- QUAN-ĐIỂM của BA-LÊ, MADRID và HUẾ về HÒA-ƯỚC SAIGON 1862.
- Phản-ứng của nhân dân Việt-Nam.
- Các giáo sĩ.
Nguyên bản NGUYỄN-XUÂN-THỌ
Bản dịch của NGUYỄN-HUY
L. T. S. : Đây là đoạn trích trong một tác phẩm chưa in, dầy chừng 400 trang đánh máy nhan đề : « Histoire de la pénétration française au Viet Nam (1858-1897) » của ông NGUYỄN-XUÂN-THỌ vừa mới gửi từ Paris về cho Sử Địa. Tác phẩm được mở đầu bởi lời giới thiệu nồng nhiệt của Giáo sư Maurice Baumont, hội viên Hàn Lâm Viện Pháp. Điểm đặc sắc của tác phẩm cũng như đoạn trích này là căn cứ trên những văn kiện chưa hề được công bố (documents officiels inédits), hiện được tàng trữ tại các Văn Khố Pháp và Tây Ban Nha mà tác giả đã dày công tìm tòi khảo cứu trong thời gian tác giả còn sửa soạn luận án Tiến sĩ nhan đề « L’Expédition franco-espagnole de Cochinchine » (1858-1862), được đệ trình năm 1956 tại Đại Học Sorbonne.
Vì để kịp thời hạn báo ra, rất tiếc không được bản dịch ra Việt ngữ của chính tác giả. Tuy vậy quí bạn đọc chắc cũng phần nào hài lòng về bản dịch này dù phải dịch có phần vội vã.
*
Sự hiện diện của người Pháp ở V.N được thừa nhận bởi hòa ước mới được ký kết tại Sài-Gòn ngày 5-6-1862.
Trước kia chính phủ Pháp do dự nhiều về đường lối chính trị theo đuổi ở Nam-Kỳ, đến nay đã tham khảo ý kiến của Đô đốc Bonard. Trong bản tường trình gửi cho chính phủ, vị Thống Đốc này viết :
« …Hiện nay thực sự chúng ta có một lãnh thổ rộng lớn… nằm ở giữa những dân tộc Á-Châu. Vậy chúng ta phải làm gì ?…
« - Trở lại hòa ước đã được phác họa trước Cách Mạng (1789) ?
« - Trở lại dần dần hòa ước trong thế kỷ vừa qua. Hòa ước Versailles ngày 28-11-1787 do Đức cha Bá-Đa-Lộc nhân danh Nguyễn-Phúc-Ánh ký với Bá tước Montmorin, đại diện cho vua Louis XVI, chấp thuận cho triều đình Annam chuộc lại theo như tập quán Á-Châu những tỉnh đã nhượng trong hòa ước, trừ một mảnh đất thu hẹp của thương điếm ?
« - Không thỏa mãn với 3 tỉnh đã nhượng bởi hòa ước và đòi chiếm nốt 3 tỉnh miền Tây-Nam-Kỳ ?
« - Chịu chấp nhận 3 tỉnh đã chiếm, tổ chức, bảo đảm an ninh và tự do thương mại dưới quyền người Pháp ở đó ? »
Quả nhiên như liệu trước, sau khi đã tán dương quá đáng hòa ước « của ông » mà ông đã tô điểm bằng đủ mọi điều tốt đẹp… và tóm lại hòa ước mang lại nhiều lợi ích cho nước Pháp… Bonard kết luận để giải đáp chính những câu hỏi mà ông đã nêu lên :
« …Trù tính đầu tiên là không những không hưởng một khoản đền bù nào mà lại làm tiêu tan tất cả những công lao khổ cực từ lúc đầu khởi chiến của quân đội viễn chinh và những phí tổn khổng lồ cho cuộc chiến.
« Trù tính lần thứ hai là mang lại cho Ngân Khố một món tiền tuy khá lớn nhưng vẫn còn kém số đã chi rất nhiều, trái lại còn đồng thời hủy diệt cả những thành quả tinh thần mà ta không thể coi rẻ được vì để bành trướng ảnh hưởng của chúng ta ở Viễn-Đông.
« Trù tính thứ ba là làm thỏa hiệp đổ vỡ, chiến tranh tái phát, lao đầu vào những cuộc chinh phục mới, tóm lại ta phiêu lưu trên một bình diện rộng lớn không lường trước được, mà hòa ước đã tạm thời đem lại cho chúng ta.
« Trù tính cuối cùng là đòi hỏi nhiều hy sinh nữa, nhưng có thể giúp ta tổ chức và sử dụng được xứ rộng lớn do chiến thắng đã đem lại cho ta. Những hy sinh đó cần thiết để duy trì mạnh mẽ ảnh hưởng mà chúng ta đã tạo được ở Viễn-Đông, nếu không muốn tốn thêm xương máu và tiền bạc ngoài mức độ cần thiết cho những biện pháp nửa chừng chẳng ích lợi gì cho hiện tại cũng như cho tương lai ». [1]
Khi nhắc lại cuộc xâm lăng Ấn-Độ và quần đảo Mã-Lai, do người Anh và Hòa-Lan chủ xướng chỉ được thi hành rất chậm chạp từng bước một, Bonard quyết tin rằng, với Hòa ước 1862, ông mang lại cho Pháp một căn cứ làm bàn đạp với một tương lai lớn lao hơn, một kỳ hạn nhanh chóng hơn nhiều và ông cũng tin rằng cái xứ rộng lớn tươi đẹp đó sẽ làm nước Pháp vinh dự và giầu có cũng như Ấn-Độ, Java đối với người Anh và Hòa-Lan.
Hòa ước hoàn toàn duy trì tình trạng chiến tranh (Status belli), những gì mà các người trước Bonard đã đòi không được và cố gắng chiếm cứ bằng võ lực thì nay được nhượng cho nước Pháp.
Tỉnh Biên-Hòa thêm cả những nhượng địa trước kia Pháp đòi hỏi và ngay cả việc tuần phòng quanh đảo Côn Sơn.
Nhờ Hải quân, nước Pháp được coi như làm chủ Nam-Kỳ và ngay cả việc thương mại trong những tỉnh chưa chiếm trừ Vĩnh-Long, tất nhiên nền thương mại đó chính yếu là ở Sài-Gòn.
Sự khai trương với Pháp của hải cảng Đà-Nẵng, Quảng-An, và Bàlạt, Quyền đặt một sứ thần ở Huế, bồi thường chiến phí, tất cả cái đó thúc đẩy mạnh mẽ sự bành trướng thương mại của thuộc địa đang phát sinh.
Hòa ước công nhận tự do tôn giáo ; cả sự dẫn độ những tên bất lương cũng được qui định trong đó.
