ĐÔNG-HỒ
Hồi cuối năm 1927, năm 21 tuổi tôi có dịp đi thăm đảo Phú-Quốc. Về, tôi có viết một bài du ký dài. Bài này, tôi cho đăng ở tạp chí Nam-Phong số 124, tháng Décembre 1927.
Trong bài du ký này, tôi có kỷ thuật nhiều về lịch sử của liệt sĩ Nguyễn-Trung-Trực trong khi lấy đảo Phú-Quốc làm chiến lũy kháng Pháp.
Trong đoạn kết, khi người liệt sĩ họ Nguyễn « sát thân dĩ thành nhân », tôi có viết mấy câu tài liệu như thế này :
« Tin cụ mất, truyền đến Triều-đình Huế, Vua Tự-Đức sai làm lễ truy-điệu cụ, có bài văn, thể trường thiên cổ thi rằng :
« Úy bỉ ngư nhân
Hùng tai quốc sĩ
Hỏa Nhật-tảo thuyền
Đồ Kiên-Giang lũy
Địch khái đồng cừu
Thần tiêm tự thỉ
Huyết thực thiên thu
Chương ngã trung nghĩa ».
Qua năm 1928-1929, tôi có dịp tiếp xúc với Cúc-Nông Trương-Gia-Mô tiên sinh. Tôi mới biết sử liệu mà tôi ghi về Nguyễn-Trung-Trực trong bài du-ký đó, là lầm lẫn.
Sự lầm lẫn trên đó, đáng lẽ phải được cải chánh từ lâu rồi, mà lần lữa đến hôm nay trải qua 41 năm, mới dở ra, thật là đáng trách.
Khi ghi chép rằng bài minh đó là của vua Tự-Đức gởi vào truy điệu họ Nguyễn, là tôi theo lời của ông Thầy học của tôi là Huỳnh-Côn-Hóa tiên sinh, tức thầy Huỳnh-Thoại-Bàng, mà phàm người Hà-Tiên nào biết chữ cũng đều nhờ Thầy vỡ lòng cho hết.
Sau khi tiếp xúc với Cúc-Nông tiên-sinh, thì Trương tiên sinh mới bảo cho tôi biết là bài trường thiên cổ thi đó chính của tiên sinh làm. Đó là bài tán liệt sĩ Nguyễn-Trung-Trực, mà Cúc-Nông tiên sinh làm, khi biên soạn xong bộ sách « Gia-Định tam tiên liệt-truyện ».
Tiện đây, nói thêm về tác phẩm này. Tác phẩm này, Cúc-Nông tiên sinh biên soạn bằng Hán-văn, tên sách là « Gia-Định tam tiên liệt-truyện ». Như tên sách đã nêu rõ, đây là sách chép tiểu sử và công nghiệp kháng Pháp của ba vị tiên-liệt đất Gia-Định (Nên hiểu chữ Gia-Định ngày trước là chỉ toàn cõi Nam-kỳ Lục-Tỉnh) :
- Nguyễn-Trung-Trực
- Nguyễn-Hữu-Huân
- Hồ-Huân-Nghiệp.
Tác-phẩm này, Cúc-Nông tiên sinh chép tay. Tiên sinh có sao một bản đem vào Hà-Tiên năm 1930 cho tôi, một lượt với tập Thu-hoài-phú, cũng bằng Hán văn, do tiên-sinh sáng tác.
Hai tập này : Thu-hoài-phú và Gia-Định tam tiên-liệt truyện, hồi khoảng năm 1934 1936, tôi giao cho Trúc Hà đem lên Sài-Gòn cho các vị học giả ở Sài-Gòn đọc và sao lại. Sách có được sao lại hay không, tôi không được biết chắc, nhưng tôi biết nó có qua mắt hai vị học giả Lê-Thọ-Xuân và Nguyễn-Văn-Liễn [1]. Hai tập này, sau biến cố 1945, thất lạc về đâu, bây giờ tôi không được biết. Có vị nào đọc qua mấy hàng này mà còn tàng trữ, hoặc có biết thì xin công bố để hải nội cùng biết.
Mới đây, tôi có tiếp xúc với ông Trúc-Viên Trương-Gia Kỳ-Sanh, Trúc-Viên là con trai của Cúc-Nông tiên sinh, tôi hỏi về tác phẩm này. Ông Trúc Viên cho tôi biết rằng các tác phẩm của Cúc-Nông tiên sinh không còn chữ nào cả. Bởi vì, khi sinh tiền, Cúc nông tiên sinh có di ngôn, dặn lại người học trò, xây sẵn một cái huyệt, để khi tiên sinh mất rồi, thì bao nhiêu sách vở của tiên sinh đem chôn hết vào đó.
