PHẠM-VĂN-SƠN
Mùa thu năm Định-Vị (1847) Rigault de Genouilly Trung-tá hải quân Pháp đã mang 2 chiến-hạm vào Đà-Nẵng gửi lên vua Thiệu-Trị bức thư xin bãi bỏ việc cấm đạo. Thủy quân của ta e Pháp làm dữ nên chuẩn bị đề phòng ở các hải-đồn khiến Rigault de Genouilly và vị chỉ-huy của y là Đại-tá Lapierre nổi sung liền hạ lệnh pháo-kích nặng nề vào các chiến thuyền của ta rồi nhổ neo bỏ đi. Việc này xảy ra vào tháng chín năm ấy.
Kể từ ngày đó cuộc bang giao giữa ta và Pháp coi nhưkhông còn gì nữa. Thực ra sự-kiện này đã được biểu lộ rõ rệt từ ngày vua Minh-Mạng cử phái đoàn Tôn-Thất-Thường qua Pháp-đình thất bại và sau khi Chaigneau (cháu) năm 1826 được chính-phủ Pháp gửi sang Việt-Nam làm Lãnh-sự bị ta khước từ, phải bỏ về vào năm Kỷ-Sửu (1829).
Mười năm sau (1858) vẫn Rigault de Genouilly lúc này đã được thăng Trung-tướng lại mang 14 chiến thuyền và 3000 quân vào tấn công Đà-Nẵng phen nữa. Bây giờ ta thấy Pháp đã ra mặt đánh chiếm Việt-Nam nhưng sau mấy tháng chiến sự không thuận lợi cho kế-hoạch đã dự trù, nghĩa là giáo-dân Việt-Nam không hưởng ứng lời kêu gọi của Giám-mục Pellerin và các giáo-sĩ, bọn tướng thực dân liền kéo vào Gia-Định theo một kế hoạch mới là chiếm đất Nam-Kỳ làm cơ-sở bởi Nam-Kỳ là một kho gạo có thể nuôi quân lâu dài và có thể lấy cả binh sĩ ở luôn đây. Năm Kỷ-mùi (1859) Rigault de Genouilly để Đại tá Toyon ở lại Đà-thành. Quân Pháp đánh mạnh từ cửa Cần-Giờ vào Gia-Định. Kế tiếp việc đánh chiếm Nam-Kỳ, tháng giêng năm Tân-Dậu (1861) là Trung-tướng Charner cầm đầu 70 chiếc tàu và 3500 quân bản bộ.
Tướng của ta là Nguyễn-Tri-Phương thua to vì thế Gia-Định mất, Biên-Hòa và Định-Tường cũng lần lần đổi chủ.
Qua tháng 3 năm sau tức năm Nhâm-Tuất (1862) Vĩnh-Long là tỉnh thứ tư cũng lọt vào tay giặc. Chiếm được thành Vĩnh-Long bấy giờ là Thiếu-tướng Bonard trong tay có 11 chiếc tàu và hơn 1000 binh sĩ.
Miền-Bắc lúc này cũng rối rắm dữ dội. Nhiều tỉnh bị quân phiến loạn uy hiếp. Thực ra đây là những cuộc vùng dậy của nhiều sĩ dân Bắc hà không có cảm tình với Nguyễn triều ngay từ khi vua Gia-Long đã trắng trợn hạ cái chiêu bài « phù Lê » để bước lên ngôi Hoàng-đế nước Việt-Nam và đã thẳng tay áp-dụng một chế-độ quân phiệt ở hai vùng Nam-Bắc.
Triều đình Tự-Đức lúc này lúng túng, hoảng-hốt vội hòa với Pháp để cứu vãn tình-thế ngoài Bắc do đó mà Hòa-ước Nhâm-tuất (1862) ra đời. Nói cho phải, đây là một hàng-ước, một sự nhục nhã không riêng cho vua tôi nhà Nguyễn.