Sau cùng, bởi chính điều kiện của điều XVII trong Hòa ước, theo như lời Bonard, tuế cống (tribut annuel) phải trả làm Napoléon III trở thành : « chủ tể tối thượng (Souverain arbitre) và lãnh chúa bá chủ (Seigneur suzerain) của đế quốc Annam rộng lớn ».
Nói đúng hơn, Bonard đã đưa nhanh chóng đến quyết định biến đổi quyền bảo hộ mà một đạo luật đã trao cho ông toàn quyền, thành sự thôn tính vô điều kiện. Sau đó, mặc dầu những cố gắng của người Việt và sự chống đối khá quan trọng của dư luận Pháp, nước Pháp chấp nhận sự đã rồi.
Đa số trong Quốc-Hội phản đối những cuộc viễn chinh bằng quân sự nhất là ở vùng xa xôi. Những lời phản kháng của họ thường vô hiệu vì lý do áp lực của chính quyền. Tiếc thay những kiểu can thiệp như thế thường xảy ra ở Quốc-Hội lại không do tinh thần phản đế hay chống đối xây dựng lại những quyết định của chính phủ. Quan điểm chính được bàn đến luôn luôn là vấn đề số tiền đã chi và dự chi.
Ở Pháp người ta nói rất nhiều đến văn minh, đến vĩ đại đến những đặc tính vô song chứ chẳng đề cập đến vấn đề tự do của dân tộc khác và đến quyền tự quyết của họ. Người ta ca tụng xâm lăng nếu không phải trả giá đắt. Đó là một trong những lý do khiến các tổng trưởng không quan tâm đến những can thiệp trên ; đằng khác nó cũng chẳng có ích lợi gì cho người Việt.
Báo chí ở Pháp giữ một vai trò quan trọng trong việc thổi phồng vụ Việt-Nam. Họ cố làm dư luận chú ý đến những cuộc viễn chinh, thao túng dư luận để đưa đến sự đồng ý với chính phủ. Lý lẽ luôn luôn được trình bày khéo léo và dĩ nhiên phần lỗi vẫn về phía Việt-Nam. Nhưng thực tình thì từ 60 năm nay, dư luận đã chán ngấy chiến tranh và cách mạng, nay chỉ mong sao được sống yên ổn và gần như hoàn toàn chẳng màng đoái gì đến việc xảy ra bên kia trái đất :
« Chả có gì để ký kết với Y-pha-Nho cả. Tổng Trưởng ngoại giao Pháp căn dặn như thế trong văn thư (tháng 4-1861) gửi cho Đại sứ ở Madrid. Y-pha-Nho phải bằng lòng với số tiền bồi thường mà Việt-Nam phải trả cho họ như cái giá sự can thiệp của họ tại Nam-Kỳ. » [2]
Khi gửi đến Tổng trưởng ngoại giao Thouvenel bản hòa ước vừa mới ký bởi Bonard, Tổng Trưởng Hải quân và Thuộc Địa Chasseloup Laubat lưu ý bạn đồng liêu trong một bức thơ mật viết tay đề ngày 24-8-1862 :
« …Ngoài vấn đề đất đai ra, Y-pha-Nho được tham dự vào tất cả mọi mối lợi và được hưởng một phần tiền chưa được ấn định hẳn trong số tiền bồi thường 20 triệu… »
Và ông nói thêm :
« …Tôi nhất định tin rằng những người kế tiếp chúng ta sẽ phải thừa hưởng nhiều khó khăn to tát nếu chúng ta nhượng lại cho Y-pha-Nho bất cứ một mảnh đất nào, nên tôi yêu cầu ông cố gắng hết mình để việc này không xảy ra như thế. Vả lại Y-pha-Nho chả có một quan hệ thiết thực nào để được hưởng một cái gì tại miền Tây-Nam-Kỳ… Họ đã có Phi-Luật-Tân… cho nên trong mọi trường hợp chúng ta phải giữ Sài-Gòn và Biên-Hòa, tuy ở vào thế khó khăn đứng bên cạnh chúng ta nhưng họ sẽ mau chóng trở thành chướng ngại vật cho sự thiết lập thuộc địa trên cả miền đất từ Biên-Hòa đến Cà-Mau. Bởi vì, tương lai dành cho chúng ta nếu biết lợi dụng những gì ta vừa mới làm.
« …Vì thế cho nên, tôi không thể ở bên ông để năn nỉ Hoàng đế bác bỏ mọi ý kiến nhượng địa, nhưng ta nên từ bỏ một phần khá lớn bồi thường và cũng nên qui định vài mối lợi cho việc chuyển nhượng thư tín, v.v… Tôi coi như việc tối quan trọng là riêng một mình chúng ta ở Nam-Kỳ mà thôi… » [3]
Quả nhiên, chẳng bao lâu chỉ còn có nước Pháp ở Nam-Kỳ ; còn nước đồng minh « bất hạnh », đồng ký bản Hòa ước đã tự rút lui không phải để bị yêu cầu và để nước Pháp toàn quyền tại Việt-Nam.
Ngầm « thừa nhận » kế hoạch của Pháp, chính phủ Y-pha-Nho, trong văn thư (disposition royale) của bộ Hải ngoại đề ngày 15-9-1863, bày tỏ với Đại tá Tổng tư lệnh kiêm khâm mạng Palanca Y Gutierrez rằng Hoàng Hậu chấp thuận bản Hòa ước và rất lấy làm hài lòng về tinh thần sốt sắng và ái quốc mà ông đã chứng tỏ trong sự hoàn tất nhiệm vụ đại diện Y-pha-Nho. Trong buổi tiếp kiến riêng ngày 30-8 dành cho Thiếu Tá Olabe người đã mang bản Hòa ước từ Sài-Gòn về, bà Hoàng hậu Isabelle đệ II với tư cách cá nhân lấy làm hân hoan về sự kết thúc tốt đẹp của chiến tranh như trên và bày tỏ lòng ưu ái của bà đối với binh sĩ « là những người được hoàng hậu vọng tưởng tới khi họ thắng trận cũng như khi họ chịu gian khổ ». [4]
Về phía Đại tá Carlos Palanca Y Gutierrez, ông đã viết với tư cách một chiến binh có kỷ luật :
« …Tôi không có ý định thấu triệt lý do riêng tư của chính phủ hoàng gia về việc từ bỏ sự chiếm cứ một mảnh đất xứ này. Cho nên tôi chỉ chứng minh những điều lợi do bản Hòa ước này mang lại, đối với bản Hòa ước tôi phải tuân theo chỉ thị ngày 22-9-1861 và sửa đổi chỉ thị ngày 25-2-1860. Theo những chỉ thị đó, tôi chỉ có thể được đòi hỏi :
« - Sự che chở các giáo sĩ và quyền tự do cư ngụ ở nơi thích hợp trong xứ.
« - Bồi thường chiến phí.
