SƠN-NAM
Vùng chợ Rạch-Giá (nay là tỉnh lỵ Kiên-Giang) hồi cuối thế kỷ thứ 19, lúc ông Nguyễn-Trung-Trực dấy binh là nơi còn sầm uất kém xa chợ Vĩnh-Long, Gò-Công, Mỹ-Tho. Đời Tự-Đức, Kiên-Giang là huyện lỵ nằm trong tỉnh Hà-Tiên. Thử tra cứu Đại Nam Nhứt Thống Chí (bản dịch Tu-Trai Nguyễn-Tạo), chúng ta thấy chợ Rạch-Giá tuy « phố xá liên lạc, ghe luôn đến đậu đông đảo » nhưng thiếu trường học ! Nhân tài của Rạch-Giá thật hiếm hoi, dường như chỉ có một người là Huỳnh-Mẫn-Đạt, làm đến chức Án sát ở Định-Tường năm 1861. Ông Đạt bị vua Tự-Đức cách chức cùng với một loạt quan văn quan võ khác về tội để cho giặc Pháp chiếm Gia-Định, Định-Tường. Sự nghiệp ông còn lại vài bài bát cú. Theo Quốc Âm Thi Hiệp Tuyển của Lê-Quang-Chiểu (Saigon. Claude et Cie, 1903), đó là « ông Tuần Phủ Đạo ở Hà-Tiên ».
Tại chợ có miễu Hội Đồng, chùa Bắc-Đế, đền Nguyễn-Văn-Điều. Nguyễn-Văn-Điều « nguyên quản cơ Vĩnh-Long, bị trận vong được chức phó quản cơ » năm Minh-Mạng 21 (1840) [1]. Thành tích ông Nguyễn-Văn-Điều là dẹp giặc Miên, đền ấy hãy còn, ông bị giết tại giếng Cây-Trâm, xóm Rạch-Mẽo.
Mục Nhân vật và Liệt nữ, tỉnh Hà-Tiên, trong Đại Nam Nhứt Thống Chí chỉ ghi có 2 nhân vật ở chợ Hà-Tiên (Mạc-Cửu và Mạc-Thiên-Tứ), bốn nhân vật người còn lại đều là người ở Long-Xuyên (Cà-Mau) và một liệt nữ cũng ở đấy.
Chúng tôi dẫn chứng dông dài như thế để xác nhận : Vùng chợ Rạch-Giá là nơi mua bán (hải cảng nhỏ) và làm rẫy, người Hoa-Kiều ở phố xá, người Miên và người Hoa-Kiều chiếm vùng ngoại ô. Ngày nay, gần chợ, chúng ta còn thấy những ngôi chùa Miên : chùa Phật Lớn, chùa Láng-Cát.
Bởi vậy, trước khi đánh chợ Rạch-Giá, ông Nguyễn-Trung-Trực đã chọn lựa một vùng ở xa chợ hàng mười kí-lô-mét để làm căn cứ : xóm Tà-Niên. Chợ Rạch-Giá là nơi có sòng bạc, nơi mua bán á phiện lậu thuế, nhân tâm bất lợi. Thực dân Pháp chiếm tỉnh lỵ Hà-Tiên là các quan cựu trào ở Rạch-Giá đầu hàng theo, giặc không tốn một phát đạn. Chiếm được Rạch-Giá, giặc kiểm soát ngay việc mua bán á phiện, tên François Denot coi sở Thương-chánh đến năm sau thì bị nghĩa quân giết. Đây là nguồn lợi quan trọng : thuở ấy và mãi đến 1945, tàu buồm Hải-Nam qua lại, ghé chợ Rạch-Giá, trên đường đi Hạ-Châu (Singapour). Người Hoa-Kiều ở Hà-Tiên, Sóc-Trăng, Bạc-Liêu tiêu thụ á phiện nhiều.
Chợ Rạch-Giá chia ra hai khu vực, do con Rạch-Giá (giá, tên một loại cây tạp) làm ranh giới. Thời đàng cựu, tả ngạn là vùng chợ với phố xá, chùa. Đó là làng Vĩnh-Hòa (đọc là Huề), ngoại ô là xóm rẫy, thuộc làng Vân-Tập.
Hữu ngạn là làng Thanh-Lương, nằm trên giồng đất cao chạy dài theo bờ biển, có người Miên cư ngụ từ lâu (chùa Phật Lớn). Làng Thanh-Lương còn một di tích đặc biệt là « chùa ông Thần », có lẽ ngôi chùa nầy trước kia là đình làng.
Người Pháp cho thiết kế làng Thanh-Lương để lập khu vực hành chánh. Đồn giặc ở sát mé biển, kiểm soát ghe thuyền ra vào hải cảng.
Trước khi người Pháp đến, không có cái ngôi đình nào gọi là đình Vĩnh-Thanh-Vân cả vì thuở ấy ba làng chưa sáp nhập lại. Ngôi đình gọi là đền thờ Nguyễn-Trung-Trực ngày nay ở gần mé biển là mới xây cất sau. Nền của đình có thể gần đúng với vị trí mà nghĩa quân tụ họp, trước khi tấn công đồn Rạch-Giá.
