Màu Của Nước

Lượt đọc: 142 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
22
Một người Do Thái bị phát hiện

❊ ❊ ❊

Đó là một buổi trưa tháng Tám năm 1992, và tôi đang đứng trước thánh đường Do Thái duy nhất ở trung tâm Suffolk, một tập hợp của những ngôi nhà có mặt trước được dùng làm cửa hàng, những tòa nhà có ánh đèn lờ mờ, và đường ray tàu hỏa cũ kỹ nói về cái thời nơi này đông đúc hơn, thịnh vượng hơn. Đó là một tòa nhà màu trắng, nhỏ bé và cũ kỹ với bốn cái cột cao và một dãy bậc dẫn tới một cửa ra vào rất cao. Đây là thánh đường mà mẹ tôi, Rachel, khi còn nhỏ đã cùng gia đình lui tới và là nơi giáo sĩ Shilsky dẫn dắt giáo đoàn trong những ngày lễ của người Do Thái, Lễ Rosh Hashana, Lễ mừng Năm Mới, lễ Yom Kippur, ngày chuộc tội và ăn chay. Khi tôi còn nhỏ, những ngày lễ của người Do Thái đối với tôi có nghĩa là một ngày được nghỉ học và chỉ thế thôi. Tôi dĩ nhiên không biết những ngày lễ đó có liên quan gì đến mình.

Tôi cảm thấy thật kỳ cục khi đứng trước một tòa nhà im ắng, vắng vẻ, và cứ vài phút lại nhìn ngược nhìn xuôi ra đường phố mà trong lòng nơm nớp lo cảnh sát sẽ tới hỏi tại sao giữa ban ngày ban mặt một gã da đen lại lảng vảng trước một tòa nhà của người da trắng ở Suffolk, Virginia. Dù sao đó cũng là những năm chín mươi và bất cứ người đàn ông da đen nào lảng vảng ở trước một tòa nhà quá lâu, ngó ngó nghiêng nghiêng thì thế nào cũng khiến cảnh sát nghi ngờ và những người khác có thể nghĩ rằng anh ta đang tìm cách để trèo vào trong trộm cắp thứ gì đó. Những người đàn ông da đen có liên quan mật thiết đến giới tội phạm ở Mỹ, không chỉ những người có mẹ là người Do Thái, và tôi không thể hình dung có viên cảnh sát nào lại tin câu chuyện của tôi khi tôi đứng trước đền thờ của người Do Thái nói: “Ông ngoại tôi là giáo sĩ ở đây…” Mặt trời chiếu như thiêu đốt trên lối đi và ở đó trời rất nóng nên tôi ngồi xuống bậc thềm, để chiếc máy ghi âm và cuốn sổ của mình bên cạnh.