« - Điều kiện thương mại thuận lợi cho Y-pha-Nho cũng như cho Pháp.
« …Điều kiện của điều VIII đủ để quân đội Y-pha-Nho rút khỏi Nam-Kỳ một cách vẻ vang. Binh sĩ chúng ta đến đó đã trả thù cho những người tử đạo, giải thoát tín đồ công giáo khỏi cảnh bị hành quyết man rợ, dựng cây Thánh giá và xây đắp nền tảng đạo công giáo.
« Việc đó, phải, chỉ có việc đó thôi là lý do của cuộc viễn chinh, đấy là mục đích duy nhất mà tổ quốc và binh sĩ chúng ta theo đuổi. Những mục đích cao cả đó đã đạt được vì trong vương quốc An-nam còn lại đạo Thiên chúa Chân lý và nền văn minh thực sự… » [5]
Như ta thấy đó thực là lời biện hộ để ta suy nghĩ những lời chỉ trích vị khâm mạng Y-pha-Nho của những kẻ kém thông thạo về các công lao vô hiệu của ông trong suốt cuộc viễn chinh để cho Pháp đặt Y-pha-Nho vào đúng vị trí của họ vì không muốn cho người Y-pha-Nho hưởng lợi và coi họ không đáng kể.
Hình như Y-pha-Nho không có ẩn ý gì khi gây cuộc viễn chinh đã mang lại cho họ những kết quả quá nghèo nàn ; họ chỉ thực sự nghĩ đến một cuộc thị uy chớp nhoáng do vai trò của một nước bảo vệ giáo hội bắt buộc chứ không dự tính một cuộc chinh chiến lâu dài để chiếm đất.
Từ hơn thế kỷ nay, Y-pha-Nho chìm đắm dần dần trong suy nhược, mệt mỏi, và tàn phá của nội chiến. Toan tính cứu vãn Thiên Chúa giáo cũng gây nên vài sự trỗi dậy nho nhỏ bởi vì các tu sĩ có rất nhiều uy quyền ở « Escurial » tại đây đối với các quốc vương họ có thế lực rất mạnh hơn cả các bộ trưởng… Vì vậy Pháp có thể chẳng ngại nguy hiểm gì mà bỏ quên Y-pha-Nho và chú trọng đề nghị một số bồi thường chắc chắn cho sự tham dự và tính mạng binh sĩ đồng minh họ, bởi vì ban đầu họ chẳng làm gì cả để bảo đảm được trao tiền. Và Y-pha-Nho bằng lòng như thế.
Ngày 4-11-1862 Sứ thần Y-pha-Nho ở Ba-Lê viết cho Bộ trưởng Hải ngoại Pháp như sau :
« Triều đình của Hoàng Đế công giáo (Sa Majesté catholique) không có ý định đòi quyền lợi trong việc chia sẻ đất đai do quốc vương Annam nhượng lại …Từ bỏ những đất đai đó cho nước Pháp… đổi lại lấy một số bồi thường bằng tiền… Chi phí lên đến 9.500.000 quan ». [6]
Lúc ký hòa ước 1862, triều đình Huế thiên về một thỏa hiệp dễ dàng hơn cả chính thần dân của họ. Với sự cho phép hành đạo và nhường lại cho Pháp ba tỉnh, triều đình Huế đã tạo tình trạng khó khăn cho 3 tỉnh miền Tây hiện tại bị cắt rời khỏi lãnh thổ quốc gia.
Dầu chấp nhận trên bị thôi thúc bởi sự lo ngại cuộc nổi loạn của Tạ văn Phụng, cũng rắc rối thêm với phong trào nông dân ở Bắc-Kỳ và sự lo sợ của phong trào này lan tràn khắp nơi, tình cảm quốc gia cũng không kém bị xúc động.
Hòa ước được toàn thể dân Việt thờ ơ đón nhận. Với họ, chính sách đầu hàng hợp với triều đình Huế vì luôn luôn nghiêng về thỏa hiệp và luôn luôn thụ động vì do dự.
Khi Rigault de Genouilly rời Đà-Nẵng tháng 2-1859 và chỉ để lại một quân số nhỏ bé dĩ nhiên không thể nào phản công được, thế mà quân Việt chẳng có lý do gì phải giảm quân số, trái lại còn có thể điều động thêm từ hậu cứ đến, họ lại án-binh bất động. Đã có thể chống đối thắng lợi việc tiến quân của toàn binh đội Pháp Y-pha-Nho được binh thuyền yểm trợ, thì có lẽ quân Việt cũng rất có thể dễ dàng quét sạch và đẩy ra biển đội quân nhỏ bé đối diện trên. Thay vì hành động như trên và ít gì cũng toan tính như thế thì họ lại xây thành đắp lũy, khởi xướng chiến tranh địa đạo để chiếm từng thước đất và đành lòng quấy nhiễu địch quân bằng những đụng chạm nhỏ.
Làm sao giải thích được thái độ đó ?
Trong lúc quân Pháp – Y-pha-Nho chiếm Đà-Nẵng và Sài-Gòn, nhiều phe đảng đối địch nhau…
Có ba chính kiến chiếm ưu thế.
Ý kiến thứ nhất thuộc về nhóm Trương-Đăng-Quế, Phan-Thanh-Giản, Lưu-Lương, đó là ý kiến của cơ mật viện. Họ chủ trương :
« Chiến tranh không bằng hòa bình, tuy nhiên trước nhất là phải phòng thủ hữu hiệu để rồi có thể điều đình sau. Vào lúc này việc cần thiết là thủ. Rồi sau ta sẽ công và khởi đầu thương thuyết ».
Tóm lại : thủ để điều đình.
Đa số các đại thần trong triều đồng ý như trên và tin rằng : « Phải duy trì cuộc chiến, đợi cho kẻ thù đánh hết hơi rồi để điều đình ». Đó là ý kiến của nhóm Trần-Văn-Trung, Chu-Phúc-Ninh, Nguyễn-Hữu-Thanh, Lê-Dực, Lâm-Duy-Hiệp, v.v… được vua Tự-Đức chấp thuận.
Ý kiến thứ hai của nhóm thiểu số quan Đại thần như Tô-Trần, Phan-Hữu-Nghi, Trần-Văn-Vĩ, Lê-Hiệu-Hưu, Nguyễn-Đăng-Diên, Hồ-Sĩ-Thuận là đánh đến cùng và chủ trương công. Mặc dầu chỉ được một thiểu số các quan đại thần trong triều ủng hộ, chủ trương trên được gần hết các quan trấn thủ trong nước ủng hộ và được hậu thuẫn bởi các sĩ phu, nông dân và toàn dân.
