừng lo. Ta sẽ làm lễ cưới cho các con, cứ yên tâm.” Về sau mẹ mới phát hiện ra rằng một số thành viên của nhà thờ đã sống với nhau như vợ chồng mà không có hôn thú. Một số cặp đã có con lớn. Sau đó mục sư Brown đã làm lễ cưới cho tất cả bọn họ, vậy nên chuyện đó không lạ đối với ông. Người gác cổng và một người giúp việc cho nhà thờ làm chứng cho bọn mẹ. Sau đó bọn mẹ tổ chức tiệc chiêu đãi tại một căn hộ của một người bạn ở phố 103 and Third, nhà của bác Sam và Trafinna “Ruth” Wilson. Họ trang hoàng căn hộ bằng những tấm khăn màu xanh và màu hồng, đặt những chiếc khay đẹp đựng những chiếc bánh kẹp, món khai vị, bánh nướng, cà phê trông thật ngon và mục sư Brown ghé qua dự tiệc với bọn mẹ. Đó là một bữa tiệc thú vị, chỉ có năm người. Mẹ không cần cả triệu đóa hồng và cả một ban nhạc diễu hành. Chồng của mẹ yêu mẹ và mẹ yêu ông, đó là tất cả những gì mẹ cần. Bọn mẹ ngồi ở nhà bác Ruth uống cà phê và chồng của mẹ (ừ, mẹ từ hào nói mấy từ đó đấy - “chồng của mẹ”) nói với mẹ: “Chúng ta phải mạnh mẽ lên em ạ. Em biết thiên hạ sẽ nói gì về chúng ta mà, Ruth ạ. Họ sẽ cố chia rẽ chúng ta.” Mẹ nói: “Em biết. Em sẽ mạnh mẽ,” và trong nhiều năm tháng mẹ và Dennis đã bị thử thách, nhưng bọn mẹ chưa bao giờ xa lìa nhau, thậm chí không xa nhau dù chỉ một đêm trừ khi ông đưa các anh chị của con về Bắc Carolina thăm bố mẹ ông. Mẹ chưa bao giờ có thể về miền Nam với ông bởi vì điều đó nguy hiểm. Lần đầu tiên mẹ đến miền Nam với ông cũng là lần cuối, khi mẹ đưa thi hài ông về an táng ở đó.
Sau khi mẹ và Dennis có con đầu lòng vào năm 1943, bọn mẹ chuyển tới một căn hộ một phòng có giá thuê sáu đô la một tuần ở phố đối diện. Bọn mẹ có bồn rửa, chạn bát, giường ngủ, bếp, và một tủ đựng đá nhỏ mà mỗi tuần một lần người ta mang đá đến bỏ vào đó. Tất cả đồ nội thất của mẹ và Dennis là những gì bọn mẹ tìm được và mua được ở Woolworth và đều có thể gấp lại: ghế gấp, bàn gấp. Cửa sổ phòng đó hướng ra một đại lộ và bức tường gạch của tòa nhà bên cạnh. Căn phòng nằm sát tòa nhà bên cạnh đến nỗi con không thể biết bên ngoài trời đang có mưa hay có tuyết rơi. Con phải vểnh tai ra ngoài cửa sổ để xem thời tiết như thế nào. Phòng vệ sinh ở hành lang, là phòng dùng chung cho tất cả những người thuê nhà ở đó, và chỗ nào cũng có gián. Dù con đã giết chết bao nhiêu con gián chăng nữa, lũ gián vẫn cứ xuất hiện nhan nhản. Mẹ để chiếc mũ dùng để đội đi lễ nhà thờ của mình ở trên giá trong tủ đựng mũ và một ngày Chủ nhật mẹ lấy mũ để đội, thấy lũ gián từ trong mũ bò ra. Mẹ nuôi bốn anh chị của con trong căn phòng đó. Mẹ và Dennis sử dụng những ngăn kéo tủ làm nôi và các anh chị của con ngủ cùng với bố mẹ hoặc trên những chiếc giường cũi xếp. Cả nhà sống trong căn phòng đó trong chín năm, và đó là chín năm hạnh phúc nhất của cuộc đời mẹ.