Cuộc tìm kiếm gia đình Shilsky kéo dài nhiều năm kết thúc ở đây. Tôi đã dành khá nhiều thời gian tra cứu các hồ sơ ở trường học, ở tòa án, và các tài liệu khác với những kết quả hỗn tạp. Bà Hudis của tôi được mai táng ở một nơi cách xa chỗ tôi đang ngồi, ở nghĩa địa Long Island giữa hàng trăm, hàng trăm người Do Thái, nhiều hơn số người cùng tôn giáo mà bà đã sống cùng ở nơi này. Quân đội Mỹ chi tiền để có bằng chứng báo tử trung úy Sam Shilsky, người đã chết vào năm 1944, nhưng chi tiết về hồ sơ phục vụ trong quân ngũ của bác tôi đã biến mất mãi mãi, bị cháy thành than trong một vụ hỏa hoạn xảy ra tại cơ quan lưu trữ hồ sơ của quân đội. Tôi cảm thấy như thể mình đang lần theo những bóng ma. Không có dấu vết gì của giáo sĩ Shilsky, mặc dù tôi đã tìm kiếm một địa chỉ đã tồn tại ở Brooklyn vào những năm 1960, nơi hình như ông chuyển tới sau khi ông lang bạt khắp Norfolk, Virginia, Belleville, New Jersey và Mahattan. Dì Dee-Dee đã biến mất khỏi Suffolk trước khi bà ngoại tôi mất, và không bao giờ quay trở lại đó nữa. Dì đi khỏi Suffolk vào ngày 23 tháng 1 năm 1942, khi chỉ còn một kỳ học nữa là dì tốt nghiệp trung học phổ thông. Năm ngày sau, vào ngày 28 tháng 1 năm 1942, bà ngoại tôi qua đời ở thành phố New York. Tôi không thể tưởng tượng nổi dì đã đau khổ như thế nào khi phải rời bỏ ngôi nhà duy nhất mà dì từng có ở tuổi mười bảy, khi mà mẹ của dì đã đi khỏi đó, cha thì bỏ đi với một người đàn bà ngoại đạo, anh trai đã chết trong chiến tranh, chị gái đã biến mất; dì hoàn toàn bất lực khi những trụ cột của cuộc đời dì đều đã đổ sập như những que tăm. Mọi thứ quen thuộc đối với dì đã biến mất. Dì sẽ sống với ai? Có lẽ cha của dì sẽ nuôi dì. Ai mà biết được chuyện gì đã xảy ra? Tôi có cảm giác rằng dì vẫn còn sống. Nếu còn sống thì bây giờ dì khoảng sáu mươi bảy tuổi. Tôi có thể đã lần ra tung tích của dì - tôi là một phóng viên cơ đấy - nhưng sau hai tuần với những nỗ lực yếu ớt tôi đã bỏ cuộc. Tôi nỡ lòng nào làm điều đó. Tôi không muốn mang thêm bất cứ nỗi đau nào đến cuộc sống của dì. Dì đã nếm trải quá đủ rồi. Tôi có thể đến gần bên dì nhất qua việc ngồi trên những bậc thềm của thánh đường này dưới cái nắng tháng Tám thiêu đốt này và tự hỏi bản thân mình nhiều câu hỏi.

Tôi muốn đi vào bên trong thánh đường. Tôi muốn ngắm nhìn nó, để về kể với người vợ da đen và hai đứa con của mình về nó - bởi vì một phần dòng máu của tôi chảy qua đó, bởi vì gia đình của tôi có lịch sử ở đó, bởi vì một phần con người tôi ở đó cho dù tôi hay những người quản lý thánh đường này có thích điều đó hay không. Quả thực, tôi chưa từng ở trong một thánh đường Do Thái, lần tôi đến gần nhất một thánh đường Do Thái là lần tôi làm phóng viên đi thực hiện một phóng sự về một trường học của người Do Thái ở quận Queens nơi có một thánh đường gắn liền với trường học. Trong khi phỏng vấn hiệu trưởng của trường, một người phụ nữ, tôi có nói mẹ mình là người Do Thái và bà ấy đã thốt lên: “Ồ, theo luật Do Thái như thế có nghĩa là cậu cũng là người Do Thái đấy! Chúng tôi có một người Do Thái da đen làm việc trong trường này đấy!” Bà bấm máy bộ đàm và nói: “Sam, anh có thể lên đây một lát được không?” Vài phút sau một người gác cổng da đen cầm một cái giẻ lau bước vào, mỉm cười. Tôi sẽ trả thật nhiều tiền để có được bức ảnh chụp mặt tôi lúc đó. Ol’s Sam mỉm cười và cất tiếng chào còn tôi thì lúng búng thốt ra lời đáp lịch sự, mặc dù tôi muốn ngộp thở vì cứ há hốc miệng ra.

Khi tôi gọi điện cho giáo sĩ của thánh đường cũ nơi mẹ tôi sống, ông nói chuyện với tôi mà chẳng tỏ ra luyến nhớ quá khứ cũng chẳng tỏ lộ sự ngạc nhiên, chỉ miễn cưỡng thừa nhận các chi tiết. Ông nghe những người Do Thái khác mà tôi đã gặp nói cho biết tôi đang ở trong thành phố này. Ông biết tôi là người da đen và ông biết mẹ tôi là ai. “Tôi vẫn còn nhớ mẹ của cậu,” ông nói. Tôi giải thích với ông rằng tôi đang viết một cuốn sách về gia đình của mình và hỏi liệu tôi có thể xem một số hồ sơ, hoặc ghi chép của giáo đường không. “Chẳng có gì trong đó có thể giúp được cậu đâu,” ông sẵng giọng. Tôi hỏi liệu tôi có thể tham quan bên trong thánh đường không. Ông nói: “Tôi sẽ hỏi một số thành viên trong ban quản lý thánh đường để xem ai có thời gian mở cửa thánh đường cho cậu vào,” rồi ông gác máy. Tôi biết cách đối đãi đó. Căn cứ vào bức ảnh chụp các thành viên của ban quản lý thánh đường ở trong cuốn sách nhỏ mà tôi kiếm được, tôi ngờ rằng một nửa số các ông bà già đó vẫn đang ngái ngủ. Tôi gác máy, lẩm bẩm: “Tôi chẳng muốn tham quan cái thánh đường cũ kỹ ngớ ngẩn của các vị nữa.”