Ý phe cực hữu đại diện bởi Lê-Chí-Tín, Đoàn-Thọ, Tôn-Thất-Thương, Tôn-Thất-Giáo, Nguyễn-Hảo tượng trưng cho ý kiến sau cùng là tán thành thương thuyết hòa bình vô điều kiện.
Khi quân Pháp rút khỏi Đà-Nẵng mang đại quân về Sài-Gòn, nhóm chủ trương đường lối « thủ để điều đình » tin tưởng là có lý ; địa vị của họ ở Triều đình được củng cố thêm, họ nghĩ rằng chẳng chóng thì chầy kẻ thù cũng phải bỏ cuộc. Đó là lý do mà Nguyễn-Tri-Phương với hàng ngàn binh sĩ, cả trăm đại bác cùng những chiến lũy kiên cố đã do dự trong việc giải phóng Đà-Nẵng trấn giữ bởi một nắm quân trong khi đại quân địch được chuyển vào Sài-Gòn hay sang Trung-Hoa.
Ở vùng Sài-Gòn cũng án binh như trên vì lý luận đó.
Và cuộc chiến đấu tiếp tục một cách thăng trầm cũng chỉ vì thái độ ngoan cố khó hiểu như trên của các quan đại thần ở Huế ; khi thấy binh lực đủ để công kích, quân Pháp – Y-pha-Nho thử tấn công vì giữ được thế chắc chiếm được vài thắng lợi nhờ yếu tố bất ngờ, nhưng họ vẫn bị cầm chân lại nhanh chóng, tấn công Nam-Kỳ, toan tính trở ra Đà-Nẵng, trại Mirador ; năm 1860 Nguyễn-Tri-Phương vào Nam chỉnh đốn lại quân đội, xây đắp thành trì, tổ chức phong tỏa địch quân mọi mặt, công kích đều đều cho địch thấm mệt : ở đấy cũng vậy, quân số địch không đáng kể vì đại quân đã sang Trung-Hoa. Và một lần nữa, ở trong Nam cũng như ở Trung, quân Việt chỉ chịu phát động những cuộc hành quân nhỏ mà chẳng chịu thử làm hết sức mình để đè bẹp số địch quân yếu kém kia. Sự thực quân Pháp rút khỏi Đà-Nẵng là vì họ muốn thế !
Quan điểm của Triều đình Huế hoàn toàn sai lầm ; nếu Page muốn điều đình với Tôn-Thất-Cáp, sứ giả của triều đình, là để hoãn binh, Ông đã minh chứng điều đó ngay sau khi chiến dịch Trung-Hoa chấm dứt, bằng cách tập trung lại các lực lượng để tấn công những người đã điều đình với ông.
Gần như trong suốt cuộc chiến, triều đình Huế cứ trù trừ như thế, do dự trước kẻ xâm lược, để mất mọi cơ hội thắng địch. Người Việt chỉ còn biết hối tiếc khuyết điểm trầm trọng này, gây nên bởi mối bất hòa giữa các quan đại thần tuy họ chẳng hoài nghi lòng ái quốc của các ông. Khi quân Pháp chiếm Sài-Gòn bằng võ lực, đánh tan quân Việt thì đã quá muộn để cho vua Tự-Đức có thể khởi sự từ thế mạnh rồi điều đình trong điều kiện thuận lợi những cuộc tranh luận trên tạo nên bầu không khí lo âu trong nước.
Rồi lại phát xuất từ triều đình Huế một chính sách đầu hàng mới, giống như hồi thời kỳ đen tối của thế kỷ trước.
Luôn luôn từ chối chiến đấu lúc thuận tiện, đến khi đó, vua Tự-Đức lại xin « chuộc » ba tỉnh Nam-Kỳ do quân Pháp chiếm đóng, cái tư thế « tự hạ mình » này giúp ta dễ hiểu tại sao người Pháp từ chối. Chính ngài đã để lại những trang sử buồn thảm. Ngay lúc đó, thần dân mất tin tưởng ở ngài và coi triều đình Huế như người xa lạ. Người ta sẽ thấy toàn dân : thân hào nhân sĩ và dân chúng nổi lên chống lại triều đình và những tên phản quốc.
*
Dân chúng Nam-Kỳ phủ nhận hòa ước mà sứ bộ Huế vừa ký ở Sài-Gòn với Pháp và Y-pha-Nho. Đặc sứ ủy nhiệm (Khâm sai) của vua Tự-Đức như Phan-Thanh-Giản và Lâm-Duy-Hiệp bị coi là những tên « phản quốc » và triều đình là « khi dân » : « Phan lâm mãi quốc, triều đình khi dân ».
Khi ký hòa ước 1862, triều đình Huế chủ bại còn dân Việt thì lại quá ái quốc. Trong những vần thơ sau đây của thi sĩ miền Nam, Phan-Văn-Trị, diễn tả tâm trạng dân chúng trong Nam vào thời buổi nguy khốn trên, ta thấy cùng với những lời trách móc, gay gắt đối với triều đình Huế, xen lẫn những tiếng khóc vong quốc và lòng cam phận trước cảnh khổ đau nhưng vẫn bao hàm một ý chí sắt đá chống kẻ ngoại xâm.
« …Tan nhà căm nỗi câu ly hận,
Cắt đất thương thay cuộc giảng hòa !
Gió bụi đòi cơn siêu ngã cỏ,
Ngậm cười hết nói nỗi quan ta…
…Thà thua xuống Lang, xuống Búng,
Kéo ra đầu giặc bởi chúng quân thần ».
Vua Tự-Đức chẳng làm gì thiết thực để giúp đỡ người dân miền Nam. Trái lại, thay vì chia sẻ với thần dân trong tình cảnh nguy nan này, hướng về họ và cùng với họ đi tìm phương thức hữu hiệu để phục hồi giang sơn, vua Tự-Đức chỉ lo sống trong hoàng thành kiên cố, để thì giờ làm thơ, ban hành đạo dụ và nhất là dùng công quỹ trong việc xây cất hoang phí như lăng tẩm Vạn Niên của ngài là một thí dụ điển hình nhất.
Bị vua Tự-Đức và triều đình bỏ rơi, dân chúng Nam-Kỳ quyết tâm chiến đấu đơn độc để gìn giữ di sản quốc gia được toàn vẹn. Và phong trào kháng chiến bành trướng không ngừng.
Để phát triển kinh tế miền Nam, Minh-Mạng và Tự-Đức đã gửi vào Nam-Kỳ nhiều đám dân. Các viên chức đặc phái hàng ngũ hóa những bọn « du thử du thực » những kẻ cùng đinh, thành lập những « dinh điền ». Còn các tù binh chiến tranh, người bị lưu đầy, binh sĩ thì được các quan võ tổ chức thành các đồn điền. Những người lính đồn điền (soldats laboureurs) do quan tổng trấn Nguyễn-Tri-Phương sáng lập vào giữa thế kỷ thứ 19 tiếp tục chiến đấu chống Pháp ở Nam-Kỳ và họ chỉ bị giải tán khi cuộc xâm chiếm miền Nam hoàn tất.