Trong thời gian đó mẹ gặp một phụ nữ da trắng rất thú vị, tức là Lily - bạn của mẹ sau này. Mẹ gặp cô ấy ở công viên trên phố 127 trong khi mẹ đang đưa các anh chị của con ra đó chơi và cô ấy cũng mang theo hai đứa con. Lily là người da trắng và những đứa con của cô ấy trông giống như các anh chị của con, vì vậy bọn mẹ bắt đầu chuyện trò. Cô ấy là người Do Thái, sinh ra ở Florida. Gia đình cô giàu có, còn cô rất tinh tế, lịch lãm - Lily thích đọc sách và nghe opera - và bọn mẹ có điểm chung là đều có chồng là người da đen. Chồng của Lily là người Tây Ấn, và họ là thành viên của Phong trào Thanh niên Cộng sản. Vào thời bấy giờ chuyện đó giống như - một tiếng nổ bùm! - phiền lắm, có thể họ bị chính phủ theo dõi đấy. Mẹ và Dennis không phải là người theo cộng sản. Bọn mẹ theo Đức Chúa Jesus. Lily và mẹ là bạn trong một thời gian dài cho tới khi cô ấy chuyển đến California. Chồng của Lily đã bỏ cô ấy để theo một phụ nữ trẻ - mặc dù cô ấy quá tốt đối với anh chồng. Anh ta săn bất cứ thứ gì ở trong váy phụ nữ, và thật ra cũng đã ve vãn mẹ khi Lily không để ý nhưng mẹ không màng đến chuyện đó. Cô ấy trở thành một người theo giáo phái Hare Krishma, sau đó tái hôn, lần này Lily cưới một người đàn ông da trắng. Trong những năm bảy mươi mẹ đã định đi thăm cô ấy, nhưng mẹ vừa mới chuẩn bị đi thì cô ấy viết cho mẹ một bức thư với nội dung gây khó chịu, nói rằng mẹ đừng đến gặp cô ấy, và nhiều điều khác nữa, những lời có tính xúc phạm, vậy nên mẹ hủy chuyến đi và từ đó không nhận được tin tức gì của cô ấy nữa. Mẹ không biết tại sao cô ấy lại xử sự như vậy. Mẹ nghĩ có lẽ Lily gặp một số vấn đề với các con của mình. Đó có thể là nguyên nhân bởi vì trong nhiều năm bọn mẹ thư từ qua lại với nhau và mẹ luôn kể với cô ấy về các con. Có lẽ các con của cô ấy có vấn đề.