Riêng hai khoản ngoại giao và bồi thường (ngoại giao của ta từ ngày lập xong Hòa-ước sẽ tùy thuộc Pháp, nghĩa là nước Nam không được ló mặt ra ngoài Quốc-tế, không được liên lạc với bất cứ ngoại-bang nào… Tiền bồi thường chiến phí cho Pháp là 4 000 000 nguyên trả làm 10 năm, mỗi năm 400.000 nguyên thì công-nhu của Nguyễn-triều sành kiệt như ta thấy thanh toán sao được) cũng đủ thành triệu-chứng vong quốc. Khi không bỗng làm con nợ của Pháp giữa tình trạng túng thiếu, lại không được giao thiệp với nước ngoài thì ai cứu mình đây ? Vua Tự-Đức và các bề tôi đã làm một chuyện tự sát để cả nước chết theo, truy nguyên chỉ tại Thế tổ nhà Nguyễn quá ham cái ngai vàng, rước giặc vào nhà mà không để được mưu hay chước lạ cho con cháu. Và… nói cho phải con cháu của Gia-Long cũng bất tài nữa.
Tình trạng nước nhà kể từ Minh-Mạng, Thiệu-Trị đến Tự-Đức chỉ mỗi ngày một suy sụp thêm cho nên việc ba tỉnh miền Đông thất thủ, Hòa-ước Nhâm-tuất ra đời là điều dĩ-nhiên và Hòa-ước này đã làm cho các người yêu nước từ Nam ra Bắc phải điên đầu, thất vọng.
Các anh hùng, nghĩa-sĩ đều nổi lên. Trong đầu óc của những nhà ái-quốc ai nấy đều có ý kiến vừa chống Pháp, vừa chống triều đình vì Pháp là giặc mà triều-đình bất tài bất lực cúi đầu theo giặc thì cũng thành giặc rồi… Còn gì để theo nữa ?
Bởi vua Tự-Đức không còn là thần-tượng cho nước Việt-Nam sau khi đã chấp nhận hòa với Pháp trong những điều kiện thê thảm kể trên nên phong trào nghĩa quân cứu quốc bột phát với các lãnh tụ như Trương-Định, Nguyễn-Trung-Trực, Nguyễn-Hữu-Huân, Võ-Duy-Dương, Trần-Văn-Thành, v.v…
Chỗ thì xưng là « Dân chúng tự vệ », chỗ nêu khẩu-hiệu « Bình Tây sát tả », dân chúng góp xương máu, của cải không tiếc gì và chỉ còn nghe hiệu lịnh của các lãnh tụ kể trên mà thôi. Pháp khiển trách triều đình. Triều-đình sai Phan-Thanh-Giản vào Nam yêu cầu nhân dân hạ khí-giới. Nhân dân chống lại qua nơi Trương-Định, Nguyễn-Trung-Trực, Nguyễn-Hữu-Huân… một cách quyết liệt.
Trong hàng lãnh-tụ nghĩa quân người ta để ý đến Nguyễn-Trung-Trực ở điểm ông tuy thuộc thành-phần bình dân (ông làm ruộng và đánh cá, sinh quán ở Tân-An) nhưng tấm lòng vị quốc, vị dân không thua một ai trong thời của ông. Số người theo ông chống thực dân Pháp buổi đầu cũng không lấy gì làm nhiều từ Tân-An qua Rạch-Giá và nghĩa quân Nguyễn-Trung-Trực đã hoạt động nhiều vào cuối năm 1882. Có lẽ lúc này không riêng bọn ông Nguyễn-Trung-Trực đã thất vọng về Hòa-ước Nhâm-tuất mà có thể nói là toàn-quốc xét thấy Hòa-ước này có nhiều cơ-nguy cho xứ sở.
Thành tích đầu tiên của họ Nguyễn là đốt phá tàu binh ESPÉRANCE của Pháp hạ neo ở bến Nhựt-Tảo gần Sài-Gòn nhưng thuộc tỉnh Tân-An khi đó. Chỉ-huy tàu là Trung-tướng Parfait. Tàu này đóng tại bên Vàm (sông) do công tác đổ bộ quân lính đi tảo thanh các vùng quê lân cận đang có nghĩa quân trú ẩn và ngày đêm lui tới tập kích vào các đồn bót của giặc.