Cuộc kháng chiến vẫn tiếp tục hoạt động với những nông phu đồn điền, với Huyền-Toại, Phủ-Cao, Quản-Định, Quản-Lịch, Quản-Thanh, Thiên-Hộ-Dương, thủ-khoa Huân, v.v… Người ta vẫn còn thấy những lãnh tụ kháng chiến trên sau khi ký hòa ước và cho đến năm 1873. Hầu hết đã chiến đấu rất anh dũng và chết oai hùng.
*
Chúng tôi vừa mới phác họa sơ sài về tâm trạng và các phản ứng sau hòa ước 1862 của ba nước tham dự cuộc « chinh phạt » và hòa ước : Pháp, Y-pha-Nho và Việt-Nam.
Còn một nước thứ tư, ít gì cũng quan trọng như các nước trên, mà ta không thể bỏ qua được.
Lý do cuộc « chinh phạt » chính là các giáo sĩ : trong Hòa ước, một phần lớn các điều có dính dấp đến các giáo sĩ và tự do tuyệt đối để truyền bá đạo Thiên Chúa. Trong những ngày trọng đại, trong mỗi hành vi chính trị… và, dĩ nhiên, tôn giáo… ta đều thấy các giáo sĩ ở hàng đầu hoặc tích cực hoạt động trong hậu trường. Họ công nhận là đâu đâu họ cũng phải có mặt, phải được phát biểu ý kiến phải được đứng ở hàng đầu.
Đương nhiên trong các vụ rắc rối, trong tình trạng căng thẳng Pháp Việt đều có các giáo sĩ.
Các giáo sĩ có thể hài lòng về bản Hòa ước vì các đòi hỏi của họ đều được thỏa mãn. Trong một xứ Nam-Kỳ thuộc Pháp, họ tin chắc có thể hoàn toàn tự do như ý muốn, xâm nhập tới những làng hẻo lánh nhất, khuyến dụ thêm được một số đông theo đạo.
Nhưng mà, dù đã mãn nguyện chăng nữa, lòng ngoan cố vẫn khiến họ nổi giận ngay sau đó : phải chăng Đô Đốc Bonard dám tổ chức lại nền hành chánh bằng cách giải nhiệm khỏi các chức vụ dân sự các sĩ quan Pháp hoàn toàn chẳng hiểu gì về phong tục tập quán An-nam dù họ đã đảm nhiệm chức vụ đó từ lâu : Phải chăng ông dám chính thức tuyên bố để chính người Việt nắm lại quyền điều khiển công việc của họ mà chỉ bị giám định trước bởi các sĩ quan thuộc « Bản xứ sự vụ » (Affaires indigènes). Hơn nữa, phải chăng chính ông cho biết ông muốn chủ trương đường lối chính trị « khổng giáo ». Các giáo sĩ đều tức giận. Một trong các phát ngôn viên của họ, cố Launay, tuyên bố :
« Bonard cho dạy lại chữ nho và cho tái lập tước vị tiến sĩ, cử nhân xưa mà chẳng nghĩ rằng tốt hơn là nên cách xa người An-nam khỏi những gì có thể nuôi dưỡng tư tưởng quốc gia của họ, tức tinh thần chống Pháp ». [7]
Vậy, đối với các giáo sĩ trung thành với nguyên tắc là bắt phải theo quan điểm của họ và phủ nhận những gì bắt buộc bởi tập tục trước khi họ đến, đó là mối nguy cho công cuộc truyền giáo và chỉ có việc này là quan trọng nhất không còn là truyền bá tôn giáo nữa, và cố tình vượt khỏi sứ mạng tôn giáo để đi vào chính trị, các giáo sĩ hỗ trợ việc nô lệ hóa dân tộc Việt để tôn giáo họ được độc tôn.
Các giáo sĩ coi như khắp nơi, họ đều có địa vị, có quyền lo mọi việc, có quyền ra lệnh và khuyến cáo mọi người. Họ đã hiến mình cho thế tục cũng như cho giáo quyền.
Chúng ta đã thấy một giám mục, ông Bá-Đa Lộc, trở thành sứ giả ngoại giao của một ông vua ngoại đạo, rồi đi tuyển mộ người tình nguyện để ngăn trở điều ông coi là sự thiếu sót của chính phủ Pháp, kế đó, chính ông lại là một chiến sĩ không phải để đánh đuổi kẻ ngoại đạo mà để đặt lên ngai vàng Việt-Nam một người ngoại đạo theo ý ông.
Chúng ta còn thấy một giáo sĩ khá lạ lùng khác, nguyên chỉ là một kẻ viễn du, đó là cha Huc ; Cha đã không ngần ngại tâu riêng với hoàng đế Nã phá Luân đệ III để nhắc nhở là nước Pháp nên chiếm ngự Việt-Nam ; tuy nhiên, không phải là thừa khi chúng ta nhấn mạnh lại rằng cha Huc chưa hề ở Việt-Nam và cũng chẳng hiểu gì về xứ này. Nhưng, không sao, không những ông tự coi có đầy đủ thẩm quyền nói lên điều đó, mà vì là tu sĩ nên sự vận động của ông đã được Hoàng Đế coi làm trọng mặc dầu, cũng cuộc vận động đó nếu của người khác sẽ không được đệ chuyển lên.
Tuy nhiên, chỉ một giáo sĩ tầm thường cũng có thể tâu trình lên Hoàng Đế những ý kiến chính trị, thì toàn thể giáo sĩ ở Việt-Nam chẳng ngại ngùng gì quấy rầy luôn luôn các Đô Đốc Thống Đốc.
Không ai phủ nhận tinh thần tôn giáo của các vị Đô Đốc này cả, khởi đầu họ đã cố gắng sống hòa thuận với những người đồng hương được trao phó một sứ mạng giáo quyền cao cả ; và cũng đôi khi họ cũng toan tính dùng những người này để thu lượm tin tức nội địa, về tâm tính người Việt, về các phong trào và tài nguyên… Nhưng mà bình thường, sự chỉ dẫn chẳng đích xác bao nhiêu, và nhiều lần các Đô Đốc đã phải xác nhận họ không thể tin cậy các giáo sĩ như nhân viên tình báo tin cẩn được.
Trong nhiệm vụ Bình-Định, không những các Đô Đốc không thể trông cậy vào những giáo sĩ mà còn luôn luôn than phiền một cách cay đắng vì tác phong của họ, và những khó khăn do họ gây nên cho giới chức quyền quân chính.