Gia đình mình tăng nhân khẩu rất nhanh, trước khi mẹ ý thức được điều đó mẹ và Dennis cùng bốn đứa con đã chen chúc trong căn hộ một căn phòng. Vậy nên cha mẹ làm đơn xin được cấp một căn hộ trong dự án nhà ở dành cho người thu nhập thấp Red Hook ở Brooklyn. Họ đưa bọn mẹ vào một danh sách dài gồm những người chờ đợi và nói: “Đừng hy vọng nhiều,” bởi vì có vấn đề về chính trị, nhưng Chúa Trời đã giúp cha mẹ và gia đình mình chuyển tới đó vào năm 1950. Đó là một căn hộ gồm hai phòng ngủ ở trên tầng sáu của tòa nhà 795 phố Hicks, và đặc biệt căn hộ đó có một phòng vệ sinh. Đó là điều tuyệt vời nhất khi mẹ kể về căn hộ đó. Nhà mình có phòng vệ sinh riêng. Sàn nhà và tường đều bằng xi măng. Bọn trẻ hễ ngã xuống sàn thì y như rằng bị trầy xước, bầm tím và sống ở đó nhà mình phải thay hết bát đĩa và đồ thủy tinh bằng đồ nhựa bởi vì khi ai đó đánh rơi đồ xuống sàn là chúng vỡ tan. Nhưng ngày ấy Red Hook là một tòa nhà đẹp đấy. Nó là tòa nhà của sự hòa nhập - người Ý, người Puerto Rico, người Do Thái, và người da đen. Ở sân chung của tòa nhà có bãi cỏ, và có sân chơi được trang bị cầu trượt và xà đu. Đó là cuộc sống Mỹ thực sự, cuộc sống mà mẹ luôn mơ ước. Sáng sáng khi Dennis đi làm, mẹ hôn tạm biệt ông và khi ông trở về vào buổi chiều muộn, mẹ đứng bên cửa sổ chờ ông rẽ vào góc phố và đi bộ vào sân chung cư. Mẹ còn nhớ như in dáng đi của ông, chiếc áo sơ mi trắng, đôi giày của ông. Các anh chị của con chạy ào xuống đón cha và ôm chặt lấy chân ông như những con chó con. Dennis mang thực phẩm từ siêu thị A&P về và mang cho những đứa con của mình một sự ngạc nhiên - một chiếc bánh nướng được để dành từ bữa trưa của ông hoặc mấy chiếc kẹo cao su. Mẹ yêu người đàn ông ấy. Sau khi kết hôn mẹ chưa bao giờ có cảm giác nhớ nhà đẻ của mình. Mẹ đã no đủ về mặt tinh thần.
Hai năm sau khi chuyển tới Red Hook cha mẹ trở lại nhà thờ Metropolitan, nhưng mục sư Brown đã qua đời vì một cơn đau tim đột ngột và việc Chủ nhật nào cũng đi tàu điện ngầm suốt cả chặng đường đến Harlem cùng với cả đàn con của mình trở thành một việc khó thực hiện đối với mẹ. Thêm vào đó Dennis đã được gọi đi giảng đạo và ông nói rằng ông muốn thành lập một nhà thờ. Ông thôi không uống bia nữa, và vào trường dòng Shelton học lấy bằng thần học vào năm 1953. Sau đó cha mẹ mời những người hàng xóm của mình ở Red Hook đến cầu nguyện tại nhà mình vào các tối thứ Tư và các sáng Chủ nhật. Bà Ingram và các cha mẹ đỡ đầu của các con, gia đình McNair, Flood, Taylor là những người đầu tiên đến. Mẹ dọn bàn và trải một tấm khăn phủ bàn màu trắng lên đó, và đó là bục giảng Kinh của Dennis. Sau đó mọi việc tiến triển tốt đẹp đến mức Dennis nói rằng ông cần một nhà thờ. Mẹ nói: “Làm thế nào chúng ta có đủ tiền để xây cả một nhà thờ?” Với đồng lương ít ỏi của ông, cha mẹ hầu như chỉ đủ nuôi các con thôi - từ bốn đứa con mẹ và Dennis có năm rồi sáu đứa. Mẹ muốn nói là, sau một thời gian trẻ con cứ tòi ra như những quả trứng ấy và cha mẹ thích có con, nhưng với đàn con đông như thế mẹ không biết làm thế nào để có tiền lập một nhà thờ. Khi mẹ mang thai chị Helen của con mẹ không đi khám thai lần nào, cũng không được chăm sóc y tế. Mẹ cứ đi thẳng đến bệnh viện và đẻ chị con như đẻ một quả trứng rồi về nhà. Cha mẹ nuôi đàn con của mình bằng cách chạy ăn từng bữa con ạ. Mẹ bán hàng cho hội từ thiện để kiếm quần áo và quà Giáng Sinh cho các anh chị của con, và mẹ dẫn đàn con của mẹ đến đó để chúng chơi ở bên ngoài. Mẹ để hai đứa nhỏ nhất vào xe đẩy, hai đứa đứng bên cạnh mẹ, những đứa còn lại mẹ cho chơi ở quanh đó. Trời sinh voi, trời sinh cỏ con ạ.