Đồn Rạch-Giá, lúc bị tấn công, nằm ở vị trí nào ?
Chúng ta có thể nói : Nó ở gần tòa hành chánh ngày nay, xê xít chừng vài mươi thước. Nghĩa quân tấn công đồn Kiên-Giang, tên chủ sở Thương-chánh chạy ra ngoài, ngã gục chết luôn, chắc là bị đâm. Bọn Pháp sau nầy xây cái trụ nhỏ để kỷ niệm, trụ nằm trên con đường ngăn cách tòa hành chánh và tòa án thời Pháp thuộc.
Trong tập kỷ yếu Đông-Dương Học Hội (Bulletin de la Société des Études Indochinoises), số XV, năm 1940 (La vie et l’oeuvre de Luro), chúng ta gặp cái hình do Luro vẽ lại. Đó là Tòa-Bố (inspection) ở Cai-Lậy vào năm 1865, nhà trệt bốn căn, trại lính ở một bên, dưới bến có cầu và cái thang thọc xuống nước.
Quyển « La Cochinchine et ses habitants », bác sĩ Baurac soạn, do Rey, Curiol et Cie ấn hành vào năm 1894 có mấy bức ảnh chụp, làm bản kẽm khá rõ về chợ Rạch-Giá. Sau khi bị tấn công năm 1868, Tòa-Bố xây cất lại ; kiểu nhà trệt bánh ếch ba căn, có chái, cửa lá sách. Ty Bưu Điện cùng một kiểu với Tòa-Bố. Cửa biển Rạch-Giá còn bùn lầy, nhà lá nằm thấp lè tè. Bên bờ rạch, tức là bến chợ, người ta đóng cừ, lấy ván be lại cho bờ khỏi lở sụp. Phố lợp ngói, có một căn lầu, dưới rạch, ghe cà-vom với kiểu mui vuông, vách mui bằng ván, nóc mui lợp lá có vỉ tre dằn lên trên.
II. VÙNG PHỤ CẬN LIÊN QUAN ĐẾN CUỘC KHỞI NGHĨA
Trong lời khai với nhà cầm quyền Pháp tại Sài-Gòn, ông Nguyễn-Trung-Trực nhìn nhận rằng đã gom quân sĩ tại Tà-Niên rồi từ Tà-Niên kéo ra Rạch-Giá, bằng đường biển, tấn công bất ngờ.Trước mặt kẻ thù, ông Nguyễn trả lời khéo léo với mục đích bảo vệ những người đã giúp đỡ nghĩa quân như ông huyện Hiển, ở Rạch-Giá (chợ Rạch-Giá hãy còn dấu tích kinh ông Hiển, nay đã lấp), hoặc một số thân hào ở Phú-Quốc.
Nếu ông khai rằng đã ở xóm Tà-Niên khá lâu thì ắt là dân xóm nầy sẽ bị trả thù. Theo ông, Tà-Niên chỉ là điểm để tập trung nghĩa quân.
Từ đâu tập trung đến ? Ông Nguyễn-Trung-Trực không nói rõ nhưng A. Schreiner (Abrégé de l’Histoire d’Annam) cho biết là ở Sân-Chim.
Trước tiên, xin nói về vùng SÂN-CHIM.
Ở tả ngạn sông Cái-Lớn, di tích Sân-Chim hãy còn. Đại Nam Nhứt Thống Chí (bản dịch nói trên), tỉnh Hà-Tiên, mục Thị điếm ghi là « Điểu đình », một trong bốn chợ phố quan trọng trong tỉnh. Chúng tôi đã viết bài về Sân-Chim (phần phụ lục của Tìm Hiểu Đất Hậu-Giang, Phù Sa xuất bản, 1959), xin tóm tắt lại vài nét : chim lông ô (marabout) tập trung từng bầy trong rừng, làm ổ nở con. Đó là nguồn lợi thiên nhiên, đời Tự-Đức, muốn khai thác thì phải đấu thầu, nộp thuế. Lông chim lông ô thời xưa quí giá như lông vịt ngày nay nhưng có công dụng khác. Người Hải-Nam mua lông, đem về kết quạt, loại quạt sang trọng có cán bằng xương bò hay bằng ngà dành riêng cho bực phú hào Trung-Hoa ở Mã-Lai, Nam-Dương. Mỗi sân, một mùa, người ta giết đến hai ba chục ngàn con. Đến mùa, tàu buôn Hải-Nam vào sông Cái-Lớn, đậu tấp nập. Khai thác Sân-Chim đòi hỏi nhiều nhân công, nhân công làm việc với giá cao. Đây là ven rừng U-Minh, Đại Nam Nhứt Thống Chí ghi là « ở địa phận thôn Đông-An và thôn Vĩnh-Hòa ».
Đông-An nay hãy còn tên cũ, nói cho đúng là Đông-Yên.
Vĩnh-Hòa vẫn là làng Vĩnh-Hòa và ở đây còn ngôi đình cổ kính, thời Pháp thuộc, dân chúng làm lễ kỳ-yên khá long trọng. Hương chức đình bảo rằng đình Vĩnh-Hòa thờ ông Nguyễn-Trung-Trực.