Trên nấm mộ đề là : « Cúc nông thư trủng ». Nghĩa là « mộ chôn sách của Cúc-Nông ».
Có hai câu đối đề : « Hán học hà niên phục ; Di biên tử nhật tàng ». Nghĩa rằng : Hán học biết đến năm nào mới phục hồi, cho nên những biên soạn còn lại, ngày người mất, nên đem chôn hết đi cho rồi.
Thật là một giai thoại bi phẫn, một tâm sự u uất của cổ-nhân, để cho hậu nhân khả tích khả thương. Thôi hãy gác lại đó, mà trở về chuyện Nguyễn-Trung-Trực.
*
Bài thơ cổ-phong mà tôi chép lại, trong bài du-ký Phú-Quốc đó, tôi nghe thầy học tôi nói lại, cũng không toàn thiện. Hãy còn thiếu nhiều câu. Tôi gởi đăng tạp-chí Nam-Phong, khi đó lại bị kiểm duyệt mất đi vài ba câu nữa. Trong các câu bị kiểm duyệt, tôi nhớ chắc-chắn có một câu. Đó là câu : « Thầm thầm bạch quỉ ».
Có câu này rồi mới tiếp liền đến câu : « Úy bỉ ngư nhân ; Hùng tai quốc sĩ ».
Hiện giờ, trong Nam-Phong tạp chí, số 124 (Décembre 1927) nơi trang 543, cột thứ hai, đăng bài thơ cổ thi đó, trước câu Úy bỉ ngư nhân, nhà báo có ghi chấm dây (…) tức là mấy câu kiểm duyệt, mà trong đó có câu : « Thầm thầm bạch quỉ ».
Câu đó, hồi ấy, đăng ở báo Nam-Phong mà bị kiểm duyệt, tôi có một vài điều nghĩ ngợi. Tôi đặt ra hai nghi vấn này :
Câu thơ đó, nếu mà đăng ở một tờ báo trong Nam, tất không bị kiểm duyệt. Câu thơ đó bị kiểm duyệt là bởi có hai chữ « bạch quỉ ». Bạch quỉ, là tiếng của nhà Nho nước ta khi mới tiếp xúc với người Tây, để gọi người giống da trắng đến xứ này. Giống người dị chủng đã tác quỉ tác quái, gieo tai gieo họa cho chúng ta. Kể họ như là một giống « quỉ trắng ». Ở tai người mình nghe, thì như một tiếng nguyền rủa mà ở tai người Tây, họ nghe, có cùng một cảm nghĩ như chúng ta hay không. Tôi nghĩ họ không lấy làm điều gì đâu. Bởi vì, trong Nam, khi đó hai tiếng ấy, cứ nghe nói đến luôn. Ví dụ như câu thơ :
« Vết đạn hãy rêm tàu bạch quỉ,
Nét son thêm rạng vẻ hoàng môn ».
Vẫn được truyền tụng và được ấn hành như thường.
Hoặc là bởi, không có người chịu khó dịch cho người Pháp họ nghe hai tiếng đó nghĩa là gì, và cũng không có ai thêm mắm dặm muối vào cho Tây nó giận.
Đó là một điều nghĩ. Điều nghĩ thứ hai là câu thơ đó đăng ở báo Nam-Phong sao mà cũng bị kiểm duyệt. Bởi vì báo Nam-Phong khi đó rất được các nhà cai trị Tây tin cậy lắm. Là tờ báo không có ác ý châm chọc người Pháp. Báo này vẫn đăng những bài thơ văn xỏ xiên người Pháp khi mới đến xứ này. Ví dụ như bài khóc Tây Francis Garnier bị quân Cờ đen cuộn lôi xuống cắt cổ ở Ô Cầu-Giấy. Tôi nhớ cóc-nhảy mấy câu đại khái :
« Ông ở bên Tây
Sang qua chi đó
Cái mắt ông xanh
Cái mũi ông lõ
Chân ông đi giầy
Miệng ông huýt chó
Ông đi lo tho
Bị cờ nó bó
Nó lôi ông ra
Nó cắt phăng sỏ ».
Bài này, tôi nhớ câu được câu mất, câu đúng câu sai, tôi không tra tìm vì không sẵn tài liệu. Vị độc giả nào có biết thì cải chính và bổ túc giúp cho.