Dennis cứ ngó nghiêng tìm kiếm hoài cho tới khi ông tìm thấy một ngôi nhà bỏ không có giá thuê rất rẻ ở gần Red Hook. Người đàn ông da trắng sở hữu ngôi nhà ấy không muốn cho người da đen thuê vậy nên mẹ đến đó ký hợp đồng thuê nhà, và ngày hôm sau khi ông ta nhìn thấy mẹ cùng cha đẻ và cha đỡ đầu của con đi đến đó mang theo những hộp sơn và dụng cụ sửa chữa, ông ta muốn lấy lại quyền sử dụng nhà, nhưng đã quá muộn. Cha mẹ đặt tên nó là Nhà thờ tưởng niệm New Brown, theo tên của mục sư Brown. Những thành viên mới không ngừng làm cho nhà thờ lớn mạnh và sau đó có được sáu mươi giáo dân sinh hoạt thường xuyên và ổn định. Gia đình mình chuyển đến một tòa nhà ở số 195 phố Richards nơi có hệ thống sưởi, bởi vì ở chỗ cũ lạnh đến mức mọi thứ muốn đóng băng và Dennis cứ phải khuân thiết bị sưởi về. Nhà thờ của cha mẹ hoạt động rất tốt cho đến đầu năm 1957, khi Dennis đi làm về trong tình trạng ho dữ dội. Ông ho khản cả giọng đến mức mẹ phải bắt ông nằm nghỉ. Ông nằm trên giường ho suốt ba tuần.
Dennis hút thuốc, loại Lucky Strikes không có đầu lọc, thỉnh thoảng ông lại bị khản tiếng vì giảng đạo và nhà thờ không có hệ thống sưởi tốt, thêm vào đó dạo ấy là tháng Một, rất lạnh, vậy nên mẹ không lo lắng lắm. Nhưng ông bị ho nặng đến nỗi ông không thể dậy khỏi giường, không thể ăn và phát sốt, vậy nên mẹ đưa ông đến bệnh viện St. Peter. Ở đó, những con mắt mở to nhìn mẹ khi mẹ đưa Dennis vào viện, những cái nhìn trừng trừng, những câu hỏi của các bác sĩ và y tá, kiểu như: “Ai vậy?” và, “Cô là vợ của anh ta ư?”, nhưng mẹ không để ý. Mẹ chỉ muốn Dennis khỏi bệnh về nhà bởi vì các anh chị của con và mẹ đều nhớ ông. Toàn bộ thế giới của mẹ và các anh chị của con xoay quanh ông. Các anh chị của con thường ngồi thiền giống như ông, rồi khoe với nhau khi nào ông đi làm về sẽ cho ông thấy bọn chúng ngồi thiền như thế nào. Trong khi ông nằm viện chị Rosetta của con không cho bất cứ ai, thậm chí cả mẹ, ngồi lên chiếc ghế của ông. Không ai được phép.