Ông Nguyễn đã khéo bầy một kế-hoạch đánh phá chiến hạm Espérance rất hay như sau :
Ông tổ chức một đám cưới dùng thuyền đi trên sông trong đó có chú rể cô dâu, họ hàng già trẻ đủ mặt và cả lễ vật. Lúc này thuyền binh của Pháp đóng ở sông Nhựt-Tảo có lệ khám xét các thuyền của ta qua lại và phải trình thẻ bài do chính Pháp cấp.
Khi thuyền cưới tới gần thuyền của Pháp, một người vờ lên trình thẻ bài. Quân Pháp không ngờ, tức thì ông Nguyễn và bọn thủ hạ nhảy lên theo đánh chém lung tung và ngay lúc đó có nhiều thuyền chở rơm và bồi của nghĩa quân cũng ào tới, nổi lửa đốt tàu Pháp. Quân Pháp vì không có đề phòng bị chém chết và bị thương ngã gục hết. Trong chớp nhoáng, tàu Pháp cháy to và người trong các thuyền của nghĩa-quân đều nhảy lên bờ tẩu thoát hết.
Giặc kêu la ầm-ít, lửa bốc ngút trời, máy tàu nổ tan tành. Kết quả 17 tên Pháp thiệt mạng, 20 tên lính tập người Việt cũng chết theo. Tàu chìm còn trơ cái sườn sắt ngập một nửa dưới nước.
Xong chiến công oanh liệt này nghĩa-quân rút gấp về Cà-Mau. Pháp giận lắm cho quân đội đi lùng khắp nơi nhưng Kinh-Kha họ Nguyễn và các đồng chí đã biệt dạng tự bao giờ.
Một chiến công khác cũng được đồng bào miền Nam không quên thời ông Nguyễn phất cờ chống Pháp đã được gây ra tại Rạch-Giá, nơi Pháp đóng đồn và trong đồn có nhiều lính người Việt. Đáng chú ý là khi đánh đồn này Nguyễn đã dùng hai phụ nữ tuy chân yếu tay mềm nhưng thừa đảm lược. Đó là hai chị em bà Điền, bà Đỏ được ông Nguyễn cắt từ Cà-mau lên Rạch-Giá. Hai bà đã thi hành công tác binh nên viên Quản-cơ và binh-sĩ trong đồn ngầm theo hết. Rồi một đêm, nghĩa quân bất thình lình mở cuộc tấn công, Pháp quân hoảng hốt chạy hết ra ngoài vừa bị quân cách mạng vừa bị dân chúng ập tới chém giết được hết. Đồn bị triệt hạ. Ngày hôm sau không còn một tên giặc Pháp nào có mặt nữa ở Kiên-Giang.
Từ bấy giờ trở về sau, cách vài chục năm Pháp không còn dám dùng người Việt làm Quản-cơ và sau khi thắng trận, làm chủ thành Rạch-Giá, ông Nguyễn thiết lập ngay một hệ thống đồn trại dài từ Núi-Sập tới tỉnh lỵ (50 cây số) đắp đập thả chà, đóng cừ phóng tàu chiến của giặc kéo tới. Để thông tin, các đồn bót của ta có trống mõ. Tiếc rằng trong nghĩa-quân bấy giờ có một số nhũng nhiễu dân, lấy gà vịt rau cỏ của đồng bào nên lòng dân một phần có sự bất mãn. Sau này Pháp kéo quân đến, những chướng ngại vật của ông Nguyễn đều bị phá hủy do chúng có những phương tiện rất lợi hại, nghĩa-quân chống không lại phải rút đi.