Nhưng cho đến lúc đó tôi cũng đã ngắm nhìn đủ rồi. Mùi hoa đỗ quyên và sự hiu quạnh rờn rợn bò lên người tôi khi tôi mò mẫm quanh Suffolk đã bắt đầu khiến tôi tức thở. Sự cô lập mà gia đình tôi trước kia đã cảm thấy, nỗi đau khổ, u sầu mà họ đã chịu đựng dường như rỉ ra từ các thân cây, luẩn quẩn quanh những tòa nhà hành chính cũ kỹ, bốc lên như hơi nước bốc lên từ tượng đài ghi nhớ cuộc Nội chiến, cái tượng đài dường như chĩa khẩu đại bác của nó thẳng vào tôi khi tôi đi lang thang qua khu nghĩa trang của thành phố. Tôi muốn rời khỏi nơi này ngay lập tức, nhưng thay vì thế tôi ngồi như bị gắn chặt trên bậc thềm của thánh đường trong khi tâm trí tôi hồi tưởng chuyến đi Suffolk trước đó, chuyến đi vào năm 1982, khi định mệnh và sự may mắn đã dẫn tôi vào sâu trong lòng của một tòa nhà văn phòng của chính phủ nơi Aubrey Rubenstein đang làm việc cho văn phòng của sở giao thông. Rubenstein khi ấy trạc sáu mươi, một người đàn ông to béo với mái tóc đen, giọng miền Nam trầm sâu, và cung cách giao tiếp ngắn gọn, dễ hiểu. Cha của ông tiếp quản cửa hàng của ông ngoại tôi vào khoảng năm 1942 sau khi ông tôi rời khỏi thành phố. Khi tôi bước vào văn phòng của ông và giải thích tôi là ai, ông nhìn tôi một lúc lâu. Ông không mỉm cười. Ông không cau có. Cuối cùng ông lên tiếng: “Thật ngạc nhiên,” ông nói khẽ. Ông mời tôi ngồi và mời tôi một tách cà phê. Tôi cảm ơn ông. “Cậu ngồi yên đó nhé,” ông nói.

Ông nhấc điện thoại. “Jaffe,” ông nói, “Tôi có một tin đáng kinh ngạc đây. Cháu trai của Fishel Shilsky đang ở đây. Cậu ấy đang ngồi tại văn phòng của tôi đây. Không đùa đâu… Uh. Ông sẽ không tin đâu. Cậu ấy là người da đen. Không. Tôi không nói xạo đâu. Cậu ấy là phóng viên, và cậu ấy đang muốn viết một cuốn sách về gia đình mình… Ừ.” Rồi ông gác máy và nói: “Khi nào nói chuyện xong chúng ta sẽ đi tham quan lò mổ ở phố Main và thăm Gerry Jaffe cùng gia đình của ông ấy nhé. Họ muốn gặp cậu đấy.” Tôi biết cái tên Jaffe. Mẹ của tôi đã nói đến họ vài lần. Nhà Jaffe có một lò mổ ở gần đường cái. Tateh thường đưa chị em mẹ tới đó để giết bò theo luật giết mổ kosher của người Do Thái… Tôi cần gặp họ. Giống như hầu hết những người Do Thái ở Suffolk họ đối xử với tôi rất tốt, thực sự ấm áp và nồng nhiệt, như thể tôi là người cùng chủng tộc với họ, và điều đó khiến tôi ngạc nhiên. Tôi thấy lạ và ngạc nhiên khi người da trắng đối xử với tôi theo cách đó, cứ như thể không có rào cản nào giữa tôi và họ. Người ta nói nhiều về tôn giáo này - đạo Do Thái - rằng một số người theo đạo này, những người da trắng nghèo lớn tuổi ở miền Nam nói giọng mũi, đội mũ rơm, dường như tin rằng các hiệp ước của nó vượt trên màu da của một con người. Gia đình Sheffer, Helen Weintraub, gia đình Jaffe, họ nói chuyện trực tiếp với tôi ở ngoài đời và qua thư với thái độ và lối diễn đạt mang hàm ý “Đừng quên chúng tôi nhé. Chúng tôi đã và đang sống ở đây. Mẹ của cậu là một phần của nơi này…”