Dường như ông trở bệnh rất nhanh. Hôm trước ông còn đi lại bình thường, hôm sau ông đã ho dữ dội và phải nằm viện. Các bác sĩ không biết ông bị làm sao. Phổi của ông có vấn đề, một bác sĩ nói vậỵ. Một bác sĩ khác nói tuyến tụy của ông có vấn đề. Khi mẹ hỏi họ trả lời rất khó hiểu khiến mẹ chẳng biết đâu mà lần. Họ nói về ông một cách chung chung, rồi họ đi ra hành lang và hất hàm về phía mẹ, buông những lời bình luận về mẹ và Dennis mà họ nghĩ mẹ không nghe thấy. Mẹ nghe được những gì họ nói nhưng mẹ lờ đi. Mẹ tập trung vào chồng mình. Mỗi ngày khi mẹ đi bộ từ bệnh viện về nhà, bác Lillian, bạn của mẹ, lại thò đầu ra ngoài cửa sổ nhà bác ấy ở khu chung cư và hỏi: “Mục sư McBride thế nào rồi?” Mẹ trả lời: “Hôm nay ông ấy không ăn được gì.” Bác ấy nói: “Ông ấy trở bệnh trước khi ông ấy khỏe lên đấy mà.” Rồi một hôm mẹ đi qua cửa sổ nhà Lillian mẹ mỉm cười và nói với bác ấy: “Hôm nay ông ấy ăn được một quả cam rồi,” và bác ấy nói: “Thấy chưa, tôi đã bảo bà rồi. Ông ấy trở bệnh trước khi ông ấy khỏe lên đấy mà.” Nhưng Dennis không khỏe lên. Ông càng ngày càng yếu đi, và trong thời gian đó mẹ bị mất kinh. Mẹ đã có bảy đứa con, và mẹ không có thời gian để nghĩ về chu kỳ kinh nguyệt của mình. Mẹ nghĩ chắc do mẹ căng thẳng vì Dennis nằm viện lâu nên mẹ bị như vậy, nhưng khi mẹ nói với ông chuyện đó, ông nói: “Nếu nó là con trai, chúng ta sẽ đặt tên con là James theo tên chú Jim của anh.” Và đó là lý do tại sao con tên là James. Con ạ, mẹ không nghĩ cha con sẽ chết. Mẹ không biết, nhưng ông biết, bởi vì ông đã đặt tên cho con và ông nói ra những lời đại ý rằng “Anh biết nếu có chuyện gì xảy ra với anh thì Chúa Jesus sẽ che chở cho mẹ con em. Đừng lo, Ruth ạ. Hãy cứ tin tưởng ở Chúa.” Mẹ không muốn nghe những lời đó và mẹ bắt ông không được nói nữa.
Thỉnh thoảng ở trong bệnh viện mẹ đi ra hành lang và khóc để Dennis không nhìn thấy mẹ khóc, và một đêm mẹ đang đứng ở đó khóc thì hai bác sĩ người da trắng đi đến bên mẹ và hỏi: “Cô là ai?” bởi vì lúc đó đã hết giờ thăm bệnh nhân. Mẹ chỉ vào phòng Dennis và nói, “Chồng tôi đang ở đó,” và họ trở nên lạnh lùng, tỏ vẻ khinh bỉ. Họ nói về mẹ ngay trước mặt mẹ rồi bước đi.
Sau khi Dennis nằm viện được vài tuần, vào một buổi trưa mẹ vào với ông và nhận thấy ông đã gầy đi nhiều vì không ăn được, và ông nói: “Sao em không đưa các con vào thăm anh?” Mẹ nói: “Chúng ta không nên làm điều dó,” bởi vì các anh chị của con phải đi học, vả lại người ta không cho trẻ con vào bệnh viện và mẹ cũng chẳng thể lôi cả bảy đứa vào đó được. Mẹ thực sự không muốn các anh chị của con nhìn thấy cha mình ốm đau như vậy - anh cả của con mới mười ba tuổi - nhưng tất cả đều muốn vào gặp cha, vậy nên mẹ nói: “Được rồi. Em sẽ dẫn chúng đến bên cửa sổ kia và anh có thể nhìn thấy chúng từ cửa sổ.” Ông nằm ở tầng hai. Vậy nên mẹ về nhà và gọi tất cả bảy đứa con, đưa chúng tới bệnh viện và chúng đứng ở dưới đường gọi to: “Cha ơi! Cha!” và Dennis trong chiếc áo choàng đi ra cửa sổ nhìn xuống đường và vẫy bọn trẻ. Qua vẻ mặt của ông, qua cái cách ông đứng bên cửa sổ vẫy những đứa trẻ đang phấn khích vì được nhìn thấy ông mẹ có cảm giác trái tim mình bị bóp nghẹt bởi cảm giác sợ hãi. Mẹ tự nhủ: “Chúa ơi, anh ấy sẽ không chết chứ? Anh ấy là chồng của con. Anh ấy là giấc mơ của con. Anh ấy sẽ không chết phải không Đức Chúa?” Mẹ không biết phải làm gì. Cứ như thể điều đó sẽ không xảy ra. Mẹ đi về nhà và cầu Chúa đừng mang chồng của mẹ đi.