Con rạch đông dân cư nhứt ở Vĩnh-Hòa là rạch Thầy Quơn.
Chúng tôi không được thấy sắc thần đình làng Vĩnh-Hòa. Dân trong xóm thường kể lại nhiều giai thoại về ông Nguyễn-Trung-Trực. Vài bô lão tự hào về thành tích của cha ông và quả quyết rằng thuở ấy, mỗi ngày nghĩa quân ăn đến hai tạ (120 kí-lô) cá lóc, cá trê.
Gẫm lại, ông Nguyễn-Trung-Trực đã khéo chọn lựa vùng Sân-Chim, nghĩa quân đến dễ dàng theo đường biển, từ Hòn-Chong. Rừng U-Minh rộng mênh mông, chúa Nguyễn-Ánh đã từng lập căn cứ, đào mương, cất trại cho binh sĩ ở. Suốt thời Pháp thuộc, nhiều người ở U-Minh sống thong dong, chẳng bao giờ đóng thuế thân.
Làng Đông-Yên gần vàm sông, giáp với Vĩnh-Hòa. Sau cuộc khởi nghĩa của ông Nguyễn-Trung-Trực, bọn Việt gian đã tâu với « quan lớn » để trả thù dân chúng địa phương bằng cách đổi tên làng. Đông-Yên trở thành Đông-Tặc. Làng Tây-Yên, giáp ranh với Đông-Yên, ăn lên rừng U-Minh Thượng cũng mang họa lây, đổi là Tây-Tặc.
Nhưng mấy ông kỳ lão ở Đông-Yên và Tây-Yên không chịu thua, các ông hiểu rằng việc đặt tên ấy là ngụ ý thóa mạ thành tích của ông Nguyễn-Trung-Trực nên làm đơn kêu nài với quan trên viện lý rằng :
Tây-Tặc là cái tên thô tục, nếu nói lái thì trở thành C… Tây !
Quyển sách của Baurac (dẫn thượng) in năm 1894, quyển Annuaire annamite de la Cochinchine 1907 đều ghi rành rành Đông-Tặc ở bản kê khai những làng trong tỉnh Rạch-Giá. Sau đó, bọn thực dân đành nhượng bộ : Đông-Tặc, Tây-Tặc trở lại Đông-Yên, Tây-Yên như cũ.
Xin ghi thêm một chi tiết lạc đề : ở làng Tây-Yên bấy lâu có một ấp nhỏ, phía rừng U-Minh mang tên là ấp Tây-Sơn. Ở ấp Tây-Sơn, đất thấp sình lầy, lau sậy mọc đầy vũng bàu, dân chúng thì hiền lành, ghét thực dân. Hỏi cho biết thì mấy ông lão ở đấy trả lời rằng : Thời Gia-Long tẩu quốc, quân Tây-Sơn đã cư ngụ ở đấy !
2) TÀ-NIÊN
TÀ-NIÊN, nơi ông Nguyễn-Trung-Trực tập trung nghĩa quân là tên một con rạch nhỏ, cách chợ non 10 kí lô mét. Ngày nay, Tà-Niên thuộc về làng Vĩnh-Hòa-Hiệp, nổi danh với nghề dệt chiếu bông, ruộng tốt, phía sông Cái-Bé có đóng đáy tôm. Xóm Tà-Niên khá đông đúc, đình làng uy nghi, người địa phương bảo là đình nầy thờ ông Nguyễn-Trung-Trực. Theo chúng tôi được biết thì đình Tà-Niên cúng thần « đúng cổ lệ », so với những đình khác ở vùng Rạch-Giá.Ông Nguyễn-Trung-Trực tập trung binh sĩ tại Tà-Niên, trước khi dùng đường biển ra Rạch-Giá. Hình thế làng xóm, những kiểu tập họp gia cư chắc chắn là đã thay đổi nên chúng ta đừng vội quả quyết rằng cách đây trăm năm nghĩa quân trú đóng tại xóm đình Tà-Niên ngày nay. Có thể là họ ở vàm rạch, theo bờ sông Cái-Bé. Hoặc là ở rải rác theo những xóm lân cận, như Cù-Là, Cà-Lang, Minh-Lương.
Theo Baurac, năm 1894, tổng Kiên Hảo gồm những làng Vĩnh-Niên, Túy-Đằng, Thiệp-Ngạc, Lạc-Thổ… Chúng ta thử xét lại cách đặt tên làng, lúc người Pháp mới chiếm cứ nước ta, ở Nam phần. Tên làng phải phiên âm như thế nào để có thể viết bằng quốc ngữ và chữ nho (con mộc tức là triện – của thôn trưởng có khắc chữ nho).
Làng Lạc-Thổ tức là vùng Gò-Đất.
Làng Thiếp-Ngạt – nên sửa lại là Thiệp-Ngạc – tức là vùng Cà-Bơ-He, tiếng Miên nghĩa con sấu lội (ngạc : con sấu, thiệp : lội qua).
Làng Túy-Đằng là vùng Cà-Đao, tiếng Miên Pa-Đao tức là dây mây (rotin), rạch nầy có nhiều « mây vóc ». Đằng là dây leo, chắc là người đặt tên muốn ám chỉ loại mây vóc.