Ngồi trong văn phòng của mình, Aubrey Rubenstein nói chuyện một cách thoải mái khi một đồng nghiệp da đen ngồi gần đó nghe trộm cuộc trò chuyện gây kinh ngạc giữa người đàn ông da trắng lớn tuổi ấy và tôi với vẻ kính sợ. “Ở đây chẳng còn nhiều người Do Thái như chúng tôi đâu,” Aubrey nói. “Khi ông của cậu còn sống ở đây, chúng tôi có khoảng hai mươi lăm hoặc ba mươi gia đình Do Thái quanh khu vực này. Những người nhiều tuổi nhất đã qua đời rồi, những người trẻ hơn đã chuyển đi nơi khác. Một số người chuyển tới California, một số người chuyển đến Virginia Beach, hoặc tới một nơi nào đó. Những người ở lại đều là những người gắn bó với công việc kinh doanh mà cha họ để lại.”

“Tại sao tất cả họ lại bỏ nơi này mà đi?” Tôi hỏi.

“Tại sao họ phải ở lại chứ?” Ông hỏi. “Đây không phải một nơi dễ sống đối với người Do Thái. Cộng đồng người Do Thái ở đây rất nhỏ. Hầu hết họ là những thương gia kinh doanh hoặc làm một nghề nào đó. Tôi cho rằng một số người nhận thấy nơi khác dễ sống hơn.” Tôi nghĩ trong đầu: Những người Do Thái sống nay đây mai đó mà.

Chúng tôi nói chuyện thoải mái hồi lâu. “Thật thú vị là cậu đã tới để tìm hiểu thông tin về ông của mình,” ông nói. “Đó là một chuyện quan trọng đấy, tôi phải nói như vậy.”

Tôi hỏi ông về gia đình của tôi. “Ồ, đó là một bi kịch. Shilsky không phải là con người đàn ông mà đáng lẽ ông ta nên trở thành. Ông ta là một giáo sĩ giỏi đấy - tôi muốn nói rằng tôi biết những gì ông ta giảng. Quả thực, hồi tôi còn bé ông ta đã từng dạy tôi. Nhưng lúc nào ông ta cũng chăm chăm vào kinh doanh thôi, và điều đó không làm hài lòng nhiều người Do Thái ở đây, vả lại trong nhiều năm ông ta có quan hệ với một người đàn bà khác. Tôi không chắc khi đi khỏi đây ông ta đã ly dị hay chưa, nhưng sau chiến tranh, vào khoảng năm 46, tôi tình cờ gặp ông ta ở New York. Tôi và một ông bạn nhìn thấy ông ta đang mua gì đó ở cửa hàng bên cạnh chỗ bạn tôi ở. Ông ta ở Brooklyn.”

“Ông ấy làm gì ở đó nhỉ?”

“Tôi không biết. Nhưng tôi tin rằng khi đó bà Shilsky đã qua đời. Chuyện nhà họ rất buồn.” Quan sát vẻ mặt của tôi ông nói thêm: “Bà của cậu là một phụ nữ tốt. Tôi vẫn còn nhớ bà ấy đến đền thờ, thắp nến và đứng cầu nguyện. Tôi nhớ bà ấy rất rõ. Một chân của bà ấy bị bại liệt. Bà ấy là một phụ nữ rất tốt bụng.”

Tôi hỏi ông Rubenstein liệu có ai biết giáo sĩ Shilsky đối xử với gia đình mình như thế nào không, và ông ấy nhún vai.