Thế rồi vài ngày sau ông qua đời.
Chúa ơi… ông chết.
Vào khoảng sáu giờ sáng, mẹ đang ở nhà thì nhận được cú điện thoại của một bác sĩ tại bệnh viện. Ông bác sĩ hỏi đó có phải là bà McBride không. Mẹ nói, phải. Ông ấy nói: “Ông McBride vừa mới qua đời.” Mẹ nói: “Không thể như thế được. Anh ấy không ốm nặng đến mức ấy.” Bác sĩ nói: “Ông ấy bị ung thư,” và cúp máy. Đó là lần đầu tiên họ nói với mẹ rằng cha của con bị ung thư. Đó là lần đầu tiên mẹ biết sự thật ấy. Mẹ đứng đó, nhìn ra cửa sổ, nhìn những tòa nhà. Đó là vào ngày 5 tháng Tư năm 1957, mẹ vẫn còn nhớ như in. Lúc đó một ngày mới vừa mới bắt đầu. Mẹ nhìn ra ngoài đó và thấy một vùng bóng đen kéo về phía mẹ. Mẹ cảm thấy mình bị chìm lún như thể mẹ rơi vào trong vùng bóng đen đó. Các anh chị của con đã thức dậy và tất cả bật khóc, mẹ cũng bắt đầu khóc. Khi Dennis chết, một phần con người mẹ cũng chết. Mẹ yêu người đàn ông ấy hơn cả cuộc sống và nhiều lần mẹ ước Chúa lòng lành mang mẹ đi khỏi cuộc đời thay vì mang ông đi, bởi vì ông là người tốt hơn, đáng sống hơn mẹ nhiều. Ông có nhiều thứ để mang đến cho thế giới hơn mẹ. Ông mang đến cho mẹ cuộc sống mới. Ông làm mẹ hồi sinh sau khi mẹ bỏ nhà đi, đưa mẹ đến với Chúa Jesus, mở mắt cho mẹ thấy một thế giới mới, rồi ông qua đời. Lạy Chúa, sự thật đó khó chịu đựng quá. Để ông ra đi như thế thật khó chịu đựng quá. Trong một thời gian mẹ giận ông đã bỏ mẹ mà đi, giận ông đã bỏ mẹ lại với những đứa con thơ dại, nhưng hơn hết, mẹ nhớ ông.