Ngay từ ngày 25-12-1859, Đô Đốc Page viết cho Bộ Trưởng Hải quân như sau :
*
…Ban đầu triều đại Tự-Đức, vua rất sẵn lòng đối với họ (các Giáo sĩ) ; Ngài cũng đã truyền lệnh cho quân ở các địa phương đối xử khoan hồng với họ trong trường hợp khinh tội, vi phạm luật pháp nho nhỏ ! Những đám dân công giáo do các giáo sĩ điều khiển, trở nên ngạo mạn (xấc xược ?) đến nỗi họ phủ nhận mọi quyền uy của quan lại, công khai nổi loạn tuyên bố rằng người công giáo không thể tuân theo các tín đồ của tôn giáo khác (…)
Ở đâu cũng rối loạn, trẻ em, con gái bị bắt cóc khỏi gia đình để bắt theo đạo, vì những hành động và phản động (tôi tóm tắt trong hai chữ đó tất cả tờ cáo trạng) tất cả các vụ nổi loạn đều mang danh hiệu của các giáo sĩ hoặc do họ chủ xướng ; họ đã xen vào một cách quá đáng mọi hội kín và ngay cả những hội tệ nhất chống lại vua ; dưới một ảnh hưởng như thế, sự sụp đổ của nhà nước và quốc gia ở ngay trước mắt.
Để gìn giữ trật tự ở tỉnh Sài-Gòn, tôi phải cho thành lập một thị sảnh. Thật ngạc nhiên làm sao khi hôm sau các giáo sĩ đến thưa với tôi rằng người công giáo Annam không thể tuân lệnh một chính quyền ngoại đạo ; họ nói thế đó !
Sao, ngay cả đối với cảnh sát của thị xã ư ? Cả việc ngăn cản bọn vô lại cướp bóc thành phố nữa ?
Và tôi lấy làm thẹn thùng phải thú nhận với Ngài là các nguyên tắc trên được các giáo sĩ công giáo công nhiên tỏ bày.
Thiệt tình tôi không dám thêm vào một chi tiết khác mà những người có máu mặt trong xứ này xác nhận với tôi. Tôi chỉ muốn tin điều đó khi sự thật hiển nhiên bắt buộc. Vả lại, không một người Annam công giáo nào ngần ngại xin đi lính cho chúng ta. Ông Vua ngoại đạo ở Nam-Kỳ không phải là vua của họ !
Đến đây có lẽ Ngài hiểu làm sao mà Vua và quan lại coi các giáo sĩ Thiên chúa như kẻ thù… [8]
*
Trong một bức mật thơ khác đề ngày 28-7-1868 viết tại Tổng hành dinh Sài-Gòn gửi cho Tổng Trưởng Hải quân, Đô đốc Bonard, người kế vị Page, cũng nhận xét những thói trên của giáo sĩ :
*
…Chính do các giáo sĩ mà có thể xảy ra những rắc rối trầm trọng nhất, nếu không những chỉ tích cực che chở họ mà ta còn hậu thuẫn họ dưới chiêu bài tôn giáo trao các âm mưu chính trị nhằm lật đổ chính quyền hiện hữu. Tiếc thay, thường rất nhiều giáo sĩ đã để lôi cuốn vào những âm mưu trên và tất cả đều không từ bỏ việc đó. Ủng hộ họ trong đường lối này thật nguy hiểm vì họ sẽ trở thành những kẻ loạn đảng thực sự chứ không phải người tử đạo nữa.
Thưa Ông Tổng Trưởng, nhận xét trên của tôi căn cứ vào những lí do sau : Không ai có thể chối cãi là phần lớn chiến tranh Nam-Kỳ gây ra bởi sự kêu nài của Giáo sĩ Pháp, Y-pha-Nho than phiền họ bị triều đình Huế ngược đãi bất công.
Và đây là sự cấu tạo tâm trạng của những người tu hành trên : Nam-Kỳ được chia thành giáo khu khác nhau ; mỗi giáo khu do một giám mục cai quản, có lẽ, một tổ chức trung ương ở Âu Châu điều khiển chung tất cả họ, điều này tôi không được rõ, nhưng mà mỗi vị trong một giáo khu đều hành động gần như theo ý mình và bo bo gìn giữ không để hàng xóm can thiệp vào địa phận rộng lớn mà họ kể như cai quản về mặt đạo. Tất cả đều ấp ủ ý nghĩ trở lại cái thời mà giám mục Bá-Đa-Lộc thực sự làm chúa tể Nam-Kỳ, vào thời đó mọi việc đều thi hành theo lời chỉ bảo và cho phép của ông.
Để đạt được mục tiêu này, đây là những phương tiện được áp dụng : chẳng những không chịu nhìn nhận là các vị vua kế vì triều đại Gia-Long đều chịu chiều theo ý thích của họ, các giáo sĩ còn phủ nhận sự chính thống của các vua này và tìm cách tiến cử một người khác mang lại nhiều đảm bảo hơn để tiến đến mục tiêu của họ, nếu triều đại hiện hữu bị lật đổ. Để soán ngôi, một số trong bọn họ nại lý do là vua Gia-Long đã nhường ngôi lại cho con thứ thay vì con trưởng, đấy là phương thức được sử dụng khéo léo ở Viễn-Đông. Các giáo sĩ Pháp miền Tây-Nam-Kỳ cũng đồng ý như thế. Còn các giáo sĩ thuộc phần vương quốc Annam gần Huế, tỉnh trung gian giữa Bắc-Kỳ và Trung Kỳ thì họ đi xa nữa trong sự bài bác tính cách chính thống của dòng họ đang trị vì : Họ coi chính vua Gia-Long như một kẻ tiếm ngôi và đi tìm con cháu nhà Lê, một trong những quan Đại Thần đã truất phế các vua của dòng họ sau khi bị liệt vào hạng vua ngọa triều.
Tôi tin rằng các cha dòng dominicain Y-pha-Nho còn hăng hái và chấp nhất hơn cả giáo sĩ Pháp, họ liên kết với nhau.
Các tu viện ở Trung-Hoa đã đón nhận một người dòng dõi nhà Lê chẳng rõ đích thực hay không ; và sau khi hành xác ông ta trong những điều nhục nhằn, sau khi đi đến cả việc bắt giữ cửa tu viện, các tu sĩ cấp tiến này đề cử ông ấy lên đế vị ; nếu kế hoạch thành công, họ tin tưởng chắc chắn sẽ bảo tồn được ảnh hưởng đối với vị này.
Trong tình trạng hiện tại và dựa theo những diễn văn và việc làm của các giáo sĩ Pháp thuộc nhóm khác nhau ở Nam-Kỳ thuộc Pháp, họ đến phải bỏ kỳ vọng chính trị xưa, hy vọng ảnh hưởng sự chiếm đóng và chiếm hữu của chúng ta, dù không ban cho họ quyền hành tuyệt đối như của giám mục Bá-Đa-Lộc, nhưng cũng cho phép họ có một ưu thế khá lớn mà hình như lúc này họ rất bằng lòng vậy. Với sự cương quyết và thận trọng ta có thể bắt họ ở thế vừa phải của ảnh hưởng mà họ muốn.