“Có những chuyện cậu nghe thấy mà chẳng cần hỏi. Về tiền bạc ông Shilsky rất chặt chẽ và có thể họ kiếm được khá hơn những gì họ thể hiện. Nhà Shilsky sống tách biệt với mọi người. Bác Sam của cậu gia nhập lực lượng không quân và thiệt mạng trong một vụ máy bay rơi ở Alaska. Trong một thời gian dài họ không tìm thấy xác của Sam cũng như của phi công bay cùng cậu ấy, nếu như quả thực họ có tổ chức tìm kiếm. Tôi chỉ nghe người ta nói vậy chứ không biết thực hư thế nào. Dì Gladys của cậu, cậu không biết cô ấy đâu, đúng không? Cô ấy là một cô gái rất thông minh. Mẹ của cậu…, mẹ của cậu là một cô gái tốt bụng. Thú thực, tôi nghe đồn cô ấy bỏ nhà đi và lấy một người đàn ông da đen, nhưng tôi không biết chuyện đó có thật không. Cha tôi đã có lần nói như vậy, nhưng cha mẹ tôi không bình luận gì thêm về chuyện đó cả. Cha mẹ tôi là những người không có thành kiến. Tôi chưa bao giờ nghe thấy cha mẹ tôi xúc phạm ai vì lý do họ là người da trắng, người da đen, người da xanh, người theo đạo Tin Lành, người theo Do Thái giáo, hay người Công giáo.”

Tôi không nói gì, chỉ im lặng lắng nghe. Tôi mường tượng ra tin mẹ tôi lấy chồng là người da đen lan ra trong cộng đồng người Do Thái tựa như một trận động đất.

“Mẹ cậu thế nào?” Ông hỏi.

“Mẹ tôi khỏe.”

“Cậu biết không,” ông vừa nói vừa mân mê tập giấy để trên bàn, “cậu trông hơi giống mẹ đấy. Nụ cười. Cậu có đi lễ, có theo Do Thái giáo không?”

“Không. Mẹ tôi không nuôi chúng tôi trở thành những người theo Do Thái giáo.”

“Có lẽ đó là vì cô ấy muốn điều tốt đẹp nhất cho các con mình,” ông nói.

Tôi ngạc nhiên bởi sự bộc trực của ông.

Chúng tôi nói chuyện một lúc lâu nữa trước khi tôi đứng dậy để đi. “Lần sau cậu tới đây tôi sẽ xem liệu cậu có đào bới được một bức tranh về cái cửa hàng ngày xưa đó không nhé,” ông nói. “Hãy nhớ nói với mẹ cậu rằng ông Aubrey Rubenstein gửi lời chào nhé.”

Tôi chỉ chiếc máy ghi âm của mình để trên bàn của ông. “Nó đang chạy đấy,” tôi nói. “Ông có thể gửi lời chào vào đó.”

Ông cúi xuống bên chiếc máy ghi âm và nói khẽ. Khi ông nói xong, ông lại ngồi dựa người vào ghế tựa, nhìn lên trần nhà vẻ trầm tư. “Ruth đã lựa chọn cuộc sống đó cho bản thân và cô đã sống cuộc sống mà mình đã lựa chọn, vậy thôi. Tôi không biết lý do cô ấy lựa chọn. Nhưng cô ấy đã làm tốt đấy. Cô ấy nuôi dạy được mười hai đứa con. Cô ấy sống tốt đấy.”

Tôi nói với ông rằng vài tháng nữa tôi sẽ quay lại. “Tôi sẽ có một bức tranh về cửa hàng cho ông,” tôi hứa. Nhưng tôi đã đợi những mười năm mới quay lại nơi này, và khi tôi gọi điện cho ông, ông đã qua đời. Tôi giữ cuộn băng ghi âm có ghi lời chào của ông gửi tới mẹ tôi trong nhiều năm và trong khi tôi chưa bao giờ mở băng ghi âm đó cho mẹ tôi nghe, vì nghĩ nó sẽ gợi quá nhiều cảm xúc đối với mẹ, bản thân tôi đã nghe đi nghe lại nhiều lần, nghĩ, ước ao, hy vọng rằng thế giới sẽ cởi mở, không thành kiến, biết rằng Chúa là thế này: Ruth, Aubrey Rubenstein đây. Tôi không biết cô còn nhớ tôi không, nhưng nếu cô còn nhớ, thì tôi muốn nói rằng tôi rất vui được gặp con trai cô và mừng vì cô đã đạt được nhiều điều trong cuộc sống. Nếu cô có dịp qua đây thì hãy dừng chân và chào chúng tôi một tiếng nhé. Tất cả chúng tôi đều nhớ cô. Chúng tôi chúc cô những điều tốt đẹp nhất.