Về chung cuộc ông Nguyễn còn để lại lịch-sử vàng son của dân tộc một vũ công có nhiều cử chỉ rất can trường để xứng đáng với hai câu đối đồng bào đã tặng ông sau này :
« Hỏa hồng Nhật-Tảo oanh thiên-địa,
Kiếm bạt Kiên-Giang khấp quỷ thần ».
Cuộc khởi nghĩa chống thực dân của ông kéo dài tới 1867 sau khi ông ra Bình-Thuận được phong chức Lãnh-binh, và được cử vào Hà-Tiên tiếp tục chiến đấu. Xét ra thuở đó quân đội Pháp đã mạnh lắm rồi tương đối với lực lượng của nghĩa-quân (bấy giờ chỉ có nghĩa-quân ra mặt đánh địch mà thôi còn triều-đình Tự-Đức đã khoanh tay cúi đầu ngay sau khi ký Hòa-ước Nhâm-Tuất năm 1862) mà quân số không ngoài một trăm mà thôi lại còn thiếu trang bị, tiếp vận là điều vô cùng cần thiết. Mặc dầu quân đơn thế yếu, binh bị tổ chức sơ sài, hầu như không có huấn luyện, ông vẫn xông pha ngoài chiến-địa. Lúc này ông có mặt ở Đảo Phú-Quốc. Bọn thực dân bằng tàu Groëland chở tên đại Việt-gian Đội-Tấn và 150 tên lính mã tà ra đây mở cuộc truy-kích. Quân số của ông Nguyễn có khoảng 300 chỉ trội về lượng mà thôi. Đội-Tấn nắm vững tình thế của Nghĩa-quân đã chỉ là đoàn quân ô hợp nên can đảm giao phong cùng quân cách-mạng, ngoài ra y đã khéo dọa dẫm dân chúng và hương chức tại đảo nên đã cô-lập được nghĩa quân, ngoài ra còn buộc họ trợ giúp cho bộ đội của hắn.
Sau hai trận đánh ác liệt về phần cả đôi bên, ông Nguyễn rút vào núi cùng các đồng chí rồi bị bao vây quá ngặt nghèo ông đành phải ra hàng để tránh cho anh em một sự tiêu diệt toàn thể.
Ông Nguyễn và tên Tấn vốn quen biết nhau vì trước kia cùng chiến đấu dưới cờ của Nguyên-Soái Trương-Công-Định. Nghĩ tình cũ, đội Tấn yêu cầu quan Pháp hậu đãi ông Trực. Pháp bắt ông xuống tàu Groëland.
Paulin Vial viết :
« Trong khi Đại tá Piquet, Thanh tra bổn quốc sự vụ chất-vấn ông Trực, ông này tỏ ra rất có khí-phách anh hùng và cương-nghị ».
Ông bình-tĩnh nói với Piquet rằng :
« Số tôi hết rồi, tôi đã không cứu được quê hương tôi thì nay tôi chỉ xin một điều là được chết sớm chừng nào hay chừng nấy ! »
Lãnh-binh Tấn (tức đội Tấn lên chức) hết sức can thiệp với quan Pháp để tha cho ông Nguyễn-Trung-Trực mà lúc này hắn vẫn coi là đàn anh hắn. Nhưng Đô-Đốc Ohier không chịu, nói rằng không thể tha được :
« Một người đã không coi luật quốc tế ra gì, đã hạ một cái đồn của chúng ta và giết 30 người Pháp ! » (Dịch nguyên Pháp-văn của Paulin Vial)
Rồi Ohier ra lệnh chở ông Trực về Rạch-Giá. Ông đền nợ nước vào ngày 27 tháng 10. Năm ấy ông mới 30 tuổi.
Và Paulin Vial khen ngợi :
« Ông Nguyễn-Trung-Trực là một người chỉ-huy trẻ-tuổi, rất bạo dạn, chống nhau với ta ngót 10 năm trời… »
Một nhân-sĩ miền Nam cho rằng ông Nguyễn bị hạ không do trường-hợp trên đây. Theo ông, bấy giờ Pháp treo giải thưởng để bắt ông với điều kiện sau đây : Ai giúp mưu-kế bắt được ông Nguyễn hay ai bắt được ông hoặc sống hoặc chết đều sẽ được lãnh 500 quan. Bấy giờ có kẻ chỉ cho Pháp bắt mẹ ông. Pháp liền đến Hà-Tiên bắt được bà cụ và dọa giết nếu không ra hàng.