Làng Vĩnh-Niên là Tà-Niên. Về sau, Vĩnh-Niên nhập với Túy-Đằng thành ra làng Vĩnh-Đằng, rồi Vĩnh-Niên lại tách ra, trở thành Vĩnh-Hòa Đông, rồi tái nhập với Vĩnh-Đằng, trở thành làng Vĩnh-Hòa-Hiệp ngày nay.
Tà-Niên, Minh-Lương, Cù-Là… là những xóm ở gần nhau, mấy ông kỳ lão còn truyền tụng vài giai thoại về ông Nguyễn-Trung-Trực. Người ta nói : ông Nguyễn-Trung-Trực là người võ giỏi, nhảy một cái là từ bên này ông bay qua bên kia bờ rạch Tà-Niên ! Rạch Tà-Niên khúc to khúc nhỏ, nước chảy mạnh nên hình thế thay đổi. Nếu ông Nguyễn-Trung-Trực nhảy ngang rạch, ở phía ngọn rạch thì rất dễ tin.
Như đã nói, ở Rạch-Giá có đến 3 đình làng thờ ông Nguyễn-Trung-Trực, mỗi đình đều có sắc phong, theo lời mấy ông hương chức đình, theo sự tin tưởng của dân làng :
- Đình Vĩnh-Hòa (vùng Sân-Chim), nơi ông Nguyễn tụ tập nghĩa quân.
- Đình Vĩnh-Hòa-Hiệp (Tà-Niên), nơi ông Nguyễn xuất phát đánh chợ Rạch-Giá.
- Đình Vĩnh-Thanh-Vân, tình lỵ Kiên-Giang.
Sắc thần ghi rõ chức tước ông Nguyễn hay là « Thành Hoàng Bổn Cảnh » một cách tổng quát ?
Thiết tưởng Viện Khảo Cổ nên làm công việc hữu ích là liệt kê những sắc thần trong nước, chụp ảnh lại để làm tài liệu khảo cứu. Ở miền Nam, nhiều đình làng vì thiếu sắc của Triều đình nên đành thờ « thần vọng ». Lại còn trường hợp sắc thần đình nầy bị trộm, bán lén cho đình khác. Ông Nguyễn-Văn-Kiểm ở Tân-Châu (Châu-Đốc) vừa gởi đến chúng tôi một tập địa phương chí Châu-Đốc, do ông soạn ra, trong đó có sao lục lại sắc thần hiện đang thờ ở làng Vĩnh- Tế (Châu-Đốc) nhưng theo nguyên văn thì dành cho làng Thoại-sơn ở Núi-Sập (Long-Xuyên) !
« Sắc Long-Xuyên tỉnh, Định-Phú tổng, Thoại-sơn phụng sự Khâm sai Thống chế Thoại Chính Hầu… »
Theo sắc nầy, ông Thoại-Ngọc-Hầu được phong Trung Đẳng Thần, sắc do Bảo-Đại phong năm 1943 !
Sắc thần thờ tại làng Châu-Phú (tỉnh lỵ Châu-Đốc) đề Tự-Đức ngũ niên (1852), ông Nguyễn-Hữu-Cảnh được phong Thượng Đẳng Thần.
Nam phần là đất mới, khó tìm những sắc thần ghi niên hiệu xưa. Điều đáng chú ý là thần ở đình làng luôn luôn phải là người hữu công, đã từng giúp Triều đình. Những người chết oan ức vì tật trộm cắp, vì dâm dật… chẳng bao giờ thành thần được – khác với vài nơi miền Bắc phần. Các vị thuộc hạnh kiểm xấu chỉ được thờ ở miễu.
Ông Nguyễn-Trung-Trực được tôn thờ, do lòng dân.
III. CUỘC TẤN CÔNG ĐỒN RẠCH-GIÁ
Lời đồn đãi còn truyền tụng đến nay thì khá nhiều, đôi khi mâu thuẫn nhau. Nhiều người thuật vài chi tiết, bảo rằng « do ông nội tôi nói lại ». Từ cuộc khởi nghĩa 1868 đến nay đúng trăm năm, ba thế hệ rồi. Nếu lúc khởi nghĩa mà có nhơn chứng nào sống sót thì đến nay họ sống ít nhứt 120 tuổi thì mới đáng tin cậy (năm xảy ra biến cố, họ đã 20 tuổi, đủ trí khôn).Những gia đình đến lập nghiệp tại vùng chợ Rạch-Giá hồi cuối thế kỷ 19, tính đến nay không còn mấy. Nói chung, lứa người tuổi 40 – tính đến năm nay – thường là không biết tên của ông cố, nếu biết thì sơ sài tổng quát rằng tổ tiên từ Long-Xuyên, từ miệt trên Mỹ-Tho, Tân-An đến…
Giai thoại về ông Nguyễn-Trung-Trực thường nhắm vào trọng tâm : ngày thọ hình ở chợ Rạch-Giá. Thời Pháp thuộc, người ta nói lén hoặc nói công khai. Người thì nói cho bớt tức giận, chửi Tây khéo léo mà khỏi bị bắt tội. Người thì nói để chứng tỏ rằng tuy hưởng bổng lộc của Tây nhưng họ vẫn… yêu nước trong thâm tâm. Cả hai đều lấy chuyện cũ để làm một cái cớ.