Báo Nam-Phong nói riêng, báo chí Hà-Nội nói chung, lúc đó thấy có đăng những bài cố sự, đại loại như vậy mà không bị kiểm duyệt. Tôi nghĩ rằng nhà cai trị Pháp họ cho những điều đó là những điều hóm vặt, không đáng kể.
Như vậy mà sao câu thơ « Bạch quỉ » lại bị kiểm duyệt ở báo Nam-Phong. Tôi nghĩ tất là bị câu đó tôi chép bằng chữ Hán. Những văn bản « cách mạng » những bài thơ « quốc cấm » có ý chống đối nhà cầm quyền đương thì, mà viết bằng chữ Hán thì bị xem xét, cẩn thận, bị kiểm soát rất kỹ lưỡng. Cho nên câu thơ « bạch quỉ » đó mới bị bôi bỏ.
Tôi nghĩ như vậy không biết có đúng hay không. Nhưng mà bởi tôi nhớ đến một chuyện này. Có một lúc, tôi giao thiệp với ông Ái-Liên. Ông là một nhà nho, người Nam-Định, sinh hoạt nhiều trong Nam và Lục-tỉnh. Mỗi khi ông kể chuyện cũ cho tôi nghe mà có những câu đối bài văn của các nhà chí sĩ như của Tôn-Thất-Thuyết, của Mai-Sơn, của Sào-Nam, của Tây-Hồ, của Hoàng-Hoa-Thám, v.v… Ông Ái-Liên đều không chịu đưa cho tôi nguyên văn chữ Hán mà bảo tôi chép phiên âm ra Quốc ngữ hết. Rồi ông cẩn thận xé nhỏ bản chữ Hán đi. Tôi khi đó rất lấy làm lạ. Tôi nghĩ, đáng lẽ thì nên để nguyên chữ Hán mà đừng phiên âm Quốc ngữ thì phải hơn, bởi vì chữ Hán ít người đọc được, hơn chữ Quốc ngữ, bởi chữ Hán không bị chú trọng đến lắm. Đó là tôi nghĩ theo sự hiểu biết của người trong Nam, nơi mà chữ Hán đó thành một từ ngữ lâu rồi. Mà ông Ái-Liên đòi hiểu biết theo ý nghĩa của người Trung người Bắc, người ở nơi chữ Hán còn thông dụng và được chú trọng nhiều hơn. Tôi ghi câu chuyện lặt vặt này lại đây cùng là để đánh dấu một sự kiện về sự học chữ Hán ở trong Nam cách đây 30, 40 năm trước.
Còn một chuyện nữa làm chứng cứ cho điều trên đó. Khoảng năm 1922-23, có một ông « Thầy Huế » người Trung qua chơi Hà-Tiên, nghe tiếng bác tôi, Hữu-Lân tiên sinh, là người còn giữ chút ít chữ Nho, ghé lại nhà thăm. Trong lúc đàm đạo, Thầy thấy câu đối chữ Hán của bác tôi đề ở cửa :
« Minh kỳ nghĩa dĩ đạt kỳ đạo,
Thuận hồ thiên nhi ứng hồ nhân ».
Hiệu nhà buôn họ Lâm của chúng tôi là hiệU-Minh-Thuận. Bác tôi đã quán thủ hai tiếng Minh-Thuận, dùng chữ sách góp làm câu đối. Bác tôi vẫn lấy làm tự đắc đã dùng được mấy chữ đúc : « Minh nghĩa đạt đạo, thuận thiên ứng nhân ».
Ông Thầy thấy câu đối, cười cười bảo với bác tôi rằng :
« Câu đối này, tiên sinh đề ở đây lâu nay mà không bị nhà cầm quyền làm khó dễ gì hết thì thật là lạ. Câu đối này, nếu để một nhà nào ở Trung kỳ thì chủ nhà hay tác giả của nó đã bị bắt lâu rồi ! »
Nghe Thầy nói vậy, Bác tôi ngạc nhiên không hiểu gì hết. Bây giờ Thầy mới giải thích rằng, hai câu đối đó đã dùng toàn « chữ nghĩa làm giặc » Thuận theo lòng trời mà ứng theo lòng người ; là muốn dựng cờ khởi nghĩa cách mạng đó. Vua quan ngoài nớ nghe thấy, đâu có để yên.
Mới biết, chữ Hán ở trong Nam đã bị xã hội không thèm biết tới, dẫu cho muốn làm giặc mà nói bằng tiếng Hán cũng chẳng ai thèm nghe.
Câu chuyện này cũng có chút liên-quan đến việc chôn sách chữ Hán của Cúc-Nông tiên sinh ở Thư trủng đã kể trước.