Các giáo sĩ ở vùng gần Huế còn lâu mới chấp nhận biện pháp hòa giải này ; chỉ vài người tán thành yếu ớt, nhưng đa số vì những bất hòa và thế lực của họ, có khuynh hướng chứng tỏ không từ bỏ tư tưởng cấp tiến của họ : Theo lời khuyên của tôi là đừng hấp tấp, Đức giám mục và vài cộng sự viên thông minh nhất của ông còn ở lại Nam-Kỳ và hứa sẽ hành động thận trọng khi trở về xứ Đạo, vì hòa bình phải được củng cố.
Nhưng cùng với những tên trộm cướp thực sự, những giáo sĩ nóng nảy đã lên đường làm dấu thánh giá : từ đó có thể xảy ra những khó khăn trầm trọng nếu ta không hành động thật thận trọng trong sự che chở mà chắc chắn họ sẽ không quên với tư cách người Pháp hay tín đồ Thiên chúa để thỉnh cầu khi bị liên lụy vào những âm mưu chính trị, mặc kệ tất cả các lời khuyên của tôi đối với họ.
Về phần các tu sĩ dòng dominicain Y-pha-Nho thường ở miền Bắc Bắc-Kỳ thì không thể nào cai trị được họ : nóng nảy và cuồng tín hết sức, một số khá đông trong bọn họ xuất thân từ đám du kích và đảng viên của Don Carlos đã từ bỏ Y-pha-Nho ; họ sẵn lòng đeo gươm mang súng cùng cây thánh giá và tham dự hết lòng vào những cuộc nổi loạn làm đau khổ Bắc-Kỳ. [9]
*
Sau khi chấm dứt văn thơ, Bonard viết thêm để nhấn mạnh một lần nữa với ông Tổng Trưởng về những nguy hiểm cho nước Pháp nếu còn ủng hộ các giáo sĩ, và ông minh chứng những trách nhiệm của họ ở Việt-Nam :
« T.B. – Tôi vừa mới nhận được những tin tức mới mẻ và vội đệ trình gấp lên Ngài : Tôi kính xin Ngài thận trọng thẩm định những ý kiến trên, bởi vì dần dần theo như ngôn ngữ và cử chỉ của các giáo sĩ ở Nam-Kỳ thì họ làm mọi cố gắng để đưa chính phủ vào con đường bất hạnh mà họ theo đuổi, đó là lật đổ vua Tự-Đức.
« Mặc dầu tất cả những lời cảnh cáo của tôi dù tôi đã buộc họ phải chờ chính phủ của Hoàng Đế phán quyết vì vấn đề phê chuẩn hòa ước (5-6-1862) và những hậu quả của nó, họ vẫn không ngớt cử ra từ Huế những mật sứ đầy ác ý và bất lương.
« Tôi đã phải nhất quyết từ chối cấp thông hành cho họ đến đó cho đến khi tôi nhận được lệnh từ Pháp ; họ cũng chẳng tôn trọng gì cả, và có lẽ Ngài sẽ nhận được những lời than phiền về vấn đề trên, bởi vì các giáo sĩ lên đường viễn chinh kiểu thập tự quân và chẳng dấu diếm kế hoạch của họ và lại coi thường cả các điều khoản trong Hòa ước, mặc dầu tôi không ngớt khuyên họ thận trọng.
« Đó là mối nguy hiểm mà tôi phải trình báo lên Ngài bởi vì nếu ta không cẩn thận đề phòng đối với những bản tường trình của các giáo sĩ đó, họ sẽ không lùi bước trước bất cứ một phương tiện nào để đạt đến mục đích bằng cách lôi cuốn chính phủ vào con đường bất lợi cho chính quyền lợi của Pháp ». [10]
« Dù thế nào chăng nữa, các vua chúa, quan lại và dân tộc Việt biểu lộ lòng thù nghịch không đối với lý tưởng tôn giáo mà là nhắm vào tinh thần phiến loạn và áp chế của những kẻ phục vụ Giáo Hội. Lòng thù nghịch nầy được biện minh bởi sự suy sụp chậm chạp quyền hành nhà nước, cuộc xâm lăng liên tục Việt-Nam mà ta đang tham dự và việc Pháp đô hộ hoàn toàn xứ này. Truyền giáo và thực dân đi đôi với nhau ».
*
Trong phiên họp ngày 22-5-1804 của Tham chính Viện, Nã phá Luân đệ I đã vạch rõ vai trò của giáo sĩ trong việc khai thác thuộc địa như sau :
« Ý định của trẫm là thiết lập lại nhà Truyền giáo hải ngoại ; các tu sĩ này rất hữu ích cho trẫm ở Á-Châu, Phi châu và Mỹ châu ; trẫm sẽ phái họ đi dò thám tình hình ở đó. Áo nhà tu che chở và giúp họ che đậy được mục đích chính trị và thương mại. Đức giáo Hoàng sẽ không ở La mã nữa, mà ở Ba-Lê. Giới tăng lữ hài lòng và chấp nhận việc thay đổi này ; Trẫm sẽ cấp cho họ số niên kim đầu tiên là 15.000 quan. Ta đều biết, các nhà truyền giáo hải ngoại hữu ích biết bao như những người do thám của ngoại giao ở Trung-Hoa, Nhật và toàn Á-Châu. Ngay cả ở Phi Châu và Syrie ; chẳng mang một danh nghĩa chính thức nào mà lại tốn kém ít và được người bản xứ kính nể, họ không thể làm chính quyền phải liên lụy hay bị sỉ nhục. Lòng nhiệt thành về tôn giáo khích lệ các tu sĩ làm việc và mạo hiểm hơn cả một viên chức dân sự nhiều.
« Các giáo sĩ có thể sẽ giúp đỡ quan điểm thuộc địa của trẫm ở Ai Cập và miền duyên hải Phi châu… » [11]
*
Còn việc các giáo sĩ xen vào công chuyện quân sự và dân chính của Pháp, thì được trình bày trong bức thư đề ngày 29-1-1859 của đô đốc Rigault de Genouilly viết từ Đà-Nẵng cho Tổng trưởng hải quân :
« …Điều sẽ làm Ngài khó tin là cuộc xâm chiếm Saigon, khẩn cầu cách đây một tháng bởi Đức cha Pellerin, giám mục địa phận Biblos ; tuy chỉ đến với tư cách một thông ngôn, khi cuộc viễn chinh được quyết định. Ngài lại là người đả kích và phản kháng mãnh liệt nhất.