Nói chung, về ngày thọ hình của ông Nguyễn-Trung-Trực, ai nấy đều đồng ý rằng :
- Bọn thực dân xử công khai, cho một số ít thân hào đến gần ông để dâng rượu – gọi là lễ tế sống.
- Tên đao phủ thứ nhứt khi nghe ông hăm he : « Nếu mầy không chém cho ngọt thì tao vặn họng mầy »,bèn run sợ, buông dao. Tên thứ nhì được lịnh thay thế.
- Đầu ông Nguyễn rơi xuống, đôi mắt còn háy nguýt bọn Pháp đứng gần. Chi tiết này rất khoa học vì ít ra, trong một đôi giây, mí mắt còn phản ứng. Nhưng đó là điều linh thiêng, thủ cấp ông Quan-Vân-Trường ngày xưa đã lườm, háy nguýt. Ông Nguyễn-Trung-Trực đã hiển thánh – như Quan-Vân-Trường hiển thánh.
- Ông Nguyễn-Trung-Trực bị áp giải từ Sài-Gòn về Rạch-Giá, trên chiếc tàu kiểu xưa, chạy hơi nước, hơi nước đẩy cái xe quạt bên hông (tàu có guồng nước).
- Điều rắc rối nhứt là nơi chôn thi hài ông Nguyễn-Trung-Trực. Thuở ấy, để tránh việc cướp thi hài, chắc là bọn Pháp chẳng dám đem chôn ở ngoại ô. Chúng chôn ở vùng gần đồn để dễ kiểm soát, cấm không cho ai lại gần. Hồi 1944, một dạo chúng tôi làm thơ ký tại Tòa-Bố Rạch-Giá, tình cờ được nghe tên chủ tỉnh Maxime Vialar nói với người thơ ký phụ trách « việc cơ mật » (Service confidentiel) :
- Mộ Nguyễn-Trung-Trực ở sát gốc cây da đằng kia. Đừng cho lĩnh mã tà dẫn tội tới nhổ cỏ gần đó !
Cây da nầy ở sau Tòa-Bố, trên khoảng đất trống giữa Tòa-Bố và dinh Chủ tỉnh. Gần cây da, có đống gạch lở lói.
Và đây là vài chi tiết khác :
1) Theo lời ông Đinh-Văn-Thạnh, mất năm 1943, thọ hơn 80 tuổi thì hồi đó, cha ruột ông là nghĩa quân, bị giặc Pháp bắn chết khi chúng tái chiếm đồn Rạch-Giá. Chúng tôi đã ở trọ tại nhà ông Thạnh, ở Vàm-Trư (nay đã lấp, Đại Nam Nhứt Thống Chí chép là Trư nê), ông nói rằng trước kia thuộc họ Nguyễn, sau sửa họ để tránh tập nã. Về già, ông hơi lẩm cẩm, chẳng bao giờ dùng « xà-bong », sản phẩm của Tây tà. Ông nói nhiều lần rằng lúc đánh đồn Rạch-Giá, nghĩa quân bắt gặp nhiều cục xà-bong, nếm thử thì thấy mặn nên suy luận rằng đó là món để ăn với cháo. Vài người ăn thử, sôi bụng ngỡ là bị dịch tả. Ông Thạnh không biết chữ nho, chữ quốc ngữ gì hết vậy mà ông chê hương chức đình Vĩnh-Thanh-Vân là dốt nát. Theo ông thì Nguyễn-Trung-Trực không phải là tên thật, tên thật là ông Quản-Chơn.
Lúc rảnh, ông ngồi xuồng đi Rạch-Giồng, thuộc làng Mỹ-Lâm, giáp ranh chợ Rạch-Giá, theo ven biển. Đi để… cờ bạc và nói chuyện đời với mấy người bạn già.
2) Một nhân vật khác là Trần-Quang-Thống, làm hương quản ở làng Sóc-Sơn, giáp ranh làng Mỹ-Lâm, phía Bắc. Thống là con của Trần-Quang-Huy. Trong Annuaire annamite de la Cochinchine năm 1907, ghi rõ ông nầy thuộc tam hạng cai tổng (chef de canton de 3e classe). Huy là con của Trần-Quang-Sô, cũng làm cai tổng, bị nghĩa quân của ông Nguyễn-Trung-Trực giết.
Sô là người Miên, khôn lanh vô cùng, tự ý lấy họ và chữ lót Việt-Nam cho ra vẻ… sang trọng. Huy tuy dốt nhưng được làm cai tổng vì bọn Pháp muốn tưởng thưởng công lao. Lúc làm hương quản ở Sóc-Sơn, Thống thường nói lúc trà dư tửu hậu :
Ông Nguyễn-Trung-Trực và lính tráng của ông dùng gươm dáo hoặc dùng hai tay không mà giết sạch bọn Tây. Lúc vào đồn, ông Nguyễn túm chân bọn lính Pháp đang ngủ rồi quơ lên, quay tròn. Bọn Pháp hoảng sợ, không dám bắn hoặc đâm vì sợ trúng nhầm đồng bọn. Nhờ vậy mà ông dùng xác tên này để đập vào tên kia.