*
Đến đây, tôi viết sang đàng thêm một chuyện để góp thêm về Quân cờ đen. Trong bài « khóc » Francis Garnier, có câu :
« Ông đi lơ thơ
Bị cờ nó bó ».
Câu đó, nếu không biết về Cờ đen thì không hiểu là nói gì. Tôi giải thích thêm :
« Ở miền Nam nước Tàu, hồi cuối thế kỷ trước, có một đảng cường khấu, dư đảng « Thái Bình Thiên Quốc » hoạt-động chống đối triều đình Mãn-Thanh tên là đảng Cờ đen. Đầu đảng là bọn Lưu-Vĩnh-Phúc. Gọi rằng Cờ đen, bởi vì đó vừa là soái-kỳ, hiệu-kỳ, đảng kỳ, vừa cũng là khí giới lợi hại, khi lâm trận. Bọn này hoạt động cướp phá khoảng biên giới nước ta và nước Tàu. Các quan ta cũng tiễu trừ họ mà cũng có khi liên kết với họ, mượn tay họ để quấy nhiễu nước Pháp. Có ý muốn lợi dụng họ để đánh đuổi người Pháp ra khỏi Bắc-Kỳ, cho nên mới xảy ra vụ Francis Garnier ».
*
Cờ cao khổ rộng, màu đen, xung quanh biên cờ có kết nhiều móc câu bén nhọn. Mỗi khi đánh nhau, quân binh vác cờ theo như là quân cầm cờ thường. Vác cờ đi gần tướng bên địch. Đối phương ngồi trên ngựa, thấy họ chỉ cầm lá cờ, trong tay không có vũ khí nào khác, không lưu ý đề phòng. Quân Cờ đen kéo đi kề bên mình ngựa, thừa lúc tướng giặc vô ý, liền phất lá cờ cuốn vào người trên ngựa, câu móc móc vào, bó chặt lại, tức thì người cầm cờ lôi người bị lá cờ cuộn gọn xuống đất, bắt sống như chơi.
Trường hợp Tây Francis Garnier bị quân cờ đen bắt giết là như vậy.
Trước khoảng ký hòa ước năm giáp tuất (15-3-1874) nghe tin thành Thăng-Long thất thủ, vua Tự-Đức, cử ba ông Trần-Đình-Túc, Nguyễn-Trọng-Hiệp và Trương-Gia-Hội ra Hà-Nội điều đình. Hôm đó, hai phái đoàn đang thảo luận về khoản Triều đình ta bảo đảm an ninh cho kiều dân Pháp sinh hoạt trong lãnh thổ Việt-Nam, thì được tin báo quân Cờ đen kéo về. Francis Garnier liền đem quân ra ứng chiến. Tướng Tây cỡi ngựa đi đến đê Ô Cầu-Giấy bị quân Cờ đen phục kích, dùng cờ câu móc cuốn, lôi xuống cắt cổ. Quân Pháp xách cái thủ cấp của Francis Garnier về, ném lên bàn hội nghị. Ý bảo rằng : « Triều đình nước Nam bảo đảm sinh mạng kiều dân Pháp-lang-sa như vậy đó ». Tức thì nó bắt phái đoàn ta đem giam vào ngục để đợi quyết định của Soái-phủ-Sài-Gòn. Ở đây, ghi chú thêm một điều. Trong phái đoàn của triều đình Huế, chúng ta có thấy tên Trương-Gia-Hội. Đó là thân sinh ra Cúc-Nông Trương-Gia-Mô, và là nội tổ của Trúc-Viên Trương-Gia Kỳ-Sanh, mà trong bài này tôi có đề cập đến.
*
Bây giờ xin trở lại câu thơ : « Thầm thầm bạch quỉ » của Cúc-Nông tiên sinh.
Hai tiếng « bạch quỉ » để chỉ người Tây-Dương thì đã rõ rồi. Còn thầm thầm thì nghĩ như sao ?