Ông được an táng ở High Point, Bắc Carolina. Khi đó mẹ sốc lắm, thực sự sốc. Bà Candis và chị Jack của con phải vực mẹ dậy cùng các anh chị của con đến đám tang của cha con ở Brooklyn, sau đó đưa thi hài của ông về Bắc Carolina để an táng. Đó là lần đầu và cũng là lần cuối mẹ về miền Nam cùng ông. Sau khi cử hành tang lễ ở Brooklyn cho ông mẹ không thể rời ông và mẹ sẽ ở bên thi hài của ông trong toa sau cửa tàu hỏa nếu người ta cho phép nhưng họ không cho phép, nhưng lúc ngồi trên tàu mẹ cứ lẩm bẩm: “Mình sẽ đưa anh ấy về nhà. Mình sẽ đưa anh ấy về nhà để thấy anh ấy được an táng,” và không người da trắng hay người da đen nào ngăn cản được mẹ, còn mẹ thì thề trước Đấng Toàn Năng rằng nếu bất kỳ ai ngăn cản mẹ làm điều đó thì mẹ sẽ đánh ngã người đó. Khi mẹ và các anh chị của con đến ga tàu hòa ở High Point, chú Jim của Dennis đến nhận thi hài ở quầy quản lý và mẹ đi cùng ông. Một người đàn ông da trắng đứng ở quầy nói: “Thi hài này ai nhận?” Mẹ nói: “Tôi,” và ông ta cứ nhìn mẹ, nhìn Jim, rồi hỏi lại: “Thi hài này ai nhận?” và Jim cố nói rằng chú sẽ nhận để khỏi gặp rắc rối với người đàn ông da trắng đó, nhưng mẹ bảo chú Jim: “Không, chú Jim. Đó là chồng của cháu.” Mẹ nói với người đàn ông đó: “Đó là chồng tôi và tôi đến đây để chôn cất anh ấy, và tôi sẽ ở bên anh ấy.” Điều đó khiến ông ta hơi choáng nhưng ông ta không gây khó khăn gì cho mẹ và ông Jim, ký giấy cho mẹ và gia đình chôn cất Dennis ở nghĩa trang Burns Hill. Khi ấy mẹ ba mươi sáu tuổi và đã sống chung với Dennis được gần mười sáu năm và trong suốt chừng ấy năm mẹ chưa từng phải xoay xở mọi việc mà không có ông. Mẹ nhớ mình đã đi qua những tòa nhà của khu chung cư cùng với bảy đứa con, vừa đi vừa khóc - thỉnh thoảng, giữa ban ngày mẹ bật khóc - và chị Helen của con, lúc ấy mới chín tuổi, đã nói: “Đừng khóc, mẹ ơi. Cha đang ở trên thiên đường mà mẹ,” và điều đó càng khiến mẹ khóc nức nở. Đó là khoảng thời gian thật khó khăn, khó khăn lắm.
Khi cả nhà chúng ta quay trở lại New York sau khi chôn cất cha con, mẹ mở hòm thư và thấy ở trong đó đầy những tờ ngân phiếu và giấy chuyển tiền, và cả tiền mặt được để trong những chiếc phong bì của những người dân sống trong khu biết gia đình ta, và cả từ những người sinh hoạt ở nhà thờ Metropholitan ở Harlem. Hàng chục bức thư được gửi cùng với những tờ ngân phiếu và tiền mặt. Chừng nào mẹ còn sống, mẹ sẽ không quên điều đó. Mọi người gửi cho chúng ta nào cam, nào táo, gà giò, gà tây, quần áo và nếu ai có dư thứ gì, thì họ cho chúng ta thứ đó. Các đồng nghiệp của cha con ở Công ty Xuất bản McCoy, những người da trắng, gửi tiền cho chúng ta. Chị Jack của con và bà Candis - khi ấy bà từ Bắc Carolina đến ở với chúng ta - và ông bà McNair, ông bà Ingrams, các cha mẹ đỡ đầu của các con, và người bạn cũ Irene Johnson của mẹ, tất cả đều sẵn sàng giúp đỡ gia đình ta, nhưng dù có sự giúp đỡ của mọi người chúng ta vẫn phải vất vả vật lộn để tồn tại.