3) Ông Giang minh Xinh, một nhân sĩ ở chợ Rạch-Giá đã giúp chúng tôi nhiều tài liệu để biên soạn quyển « Nguyễn-Trung-Trực, anh hùng dân chài », nhứt là giai thoại bà Điều, bà Đỏ. Những ngày cuối cùng, ông qui y tại chùa Xá-Lợi Sài-Gòn, giữ chức vụ Tri tạng, liễu đạo năm 1959, thọ 66 tuổi. Ông là con ông quản Bố ở Rạch-Giá (thân sinh của ông Bố cũng ở tại chợ Rạch-Giá). Theo lời ông Xinh thì số nghĩa quân không chạy ra Phú-Quốc kịp thời đã ẩn lánh tại vùng Rạch-Giồng, lập nghiệp tại đó mãi đến nay.
Hoàn cảnh nầy được một người Pháp – ông Le Nestour – khai thác. Ông Le Nestour khai khẩn hòn Tre, con trai ông khai khẩn vùng Rạch-Giồng, tổ chức một kiểu nông trại khá ngoạn mục : nhà sàn, bên dưới nuôi nào gà lôi, gà sao (pintade), công, trĩ, thỏ… Biết rằng dân chúng còn mến mộ ông Nguyễn-Trung-Trực, cậu trai Tây lai nầy tu bổ cái đình nhỏ mà trước kia dân chúng thờ lén. Với uy thế là dân Tây, cậu bảo lãnh tất cả số tá điền, nói công khai rằng : Bà con cứ làm tá điền cho tôi, bà con cứ thờ công khai ông Nguyễn-Trung-Trực, nhà nước Pháp nếu can thiệp làm khó dễ thì tôi đủ sức đứng ra chịu trách nhiệm.
Tiếc thay, cái nông trang nầy – gọi là vùng Tân Điền – không phát triển mấy, đất phèn, nước mặn nên ruộng nương thất bát, lần hồi trở thành nơi trồng tràm. Dân chúng sống qua ngày, cấy vài công ruộng và làm thêm nghề chánh là chài lưới ngoài biển.
Chúng tôi xin miễn ghi chép nơi đây những lời đồn đãi về sự linh hiển của ông Nguyễn ở chợ Rạch-Giá : ban đêm, trong đình nghe tiếng gươm dáo, chiêng trống, chuyện con quỉ một giò khuấy rối dinh quan tham biện chủ tỉnh… Tất cả những chuyện ma quái nầy đều bao hàm ý nghĩa chống Pháp. Dân chúng ở Rạch-Giá không dám nói trọn ba tiếng Nguyễn-Trung-Trực mà chỉ nói tắt là ông Nguyễn.
« Lòng tôn kính tột độ ấy thật dễ giải thích cũng như trường hợp tôn kính những di tích do chúa Nguyễn-Ánh để lại trong tỉnh nhà. Như đã nói ở phần nhập đề, Rạch-Giá là đất mới, chưa sản xuất được ông quan văn quan võ nào nổi danh hồi thời « đàng cựu ».
Vua Gia-Long là vua đầu tiên và là ông vua cuối cùng đã đặt chân đến rừng U-Minh. Những chuyện bôn ba tẩu quốc của ông đủ khiến cho người dân cảm thấy đất Rạch-Giá là dính liền với « sơn hà xã tắc ».
Ông Nguyễn-Trung-Trực là viên tướng trẻ tuổi đầu tiên từ Tân-An đến Rạch-Giá, dùng xương máu để dạy cho dân bài học cụ thể về lòng yêu nước. Cuộc tấn công đồn Rạch-Giá quả là hành động táo bạo, chớp nhoáng, được chuẩn bị khá chu đáo về nội ứng, thấy có thể làm được là cứ làm, không do dự. Do dự là bỏ qua thời cơ, thời cơ chỉ thoáng hiện. Chờ đợi cho thiên thời, địa lợi, nhân hòa đầy đủ trăm phần trăm thì chỉ là thái độ ươn hèn. Ông Nguyễn tiếp tục việc chống ngoại xâm của tiền nhân mà sau nầy con cháu vẫn nối tiếp. Nét độc đáo của ông là « thanh niên tính ».
SƠN-NAM
IV. PHỤ LỤC
Trong tương lai, nếu chịu khó tìm tòi, chúng ta nhứt định sẽ gặp nhiều tài liệu về Nguyễn-Trung-Trực. Chúng tôi thử kê :1) H.Le Verdier & H.Maubryan. « Scènes de la vie annamite » Khi-Hoa, Recueil de nouvelles : le meurtre du capitaine Barbé, la surprise de Rach gia. Paris 1884.
2) François Teissier. « En Cochinchine ou les héros de Rach gia, épisode de l’occupation française, sans date ». [2]
(Hai quyển nầy thấy dẫn trong tập kỷ yếu S.E.I năm 1940, kỷ niệm J.B.E, Luro, ghi thêm là không tìm được ở Nam-Kỳ).