« Thầm thầm », từ ngữ Hán Việt này, bộ mục một bên như chữ « đam », chữ « thẩm ». Các nhà Nho trong Nam đọc là « thầm thầm ». Sách từ điển của Đào-Duy-Anh, của Thiều-Chửu đọc là « đam đam » đúng như Từ-Hải ; Từ-Nguyên. Ở đây, tôi cứ giữ y như cách đọc của các nhà Nho trong Nam, đọc là « thầm thầm » gọi giữ chút kỷ niệm của các bậc sư phó. « Thầm thầm », các nhà Nho nghe nghĩa là « đăm đăm », là « lườm lườm » là « gườm gườm », như dáng điệu của con hổ rình mồi. Bởi từ ngữ « hổ thị thầm thầm ». Trong văn-chương, khi muốn tả dáng điệu diện mạo của kẻ hung bạo muốn rình rập, muốn vồ bắt một vật khác, đều dùng từ ngữ này. Như trong « Tam-quốc-chí », Khổng-Minh nói với Châu-Du, khi Tào-Tháo sắp khai chiến với Đông-Ngô. Rằng : « Tào Tháo hổ thị Giang nam ». Cúc-Nông tiên sinh cũng mượn chữ này để chỉ người Pháp, là giống bạch quỉ lườm lườm, gườm gườm nhìn vào nước Nam cũng như con hổ rình mồi, thèm khát, sắp ăn tươi nuốt sống nước Nam. Thi liệu này rất đắc địa.
Đọc bốn chữ : « Thầm thầm bạch quỉ » chúng ta tưởng tượng thấy rõ tình trạng tình thế vận mệnh nước ta trước sự rình rập thèm muốn, của giống hung bạo tàn ác thực dân từ phương xa ào ạt tới. Câu thơ đó, bị nhà cai trị Pháp kiểm duyệt là phải mà sở kiểm duyệt Hà-Nội quả cũng thật là hay chữ Hán !
*
Cúc-Nông tiên sinh còn nói cho tôi nghe thêm một điều nữa : Bài tán « Hà-Tiên thành thủ úy » liệt sĩ Nguyễn-Trung-Trực này khi Cúc-Nông tiên sinh đến thăm miếu thờ họ Nguyễn ở Kiên-Giang, có đề lên vách miếu thờ. Chính tự tay Cúc-Nông viết bài tán này lên vách miếu. Hiện giờ, tôi không biết tại đền thờ Nguyễn-Trung-Trực ở Rạch-Giá có còn hay đã bị bôi xóa đi rồi, vì nghe miếu đã trải qua nhiều lần trùng tu. Mà cách trùng tu đền miếu của mình thường làm thiệt hại chữ nghĩa không ít. Kinh-nghiệm cho tôi biết các đền miếu lăng mộ ở Hà-Tiên, khi trùng tu, người sau vì không biết bảo tồn văn chương chữ nghĩa, cho nên đem vôi đem phấn, tô vẽ lắp lên những văn thơ đề bích của cố nhân. Đó là một cái nạn trùng tu cổ tích. Tôi chắc đền thờ Nguyễn-Trung-Trực ở Rạch-Giá cũng không tránh khỏi. Chuyện này thì phải chờ ông Sơn-Nam lên tiếng cho biết rõ sự tình.
Việc Cúc-Nông đề bài tán này lên vách miếu Nguyễn-Trung-Trực ở Rạch-Giá, chắc chắn là có. Bởi vì Trương tiên sinh có nói thêm với tôi.
Khi tiên sinh đến thăm đền thờ, thấy đền thờ cất dựa bến nước bờ sông Rạch-Giá nhìn ra, mây xa biển rộng, có vẻ tráng quan cho nên tiên sinh chữa câu : « Huyết thực thiên thu » lại mà đề rằng : « Cổ miếu lâm lưu » cho thật đúng với phong quang và cảnh trí của đền thờ.
Thành ra, hai câu cuối cùng của bài tán đó, đã chữa lại rằng : « Cổ miếu lâm lưu ; Chương ngà trung nghĩa ». Nghĩa rằng : Tòa cổ miếu dựng uy nghiêm bên bờ nước, đời đời tỏ rõ khí tượng trung nghĩa của dân tộc chúng ta.
*
Một chút chữ nghĩa sai lầm như vậy mà để đến 41 năm trường mới cải chính, thật là tệ ! Nhưng may mà còn cải chính kịp, cũng tránh được một mối di hận. Nghĩ mừng tuổi sống sót của mình không đến nỗi vô tích sự, và cũng lợi dụng được ngày vãn niên để chuộc lại tội lười biếng đã bỏ quá quang âm vì đa đoạn sầu bịnh.
ĐÔNG-HỒ
Viết trong ngày bịnh mùa thu 1968
❀ ❀ ❀
[1] L.T.S : Trong số báo này, Ông Lê-Thọ-Xuân có lược thuật lại nội dung phần nói về Nguyễn-Trung-Trực trong tác-phẩm kể trên của Cúc Nông Tiên sinh. Tác phẩm này chưa hề được in và chúng tôi vẫn cố gắng tìm kiếm, nhưng vẫn không biết hiện trôi dạt nơi nào hay đã mất đi rồi ! Thật uổng thay !