Người Pháp thi hành đúng theo kế-hoạch này, quả nhiên ông ra.
Thấy người trung-hiếu, khảng-khái quá, Pháp không nỡ giết và dụ quy thuận, hứa nếu ông nhận lời sẽ cho làm chức Phó-Soái. Ông nói :
« Tụi bay hãy kiếm cho tao cái chức gì giết Tây được thì tao làm, chớ chức Phó-Soái tao không màng ! »
Khuyến dụ hết sức không được, người Pháp buộc lòng phải hạ lệnh trảm quyết ông.
Người đao-phủ là một dân Miên tên Tưa (dân chúng thường gọi là Bòn-Tưa, chém mỗi cái đầu với giá một quan tiền). Trước khi chém, Bòn-Tưa bỏ gươm quỳ xuống đất vừa lạy vừa xin lỗi (chỗ chém ông là miền đất cất sở Bưu Điện và Công An bây giờ). Ông nói :
« Mày có tội gì mà xin lỗi, mày thi hành pháp-luật của Tây mà ! Nhưng nhớ chém tao một nhát thật tốt nếu không ta vặn họng mày à ! »
Rồi ông quắc mắt nhìn mấy anh lính Tây bồng súng đứng sắp hàng khiến họ phải run lên (các cụ nói lại rằng tướng-tinh ông mạnh lắm nên khi ngó ai thì người đó phải khiếp vía, vì vậy các bà có mang không dám đi xem).
Ông mất ngày 28 tháng 8 âm lịch năm 1868 dương lịch. Chém xong, người Pháp ráp đầu, mình liệm vào hòm đem chôn rất tử tế.
Mộ ông chôn trong vòng thành ông Chánh cách cầu ông Chánh chừng 70 thước, mộ chiếm một khu đất chừng 100 thước vuông, xây cao lên quá 3 thước, chung quanh có xiềng xích bằng sắt, nhưng người Pháp trở lại lần thứ hai (1946) cho phá đi, bây giờ hãy còn vết-tích.
Dân chúng thờ ông chung một đình với cá-ông.
Đình thờ ông ở Rạch-Giá, dân chúng thường lui tới xin xâm, quanh năm ngày tháng.
Thấy ông là người trung nghĩa, ông Nguyễn-Giác-Ngộ lấy tên ông đặt tên cho Bộ-đội của mình vào thời chưa có chánh-phủ V.N.C.H.
Gần đây ở Long-Xuyên có lập đình và vào Rạch-Giá xin tro về thờ.
Trường Trung học Rạch-Giá bây giờ cũng đặt tên là Nguyễn-Trung-Trực không ngoài mục-đích kỷ-niệm một vị anh-hùng dân tộc và nêu cao gương hy-sinh, ái-quốc.
Về cái chết của ông Nguyễn do bị Pháp bắn chết hay vì lòng hiếu mà ông vong thân, có lẽ chỉ đồng-bào Rạch-Giá rõ. Chúng tôi mong có sự xác định để sửa lại bản khảo trong một ấn-bản cận lai.
Trước giờ hành-hình, ông Nguyễn có một bài thơ tuyệt-mệnh như sau :
« Thư kiếm tùng nhung tự thiếu niên,
Yêu giai đảm khí hữu long-tuyền.
Anh-hùng nhược ngộ vô dung-địa,
Bão hận thâm cừu bất đái thiên ».
Dịch :
« Theo việc binh-nhung thuở trẻ trai,
Phong trần hăng hái tuốt gươm mài.
Anh-hùng gặp phải thời không đất,
Thù hận chan-chan chẳng đội trời ».
PHẠM-VĂN-SƠN
13-9-68