3) Trong Paulin Vial « Les premières années de la Cochinchine, colonie française », Challamel, Paris 1873, có một tài liệu vô cùng quan trọng là bảng khẩu cung của ông Nguyễn-Trung-Trực lúc bị giải về Sài-Gòn. Nhứt định là ông Nguyễn tránh né nhưng tài liệu nầy giúp chúng ta có vài tiêu chuẩn để sưu tầm thêm. Bảng khẩu cung nầy ghi tên vài nhân vật mà người Pháp lúc bấy giờ không chú ý về chánh tả : quản Cầu, xã Lý, quản Diên, làng Man-Lương : ông huyện Hien, bà Do, tên Lươn, cai tổng Dien, tên thông ngôn Chonk… Nhất là tên ông Lâm-Văn-Ky ! Miêu duệ của ông Ky là Lâm-Quang Thiệp, ở Miệt Thứ (Rạch-Giá) và con trai ông Thiệp là trung tá Lâm-Quang Phòng, một sĩ quan cao cấp, hiện lãnh trách nhiệm tỉnh trưởng Tuyên-Đức. Nếu ông Phòng còn giữ được gia phổ thì còn gì quí cho bằng.
4) Thời kỳ Pháp-Việt phục hưng, với thống chế Pétain, ở Rạch-Giá nhà cầm quyền cho ghi thêm mấy chữ : « Ici, tomba Françoise Denot, agent des Douanes » (Surprise de 1868), vào cái trụ nhỏ trên con đường giữa Tòa-Bố và Tòa Án Rạch-Giá. Đây là người nhơn viên Thương-chánh mà bảng khẩu cung đó đề cập tới. Lúc bấy giờ, người ta căn cứ vào tài liệu nào để nhận diện danh tánh của nạn nhơn ? Chắc là ở văn khố, văn khố ở tỉnh hay văn khố Sài-Gòn ? Trong vòng rào khám đường Rạch-Giá – trước 1945 – có cây trụ kỷ niệm, ghi danh tánh một số thủy quân lục chiến. Lúc ấy, người viết bài nầy đã nhìn trộm, lúc đi qua, làm sao vào… khám đường được, nhìn lâu thì bị đuổi. Cây trụ nầy còn không ?
5) Đầu năm 1946, tại chợ Rạch-Giá, lúc anh em Thanh niên tiền phong chuẩn bị đối phó cuộc tấn công sắp tới của quân Pháp, một ông lão tuổi hơn 50 xuất hiện, tự xưng là « cháu » ông Nguyễn-Trung-Trực. Chúng tôi nhớ rõ : ông nầy mặc áo bà ba đen, quần cụt ngang gối, để tóc dài, dáng điệu còn mạnh khỏe, căn cứ vào làn da đen nám và cách ăn mặc thì biết chắc rằng ông nghèo túng lắm. Ông xin ra mắt anh em kháng chiến, sẵn dịp, ông biểu diễn một đường quờn (quyền), đánh bằng hai tay không và thêm một đường roi. Ai nấy cảm động rớt nước mắt. Biểu diễn xong, ông khoanh tay trước ngực để cầu chúc các cháu sớm thành công rồi ông xuống chiếc xuồng nhỏ, đi về đâu không biết.
6) Ông bạn Nguyễn-Minh-Hoàng (thường dịch bài cho tạp chí Bách Khoa và Văn) gặp chúng tôi, tiết lộ rằng tại nhà ông bạn hiện còn một cái chén, từ đời ông ngoại để lại, ông ngoại nói rằng đó là cái chén mà ông Nguyễn-Trung-Trực dùng để uống nước, lúc lưu trú tại Nhựt-Tảo. Một món cổ ngoạn trên trăm năm, hôm nào chúng tôi sẽ mời ông Vương-Hồng-Sển đến xem tận mắt thử một lần.
Chúng tôi xin tạm liệt kê vài bài vở đăng báo, in thành sách về Nguyễn-Trung-Trực để chứng minh rằng đời oanh liệt của ông là đề tài văn nghệ, gây cảm hứng cho hậu thế. Bảng liệt kê nầy lẽ dĩ nhiên là còn thiếu sót :
- Ông Gilbert Trần-Chánh-Chiếu viết bài báo ca ngợi thành tích Nguyễn-Trung-Trực, xúi giục dân chúng noi gương liệt sĩ họ Nguyễn đứng lên chống Pháp. Ông Chiếu là chiến sĩ Đông Kinh Nghĩa Thục, gọi nôm na là ông Phủ Chiếu, đã từng ở Rạch-Giá, có điền đất ở Giồng-Riềng. Theo G. Coulet (Les sociétés secrètes en terre d’Annam, Sài-Gòn 1926) thì bài đăng ở báo Lục-Tỉnh Tân Văn, Sài-Gòn vào những ngày 12-12-1907 và 13-1-1908. Chúng tôi chưa gặp những gặp những bài nói trên.
- Thi sĩ Đông-Hồ viết bài Thăm đảo Phú-Quốc… ca ngợi lòng yêu nước của liệt sĩ Nguyễn-Trung-Trực, đăng trong tạp chí Nam-Phong, tháng 12-1927. Trong « Nhà văn hiện đại » của Vũ-Ngọc-Phan, chúng ta gặp vài đoạn trích dẫn.