Khi tôi ngồi trên bậc thềm của thánh đường trong cái nắng tháng Tám như thiêu đốt, những lời nói của ông rơi qua ký ức của tôi như những giọt mưa. Tôi nhìn hai bé gái người da đen đi qua đó, vẫy tay, rồi đi tiếp. Một bé gái đang ăn một túi khoai tây chiên. Tôi tự nhủ: “Dù thứ mình tìm kiếm là gì, mình cũng đã tìm thấy nó rồi.” Tôi leo lên xe, lái tới quán McDonald, nơi trước kia là cửa hàng của nhà mẹ tôi. Tôi đi bộ quanh khu đất đó một lần nữa, như thể đất sẽ nói chuyện với tôi. Nhưng đất không nói. Đó chỉ là một bãi đỗ xe được lát xi măng. Chắc hẳn người ta phải mang cả cái chỗ đỗ xe láng xi măng này hất xuống biển mất, tôi nghĩ. Gia đình Shilsky đã biến mất rồi. Biến mất từ lâu rồi.

Đêm hôm đó tôi ngủ trong một nhà nghỉ ở bên đường gần ngay nhà hàng McDonald đó, và khoảng bốn giờ sáng tôi ngồi phắt dậy. Có điều gì đó đã dựng tôi dậy. Tôi đã trằn trọc cả tiếng đồng hồ, sau đó tôi thay quần áo và đi ra ngoài, đi bộ về phía cầu tàu gần đó. Khi tôi bước đi dọc cầu tàu nhìn ra sông Nansemond, con sông có màu tím lạ lùng dưới ánh trăng, tôi nói với bản thân mình: “Mình đang làm gì ở đây thế này? Nơi này thật hiu quạnh. Mình phải thoát ra khỏi đây thôi.” Bỗng nhiên tôi nghĩ bà tôi đã bước đi dọc cầu tàu này, nhìn ra mặt sông này nhiều lần, và nỗi cô đơn, sự đau khổ mà Hudis Shilsky cảm thấy khi là một người Do Thái sống ở cái thị xã miền Nam hiu quạnh này - xa mẹ và các chị em gái ở New York biền biệt, không biết nói tiếng Anh, một người nhập cư gốc Ba Lan tàn tật không nhận được chút tình yêu nào từ chồng, người phải chứng kiến ước mơ được thấy các con mình trưởng thành ở Mỹ biến mất khi sự sống trong bà đã kiệt quệ ở tuổi bốn mươi sáu - bỗng nhiên dâng lên trong máu tôi và quét qua tôi bằng những đợt sóng. Một cảm giác cô đơn thấu đến tận xương tủy bao trùm lên tôi, đè nặng lên tôi đến mức tôi phải ngồi xuống lấy tay che mặt. Tôi không còn nước mắt để khóc. Tôi đã khóc cạn nước mắt từ lâu rồi, nhưng một nỗi đau mới và sự nhận thức mới đã sinh ra trong tôi. Sự hoài nghi đã tồn tại trong tôi bắt đầu tiêu tan; cảm giác nhức nhối mà một đứa bé trai nhìn chằm chằm vào gương từng cảm thấy giờ đây biến mất. Bản chất con người tôi đã được đánh thức, dâng lên chào đón tôi bằng một cái bắt tay khi tôi nhìn những tia nắng bình minh đầu tiên ló rạng phía chân trời. Tôi tự nhủ rằng có một sự khác biệt lớn giữa sống và chết và món quà lớn nhất mà một người có thể tặng cho một người khác là sự sống. Và tội lớn nhất mà một người gây ra cho người khác là lấy đi cuộc sống của người đó. So với điều ấy, mọi luật lệ và mọi tôn giáo trên thế giới đều là thứ yếu; lời lẽ và niềm tin đơn thuần mà người ta chọn để tin, và thông qua đó để giết chóc và thù hận. Cuộc sống của tôi sẽ không tồn tại theo cách đó, tôi hy vọng cuộc sống của các con tôi cũng vậy. Tôi rời khỏi nơi ấy để trở về New York mà lòng cảm thấy hạnh phúc trong nhận thức rằng bà ngoại của mình không phải chịu đựng tất cả những nỗi đau ấy và chết một cách vô ích.

Người dịch: Nguyễn Bích Lan
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.