Khi mẹ đến gia đình Do Thái của mình để tìm sự giúp đỡ mẹ thất vọng ê chề. Mẹ đã trông đợi sự giúp đỡ từ dì Betts của mẹ, người có ông chồng giàu và đang sống trong một tòa nhà sang trọng ở khu Đông của Manhattan, có người gác cổng hẳn hoi. Mẹ đã phải nói khéo với người gác cổng để được vào nhà dì của mình. Khi mẹ gõ cửa căn hộ của bà Betts, bà ấy ra mở cửa, nhận ra mẹ lập tức đóng sập cửa lại. Mẹ bị bỏ mặc ở đó, khóc thành tiếng trên vỉa hè. Sau đó mẹ gọi cho em gái Gladys của mẹ đang sống ở Queens. “Hồi ấy chị đã hứa rằng chị sẽ không bỏ nhà đi,” em gái mẹ nói. Mẹ nói với dì ấy rằng mẹ rất tiếc. Nhưng dì ấy không muốn nghe bất cứ điều gì từ mẹ. “Mai hãy gọi cho tôi,” dì ấy nói, nhưng ngày hôm sau khi mẹ gọi tới, chồng của Gladys nhận điện thoại và nói: “Cô ấy không muốn nói chuyện với chị đâu. Đừng bao giờ gọi cho cô ấy nữa,” rồi anh ta cúp máy. Con thấy đấy, họ chẳng còn liên quan gì đến mẹ nữa. Khi người Do Thái nói kaddish, nghĩa là họ không còn trách nhiệm gì với mẹ nữa. Đối với họ, mẹ đã chết. Nói kaddish và ngồi shiva, những cái đó đã miễn cho họ mọi trách nhiệm đối với mẹ. Kể từ khi họ làm thế mẹ phải tự mình xoay xở, nhưng mẹ không cô đơn, bởi vì như Dennis đã nói, Đức Chúa phù hộ, che chở cho mẹ, và gửi cha dượng của con đến cho mẹ, người đã tiếp quản, cứu vớt chúng ta, làm rất nhiều, rất nhiều điều cho chúng ta. Ông không phải là một mục sư như Dennis. Ông khác Dennis, là một người lao động cho Cơ quan phụ trách về nhà ở của thành phố New York, và ông là một người tốt. Mẹ gặp ông sau khi con chào đời và sau một thời gian quen biết ông cầu hôn mẹ. Biết tin, bà Candis nói: “Lấy người đó đi, Ruth. Lấy ông ấy đi!” và cô ấy lau chùi nhà cửa sạch bong, nấu những bữa ăn thật ngon khi cha dượng của con ghé chơi, giúp mẹ gây ấn tượng tốt với ông. Ông cứ nghĩ mẹ làm tất cả những món khoai và món thịt lợn ngon đó trong khi mẹ nấu ăn vụng lắm. Khi mẹ nói cho ông biết sự thật, ông nói, điều đó không quan trọng, rằng ông vẫn muốn cưới mẹ, dù các anh em trai của ông nghĩ ông bị điên. Mẹ có tám đứa con! Nhưng mẹ không sẵn sàng kết hôn. Mẹ từ chối ông ba lần. Ông đưa mẹ đến Bắc Carolina để cho con về gặp ông bà nội của con, bà Etta và ông Nash, vào cuối năm 1957 - sau khi đứa con duy nhất qua đời, ông bà chỉ sống thêm được bốn, năm năm nữa - và khi mẹ nói với bà nội của con rằng mẹ đang nghĩ sẽ tái giá, bà nói: “Cầu Chúa phù hộ cho con, Ruth ạ, bởi vì bây giờ con là con gái của chúng ta. Hãy lấy người đàn ông đó, con ạ.” Ngày ấy người da đen suy nghĩ như thế đó. Đó là lý do tại sao mẹ không bao giờ thôi gắn bó với người da đen. Mẹ thậm chí chưa bao giờ nghĩ đến chuyện kết hôn với một người đàn ông da trắng. Khi mẹ kể cho cha dượng của con nghe em gái và dì Betts của mẹ đã đối xử với mẹ như thế nào, ông nói về họ mà không hề có chút cay đắng hay thù hận nào: “Em không cần họ giúp đỡ đâu,” ông nói. “Anh sẽ giúp em trong suốt phần còn lại của cuộc đời nếu em lấy anh,” và mẹ đã lấy ông, và Chúa phù hộ cho ông, ông là người nói ít làm nhiều.