- Năm 1949, nhà xuất bản Phụng Sự, Sài-Gòn đã ấn hành quyển « Lịch sử tiểu thuyết » nhan đề « Nguyễn-Trung-Trực », tác giả là Hồ-Sanh. Hành văn khá hấp dẫn.
- Năm 1956, vở tuồng cải lương « Hỏa Hồng Nhựt-Tảo » do Hoàng-Lan và Văn-Quang ra mắt, diễn liên tiếp 35 đêm tại Trung Ương hí viện, Sài-Gòn (rạp Aristo), vào tháng 6 dương lịch, do đoàn Kim-Chung. Vở tuồng nầy mở đầu cho loại mà giới cải lương gọi là « dã sử dân tộc ». Đáng chú ý nhứt là soạn giả, đào kép đều là người Bắc di cư, biết khai thác sốt dẻo một chuyện xảy ra ở miền Nam chưa bao giờ diễn trên sân khấu cải lương.
- Năm 1959, nhà Phù-Sa cho ấn hành « Nguyễn-Trung-Trực, anh hùng dân chài » do Sơn-Nam và Ngọc-Linh biên khảo, phần sau dành cho vở tuồng hát bội « Nguyễn-Trung-Trực qui thần diễn nghĩa » do Lê-Dư-Hoài soạn từ năm 1945. Tuồng nầy được ban Vân Hạc diễn nhiều lần trên đài Phát Thanh Quốc gia. Cũng trong quyển sách nói trên, có kịch thơ ngắn nhan đề « Gánh chiếu Tà-Niên hay là Chén cơm sông núi » của thi sĩ Kiên-Giang Hà-Huy-Hà, sáng tác năm 1957, thường được học sinh trình diễn lúc bãi trường.
*
Người cư ngụ ở U-Minh làng Đông-Yên, Đông-Thái, Đông-Hưng, Vĩnh-Hòa, những làng nầy đều lấn một phần vào rừng, với lằn ranh phỏng định trên bản đồ nhưng khó nhận ra trong thực tế – còn kể lại một chuyện cổ tích dính dấp với ông Nguyễn-Trung-Trực. Có lẽ đó là một chuyện Cao-Miên, cải biến lại. Chúng tôi xin tóm lược, tránh những chi tiết rườm rà.
V. CHUYỆN NEAK TRONG
(Neak : người, trong hoặc tong : ngay thẳng, đứng đắn).Người Việt-Nam còn gọi là « Chuyện người khuất mặt ở U-Minh » :
Hồi xưa, rừng U-Minh quá sầm uất, dân chúng đến đốn cây cất chòi, tỉa lúa ở ven rừng. Ban đêm, thỉnh thoảng từ giữa rừng vang lên tiếng chó sủa, gà gáy. Dưới rạch, vài bó rơm từ phía rừng trôi xuống. Nhiều người thử vào rừng để thám hiểm gặp xóm nhà, thấy chó heo chạy trước sân nhưng không thấy bóng người. Về nhà, họ nhuốm bịnh. Bởi vậy, chẳng ai dám xúc phạm đến vùng đất cấm của « người khuất mặt » vì sợ bị quở phạt.
Năm đó, một thằng bé đi mất tích. Vài năm sau, khi trở về nó thuật lại rằng ông lão nọ dắt nó vô rừng, tới xóm, gả con gái cho. Vợ chống sống thuận thảo nhưng vô tình, ngày nọ nó nói dối với con để dỗ dành lúc mẹ vắng mặt. Thế là cả xóm lên án thằng bé vì tội nói dối, trục xuất ra khỏi rừng, không được ở gần vợ con.
Người trong xóm cho rằng thằng bé bị ma bắt, đem giấu rồi trở về nói chuyện nhảm nhí. Nhưng vài tháng sau, lúc nửa đêm dân chúng hoảng sợ thấy hàng chục chiếc xuồng từ phía rừng bơi xuống, chở theo nào gà vịt, đàn bà con nít. Những người ấy cho biết là bấy lâu nay họ sống giữa rừng, hôm nay phải tản cư vì lý do không muốn sống gần bọn người nói dối vừa mới đến xứ nầy. Bọn nói dối ấy vừa chém một người ngay thẳng (neak trong), người ngay thẳng nầy ra đầu hàng, bọn ấy hứa không giết vậy mà rốt cuộc lại giết.
Số người tản cư ấy cho biết là họ đi xa lắm, đến đỉnh núi cao, trên trời. Mấy chiếc xuồng của họ từ từ bay bổng mất dạng.
❀ ❀ ❀
[1] Theo Đại Nam Nhất Thống Chí ; Lục-Tỉnh Nam Việt, quyển hạ, bản dịch Tu-Trai Nguyễn-Tạo. Sài-Gòn 1959, tr 106 ; chẳng rõ sao lại được tặng chức nhỏ hơn trước ?
[2] L.T.S : Riêng về tác phẩm này, chúng tôi đã nhờ ông Nguyễn Xuân Thọ hiện ở Paris kiếm ở các thư viện : Bibliothèque du Centre de la Documentation française và Bibliothèque du Ministère des Colonies tại Paris, nhưng không thấy.