« Ngài bị dẫn dụ bởi Cha Cả Gaentza thuộc dòng Dominicains Y-pha-Nho (cũng là cha tuyên úy bề trên trong quân đội Y-pha-Nho) ; dĩ nhiên, ông này chỉ mơ đến Bắc-Kỳ và muốn Y-pha-Nho chiến thắng tại đây. Trong phòng họp sĩ quan, Ngài công nhiên thuyết giáo chống lại kế hoạch và quan điểm của vị tổng tư lệnh và nói rằng tôi không hiểu thấu đáo dự tính của Chính Phủ và chính Ngài mới am hiểu, rằng tôi sẽ phải biện minh về thái độ của tôi.
« Tình hình căng thẳng đến nỗi tôi tính cho bắt giữ Đức Cha Pellerin để đưa đi Hồng-Kông. Nhưng trước khi làm điều tai tiếng đó, phương hại cho công cuộc viễn chinh mang mục đích chính là tôn giáo và có thể gây tiếng vang lớn tại Pháp, tôi thử để các giáo sĩ đồng chí của Ngài và cha Pelletier, tuyên úy sư đoàn và cũng là người có ít nhiều ảnh hưởng đối với tính tình hung hăng của Ngài, thuyết phục là Ngài đã tỏ ra thái quá và tốt hơn hết là Ngài nên trở về Hồng-Kông.
« Sau khi bàn cãi nhiều về cái sứ mạng chính trị của Ngài, họ đã thắng thế, và chính Đức cha Pellerin đều xin tôi trở về Hồng-Kông.
« Việc Đức cha Pellerin ra đi, làm lắng dịu các điều phiền nhiễu mà Đại Tá Lanzarote (tư lệnh đội viễn chinh Y-pha-Nho) mang đến cho tôi, và có lý do để ta nghĩ những điều đó do tâm tính hiếu động và lo âu của cha Gaentza gây nên. Thực ra, giữa hai người thì chính cha Pellerin bị cha Gaentza giựt dây nhiều hơn.
« Thưa Ngài, đấy là tất cả những khó khăn tôi phải đối phó khi hành động ». [12]
*
Chính người Y-pha-Nho cũng nhiều lần nói lên những hành động quá đáng của giáo sĩ.
Khi thông báo để chính phủ ông biết việc ký hòa ước 1862, chính Palanca viết về các giáo sĩ như sau :
« (…Hòa ước) đồng ý là không ai bị bắt buộc theo Thiên chúa giáo. Đôi khi một hành động quá sốt sắng đã làm vượt quá mức ôn hòa… và gây nên những hậu quả thảm hại khiến chính quyền Annam phải áp dụng biện pháp mạnh. Các giáo sĩ tại Nam-Kỳ bị coi như những kẻ xúi dục nổi loạn, những viên chức chính trị của một triều đại đang mong mỏi triều đại tại vị sụp đổ, và như một mối đe dọa nền an ninh công cộng. Vài giáo sĩ và giám mục Nam-Kỳ đòi hỏi cho họ và giáo dân trong nước những đặc ân quá đáng và quyền bất khả xâm phạm ; và cũng đòi hỏi cả quyền lợi chính trị xen lẫn với quyền lợi tôn giáo… » [13]
Vài tài liệu mà chúng tôi vừa viện dẫn được chọn lọc trong số nhiều tài liệu khác, vì tài liệu này không thể bị nghi ngờ có thành kiến hoặc khuynh hướng chống tôn giáo. Tự nó, nó cũng quá rõ ràng rồi.
Các đô đốc Pháp thời đó phải cư xử làm sao để được chấp nhận bởi chính phủ và những quốc vương nặng tinh thần tôn giáo. Vậy mà, mỗi khi phản đối, họ đều trình với vị Tổng trưởng của họ bằng những lời lẽ rõ ràng nhất.
Gần như không thể quan niệm được là có một Đại tá trong quân đội hoàng gia công giáo [14], sau được vinh thăng Thống Chế, người được Triều đình hoàn toàn tín cẩn, lại dám chỉ trích các tu sĩ Y-pha-Nho trong công văn chính thức gửi cho một viên chức chính phủ, dù ngay cả việc ông cân nhắc lời lẽ để chỉ trích một cách kín đáo nhất.
Cho đến nay khi đề cập đến các giáo sĩ ở Việt-Nam phần nhiều các sử gia và văn sĩ đều coi họ như nạn nhân của cơn thịnh nộ ghê gớm của vua quan : nhiều người chết như « tử đạo ». Họ cố giữ gìn không nói lên sự thật. Chưa một ai tiết lộ hành vi đáng trách của họ và dưới cáo tố yếu kiện (chefs d’accusation) nào mà pháp luật Việt-Nam đã dựa vào để hại họ một cách chính đáng.
Vậy, các vua Minh-Mạng, Thiệu-Trị, Tự-Đức cùng triều thần không lầm lẫn khi thừa nhận lời tuyên bố của Lamartine ngày 3-8-1844 : « Trong tư tưởng của tôi, tôi thấy bất cứ loại hiệp hội nào mà hưng thịnh đều bất lợi, nguy hiểm và tai hại cho quốc gia và gia đình ».
Các Ngài cũng có lý cùng Guizot kết luận rằng : « Nhà nước phải thế tục », hay với CAVOUR : « Nhà nước phải được tự do ». Đấy là phương cách hữu hiệu duy nhất để giải phóng dân Việt.
❀ ❀ ❀
[1] Correspondance de Cochinchine, Tome VI, pp. 130 à 147. Archives du Ministère de la France d’Outre Mer, Paris.
[2] Mémoires et Documents Asie, Tome 28, p. 85, Archives du Ministère des Affaires étrangères, Paris.
[3] Mémoires et Documents Asie, Tome 28, pp. 89-90.
[4] Documents diplomatiques espagnols. Ministère des relations extérieures, Madrid. (Ces documents ne sont pas classsés, aussi nous ne pouvons pas donner les côtés).
[5] Carlos Palanca Y Gutierrez Réséna historica de la expedicion de Cochinchina, Madrid, 1869, p. 152.
[6] Mémoires et Documents Asie, Tome 28, pp. 151 à 154.
[7] Cité par J. Chesneaux. Contribution à l’histoire de la nation vietnamienne Paris, 1955, p. 115.
[8] Mémoires et Document Asie quyển 27, trang 426 đến 434 (tài liệu chưa in).
[9] Mémoires et Documents Asie, Tome 28, pp.85 à 88 (Document inédit)
[10] Mémoires et Documents Asie, Tome 28, pp.85 à 88 (Document inédit).
[11] Opinions de Napoléon, par le baron Pelet, Paris 1833.
[12] Archives Nationales, Paris ; Série BB 4, Vol 769.
[13] Documents diplomatiques espagnols, Madrid.
[14] Hoàng gia Tây Ban Nha (dịch giả ghi chú).